1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Phụ nữ và gia đình

99 710 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phụ nữ và gia đình
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tham khảo: Phụ nữ và gia đình

Trang 1

PHẦN I :

PHỤ NỮ VÀ GIA ĐÌNH

Trang 2

A DANH NGÔN VỀ PHỤ NỮ

Không có phụ nữ xấu, chỉ có phụ

nữ không biết làm đẹp

La Bruyere Tất cả mọi sự bí ẩn của thế giới

này đều không thể sánh nổi với sự bí

ẩn của người phụ nữ

Vladimir Lobanok Không phải những người đẹp là

người hạnh phúc, mà những người

hạnh phúc là những người đẹp

Khuyết Danh

Khi mặt đối mặt, người phụ nữ

nói to với người đàn ông nàng dửng

dưng, nói khẽ khàng với người nàng

bắt đầu yêu và giữ yên lặng với

người nàng yêu

Sophocle Người phụ nữ cười khi có thể

cười nhưng muốn khóc thì lúc nào

cũng được

Ngạn ngữ Pháp Sắc đẹp tự nó đủ thuyết phục đôi

mắt của người đàn ông mà chẳng cần

nhà hùng biện

Người phụ nữ đẹp là thiên đường

của đôi mắt

Tục ngữ Nơi người phụ nữ quyến rũ lòng

người nhất không phải là cái đẹp mà

là sự cao quý

Eunpide Phụ nữ chỉ nhớ người đàn ông

làm cho họ cười

Đàn ông chỉ nhớ người phụ nữ

làm cho họ khóc

De Regnier Phụ nữ có cái tài không ai bắt

chước được trong việc biểu lộ tình

cảm mà không cần đến những lời nói sôi nổi Sự hùng biện của họ tập trung đặc biệt ở giọng nói, cử chỉ, tác phong và những cái nhìn

Banzac Hãy đợi hoàng hôn để thấy cái đẹp của buổi bình minh và hãy đợi tuổi già để hiểu thế nào là một người phụ nữ đẹp

Ngạn ngữ Đức Cái duyên là khí giới tuyệt đối Nhưng nếu bạn tưởng rằng bạn là người có duyên thì chắc chắn là hoàn toàn không có rồi

Lori Liơ Khi một người phụ nữ từ chối tình yêu của bạn và thay vào đó, cô ta

đề nghị giữ vững tình bạn, bạn chớ nghĩ đó là lời từ biệt - điều đó có nghĩa là cô ta muốn bạn hành động theo thứ tự đã định sẵn

Moliere Đàn ông đau xót với cái họ mất, còn phụ nữ với cái mà họ không thể nhận được

D.BilingX Tôi thích người đàn ông có tương lai và người phụ nữ có quá khứ

O.Uaind Phụ nữ bao giờ cũng yêu vì tài trước khi yêu vẻ bề ngoài

Banzac Tính hiền dịu của phụ nữ với cuộc đời là dấu hiệu xác thực của một cuộc sống nội tâm phong phú

Pautôpxki Trái tim của người phụ nữ không bao giờ gìa cỗi, và một khi nó không yêu nữa thì đó là vì nó đã ngừng đập

P ROCHEPEDRE

Trang 3

CHỦ ĐỀ : TRIẾT LÝ VUI VỀ

PHỤ NỮ

Phụ nữ giống như người dự báo

thời tiết: Chỉ nhận là mình đoán thiếu

chính xác chứ không sai

- Phụ nữ giống như cuốn tiểu

thuyết: Có mở đầu chứ không có kết

thúc

- Phụ nữ giống như bức tranh

trừu tượng mà 300 năm sau cũng

chẳng ai hiểu được

- Phụ nữ là một bản nhạc dài

không có các nốt trầm

- Đằng sau sự thành công của

một người đàn ông luôn có hình bóng

của một người đàn bà và đằng sau sự

thất bại của một người đàn ông cũng

vẫn là một người đàn bà

- Phụ nữ luôn lo lắng về tương

lai cho đến khi có chồng Đàn ông

không bao giờ lo lắng về tương lai

cho đến khi có vợ

- Phụ nữ giống như chiếc tháp

có rất nhiều lối vào, nhưng không tìm được lối ra

- Người đàn ông thành công là

người có thể kiếm được nhiều hơn số tiền vợ anh ta chi tiêu Người phụ nữ thành công là người tìm được một người đàn ông như vậy

- Để có được hạnh phúc với một

người đàn ông, bạn cần phải hiểu anh

ta nhiều và yêu ít thôi

- Để được hạnh phúc với một

người phụ nữ, bạn cần phải yêu nhiều

và đừng cố hiểu cô ta

- Phụ nữ cưới chồng với hi vọng

anh ta sẽ thay đổi, song anh ta không thay đổi

- Đàn ông cưới vợ với hi vọng

cô ta sẽ không thay đổi, song cô ta lại thay đổi

- Trong một cuộc tranh cãi, phụ

nữ là người nói từ cuối cùng

Trang 4

B PHỤ NỮ

PHỤ NỮ VIỆT NAM

Phụ nữ Việt Nam là một lực lượng

cơ bản, nhân tố phát triển của xã hội

Việt Nam Trải qua hàng nghìn năm

xây dựng và đấu tranh vì sự vẹn toàn

lãnh thổ, đấu tranh chống thiên tai, duy

trì nòi giống Lạc Việt, đã kiến tạo nên

nhiều đức tính truyền thống tốt đẹp ở

người phụ nữ Xuyên suốt tiến trình

hình thành và phát triển của lịch sử

nhân loại, phụ nữ luôn có quyền và

góp phần nhất định vào sự thay đổi

mọi mặt cho xã hội thống nhất, hoà

bình và tương lai văn minh Các thành

tựu mang tính cách mạng văn hoá, tập

tục, gia phong, đã góp phần thay đổi

cách nhìn nhận của mọi tầng lớp xã hội

đối với người phụ nữ Việt Nam Họ

Phụ nữ Việt Nam thời kỳ chiến tranh

(theo học ở Leipzig, Đông Đức)

Phụ nữ Việt Nam

ĐẶC ĐIỂM Phụ nữ thời xưa

Lịch sử Việt Nam luôn ghi nhận người phụ nữ là nguồn hạnh phúc, chăm sóc chồng con, đỡ đần cha già

mẹ yếu, là chỗ dựa cho gia đình trong nhiều phương diện cuộc sống

Có vai trò người yêu, người vợ, người mẹ, người phụ nữ luôn được yêu thương và chiếm vị trí quan trọng trong mọi tầng lớp người Việt Đó là: Quốc Mẫu Âu Cơ, theo truyền thuyết, khoảng gần 5000 năm trước

đã kết duyên cùng vua Lạc Long dòng dõi rồng, sinh được 100 người con trai; Trưng Vương (40-43), tuy triều đại chỉ tồn tại 3 năm song đã chứng tỏ tinh thần bất khuất của người phụ nữ trong thời kỳ đầu giữ nước; Triệu Thị Trinh (225-248) cùng anh Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa năm 248 chống quân Đông Ngô cai trị tàn ác; Thái Hậu Dương Vân Nga (942-1000) là người đàn bà quyền lực của 2 triều đại nhà Đinh và nhà Tiền

Lê, bà được biết đến với vai trò là vợ của 2 vua; Nguyên phi Ỷ Lan (tên thật là Lê Thị Ỷ Lan) triều Lý, bà xuất thân từ gia đình nông dân nhưng sau trở thành Hoàng thái hậu; Công chúa Huyền Trân (cuối thế kỷ 13, đầu thế kỷ 14) là con gái vua Trần Nhân

Trang 5

Tông, bà được gả cho vua Chiêm

Thành (Champa) để đổi lấy hai châu

Ô và Lý cho nước Đại Việt; Công

chúa An Tư (thời vua Trần Nhân

Tông) là con gái út vua Trần Thánh

Tông, bà bị gả cho Thoát Hoan nhằm

trì hoãn sức giặc, nuôi chí lớn chờ

thời cơ đánh giặc; Công chúa Ngọc

Hân (1770-1799) là con vua Lê Hiển

Tông, bà có tài văn học nên được

Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ

phong làm Bắc cung Hoàng Hậu;

Công chúa Ngọc Vạn (thế kỷ 17) giữ

những chức vụ quan trọng trong triều

Chân Lạp, bà đã có công mở đường

cho người Việt trong cuộc Nam tiến

mở rộng giang sơn; Bùi Thị Xuân

(?-1802) là tướng tài giỏi của nhà Tây

Sơn, vợ của danh tướng Trần Quang

Diệu Họ là nhà văn, nhà thơ có

danh phận, được nhiều đời truyền

tụng như Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm

(1705-1746) người tỉnh Bắc Ninh,

hiệu là Hồng Hà nữ sĩ rất giỏi thơ

văn; Nữ sĩ Hồ Xuân Hương

(1780-1820) có tài thơ văn cả về chữ Nôm

và chữ Hán; Bà Huyện Thanh Quan

(Đầu thế kỷ 19) tên thật là Nguyễn

Thị Hinh, bà được mời làm Cung

Trung giáo tập, dạy cung phi và công

chúa trong cung; Thái Hậu Từ Dũ

(1810-1902) người tỉnh Gia Định,

hiệu Từ Dũ Bát Huệ Thái hoàng Thái

hậu, là quí phi của vua Thiệu Trị,

sinh ra vua Tự Đức nên trở thành

Tháí Hậu; Tú Xương (cuối thế kỷ 19)

người tỉnh Hải Dương, là hiền thê

nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương

Ngoài ra không ít phụ nữ là dân

thường lam lũ với những số phận,

tâm tư eo hẹp song cũng được lưu

dấu lại hình ảnh, được trân trọng ghi

chép, kể cả vào những thời Nho giáo độc tôn nhất

Phụ nữ Việt Nam thời xưa

Hình ảnh phụ nữ thông qua văn thơ, ca dao, tục ngữ truyền tụng trong dân gian như "Thân cò lặn lội bờ ao - Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non", phần nào minh chứng người phụ nữ xưa thường bị gạt sang lề cuộc sống thiết yếu nhưng chặt đầy tính gia phong cổ hủ, bị dồn nén vào khuôn khổ chật hẹp đời sống gia đình: "Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử" (Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con trai) Lấy được chồng, người con gái phải học hành nhiều thứ, nhưng học không phải để thi cử,

để tiến thân mà học để chuẩn bị cho cuộc sống ở bên nhà chồng Còn có quan niệm việc hôn nhân của người phụ nữ do số phận sắp sẵn cho mỗi người trong số họ May mắn thì gặp được người chồng tử tế, giỏi giang, nếu lỡ lấy phải người chồng vũ phu hay nghèo khổ thì phải gắng chịu Người phụ nữ làm dâu có trách nhiệm và biết quán xuyến mọi việc gia đình đã tạo thành ý chí và nghị lực can trường trong họ, song thực tế vẫn đẩy họ đến cảnh sống cam chịu

và gần như suốt cả cuộc đời phải gánh chịu những hậu quả không ra gì

về thể xác lẫn tinh thần Với quan

Trang 6

niệm "tài trai lấy năm lấy bảy, gái

chính chuyên chỉ có một chồng",

những người phụ nữ là nạn nhân của

chế độ đa thê (bất kể là vợ cả hay vợ

lẽ) luôn chìm đắm trong những mối

mâu thuẫn, bất hòa, khổ đau, nhiều

khi chỉ vì những chuyện rất vụn vặt

Cả khi người chồng chết, người phụ

nữ cũng mất quyền thừa kế tài sản,

phải phục tòng người con trai

Phần lớn phụ nữ Việt Nam thời

xưa không được coi trọng và có được

địa vị xứng đáng trong gia đình hay

xã hội Họ phải gánh chịu nhiều sự áp

đặt, bất công, tư tưởng trọng nam

khinh nữ (Nam trọng nữ khinh, nam

ngoại nữ nội) Người phụ nữ nói

chung khó có cơ hội để ngẩng mặt

với cuộc đời, với xã hội Phụ nữ

không gì hơn chỉ như hình bóng sau

lưng của người chồng trong gia đình,

nhưng lại vẫn được xem là tác nhân

trong sự thành công của người chồng

Phụ nữ thời chiến tranh

Triệu Thị Trinh

Tuy nhiên, tính đề cao đối với

người phụ nữ Việt Nam từ xưa vẫn là

tinh thần làm việc và đấu tranh có

lịch sử hàng nghìn năm Phụ nữ Việt

Nam cống hiến rất nhiều và mọi mặt

cho nền độc lập, thống nhất của đất

nước Từ các cuộc chiến tranh đó đã

sản sinh ra những nữ anh hùng dân tộc, để lại danh tiếng cho các đời sau

họ, như Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Hoàng Ngân, Mạc Thị Bưởi, Nguyễn Thị Chiên, Nguyễn Thị Lét,

Tạ Thị Kiều, Kan Lịch, Lê Thị Hồng Gấm, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Thị Bình, Nhất Chi Mai, Nguyễn Thị Út (Út Tịch) Sự mở đầu trang sử là cuộc chiến chống quân xâm lăng của Hai Bà Trưng, cùng lời thề xuất quân: "Một xin rửa sạch nước thù, Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng, Ba kẻo oan ức lòng chồng, Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này" Vài thế kỷ sau, người thiếu nữ Triệu Thị Trinh đã tự khẳng định mình là một nhi nữ hào kiệt: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém

cá kình ngoài biển Đông "

Trong các cuộc chiến tranh hiện đại sau này đã xuất hiện nhiều phụ nữ tiêu biểu trong khó khăn gian khổ

Họ là những con người gan dạ không quản ngày đêm và bom đạn, vừa lao động sản xuất, vừa sẵn sàng cho chiến tranh Tinh thần của họ là

"Ruộng rẫy như chiến trường, cuốc cày như vũ khí", gồm có hàng vạn nữ nông dân và công nhân "tay cày, tay súng", "tay búa, tay súng" làm nên một hậu phương vững chắc, trên ruộng đồng, công trường, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ

Người phụ nữ bước ra từ các cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc, được nhân dân và nhà nước Việt Nam tôn vinh là những nữ anh hùng

và những bà mẹ Việt Nam anh hùng, được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng

8 chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang"

Trang 7

Phụ nữ thời nay

Ngày nay tuy chưa phải đã hết

những định kiến, nghi ngại, thậm chí

là kỳ thị, song nhìn toàn diện thì

người quan sát trong và ngoài Việt

Nam đều có sự thống nhất nhận xét

về phụ nữ Việt Nam, cả về số lượng

và chất lượng đóng góp đã gìn giữ và

phát huy được vai trò đối với thực

tiễn phát triển xã hội trên mọi lĩnh

vực thiết yếu

Từ phải đảm đương vai trò "đối

nội" trong khuôn khổ gia đình, người

phụ nữ Việt Nam ngày nay còn tài

cán với các trọng trách "đối ngoại"

Là một sự nghiệp không còn chỉ

giành cho nam giới Họ phải khẳng

định giá trị, khả năng bằng sự nghiệp

và tính vươn lên của bản thân Khát

vọng với sự nghiệp của người phụ nữ

không đơn giản chỉ như thoát khỏi

vòng cương tỏa từ yếu tố gia đình

Hơn thế nữa họ còn khẳng định vị thế

là những người đứng đầu tập đoàn,

công ty doanh nghiệp hoặc thậm chí

là lãnh đạo cấp cao trong các tổ chức

của chính phủ

Những thành tích của họ được xã

hội ghi nhận và đánh giá cao trong

các lĩnh vực khoa học, công nghệ và

giáo dục Không ít nữ học sinh, sinh

viên đạt giải cao trong các kỳ thi cấp

quốc gia và quốc tế Tầng lớp nữ trí

thức có những công trình khoa học

giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế cao:

Số nữ Giáo sư chiếm tỷ lệ 3,5%; Phó

giáo sư 5,9%; Tiến sỹ 12,6%; Tiến sỹ

khoa học 5,1%; 19 nữ Anh hùng lao

động, và nhiều Giải thưởng

Kovalépscaia, NSND, NSƯT Tỷ lệ

nữ là đại biểu Quốc hội tăng qua các

thời kỳ bầu cử (khóa I (1946- 1960)

là 3%, đến khóa XII (2007 – 2012) tăng lên là 25,76%) Ngành Giáo dục

và Đào tạo từng có nữ bộ trưởng, và đương nhiệm thứ trưởng, và nhiều phụ nữ làm cán bộ quản lý các cấp

Vụ, Viện, Sở, Phòng, Ban, các trường

và các đơn vị giáo dục: Có 11 nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo nhân dân, 1.011 nữ nhà giáo được phong danh hiệu Nhà giáo Ưu tú Người phụ nữ Việt Nam tham gia vào nhiều lĩnh vực khác nhau và có ảnh hưởng không nhỏ đối với giá trị

và lợi ích của toàn xã hội Được thể hiện thông qua các môi trường kinh

tế, chính trị, văn hoá, nghệ thuật

Văn hóa truyền thống

Áo dài truyền thống

Mặc dù bị ảnh hưởng không ít từ các nền văn hóa ngoại quốc trong suốt hàng nghìn năm bị đô hộ, phụ nữ Việt Nam vẫn giữ gìn được nét đẹp vốn rất riêng cho họ khi hiếm quốc gia nào có được Xã hội càng ngày phát triển, con người càng văn minh nhưng những đức tính truyền thống của người phụ nữ từ nông thôn đến thành thị vẫn nguyên giá trị, đó chính

là những vẻ đẹp trong gia đình, xã hội; vẻ đẹp người làm vợ, làm mẹ; vẻ đẹp nữ doanh nhân, ca sĩ, thi sĩ, diễn

Trang 8

viên, hoa hậu, tri thức; vẻ đẹp ý nhị,

lịch sự

Những nét đẹp hiện đại kết hợp

nhuần nhuyễn với những đức tính

truyền thống tạo nên dáng vẻ và tính

cách mang ý nghĩa với bản chất thuần

Việt, tiêu biểu cho các tầng lớp phụ

nữ Á Đông

Tuy không thể đua với nam giới

về sức vóc, tài trí, hay việc tranh đoạt

trong thiên hạ nhưng vẫn nhiều công

việc gia đình và xã hội cần đến người

phụ nữ Lịch sử Việt nam đã từng ghi

nhận những hình ảnh thường ngày về

người phụ nữ cổ truyền "Sớm ra

ruộng lúa, tối về nương dâu", người

phụ nữ ngày xưa tầm tơ canh cửi là

chủ nhân của những bánh xe quay sợi

bằng đất nung từ thời Lý Họ lập

được những kỷ lục về trồng dâu nuôi

tằm với một năm tám lứa Tơ lụa, sa

the, lĩnh, láng mà nước ngoài chuộng

mua phần lớn đều sản xuất ra từ

những bàn tay khéo léo của họ Hình

ảnh người phụ nữ "bán mặt cho đất,

bán lưng cho trời", tần tảo làm lụng

rất phổ biến ở các vùng làng quê Việt

Nam là lực lượng lao động chính

trong các mùa vụ sản xuất lương

thực Công việc của họ là làm đồng,

Trở lại với sự khâm phục và

ngưỡng mộ của toàn xã hội, người

phụ nữ Việt Nam không bỏ quên

những đức tính tốt đẹp sinh thành từ

một dân tộc có cội nguồn Mẹ Âu Cơ

Đó là Tứ đức, được ví như "khuôn

vàng thước ngọc" Theo quan niệm từ

+ Dung: là dung nhan, đề cao cái đẹp tâm hồn và hình thức bên ngoài (biểu hiện sự tươi tắn, không ủ dột trên nét mặt, chăm chút cho mái tóc, hàm răng và trang phục)

+ Ngôn: là lời nói, nhưng không bao giờ chỉ đơn thuần là lời nói, đề cao cả trí tuệ và tâm hồn người nói (biết cân nhắc lời ăn tiếng nói, không quá lời lúc nóng giận, không ba hoa khi hứng chí, giả dối khi giao tiếp) + Hạnh: là hạnh kiểm, đức hạnh (mực thước, nghiêm trang trong dáng đứng, bước đi; thủy chung, yêu chồng, thương con; giàu lòng nhân ái,

hy sinh vì người khác)

Người phụ nữ ngày nay, ngoài trách nhiệm "tề gia nội trợ", khi ra làm việc ngoài xã hội họ còn là những công dân của xã hội đó Biết sống có trách nhiệm với cộng đồng,

có hoài bão và nỗ lực trong công việc, đã thể hiện phẩm chất đạo đức của chữ Công và chữ Hạnh Tuy nhiên, trong mỗi giai đoạn lịch sử, thước đo từ xã hội về chuẩn mực đạo đức cũng có sự đổi khác Xét Tứ đức người phụ nữ cần có sự hiểu biết nhất định về hoàn cảnh lịch sử của các giai đoạn đó để có ứng xử phù hợp

Sự kế thừa và phát triển thêm những giá trị đạo đức ở người phụ nữ trong cuộc sống ngày nay để phù hợp với thời đại, cũng là vấn đề mà xã hội đang quan tâm

Trang 9

TÍN NGƯỠNG

Thờ cha mẹ

Theo phong tục, tập quán và tín

ngưỡng của người Việt Nam, nhất là

tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên thường

có sự so sánh, phân biệt giữa nam

giới với phụ nữ Ngoài việc người

đàn ông có trách nhiệm thờ cúng cha

mẹ, tổ tiên thì người phụ nữ lấy

chồng phải hoàn toàn theo chồng

Phải có trách nhiệm thờ phụng tổ tiên

bên nhà chồng, họ không được thờ

phụng cha mẹ đẻ tại nhà mình kể cả

khi không có anh em trai, khi đó phải

nhờ một người đàn ông khác, có thể

là em hoặc cháu trong họ nội thờ

cúng hộ Tập tục này thường vô tình

tạo ra tiêu cực trong đời sống văn hoá

người phụ nữ Muốn có được người

thừa tự, nhiều gia đình chỉ có con gái

đã nhận thêm con nuôi là trai Người

chồng cho vợ đi "xin" hoặc người vợ

cho chồng đi "ở" với người phụ nữ

khác để có con trai Họ có tâm niệm

"bế con chồng hơn bồng cháu ngoại"

và không băn khoăn nhiều đến việc

để lại hậu duệ, miễn là phải có người

"hương khói" về sau

Lễ chùa, đình và đền

Người phụ nữ đang hành lễ ở

Chùa Trấn Quốc, Tây Hồ, Hà Nội

Phật giáo (Tiểu thừa) được du

nhập trực tiếp từ Ấn Độ qua đường

biển vào Việt Nam khoảng thế kỉ 2

sau Công nguyên Phật giáo Việt

Nam không hẳn xuất thế mà thường nhập thế, gắn với phù chú, cầu xin tài lộc, phúc thọ hơn là tu hành thoát tục Người phụ nữ đi chùa lễ Phật để cầu

an, cầu sự may mắn cho bản thân và người thân trong gia đình Bản chất phụ nữ yếu đuối (chân yếu, tay mềm), tâm nguyện họ luôn cần có sự che chở, giải thoát những nỗi khổ đau phát sinh từ cuộc sống Ngoài nhờ cậy từ các yếu tố con người và xã hội giải quyết giúp đỡ thì họ thường tìm đến để cầu nguyện dưới các tượng Phật, các Thần và Tiên ở Chùa, Đền, miếu, phủ Điều khác biệt trong nghệ thuật Phật giáo Việt Nam là từ các pho tượng như tượng Bà Man Nương, tượng Bà Trắng, Bà Đỏ đến tượng Kim đồng - Ngọc Nữ đều mang dáng dấp và vẻ đẹp người phụ

nữ, bên trong đó quy tụ nhiều nét nghệ thuật thế tục

Đạo Mẫu là một tín ngưỡng dân gian Việt Nam thờ các nữ thần (còn gọi là các Thánh Mẫu), các Thánh Mẫu có sự gắn bó với cuộc sống trần tục, gần gũi với dân gian Tín ngưỡng này có từ lâu đời, hiện thân của nó là các hiện tượng tự nhiên mây, mưa, sấm, chớp Khi trách nhiệm người đàn ông là công việc săn bắn, giữ đất, giữ làng thì công việc nông nghiệp do người phụ nữ hoàn toàn đảm nhiệm

Từ hình ảnh người phụ nữ cụ thể được dân gian nhân hoá thành một bà Mẫu cao cả tâm linh và quyền năng Qua đó, Mẫu còn được hiểu như là đất, nước, cây lúa, là mọi thứ làm ra

sự sống cho con người Thờ các Thánh Mẫu được xem như một chỗ dựa tinh thần của người phụ nữ, thường mang đậm màu sắc tín ngưỡng của các vùng thuần nông

Trang 10

nghiệp Các đền đài, miếu, phủ thờ

Trước đây người Việt gọi là lễ

rước dâu, ngày nay trong ngôn từ của

đời sống thường ngày được gọi là lễ

cưới Theo nghi thức truyền thống thì

người phụ nữ được hưởng những

quyền lợi đầu tiên khi bước chân đến

nhà chồng, đồng thời xem đó như sự

ràng buộc và tính pháp lý để người

chồng phải có trách nhiệm với người

vợ trong cuộc sống tiếp theo của hai

người Nghi lễ cưới hỏi thường tuân

theo các trình tự như sau:

+ Chạm ngõ: là nghi thức gặp

gỡ hai bên gia đình để biết nhau một

cách công khai, chính thức;

+ Lễ ăn hỏi: nhà trai mang lễ

vật sang nhà gái hỏi vợ, được đựng

trong các tráp phủ vải điều màu đỏ

gồm trầu, cau, rượu, chè, bánh cốm,

bánh xu xê, mứt sen, xôi, thủ lợn, lợn

sữa quay

+ Lễ đính hôn: hay lễ cầu hôn,

đối với phong tục phương Tây là lễ

trao nhẫn đính hôn

+ Lễ vấn danh: xem tuổi xung,

hợp theo tín ngưỡng của đôi trai gái

để chọn ngày giờ tốt cho các nghi

thức trong lễ

+ Lễ nạp tài: nhà trai mang sính

lễ sang nhà gái, là trầu cau, gạo nếp,

thịt lợn, quần áo và đồ trang sức cho

cô dâu Nhà gái sẽ sử dụng một phần

vào lễ ăn hỏi và một phần vào trong

lễ cưới

+ Lễ xin dâu: vào trước giờ đón dâu, mẹ chú rể hoặc một hai bà cô, bà

dì sang nhà gái xin đón dâu

+ Đón dâu: đoàn nhà trai sang nhà gái đón dâu về

+ Lễ vu quy: tổ chức tại nhà gái

để tiễn cô dâu đi lấy chồng

+ Lễ thành hôn: được tổ chức chính thức bên nhà trai

+ Lễ tơ hồng: lễ khấn ông Tơ

bà Nguyệt và cao đường (cha mẹ), diễn ra tại nhà trai, chỉ gồm những người thân thích

+ Lễ hợp cẩn: là buổi lễ kết thúc đám cưới, trước giường có bàn bày rượu và một đĩa bánh phu thê (xu xê) Một cụ già đứng lên rót rượu vào chén đưa đôi vợ chồng cùng uống cạn chén, cùng ăn hết cái bánh Sau

đó mọi người ra ngoài hết trừ lại hai

vợ chồng mới cưới

+ Lễ báo hỉ: là tiệc mặn hoặc ngọt tổ chức sau nghi lễ cưới chính thức tại quê quán của cô dâu hoặc chú rể

+ Lễ lại mặt: do chú rể mang về nhà gái một món đồ lễ tạ sau ngày cưới như một lời cảm ơn bên thông gia

+ Lễ cheo: lễ vật hoặc kinh phí nộp cho làng, xóm khi có người con trai mới lấy vợ, với dụng ý để xóm làng tiếp nhận thêm thành viên mới + Tuần trăng mật: là thời điểm nghỉ ngơi cho cặp vợ chồng trẻ sau những ngày căng thẳng khi tiến hành hôn lễ

Trang 11

Tình mẫu tử

Người phụ nữ mang nặng đẻ đau,

là người chắp đôi cánh uớc mơ, là

nguồn ánh sáng dẫn đường cho người

con để bay đến chân trời hi vọng Với

người phụ nữ, con cái luôn là máu

thịt, là điều đáng quý nhất trong cuộc

đời họ Tình mẫu tử thiêng liêng cũng

chính là cội nguồn của mọi tình cảm

Ngày nay, công việc chăm sóc

con nhỏ không còn vất vả như xưa,

tuy nhiên, người làm mẹ vẫn còn phải

có trách nhiệm nặng nề trên đôi vai là

hướng con cái mình đến tương lai

một cuộc sống hoàn thiện cả về thể

chất và tinh thần Tình mẫu tử thiêng

liêng thổi vào tâm thức người phụ nữ

trong xã hội đang phát triển và hội

nhập một sức sống mới mẻ, để dần có

sự bứt phá về quan điểm, cách nuôi

dạy con cái Những gia đình có điều

kiện kinh tế luôn có xu hướng cho

con cái họ theo học trường nổi tiếng

trong ngoài nước Các gia đình vùng

nông thôn, miền núi, kể cả những nơi

đang phải đối mặt với nghèo khó

cũng thấy được tính quan trọng việc

học hành đối với tương lai con cái

Ngay cả khi lớn lên, người mẹ vẫn

sát cánh cùng con cái trên con đường

đời đầy gian lao và thử thách Họ là

những mẫu người "giản dị mà sâu

sắc, kín đáo mà không tĩnh lặng",

được thể hiện trong các câu hát, câu

thơ sâu lắng Có câu hát : "Tình mẹ

bao la như biễn Thái Bình dạt dào ",

tình yêu thương của người phụ nữ

làm mẹ được so sánh như biển Thái

Bình rộng lớn

Đại văn hào Nga Macxim Gorki

đã viết: "Đời thiếu mẹ hiền, không

phụ nữ/ Anh hùng, thi sĩ, hỏi còn đâu?"

Người Việt có một ngày lễ mà giới tăng ni Phật tử thường gọi là ngày lễ Vu Lan vào ngày rằm tháng bảy (15-7) âm lịch Đây là một đại lễ báo hiếu, là cơ hội quý báu để những người con hiếu thảo báo đáp công sinh thành của cha mẹ mình

HẠN CHẾ TRONG VĂN HÓA ỨNG XỬ

Bạo lực vợ chồng

Nguyên nhân dẫn đến bạo lực vợ chồng trong gia đình chủ yếu do sự hiểu biết về bình đẳng giới và luật pháp còn hạn chế Cũng không loại trừ việc chính người phụ nữ nhiều khi lại tạo ra "môi trường" để một số người chồng phát huy tính vũ phu của họ Nghiên cứu của Tổng cục Thống kê và UNICEF về Đánh giá các mục tiêu Trẻ em và phụ nữ Việt Nam trong năm 2006, cho thấy có đến 64% phụ nữ độ tuổi từ 15-49 chấp nhận hành vi bạo lực của người chồng vì một trong 5 lý do sau: Người vợ đi chơi không nói cho chồng biết Người vợ bỏ bê con cái Người vợ cãi lại chồng Người vợ từ chối quan hệ tình dục với chồng Và người vợ nấu thức ăn bị cháy Thông qua nhận định này, cứ 3 phụ nữ được hỏi thì có 2 người đồng ý với việc người chồng có quyền người đánh vợ khi người vợ phạm một trong 5 khuyết điểm nói trên

Bạo lực vợ chồng xảy ra nhiều hay ít, thường xuyên hay không cũng phụ thuộc phần nhiều vào khu vực nơi cư trú Công việc phổ cập văn hoá và đời sống gia đình tới vùng nông thôn vẫn đang còn hạn chế hơn

Trang 12

những nơi đô thị, không những vậy,

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

được thành lập ngày 20 tháng 10 năm

1930 Là thành viên Mặt trận Tổ

quốc Việt Nam, thành viên Liên đoàn

phụ nữ dân chủ Quốc tế, thành viên

tương đương (gọi là cấp xã)

Những tên gọi trong lịch sử: Hội

Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của

Phụ nữ Việt Nam là cơ quan trực

thuộc Chính phủ phối hợp hoạt động

của Chính phủ giải quyết những vấn

đề liên ngành liên quan đến sự tiến

bộ của phụ nữ

Việt Nam đã ký Công ước về xóa

bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối

xử với phụ nữ (CEDAW) của Liên Hiệp Quốc

Văn hoá nghệ thuật

Hát ca trù Bắc Bộ

Sân khấu tuồng Nam Bộ

Tính hoạt động nghệ thuật ở người phụ nữ Việt Nam có sự lồng ghép giữa các giai đoạn lịch sử, giữa dân tộc và thế giới mở hiện đại Nghệ thuật có nguồn gốc từ nền văn hoá đa sắc tộc, phục vụ nhu cầu tinh thần cho chính dân tộc họ Nghệ thuật thăng trầm cùng lịch sử vốn có nhiều giai đoạn chiến tranh và hoà bình Người phụ nữ ở vào những hoàn cảnh xã hội nhất định đã đem đến những hiệu quả tinh thần, thông qua những hoạt động lao động nghệ thuật, bao gồm: Thể thao, Điện ảnh, ca múa nhạc, thời trang, điêu khắc, hội hoạ,

ẩm thực, tiêu dùng, đối nhân xử thế

Điện ảnh và sân khấu

Người Phụ nữ Việt Nam nổi bật trong các tác phẩm điện ảnh, được thể hiện đặc sắc theo suốt 3 thời kỳ: Thời kỳ 1959 - 1975, tuy điện ảnh Việt Nam ra đời trong chiến tranh nhưng đã phát triển được nhiều

Trang 13

tác phẩm nổi tiếng như "Chung một

dòng sông", "Vợ chồng A Phủ", "Con

chim vành khuyên", "Đường về quê

mẹ", "Nổi gió" Và là thời kỳ đầu

của cả phim truyện, phim tài liệu và

phim hoạt hình của Việt Nam, với

nhiều tác phẩm giành giải thưởng tại

liên hoan phim quốc tế

Thời kỳ 1976 - 1986, có nhiều

biến động về kinh tế, xã hội, xuất

hiện những mâu thuẫn vì tồn đọng cái

cũ trong cái mới Những tác phẩm

điện ảnh ra đời nhưng đã có sự biến

đổi mạnh mẽ về phong cách tiếp cận

và khai thác đề tài về người phụ nữ

Được thể hiện khá rõ nét qua những

bộ phim "Mùa gió chướng", "Chom

và Sa", "Hòn đất", "Đứng trước

biển", "Chuyến xe bão táp"

Thời kỳ từ 1987 đến nay là thời

kỳ xóa bỏ bao cấp và hội nhập quốc

tế, điện ảnh đã và đang phản ánh thực

tế cuộc sống người phụ nữ Việt Nam

trong xã hội hiện tại Một phần quay

về với những số phận con người

trong và sau chiến tranh như "Anh

chỉ có mình em", "Bông hoa rừng

Sác", "Hà Nội 12 ngày đêm" Phần

khác là những người đàn bà trăn trở,

vật lộn với cuộc sống mưu sinh trong

phim "Giải hạn", "Hải Nguyệt"; sự

sao nhãng cuộc sống bản thân, gia

đình và xã hội để lao vào một kiếp

đời phù du của những cô gái nhảy

đáng thương trong phim "Gái nhảy";

là nhân vật Dần, một điển hình cho

người phụ nữ chịu thương, chịu khó,

đức hạnh và dịu dàng trong phim "Áo

lụa Hà Đông"

Bên cạnh ngành điện ảnh, phụ nữ

Việt Nam còn là lực lượng diễn viên

chủ lực trên các sàn diễn kịch trường,

hát dân ca, hát chèo, hát bội (hát tuồng) và hát cải lương

Một số hình ảnh trong lao động sản xuất và nghệ thuật

Tranh hoạ nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương Phụ nữ thời xưa

Phụ nữ trong lao động sản xuất (thời kỳ chiến

tranh)

Phụ nữ trong khoa học (thời kỳ chiến tranh)

Người phụ nữ trong chiếc

Áo dài truyền thống

Phụ nữ trong ngành nghề lao động phổ thông

Người phụ nữ bán hàng

rong

Các nữ du kích ở Địa đạo Củ Chi, Nam bộ Việt Nam.

Nghệ sĩ dân ca

Phụ nữ H'mong, dân tộc thiểu số VN

Trang 14

Vị thế xã hội

Trong xã hội Việt Nam hiện nay

phụ nữ đóng góp một phần rất lớn

vào quá trình phát triển của đất nước,

thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong

lực lượng lao động Với hơn 50% dân

số và gần 50% lực lượng lao động xã

hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham

gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời

sống xã hội và giữ những chức vụ

quan trọng trong bộ máy nhà nước

+ Về chính trị: Với tỉ lệ nữ đại

biểu trong Quốc hội là 27,31% của

Khóa XI đã đưa Việt Nam lên vị trí

thứ nhất Châu Á và thứ hai khu vực

Châu Á Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ

tham gia Quốc hội Tỷ lệ nữ đại biểu

Quốc hội không chỉ tăng dần số

lượng qua từng khóa mà còn mạnh

lên cả về chất lượng, hoạt động đại

biểu[8] và Việt Nam được đánh giá là

nước có tỉ lệ phụ nữ tham gia hoạt

động chính trị cao nhất thế giới.tỉ lệ

đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa

XII) tăng lên tới 33,1%,số phụ nữ

tham gia Hội đồng nhân dân các cấp

là trên 20% Hiện đang có kế hoạch

tăng lên hơn 35% nữ đại biểu có mặt

trong Quốc hội bất chấp rào cản

ước tính tới gần 30% Phụ nữ chiếm

ưu thế trong một số ngành như Giáo

dục, Y tế, và Dịch vụ Trong công tác

chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông

trong các bộ môn Văn học, ngôn ngữ,

y dược, Khoa học xã hội, Khoa học

tự nhiên và Kinh tế Nếu tính tổng số

giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà

và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới

+ Về luật pháp: Phụ nữ được luật pháp bảo vệ với Luật Bình đẳng giới cùng các luật, nghị định, quyết định và pháp lệnh khác trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước cũng như các chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, mại dâm, bạo hành trong gia đình và tuyên truyền nâng cao ý thức về quyền lợi của người phụ nữ trong các vấn đề này Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành báo cáo về tình hình thực hiện Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) Đặc biệt, hệ thống các ban Vì sự tiến bộ của phụ

nữ đã được thành lập ở 45 bộ, ngành

và toàn bộ 64 tỉnh, thành phố Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt động hiệu quả, hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ được tăng cường

+ Về kinh tế: Có tới 71% phụ

nữ từ 13 tuổi trở lên là những người

có thu nhập Số hộ nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004.Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở, và tài sản Hiện nay,

số doanh nghiệp do phụ nữ điều hành hoặc làm chủ chiếm tới trên 20% tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam Những doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ phần lớn thuộc về khu vực thương mại, dịch vụ, sản xuất, chế

Trang 15

biến nông sản, thủy sản Nhiều tấm

gương phụ nữ trẻ làm kinh tế giỏi

không những chỉ làm giàu cho bản

thân mà còn đóng góp được nhiều

cho xã hội,giúp đỡ nhiều người có

hoàn cảnh khó khăn giống mình

Phụ nữ trong xã hội Việt Nam

hiện nay ngoài những điểm tích cực,

tiến bộ thì vẫn đang đối mặt với một

số vấn đề hạn chế, tiêu cực trong xã

hội là:

+ Phân biệt đối xử trong xã

hội - Bình đẳng giới: Ở Việt Nam,

số nam giới làm cán bộ quản lý cao

hơn năm lần so với nữ giới Các gia

đình mong muốn có con trai, đặc biệt

là con đầu lòng, đây là một trong các

nguyên nhân dẫn tới tỷ lệ phá thai nữ

rất cao ở Việt Nam, và sự mất cân

bằng giới tính Theo thống kê mới

nhất, tỷ lệ trẻ em nam/nữ hiện tại là

120/100, dự báo đến năm 2030, sẽ

mất cân bằng giới tính trong hôn

nhân (thừa nam thiếu nữ) Còn nhiều

phụ nữ phải làm trong các ngành

nghề độc hại không phù hợp

+ Bạo hành gia đình: Theo báo

cáo của Ủy ban Dân số - Gia đình và

Trẻ em, 30% số phụ nữ bị đánh đập,

lạm dụng cưỡng bức bằng nhiều hình

thức do người chồng gây ra.[21]

Theo số liệu thống kê của Liên Hiệp

Quốc và Tổng cục Thống kê thì 58%

phụ nữ Việt Nam là nạn nhân của bạo

lực gia đình Nhiều vụ bạo hành

thương tâm diễn ra, để lại di chứng

rất nặng nề cho người phụ nữ

+ Buôn bán phụ nữ: hàng năm,

có hàng nghìn phụ nữ Việt Nam bị

buôn bán trái phép qua biên giới

(theo số liệu Liên hợp quốc) Có các

chương trình của các tổ chức quốc tế,

cũng như của Liên hiệp Phụ nữ VN chống buôn bán phụ nữ Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều các trường hợp phụ

nữ bị bán qua biên giới, qua Trung Quốc, Campuchia, Đài Loan, Hong Kong, Malaysia và Thái Lan Rất nhiều phụ nữ và trẻ em Việt Nam sinh sống tại vùng biên đã bị bắt cóc bán sang Trung Quốc làm vợ hoặc phục vụ trong các động mại dâm Tình trạng này thực sự trở lên đáng báo động khi số người bị buôn bán ngày càng gia tăng Theo báo cáo Liên hợp quốc, năm 2004, có khoảng 50.000 phụ nữ bị đưa đi làm gái tại Campuchia, trong đó có nhiều cô gái Việt nam Unicef thống kế có khoảng một phần ba gái mại dâm ở Campuchia dưới 18 tuổi, và hầu hết

là người Việt Nam Ước tính có khoảng 10% số vụ hôn nhân giữa phụ

nữ Việt Nam với đàn ông Trung Quốc có thể là kết quả của nạn buôn người

+ Sức khỏe phụ nữ và sức

khỏe sinh sản: Tỷ lệ phụ nữ ở độ

tuổi sinh sản mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản (20%) và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cao (25%) Đóng góp của y

tế công góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong mẹ và con, tuy nhiên tử vong

mẹ vẫn còn ở mức cao (29,9/1.000), đặc biệt ở miền Trung, cao nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc

+ Tỷ lệ phá thai cao: Việt Nam

có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, và người thua thiệt bao giờ cũng

là phụ nữ Một nguyên nhân là do tình hình quan hệ tình dục ở lứa tuổi

vị thành niên, trước và ngoài hôn nhân của vị thành niên và thanh niên ngày càng nghiêm trọng, không chỉ

Trang 16

phổ biến ở các thành phố lớn, các

khu đô thị mà xuất hiện ngày càng

nhiều ở các vùng nông thôn Vấn đề

giáo dục giới tính cho trẻ em nữ

không được làm tốt và do sự du nhập

của văn hóa sống tự do phương Tây

qua các phương tiện truyền thông

Thanh niên nữ quan hệ tình dục lần

đầu sớm hơn trước nhiều Theo Điều

tra Quốc gia về thanh niên và vị

thành niên Việt Nam lần 2 (SAVY 2)

công bố (tháng 8-2010), tuổi có quan

hệ tình dục lần đầu đã hạ xuống 18,1

tuổi, sớm hơn 1,5 tuổi so với thanh

niên cùng lứa tuổi trong điều tra cách

đây 5 năm (19,6 tuổi)

+ Mại dâm: Phụ nữ là nạn nhân

chính của tệ nạn mại dâm tại Việt

Nam Hiên nay, do vấn đề kinh tế,

đặc biệt tại các vùng khó khăn, tình

trạng mại dâm nữ diễn biến rất phức

tạp, có chiều hướng tăng lên đầu tư

cho công tác phòng chống mại dâm

và phòng chống buôn bán phụ nữ trẻ

em hiện nay quá ít, không tương

xứng với nhiệm vụ Ngân sách chủ

yếu là lấy từ kinh phí thường xuyên

của các bộ, ngành và địa phương

trong nguồn chi đảm bảo xã hội, nên

nhiều nơi không bố trí kinh phí cho

chương trình này, hoặc bố trí rất ít

http://vi.wikipedia.org/wiki/

BÁC HỒ VÀ PHỤ NỮ

Trích từ bài viết của GS, TS

Nguyễn Lân Dũng

Suốt cả cuộc đời mình, Bác Hồ

đã để lại cho đời nhiều thứ quý giá, trong đó có một suối nguồn tình cảm sâu nặng nghĩa tình, nâng niu quý trọng mà Bác đã dành cho nhiều thế

hệ phụ nữ Việt Nam Bác quan tâm nhất là vấn đề giải phóng phụ nữ Nếu vấn đề giải phóng phụ nữ là vấn đề cơ bản nhất trong các vấn đề của phụ nữ thì quyền bình đẳng giữa nam và nữ lại là nội dung quan trọng nhất, cốt lõi nhất của vấn đềnày Chính vì vậy mà Bác đã khẳng định:

“Công dân đều bình đẳng trước pháp luật Đàn bà có quyền bình đẳng với đàn ông về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình” Hơn ai hết, Bác là người hiểu rõ rằng: Trong

xã hội, người phụ nữ là người bị áp bức, chịu đau khổ và thiệt thòi nhiều nhất và phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng, sẵn sàng đi với cách mạng Người phụ nữ còn có chức năng đặc biệt: Tái sản xuất sức lao động cho xã hội, thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ, có vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của gia đình Bác Hồ nói rằng có một nhà giáo dục đã viết: Giáo dục một người đàn ông, ta được một gia đình, giáo dục một người phụ nữ ta được cả một thế hệ Do đó, Bác đề ra nhiệm vụ cho Đảng phải chăm lo giải phóng phụ nữ Tư tưởng nam nữ bình quyền của Bác được ghi trong luận cương của Đảng, được thể chế hoá sớm nhất trong điều 9 Hiến pháp năm 1946 Từ

đó, quyền bình đẳng nam nữ được

Trang 17

công bố và thừa nhận qua các văn

bản quan trọng, Hiến pháp, pháp luật

về hôn nhân và gia đình, các chỉ thị,

chính sách đối với lao động nữ Tư

tưởng của Bác phù hợp với Tuyên bố

của thế giới về quyền của con người:

mọi dân tộc trên thế giới đều có

quyền hưởng TỰ DO và BÌNH

ĐẲNG Thực chất của vấn đề bình

đẳng nam nữ được Bác quan tâm

không chỉ ở góc độ chính trị mà còn

ở cả góc độ kinh tế, không chỉ ngoài

xã hội mà trong cả lĩnh vực gia đình,

gia tộc; không chỉ ở góc độ nghĩa vụ

mà còn là quyền lợi: quyền bầu cử và

ứng cử, quyền được đào tạo, học

hành, quyền được tham gia lao động

xã hội, được tự do trong hôn nhân,

được tham gia vào các cấp lãnh đạo

quản lý Nhà nước và Đảng Rất nhiều

lần Bác phê phán những thái độ đối

xử không tốt đối với phụ nữ như coi

thường không tin tưởng chị em, tệ

đánh vợ Bác nói Đảng và Chính phủ

sẵn sàng tạo điều kiện cân nhắc và

giao cho phụ nữ những chức trách

quan trọng Cần phải nói rằng không

phải ai cũng có được một cái nhìn

tiến bộ về phụ nữ như Bác

Suốt chiều dài của hai cuộc kháng

chiến chống Pháp và Mỹ, những lời

khen ngợi động viên, những đánh giá

cao của người luôn là điểm tựa tinh

thần lớn lao để phụ nữ nước ta hoàn

thành nhiệm vụ Tự hào thay khi Bác

ca ngợi phụ nữ Việt Nam: “Phụ nữ

ta chẳng tầm thường Đánh đông dẹp bắc làm gương để đời” Chúng ta thật xúc động khi nghe Bác nhận xét chị Nguyễn Thị Định - một người phụ nữ Việt Nam tiêu biểu: “phó Tổng tư lệnh quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định Cả thế giới chỉ nước ta có

vị tướng quân gái như vậy Thật là vẻ vang cho Miền Nam cho cả dân tộc!”

Và Bác đã thay mặt cho Đảng, Nhà nước tặng phụ nữ Miền Nam nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung

8 chữ vàng: Anh Hùng - Bất Khuất - Trung Hậu - Đảm Đang Không những Bác quan tâm đến quyền bình đẳng của phụ nữ Việt Nam mà Bác còn quan tâm đến cả phụ nữ Quốc tế Khi đến thăm tượng Thần Tự Do ở

Mỹ, lúc đó là Nguyễn Ái Quốc đã ghi một câu đại ý: Thần Tự Do toả ánh sáng khắp nơi nhưng dưới chân Thần vẫn còn những người phụ nữ bị đánh đập Bao giờ người phụ nữ nhất là người phụ nữ da đen mới được tự do, bình đẳng Bác nói mỗi giới đều có vai trò riêng của mình: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm”, song để phụ

nữ được bình đẳng với nam giới về mọi mặt, Bác cũng chỉ rõ: Giành lại quyền bình đẳng cho phụ nữ là cuộc cách mạng lâu dài, to lớn và khó nhất chứ không phải là việc: Hôm nay anh nấu cơm, quét nhà, rửa bát; ngày mai

em rửa bát, quét nhà, nấu cơm; Cần

có nhiều chủ trương chính sách, sử dụng biện pháp tổng hợp toàn diện về kinh tế, văn hoá xã hội để giải quyết vấn đề phụ nữ Trong một lần trả lời phỏng vấn Đài phát thanh BBC, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã nói: “Chủ tịch Hồ Chí

Trang 18

Minh là người khởi xướng con đường

giải phóng phụ nữ tại Việt Nam

Người đã thức tỉnh phụ nữ tham gia

giải phóng dân tộc, nhân loại và từ đó

giải phóng chính mình Chủ tịch Hồ

Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc với

nỗi thống khổ của người phụ nữ Việt

Nam dưới ách thống trị của thực dân

Pháp và bọn phong kiến tay sai

Người xác định rõ, bất bình đẳng

nam nữ không đơn thuần là bị ảnh

hưởng bởi các tư tưởng lạc hậu mà

chủ yếu là do chế độ kinh tế xã hội

Hồ Chí Minh là lãnh tụ Việt Nam đầu

tiên kêu gọi "Thực hiện nam nữ bình

quyền", coi sự nghiệp giải phóng phụ

nữ là mọt mục tiêu của cách mạng

Đồng chí Vũ Kỳ nhớ lại: "Một

lần, tới dự Hội nghị, nhìn dọc Hội

trường Bác hỏi: này các chú, phụ nữ

đâu không thấy ngồi hàng đầu? Bác

hỏi tiếp: Các cô có đấy không? Có ạ

Vậy mời lên đây ngồi Ngay việc

ngồi cũng không bình đẳng Phụ nữ

muốn bình đẳng không phải bảo

Đảng, Chính phủ hay nam giới mời

ngồi mà phải tự đấu tranh để giành

lấy Đó là lời dặn mà cũng là mong

muốn của Bác Bác thường nhắc: Lực

lượng phụ nữ không nhỏ, có khi còn

đông hơn nam giới Ở Việt Nam nói

riêng và Châu Á, Châu Phi nói

chung, sự bất bình đẳng giữa nam và

nữ rất rõ rệt Do ý thức hệ phong kiến

đã đè nặng lên tư tưởng phụ nữ từ

bao đời nay Vì thế, mọi đường lối,

chính sách của Đảng, Chính phủ bao

giờ cũng phải chú ý đến phụ nữ

Bác còn trực tiếp đào tạo nhiều

người trờ thành cán bộ cách mạng

Hãy đọc lại hồi ký của bà Nông Thị

Trưng viết về Bác: “Bác nói: Từ nay

1 cái kim, 1 con dao, một buổi là phải đem trả Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, chủ nhà có bằng lòng mới đem vào Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi

ăn cỗ, cháu không được ngồi Tám tháng được Bác chỉ dạy, tôi học được nhiều hơn mấy chục năm học lý luận tập trung sau này” Khi bàn về việc bầu Chủ nhiệm HTX nông nghiệp, Bác đề nghị bầu nhiều phụ nữ vào cương vị này bởi: "Phụ nữ làm chủ nhiệm đâu có đánh chén Chủ nhiệm

nữ thật thà, phải đưa nhiều phụ nữ tham gia làm chủ nhiệm”

Trong Di chúc, Bác viết: "Trong

sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ

nữ vô cùng đảm đang, đã đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sán xuất Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ

nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lãnh đạo Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây thực sự là một cuộc cách mạng”

http://baotangphunu.com

Trang 19

NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM

Ngày Phụ nữ Việt Nam là một

ngày lễ kỷ niệm nhằm tôn vinh phụ

nữ, được tổ chức vào ngày 20 tháng

10 hàng năm ở Việt Nam Vào dịp

này, phụ nữ ở Việt Nam, cũng như tại

các nơi khác trên thế giới, được nhiều

người bày tỏ sự quan tâm và tôn vinh

dưới nhiều hình thức nhưng phổ biến

nhất vẫn là tặng hoa hồng, thiệp và

kèm theo những lời chúc mừng

Lịch sử

Vào ngày 20 tháng 10 năm 1930,

Hội Phụ nữ phản đế Việt Nam (nay

đổi tên là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt

Nam) chính thức được thành lập, để

đánh dấu sự kiện này, Đảng Cộng sản

Việt Nam đã quyết định chọn ngày

20 tháng 10 hằng năm làm ngày

truyền thống của tổ chức này, đồng

thời cũng xem đây là ngày kỉ niệm và

tôn vinh phụ nữ Việt Nam, lấy tên là

"Ngày Phụ nữ Việt Nam"

Trước năm 1975 tại miền Nam

Việt Nam, dưới chính thể Việt Nam

Cộng Hòa, Ngày Phụ nữ Việt Nam

cũng là ngày tưởng niệm Hai bà

Trưng vào ngày 6 tháng 2 âm lịch

Hoạt động kỉ niệm

Vào những ngày này, hoạt động

chào mừng ngày 20 tháng 10 tại Việt

Nam được chú ý một cách khá đặc

biệt, một số họat động liên quan đến

phụ nữ đã diễn ra nhằm vinh danh nữ

giới, nhiều cơ quan cũng như công ty

đã tổ chức các lễ trao giải thưởng cho

những phụ nữ xuất sắc hoặc đạt thành

tích trong một số lãnh vực

Các chương trình văn nghệ chào mừng ngày 20 tháng 10 cũng được tổ chức nhiều và khá công phu, một số

ca sĩ nổi tiếng trong nước được mời

để tham gia trình diễn, các bài hát về chủ đề phụ nữ và tình yêu như: "Thu quyến rũ", "Em hãy ngủ đi", "Này em

có nhớ", thường được họ trình bày trong những ngày này

Nhiều công ty và đặc biệt là các siêu thị, trung tâm thương mại đã tung ra nhiều chiến dịch khuyến mãi

mà đối tượng hướng đến là những người phụ nữ, nhiều mặt hàng được giảm giá hoặc có các giải thưởng đi kèm

Ngày 20 tháng 10 năm 2007, một kênh truyền hình dành riêng cho phụ

nữ ra đời trên hệ thống truyền hình cáp HTVC, lấy tên là "HTVC Phụ nữ", đây là kênh truyền hình đầu tiên dành riêng cho nữ giới tại Việt Nam Trong những ngày này, thị trường quà tặng cho phụ nữ, nhất là hoa tươi

và đồ trang sức rất sôi động và đa dạng, nhiều người sẵn sàng bỏ ra một

số tiền lớn để có những món quà đặc biệt dành tặng cho người mình quan tâm, cũng trong ngày 20 tháng 10, nhiều đường phố tại một số thành phố lớn ở Việt Nam như Thành phố

Hồ Chí Minh và Hà Nội đã xảy ra tình trạng kẹt xe vì lượng người lưu thông tăng đột biến, nhất là vào buổi tối

Vấn đề thường được nhắc đến

Vào ngày này, vấn đề về bình đẳng giới được nhiều người bàn đến, tuy đã có những bước tiến lớn về quyền phụ nữ nhưng ở Việt Nam vẫn tồn tại một số vấn đề như bạo hành gia đình và tình trạng phân biệt nam

Trang 20

nữ Năm 2004, Việt Nam và một số

quốc gia Đông Nam Á khác đã cùng

nhau ký thông qua "Tuyên bố xóa bỏ

bạo lực đối với phụ nữ" tại Hội nghị

Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần

thứ 37, đồng thời ban hành luật riêng

về phòng chống bạo lực gia đình

Tuy nhiên, các điều luật này được

đánh giá là chưa được thể hiện trong

mọi trường hợp, mọi tình huống và

cần nhiều thời gian để hoàn thiện

Ngày 20 tháng 10 năm 2008, một

cuộc hội thảo mang tên "Hội thảo

khu vực ASEAN về Pháp luật Phòng

chống bạo lực gia đình" do Bộ Lao

động, Thương binh và Xã hội Việt

Nam, Ủy ban Quốc gia Vì sự tiến bộ

của Phụ nữ Việt Nam phối hợp với

Quỹ Hỗ trợ Phát triển phụ nữ

(UNIFEM) tổ chức đã diễn ra tại Hà

Nội, nội dung của cuộc hội thảo là

nhằm đánh giá lại "Luật Phòng chống

bạo lực gia đình" tại các nước

ASEAN đồng thời rà soát các tiêu

chuẩn quốc tế, tiến hành nghiên cứu

và trao đổi các kinh nghiệm chống

bạo hành gia đình giữa các nước này

Sớm có ý thức căm thù thực dân Pháp, chị tham gia cách mạng năm

1948 lúc đó chị 15 tuổi Với ự dũng cảm, chị luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao như giao liên, mua hàng tiếp tế cho các tổ chức cách mạng

Tháng 5 năm 1948, chị tham gia phá tề, trừ gian, giết cai tổng Tòng Ngày 14 tháng 7 năm 1949, cùng đồng đội phá cuộc mít tinh kỉ niệm quốc khánh Pháp do ngụy quyền tổ chức Đã trực tiếp diệt nhiều lính Pháp ở Vũng Tàu

Tháng 5 năm 1950, chị bị địch bắt giam ở Bà Rịa, sau chuyển đến Khám Chí Hoà, Sài Gòn Mặc dù bị

Trang 21

địch tra tấn dã man vẫn giữ vững khí

tiết người công an cách mạng Bị

thực dân Pháp kết án tử hình - vụ án

đã gây chấn động dư luận xã hội lúc

đó

Sau hai năm bị giam ở Khám Chí

Hoà, ngày 21 tháng 1 năm 1952, bị

đưa ra Côn Đảo với số tù 6267 và bị

giam riêng ở Sở Cò Trong ngục

giam những người bị án tử hình, chị

vẫn hồn nhiên, vui tươi, tin tưởng vào

ngày chiến thắng của Tổ quốc Đêm

22 tháng 1 năm 1952, chị được chi bộ

nhà tù kết nạp vào Đảng Cộng sản

Việt Nam

Ngày 23 tháng 1 năm 1952 chị bị

Pháp xử bắn taị Côn Đảo Khi bị dẫn

đi làm thủ tục trước khi hành quyết

và trên pháp trường chị đã từ chối bịt

mắt và giữ vững khí tiết người chiến

sĩ cách mạng đến phút cuối cùng

Mộ của Võ Thị Sáu hiện còn ở

nghĩa trang liệt sĩ Hàng Dương, Côn

Đảo Ngày 2 tháng 9 năm 1994, cô

được Nhà nước Việt Nam truy tặng

danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ

trang nhân dân

Tượng đài và Nhà lưu niệm Võ Thị Sáu

Nằm ở ngã tư Đất Đỏ, thuộc xã Phước Long Thọ - Huyện Long Đất Đây vốn là dãy nhà 8 gian do dân làng xây cất từ dầu thế kỷ XX tại trung tâm Đất Dỏ để các gia đình thuê ở Ngôi nhà là nơi ghi dấu nhiều

kỷ niệm tuổi thơ (từ lúc lên 4 tuổi) cho đến khi chị bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng Ngôi nhà có lối kiến trúc dân dã đặc trưng của làng quê Việt Nam Xung quanh được che bằng các tấm ván gỗ, mái nhà lợp ngói âm dương, nền đất Căn nhà dài 10m, rộng 3m gồm 2 phòng nhỏ Phòng ngoài dài 5m, ở giữa bài trí tủ thờ gia tiên,kêsát bên vách phía phải

là bộ đồ ván gỗ nơi chị em Sáu thường nằm ngủ

Từ năm 1980, Uỷ ban nhân dân huyện Long Đất đã tu bổ lại căn nhà lưu niệm nữ liệt sĩ anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân Võ Thị sáu

Trang 22

Cách nhà lưu niệm chừng 100m

là công viên tượng đài và nhà trưng

bày Võ Thị Sáu Tượng đài nằm

trong công viên bốn mùa ngát hương

hoa sứ, ngọc lan, lêkima Tượng

được đúc bằng đồng, cao 7m, do

nghệ sĩ Thanh Thanh sáng tác diễn tả

tư thế Chị sáu đang ung dung ra pháp

trường với tà áo tung bay trong gió

ban mai

Nguồn Từ điển BKTT Việt Nam

& Báo Bà Rịa - Vũng Tàu

http://vinhanonline.com

TÔ THỊ HUỲNH VÀ

ĐỘI DU KÍCH LƯƠNG HÒA

Lê Thị Hiếu Dân

Tô Thị Huỳnh, sinh năm 1945, ở

ấp Ô Chích, xã Lương Hòa, cách thị

xã Trà Vinh không đầy 4 km Cha chị

bị một viên đạn cắm vào lưng khi

ông cầm búa chạy theo du kích đuổi

giặc và ngã xuống trên mảnh đất vừa

được cách mạng cấp cho Mảnh khăn

tang trên đầu chưa ngả màu, Tô Thị

Huỳnh nghỉ học xin vào đội du kích

mật

Cuối mùa mưa năm 1962, bọn cố

vấn Mỹ kéo quân ngụy chi khu về

càn quét mấy ngày đêm liên tục

Máy bay quần đảo ầm ì, đại bác đì

đùng đinh tai nhức óc, lính bảo an,

biệt động càn đi quét lại, nhà cửa bị

đốt cháy Cây cối bị mảnh đạn trốc

gốc, đứt cành nằm nghiêng ngã Chịu

không nổi, một số bà con gạt nước

mắt gồng gánh ra đi, thà tha phương

cầu thực chớ không thèm tập trung

vào ấp chiến lược của Mỹ - Diệm bày

đó, Huỳnh được cấp trên cấp cho một khẩu súng tự tạo, không có hộp đạn, gọi là cây "mút nhét"

Mỗi lần bắn, Huỳnh phải nhét đạn vào nòng, bắn xong phải thụt vỏ đạn ra, nhét viên đạn khác vào Vậy

mà Huỳnh rất mừng, ngày ngày vác súng ra vườn dừa tập bắn

Du kích xã Huyền Hội, huyện Càng Long (Trà Vinh) bao vây tề xã bằng pháo giàn thun tự tạo

Ảnh tư liệu

Một hôm có tin giặc tập trung sắp càn vào Ô Chích Anh Sáu Đấu chỉ huy bộ đội địa phương bố trí Anh Chịu hướng chính, Huỳnh và tổ dân quân canh mặt hậu bên này sông Ô Chích Mặt trận vừa dàn xong thì bộ binh địch bắt đầu xuất hiện Anh em

bộ đội tràn tới như nước vỡ bờ Súng

ta nổ đều và mạnh Anh Sáu Đấu hô xung phong, Huỳnh chụp cây carbin của địch vừa chạy vừa bắn

Hiệp đầu kết thúc, bộ đội rút qua sông Ba Xe Huỳnh đưa hai thương binh vào trạm cứu thương rồi vác

Trang 23

súng đi gác Một lác sau súng địch nổ

vang trời, bọn chúng chạy vàng đồng

như kiến Tên đi đầu cách Huỳnh

không đầy 100 m Một mình Huỳnh

vừa bắn vừa hô: "Trung liên bắn

xuyên hông, đại liên vận động lên"

Bọn giặc nghe có trung liên, đại

liên nhớn nhác bỏ chạy không dám

xáp vào sườn rồi rút luôn Đó là

thành tích đầu tiên của Tô Thị

Huỳnh

Cũng trong thời gian này, theo

lệnh của Mặt trận, ấp Ô Chích thành

lập đội du kích, riêng xã Lương Hòa

có đội nữ du kích gồm Năm Việt, Tư

Khmer Năm đó, Tô Thị Huỳnh được

cử đi dự đại hội mừng công chiến sĩ

thi đua, anh hùng lực lượng vũ trang

toàn miền Nam Dự đại hội về,

Huỳnh lại cầm súng ra trận

Lần đầu tiên Tiểu đội nữ du kích

Lương Hòa ra mắt Mặt trận và đồng

bào tỉnh Trà Vinh Huỳnh và tất cả

chị em hứa hẹn sẽ chiến đấu đến giọt

máu cuối cùng Đội du kích 9 người

đánh mãi và lớn lên thành trung đội

nữ du kích Lương Hòa

Năm 1965, chi bộ kết nạp Tô Thị

Huỳnh vào Đảng Tháng 12/1966, Tô

Thị Huỳnh hy sinh Hơn 500 tên giặc

đã ngã xuống trước những mũi súng

ngùn ngụt căm thù của mấy chị em

người Việt - Khmer, trong đó có hơn

100 tên chết dưới họng súng của

Huỳnh với sự tham gia 150 trận đánh

lớn, nhỏ, bắt sống 30 tên, thu 30 súng

các loại

Chị Huỳnh còn gài chông, lôi làm

giặc bị thương hơn 20 tên, binh vận

16 binh sĩ bỏ hàng ngũ địch mang 18

súng trở về với nhân dân Tổ chức 5

cơ sở làm nội ứng cho ta Vận động 6

thanh niên vào bộ đội 40 thanh niên nam nữ vào lực lượng võ trang địa phương

Ngày 17/9/1967, Tô Thị Huỳnh được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng Huân chương Giải phóng hạng ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tuổi trẻ Tô Thị Huỳnh là một đóa hoa rực rỡ đất Lương Hòa thần thánh Chị là tấm gương tiêu biểu cho tuổi thanh xuân hy sinh bảo vệ Tổ quốc Chiến công nối tiếp chiến công, quê hương mãi mãi ghi nhớ công ơn của chị cùng các liệt sĩ anh hùng

http://www.baocamau.com.vn

CHỊ ÚT TỊCH: "ĐÁNH GIẶC CÒN CÁI LAI QUẦN CŨNG ĐÁNH"

Lê Thị Hiếu Dân

Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Thị Út, sinh năm 1920 ở xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh Chị Út thuộc thành phần bần cố nông, nghèo khổ Cha mẹ đều đi ở đợ cho địa chủ Chị

Út cũng đi ở đợ năm 12 tuổi Năm 17 tuổi Út năn nỉ xin theo bộ đội Trong chiến dịch Cầu Kè, Út tham gia với nhiệm vụ: chạy thư ra mặt trận; phất khăn ra hiệu cho chú Chín Luông chỉ huy bộ đội đánh trận Rạch Cát; chọi đất báo tin cho bộ đội đánh bót Bến Cát

Chị Út lấy chồng là anh Út Tịch, người bạn nghèo cùng đi ở đợ và cùng đi đánh giặc Anh Tịch làm Đội trưởng Đội vũ trang thị trấn, chị Út

Trang 24

làm Xã đội phó, có nhiệm vụ tổ chức

đội nữ du kích đánh giặc Tiểu đội nữ

phối hợp với đội vũ trang tuyên

truyền đi rải truyền đơn, đi bao bót

Trà Mi, đánh bót Chông Nô

Bà con xã Tam Ngãi nói với

nhau: "Vợ chồng Út Tịch như sao

trên trời, đêm quang mây mới tụ lại"

Nhà nghèo, chị Út lại có đến 6 đứa

con Chị xay gạo làm bánh đem ra

chợ bán Chị tập cho các con đứa lớn

chăm sóc đứa nhỏ, thương yêu đùm

bọc lẫn nhau và được sự che chở, bảo

bọc của đồng bào

Chẳng những đánh giặc giỏi mà

đấu tranh chính trị với địch chị Út

cũng rất hăng hái Chị có câu nói để

đời: "Đánh giặc còn cái lai quần cũng

đánh" và chị Út là một người mẹ vừa

đánh giặc vừa nuôi con Nhiều lần đi

đấu tranh, thằng quận trưởng biết

mặt, nó quất chị bằng roi mây, nhưng

chị không hề nao núng Chị Út coi

đánh giặc là lẽ sống của đời mình

Chị không thể nhớ chị đã tham gia

đánh bao nhiêu trận

Tinh thần chiến đấu và thành tích

đạt được của chị, đảng bộ địa phương

công nhận và biểu dương bằng cách

ngày sinh nhưng vẫn xông xáo nhào

vô bắt tù binh, lấy súng, đốt xe hò

hét như trai tráng Chị Út có mặt ở

nhiều trận đánh Thu xếp con cái một

loáng, chị lại mang súng, đội nón lá

ra đi Hành trang chiến đấu của chị

gồm một túi đạn và một túi trầu cau

Ngoài kế hoạch độc lập của đơn

vị mình, chị còn giúp cho đơn vị chồng diệt giặc Đó là bót Đường Trâu đứng giữa Chông Nô - Cầu Kè

Có khi đang giữa trận đánh, chị nhờ đồng đội canh giặc, chạy về cho con

bú rồi trở ra chiến hào nhẹ nhõm Những đêm đột nhập vào ấp chiến lược, suốt đêm chị đi sờ từng cây cọc sắt, tìm gỡ lựu đạn gài để đồng bào phá rào không bị nổ Có khi phá ấp chiến lược xong, chị chạy riết về nhà

ẳm con hôn hít túi bụi

Năm 1965, chị Út mượn xuồng chở 6 đứa con ra sông Hậu, bơi qua Cồn Bần mua dưa hấu chở sang Cầu

Lộ bán, vừa tránh giặc vừa nắm tình hình cho Huyện đội Vì ban ngày giặc cho tàu sắt ngăn đón, nên mẹ con chị phải đi ban đêm Sóng gió bất thường, ghe lại khẳm, sóng lưỡi búa tạt vào liên tục, ghe chìm nghỉm Chị vừa kêu cứu vừa thu xếp cho các cháu bám vào be ghe còn nổi lờ đờ xuôi theo sóng nước

Trời tối mịt, mặt sông rộng hơn 4 cây số Chị vác cháu Đông Xuân mới mấy tháng tuổi, xốc đứng cháu lên, miệng la hét chỉ huy cho 5 đứa con lớn tránh sóng tạt vào mặt sẽ bị sặc, chờ bà con cứu giúp Ai cũng khen chỉ có chị mới cứu sống nổi đàn con khỏi bị chìm giữa dòng nước Đó là bản lĩnh của người anh hùng xứ sở

mà tuổi thơ lầm than rèn luyện cho chị có được khẩu lệnh khi xung trận Cũng vào năm 1965, chị Út cải trang vào thị trấn Cầu Kè, đo đạc để tiêu diệt cụm pháo của địch Trực thăng địch đổ quân với 4 tên cố vấn

Mỹ ra sức càn quét và nã trọng pháo liên tục vào Tam Ngãi Nhờ chị

Trang 25

hướng dẫn, pháo ta dội trúng vào trận

địa pháo của địch, diệt 2 khẩu 105 li

Lần này chị Út được chọn đi dự

Đại hội anh hùng và chiến sĩ thi đua

toàn miền Nam Chị được bầu là nữ

anh hùng lực lượng vũ trang giải

phóng miền Nam, được Ủy ban Mặt

trận Dân tộc giải phóng miền Nam

tặng thưởng Huân chương quân công

giải phóng hạng nhì Với thành tích:

Đánh 23 trận lớn nhỏ (có 8 trận thời

đánh Pháp), diệt và loại khỏi vòng

chiến đấu trên 200 tên địch, thu 70

Có nhiều quan niệm về trí thức,

theo Từ điển Triết học “Trí thức là

tập đoàn người gồm những người làm

nghề lao động trí óc Giới trí thức bao

gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc,

luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người

được xem là trí thức Định nghĩa trí

thức theo Chủ nghĩa cộng sản khoa

học Từ điển là “Một nhóm xã hội,

bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó”(1986:360) Theo các tác giả cuốn từ điển này, việc tồn tại của trí thức với tính cách là một nhóm xã hội đặc biệt, gắn liền với sự phân công lao động xã hội giữa lao động trí óc và lao đọng chân tay Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiêu chí đầu tiên của người trí thức là người đó phải có trình độ cử nhân

“Một người học xong đại học có thể gọi là có trí thức” nhưng điều này chưa đủ, mà “muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế” Có nghĩa rằng, học vấn đại học mới chỉ

là điều kiện cần, quan trọng là phải

sử dụng có hiệu quả tri thức trong đời sống xã hội, phục vụ dân sinh

Trong Nghị quyết số 27 - NQ/T.Ư "Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đảng ta quan niệm rằng “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình

độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với

xã hội”

Đặc điểm cơ bản của trí thức là lao động trí óc và có tính sáng tạo Đại văn hào L Tonxtoi cho rằng “Trí thức được coi thực sự là trí thức khi

đó là kết quả của sự suy nghĩ tìm tòi, chứ không phải là trí nhớ” Đây cũng chính là đặc trưng nổi bật nhất của khái niệm trí thức Kiểu lao động trí

óc và sáng tạo ấy đòi hỏi cao về tính

Trang 26

độc lập của người trí thức trong tư

duy, vận dụng kiến thức và kinh

nghiệm đã được tích lũy cũng như

năng lực chuyên môn nghề nghiệp

Từ quan niệm về trí thức như vậy,

theo chúng tôi có thể định nghĩa nữ

trí thức là những người có trình độ cử

nhân trở lên, làm công việc liên quan

đến hoạt động trí tuệ và có tính sáng

tạo, tạo ra những sản phẩm tinh thần

và vật chất có giá trị cho xã hội

Trí thức nói chung và nữ trí thức

nói riêng là tầng lớp xã hội có trình

độ học vấn cao nhất của xã hội Họ

cũng là những người có điều kiện

thuận lợi trong việc tiếp nhận sớm

nhất, nhiều nhất, nhanh nhất những

thông tin, tri thức xã hội Những lời

nói, hành vi của một người trí thức,

đôi khi có thể ảnh hưởng lớn đến dư

luận xã hội, định hướng hành vi xã

hội Chính vì vậy, theo Hồ Chí Minh,

các bậc trí thức có “ Trách nhiệm

nặng nề và vẻ vang, là làm gương

cho dân trong mọi việc” Theo

Người, những người trí thức muốn

Trong khoảng mười thế kỷ trong

xã hội phong kiến, kể từ năm 1076

triều đình nhà Lý mở Quốc tử giám -

trường đại học đầu tiên ở nước ta –

đã đào tạo được 2874 tiến sĩ nhưng

đều là nam giới Trong xã hội phong kiến, việc học hành và thi cử không

có chỗ cho phụ nữ, vì quan niệm Nho giáo “nữ nhân nan hoá” Theo GS Trần Quốc Vượng, ở Cao Bằng người ta còn truyền tụng về bà Nguyễn Thị Duệ một bà Nghè - đỗ đầu tiến sĩ ở Cao Bằng đời nhà Mạc

và sau này trở thành bà giáo trong cung đình Mạc – Lê - Trịnh, nêu một tấm gương “nhất kính chiếu tam vương” (một gương rọi chiếu ba vua) Bà được xem là “tiến sĩ Nho học duy nhất Việt Nam sống ở thế kỷ XVI –XVII, là một nhân vật lịch sử, hoàn toàn có thật” (Trần Quốc Vượng, 1993)

Nói đến nữ trí thức trong xã hội phong kiến, có một vài người tuy không được thi cử, đỗ đạt nhưng đã thể hiện được khả năng trí tuệ, phẩm chất xuất sắc của họ, như và Nguyễn Thị Lộ, Ngô Chi Lan, bà huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương .v.v Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, nữ trí thức hiếm hoi như

“lá mùa thu” có thể đếm trên đầu ngón tay Về những phụ nữ đã tốt nghiệp đại học, có thể kể ra như bà Henriette Bùi, tốt nghiệp đại học y khoa Pari (năm 1934), bà Nguyễn Thị Sương (năm 1940), bà Lê Thị Hoàng tốt nghiệp cao đẳng y khoa Hà Nội (năm 1937); bà Dương Thị Liễu (năm 1940), bà Lý Thị Nguyệt tốt nghiệp Cao đẳng, bào chế Hà Nội, bà Phan Thị Liệu tốt nghiệp Cao đẳng Canh nông Hà Nội; bà Phạm Thị Mỹ rốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (năm 1928), bà Nguyễn Thị Châu tốt nghiệp cử nhân Văn khoa ở Đại học Pari (năm 1936); bà Bùi Thị Cầm tốt nghiệp Đại học Luật khoa Pari và bà

Trang 27

Nguyễn Minh Nguyệt tốt nghiệp

trường Cao đẳng Luật khoa Hà Nội

Có người lấy bằng Tiến sĩ tại Pháp

như bà Hoàng Thị Nga, người Từ

Liêm, Hà Nội Nhìn chung, trừ một

số ít cam lòng làm người nội trợ, còn

hầu hết đều hành nghề bằng chính

ngành nghề đã được đào tạo Tuy

nhiên, trong điều kiện của một xã hội

thuộc địa, họ cũng có thể bị sa thải

bất cứ lúc nào và dù thuộc tầng lớp

trên, họ cũng vẫn bị đối xử bất bình

đẳng so với nam giới Theo quy định

của năm 1918, lương của giáo viên

nữ thường chỉ bằng 80% lương của

giáo viên nam, đôi khi chỉ hơn 60%

so với giáo viên nam (Nam phong

tháng 6/1918)

Cách mạng Tháng Tám thành

công, trong chế độ mới, trường đại

học đã mở rộng cửa đón nhận phụ

nữ Nếu như trước đây phần lớn nữ

trí thức xuất thân từ các gia đình

công chức, trí thức thì ngày nay có sự

đa dạng về nguồn gốc xuất thân của

nữ trí thức Theo kết quả điều tra của

Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ

Việt Nam (năm 1992) thì trí thức

xuất thân từ gia đình công nhân, nông

dân chiếm 50%, còn từ gia đình trí

thức là 40% (Hội LHPN Việt Nam,

2002) Như vậy, có thể thấy nữ trí

thức ngày nay xuất thân từ nhiều giai

cấp, tầng lớp xã hội, nhất là từ công

nhân và nông dân; được hình thành

từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và

ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp

nhau, trong đó có bộ phận trí thức

người Việt Nam ở nước ngoài

Cùng với sự gia tăng đáng kể của

số lượng nữ sinh, đội ngũ nữ giáo

viên, nữ trí thức cũng ngày càng

đông đảo Theo kết quả Tổng điều tra

dân số và nhà ở 1989, số phụ nữ có trình độ cao đẳng, đại học là 246.000 người, chiếm 36,4% tổng số người có trình độ cao đẳng, đại học của cả nước (Phạm Tất Dong, 2001) Năm

1999, con số này là 58% tổng số người có trình độ cao đẳng, 33.2% số người có trình độ đại học, 29% số người có trình độ thạc sĩ, 15.4% số người có trình độ tiến sĩ và 13% số người có trình độ tiến sĩ khoa học

Có thể nói, đội ngũ nữ trí thức ngày càng phát triển, đây là lực lượng quan trọng, là nhóm tinh hoa trong phụ nữ Việt Nam Theo thời gian, cùng với quá trình đổi mới và phát triển đất nước, đội ngũ nữ trí thức không chỉ tăng thêm về số lượng mà còn mạnh cả về chất lượng Bằng tài năng, nghị lực và những phẩm chất của giới nữ, đội ngũ nữ trí thức đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước, nhiều chị đạt được những giải thưởng cao quý trong nước và quốc tế Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước

do phụ nữ làm chủ nhiệm, có đề tài nghiên cứu, sáng kiến khoa học làm lợi cho đất nước nhiều tỷ đồng Nhiều nữ trí thức được giải thưởng của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, có bằng sáng tạo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, Chủ tịch Ủy ban Kovalevskaia, cho biết trong 24 năm qua, Ủy ban Giải thưởng Việt Nam

đã xét, chọn và trao giải thưởng cho

31 cá nhân và 15 tập thể các nhà khoa học nữ xuất sắc, tiêu biểu nhất trong lĩnh vực khoa học tự nhiên Riêng trong lĩnh vực giáo dục, nhiều giáo viên nữ đã nỗ lực phấn

Trang 28

đấu tốt, trở thành những giáo viên

giỏi, chiến sĩ thi đua các cấp, những

nhà khoa học đầu ngành, đạt thành

tích cao trong nghiên cứu khoa học,

trong các cuộc thi tài năng, các giải

thưởng lớn giành cho phụ nữ Đặc

biệt, đã có 11 nữ nhà giáo vinh dự

được Đảng và Nhà nước phong tặng

danh hiệu “Nhà giáo Nhân dân” và

1.011 nữ nhà giáo được phong tặng

danh hiệu“Nhà giáo ưu tú” Đó là

những bông hoa tươi thắm nhất trong

vườn hoa đầy hương sắc của đội ngũ

môn kỹ thuật như sau:

Đa số nữ trí thức đang ở độ tuổi

25 đến 40 Đây là độ tuổi đang sung

sức và có nhiều ước mơ, sự say mê

cùng với sự trải nghiệm cuộc sống,

họ thuộc nhóm trí thức trẻ và là nòng

cốt của đội ngũ nữ trí thức nước ta

hiện nay Có cơ sở để tin rằng, về cơ

cấu độ tuổi của đội ngũ nữ trí thức

sau mười năm 1999-2009 ngày càng

tăng về số lượng, trẻ hoá về độ tuổi

và với chất lượng chuyên môn cao

hơn trước Nhìn vào độ tuổi có thể

thấy, nữ trí thức Việt Nam phần lớn

trưởng thành trong xã hội mới, đặc

biệt trong thời kỳ Đổi mới đất nước

Điều này minh chứng cho sự ưu việt

về chính sách của Đảng và Nhà nước

đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo

và phát triển trí thức nói chung, nữ trí

có trình độ sau đại học còn ít, mà đa phần có trình độ cao đẳng, đại học Đây cũng là một thách thức đối với

sự phát triển đội ngũ nữ trí thức với trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

1.3 Sự khác biệt về vùng miền, dân tộc

Độ ngũ nữ trí thức phân bố không đều theo vùng, miền Phần lớn nữ trí thức (và trí thức ở nước ta nói chung) tập trung ở các vùng đồng bằng, nơi

có nhiều thành phố, đô thị lớn Hầu hết nữ trí thức sinh sống và làm việc

ở các vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đông Bắc, bắc Trung bộ và đông Nam bộ Xét theo khu vực nông thôn và đô thị, cũng có một tình trạng tượng tự: hầu hết nữ trí thức ở các vùng đô thị, còn các vùng nông thôn nơi hiện có 70% dân số cả nước, nhưng lại có rất ít nữ trí thức Nữ trí thức ở các vùng nông thôn có trình

độ cử nhân chỉ chiếm tỷ lệ 20% đến 25% so với đô thị, với nhóm có trình

độ sau đại học, tỷ lệ này còn thấp hơn nữa

Điều này dẫn đến một nghịch lý: các vùng nông thôn, vùng cao, vùng

xa có nhu cầu cao về nguồn nhân lực chất lượng cao thì lại thiếu vắng, trong khi ở các vùng đô thị, đồng bằng dân trí cao thì lại tập trung nhiều nữ trí thức, các nhà khoa học Chính sự phân bổ bất cân xứng về nguồn lực trí thức như vậy, là một yếu tố góp phần tạo nên sự phát triển

Trang 29

không đồng đều giữa các vùng, miền

ở nước ta hiện nay

Một điểm đáng lưu ý trong đội

ngũ nữ trí thức, đó là tỷ lệ nữ trí thức

là người các dân tộc thiểu số chiếm

một tỷ lệ rất thấp Đa số nữ trí thức là

người Kinh, Tày, Thái, Hoa, Nùng,

Mường Một vài dân tộc thiểu số, nữ

trí thức đếm trên đầu ngón tay, chỉ có

1-2 người có bằng cao đẳng, đại học

trên hàng vạn dân, như các dân tộc:

Mạ, Xtiêng, Tà ôi Nhiều dân tộc

chưa có nữ tốt nghiệp cao đẳng, đại

học như: Kháng, La hủ, Lự, Lô lô,

Mảng, Pu Péo, Brâu, Ơ đu, Rơ măm

Những dân tộc này, sau mười năm

qua hai cuộc tổng điều tra dân số và

nhà ở 1989 đến 1999, tình hình nữ trí

thức vẫn không có gì thay đổi

Những số liệu phân tích nữ trí

thức theo cơ cấu vùng miền, dân tộc

trên đây cho thấy, có sự mất cân đối

và chưa hợp lý về việc phân bố đội

ngũ nữ trí thức ở nước ta Nông thôn

và miền núi còn thiếu nhiều nữ trí

thức, cán bộ khoa học và công nghệ

Đây cũng là thực trạng chung về đội

ngũ khoa học công nghệ của cả nước,

chứ không riêng với nữ trí thức

Từ phía chính sách xã hội, cần

quan tâm, ưu tiên đào tạo đội ngũ trí

thức dân tộc ít người, bên cạnh đó, có

chính sách hậu đãi trí thức nói chung

và đặc biệt nữ trí thức làm việc ở

miền núi, vùng xa, khó khăn Có như

vậy, mới giảm bớt sự mất cân đối về

nữ trí thức hiện nay so với trước kia Theo lĩnh vực ngành nghề, chúng

ta thấy sự phân bố đội ngũ nữ trí thức khá đa dạng, ở hầu khắp các lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội

Với hơn 500.000 nữ trí thức chiếm 42% tổng số trí thức của cả nước Phần lớn nữ trí thức làm việc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo (64%), khoa học xã hội, nhân văn (58%), khoa học sự sống (55%), báo chí thông tin và chế tạo, chế biến (46%) Nữ trí thức ít làm việc trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, an ninh, quốc phòng (3,0%), vận tải (10,4%), mỏ và khai thác (10,6%), xây dựng và kiến trúc (12%) Sự khác biệt này phản ánh quan niệm của xã hội về loại hình nghề nghiệp phù hợp với phụ nữ, về sự phân công lao động theo giới trong xã hội, cùng với luật pháp và chính sách xã hội cũng góp phần chi phối sự khác biệt này

1.5 Đội ngũ nữ trí thức: nhiều

cử nhân, ít tiến sĩ, giáo sư

Một đặc điểm nữa, so với nam giới thì nữ trí thức có thể sánh vai về

số người có trình độ cao đẳng, đại học nhưng lại thua kém về số lượng

có bằng cấp sau đại học Nhất là ở trình độ tiến sĩ, tiến sĩ khoa học và học hàm phó giáo sư, giáo sư Năm

1994, về học vị, học hàm nữ trí thức như sau: TS: 12,3%; TSKH: 4,9%; PGS: 4,9% và GS: 3,9% Đến năm

Trang 30

đấu, hoặc do những khó khăn về vai

trò giới, và cả những rào cản về quan

niệm của nam giới/xã hội về nữ giới

không cần học vấn cao Dù thế nào,

điều này cũng là một thách thức đối

với sự phát triển đội ngũ nữ trí thức ở

nước ta hiện nay

1.6 Nữ trí thức: hiếm người giữ

vị trí lãnh đạo, quản lý

Tương tự như học vị, học hàm,

nữ trí thức nói riêng và phụ nữ nói

chung tỷ lệ tham gia lãnh đạo, quản

lý còn thấp Mặc dù Việt Nam được

bạn bè quốc tế công nhận như một

điểm sáng về bình đẳng giới, số nữ trí

thức giữ các chức vụ lãnh đạo, quản

lý trong bộ máy của Đảng và Nhà

nước những năm gần đây đều tăng,

nhưng cần nhận thấy rằng tỷ lệ nữ trí

thức tham gia lãnh đạo, quản lý vẫn

chưa tương xứng với đội ngũ nữ trí

thức hiện có Có thể nói, Chính phủ

và các cơ quan chức năng đã có nhiều

nỗ lực nhằm thu hẹp sự cách biệt

giữa nam và nữ trong tham gia quản

lý, lãnh đạo Tuy nhiên, trên thực tế

tỷ lệ nam và nữ nắm giữ các vị trí ra

quyết định vẫn còn rất mất cân đối

Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khoá XI

đạt 27,3% với vị trí đứng thứ hai

trong khu vực Châu Á- Thái Bình dương về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội sau New Zealand (29,2%), nhưng đến khoá XII thì tỷ lệ nữ đại biểu quốc hội giảm xuống còn 25,7%, đứng thứ

ba trong khu vực Châu Á - Thái Bình dương, sau New Zealand (32,2%) và Afganistan (27,3%) (Hoàng Bá Thịnh, 2008)

So sánh tỷ lệ cán bộ nữ chủ chốt

ở Trung ương và tỉnh thành từ năm

1997 tới năm 2003 cho thấy: Bộ trưởng và tương đương từ 7,9% tăng lên 11,9%; Thứ trưởng và tương đương từ 9,1% giảm xuống 8,1%; Chủ tịch UBND tỉnh thành từ 3,3%

và giảm xuống còn 1,6%; Phó chủ tịch UBND tỉnh thành từ 10,1% và tăng lên 11,7% Như vậy, qua hơn 6 năm, chỉ có tỷ lệ nữ Bộ trưởng và tương đương là tăng lên rõ rệt, song vẫn còn thấp Riêng tỷ lệ nữ Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố đã giảm đáng

kể và chiếm tỷ lệ quá thấp so với nam giới Tỷ lệ phụ nữ tham gia Ban lãnh đạo các đoàn thể hiện nay chưa cao, song đã có bước chuyển biến, cụ thể:

ở Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có 25 nữ/134 (chiếm 18,65%); ở Hội Nông dân Việt Nam có 15 nữ/86 (chiếm 17,2%); ở Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có 34 nữ/198 (chiếm 17%); ở Hội chữ thập đỏ có 28 nữ/105 (chiếm 26,6%) (Báo cáo CEDAW lần 5&6)

2 Một số trở ngại/khó khăn đối với nữ trí thức

Những trở ngại với nữ trí thức có thể khác nhau tuỳ thuộc vào ngành nghề, môi trường làm việc, địa bàn sinh sống, hoàn cảnh gia đình Nhưng

Trang 31

họ có thể gặp những khó khăn giống

nhau ở mấy điểm quan trọng sau đây

2.1 Nữ trí thức và khó khăn về

việc làm

Không có việc làm/thất nghiệp là

hiện tượng phổ biến ở tất cả các quốc

gia trên thế giới, với mức độ nhiều, ít

khác nhau Dù có học vấn cao, được

đào tạo bài bản nhưng trí thức nói

chung và nữ trí thức nói riêng cũng

không thoát khỏi sự khắc nghiệt về

sự cạnh tranh trong thị trường lao

động Do đó, một bộ phận nữ trí thức

thất nghiệp là điều không ngạc nhiên

Báo cáo xu hướng việc làm Việt Nam

năm 2009 cho thấy, 10,5% nữ trí thức

thất nghiệp so với 9,7% nam trí thức

Ở trình độ đại học thất nghiệp

nhiều hơn trình độ cao đẳng và thạc

sĩ trở lên, nữ trí thức thất nghiệp

nhiều hơn nam giới, nữ trí thức ở

nông thôn thất nghiệp nhiều hơn nữ

trí thức ở đô thị

Khu vực đô thị tập trung nhiều trí

thức đã tạo nên sự cạnh tranh về việc

làm, khiến cho tỷ lệ thất nghiệp của

trí thức (bảng 6)

2.2 Về định kiến giới

Bên cạnh những phẩm chất đặc

trưng của nữ trí thức Việt Nam là

thông minh, trung thực, sâu sắc, tình

cảm, cần cù, chịu khó Với những

phẩm chất ưu việt của phụ nữ, họ có

nhiều lợi thế trong hoạt động chuyên

môn mà nam giới không thể có; thì

có thể nói rằng tâm lý giới cũng là

một rào cản đối với một bộ phận nữ

đề có tính nhạy cảm về chính trị, thiếu tính phản biện xã hội

Quan niệm về phân biệt giới vẫn còn ảnh hưởng ở một bộ phận các tầng lớp xã hội, việc “trọng nam, khinh nữ” không chỉ có ở các vùng nông thôn mà cả ở đô thị, không chỉ trong dân thường mà cả trong cán bộ,

kể cả một số cán bộ lãnh đạo, quản

lý, những người có trình độ học vấn, địa vị cao Nữ trí thức còn gặp trở ngại từ phía nam đồng nghiệp và từ

nữ đồng nghiệp Chính ảnh hưởng của tư tưởng coi thường phụ nữ trong

xã hội đã khiến cho nhiều người thiếu

sự tin tưởng ở phụ nữ, coi thường năng lực của người phụ nữ, đặc biệt trong nghiên cứu khoa học Điều này không chỉ hạn chế các em gái tiếp cận giáo dục bậc cao, mà còn ảnh hưởng đến cách nhìn nhận, đánh giá, lựa chọn, đào tạo, sử dụng nữ trí thức, kìm hãm sự thăng tiến, phát triển của không ít nữ trí thức

Bên cạnh đó, công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ nói chung và nữ trí thức nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Chính sách còn mang tính bình quân, chưa chú ý đến đặc điểm giới để đề ra những chính sách phù hợp, nhằm vừa tạo điều kiện cho nữ trí thức hoàn thành tốt nhiệm vụ, vừa làm tròn thiên chức của người phụ nữ trong gia đình, như văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X đã nhấn mạnh “Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của

Trang 32

con người” Thậm chí, mặc dù Luật

bình đẳng giới chính thức có hiệu lực

từ ngày 1/7/2007, nhưng tháng 9 năm

2009 ngay tại thủ đô Hà Nội vẫn có

cơ quan đào tạo ban hành văn bản

phạm luật Bình đẳng giới và vi phạm

Nghị quyết số 11- NQ/TW ngày

27/4/2007 (Hoàng Bá Thịnh, 2009)

Chuyên gia Martha Nussbaum,

tác giả cuốn Giới tính và công bằng

xã hội (Sex and social justice), cho

rằng tại hầu hết các quốc gia, phụ nữ

vẫn đang phải đối mặt với sự thiên vị

nam nữ trong giáo dục, không công

bằng trong cơ hội việc làm, thậm chí

có cả sự bất bình đẳng về giới trong

chính trị

Nói đến định kiến giới, cần lưu ý

rằng đây không chỉ là định kiến của

gia đình, xã hội, của giới nam đối với

giới nữ mà còn là sự mặc cảm, tự ti

của bản thân phụ nữ về năng lực của

chính mình hoặc sự thiếu tin tưởng

của phụ nữ về năng lực của người

cùng giới Điều này dẫn đến tâm lý

an phận, triệt tiêu ý thức phấn đấu

của nữ trí thức Đây là một thách

thức không nhỏ, đòi hỏi phụ nữ phải

vượt qua những rào cản từ chính bản

thân mình

2.3 Vai trò giới và trách nhiệm

gia đình

So với nam giới, nữ trí thức gặp

nhiều khó khăn hơn trên con đường

sự nghiệp Khó khăn này liên quan

đến sự phân công lao động theo giới,

do quan niệm về vai trò giới trong gia

đình và ngoài xã hội (Hoàng Bá

vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên của con cái Quỹ thời gian của người phụ nữ bị phân tán vào công việc nội trợ gia đình, chăm sóc gia đình khiến nhiều phụ nữ ít có điều kiện để tiếp cận với những cơ hội để phát triển bản thân Gánh nặng gia đình bao giờ cũng dồn lên trách nhiệm của người phụ nữ; bởi vậy, nó tỷ lệ nghịch đối với sự phát triển vươn lên vị trí lãnh đạo, quản lý của phụ nữ Đây là một thách thức đặt ra đối với hầu hết phụ

nữ và tác động không nhỏ tới cơ hội thăng tiến của phụ nữ

Nữ trí thức thiếu thời gian tham gia dành cho công tác chuyên môn, đây là hệ quả của vai trò làm mẹ, làm

vợ Gánh nặng đa vai trò khiến cho phụ nữ cũng phải đương đầu với những khó khăn về thời gian để cân bằng giữa đời sống gia đình và công việc Khác với nam giới, nữ trí thức phải mang thai, sinh đẻ, phải dành nhiều thời gian cho công việc nội trợ, quán xuyến gia đình, chăm sóc con cái, phụng dưỡng cha già mẹ yếu Đặc biệt với nữ trí thức trẻ, khó khăn càng nhiều hơn khi có con nhỏ và công việc gia đình cũng nặng hơn so với nữ trí thức lớn tuổi Chính vì vậy, nhiều chị em bị quá tải về sức lực, thiếu thời gian nghỉ ngơi, trau dồi kiến thức, cập nhật thông tin Một khi, công việc gia đình nếu thiếu sự chia sẻ của người chồng/nam giới thì

sẽ là gánh nặng đối với phụ nữ, sẽ làm giảm sút sự thăng tiến, vươn lên của họ, tạo cho họ tâm lý an phận, ít

nỗ lực phấn đấu và không còn hăng

Trang 33

hái tham gia các hoạt động chuyên

môn

Trên thực tế đã có sự thay đổi

đáng kể về vai trò của phụ nữ và nam

giới trong gia đình, từ chỗ người

chồng gia trưởng, chỉ huy chuyển dần

sang mô hình gia đình cả hai vợ

chồng cùng bàn bạc quyết định và

chia sẻ công việc nội trợ, chăm sóc

con cái Mặc dù xã hội Việt Nam có

sự nhận thức về bình đẳng giới tiến

bộ như trên, nhưng chúng ta vẫn chưa

thể khắc phục hoàn toàn các quan

niệm lệch lạc về vai trò của phụ nữ

và nam giới Ở ngoài xã hội, đó là

biểu hiện định kiến, coi thường phụ

nữ, cho rằng phụ nữ không thể đảm

nhiệm các trọng trách Trong gia

đình, phụ nữ ít nhiều bị ràng buộc bởi

các tập tục truyền thống và gia

phong, mất nhiều thời gian và công

sức cho công việc nội trợ, chăm sóc

người già và trẻ em, sức khoẻ cũng ít

được quan tâm Thực trạng đó đòi hỏi

việc giáo dục nhận thức giới cho mọi

thành viên gia đình và xã hội cần

phải tiến hành rộng rãi và liên tục

hơn nữa

Theo nhóm nghiên cứu của các

giáo sư Mỹ ở đại học

Wisconsin-Madison, có 4 yếu tố khiến phụ nữ

khó theo đuổi đến cùng sự nghiệp của

vác nhiều trách nhiệm gia đình khiến

cho họ khó tiến xa trong sự nghiệp

Nói về điều này, Giáo sư Jo

Handelsman và các cộng sự trong

nhóm nghiên cứu của bà tin rằng

"Vẫn còn nhiều sự đối địch công khai

và ngấm ngầm ở đại học Mỹ Một số

là hành vi phạm pháp rõ rệt, nhưng

đa số lại kín đáo "

3 Dự báo về sự phát triển đội ngũ nữ trí thức

Như đã nói ở trên, số lượng nữ trí thức ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng (xem bảng 1) Thống kê tỷ lệ nữ trong tổng số nam

nữ theo các trình độ được đào tạo nói chung cho thấy tỷ lệ nữ đạt cao nhất

ở trình độ cao đẳng Có kết quả đó, ngoài quy luật trên đây còn do có đặc điểm là trình độ cao đẳng thường tập trung chủ yếu ở ngành khoa học giáo dục và đào tạo (chiếm 78,7% trong tổng số có trình độ cao đẳng), mà với ngành này nữ lại là chủ yếu (tỷ lệ nữ chiếm 64% trong tổng số) Thêm nữa, giáo dục và đào tạo là lĩnh vực được quan niệm là thích hợp với phụ

nữ, không chỉ trên phương diện nghề nghiệp mà cả trong việc thực hiện các vai trò gia đình Mặt khác, trình độ cao đẳng thời gian đào tạo ngắn hơn

so với đại học, đây cũng là một yếu

tố thu hút nữ giới lựa chọn bậc học này

Có cơ sở để tin rằng, trong một thập kỷ tới, đội ngũ nữ trí thức sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ Bởi

lẽ, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, cùng với sự thay đổi nhận thức trong

xã hội sẽ làm tăng thêm đội ngũ trí thức và vai trò của trí thức trong đời sống xã hội Những con số thống kê

về sinh viên các trường cao đẳng, đại học ở nước ta trong các niên học thuộc giai đoạn 1999 -2000 đến 2006 – 2007 là một minh chứng

Trang 34

Cả ở cấp bậc cao đẳng và đại học,

số lượng nữ sinh viên có xu hướng

tăng dần theo thời gian Và năm học

2006- 2007, số lượng nữ sinh đã

nhiều hơn nam sinh, với 53,8% trong

các trường cao đẳng và 55% trong

các trường đại học Đây là một chỉ

báo tích cực về xu hướng bình đẳng

giới trong tiếp cận giáo dục bậc cao ở

Việt Nam Xu hướng này, theo chúng

tôi sẽ còn được duy trì trong những

năm tiếp theo, khi mà các cấp, các

ngành và các địa phương thực hiện

Trong mọi thời đại, tri thức luôn

là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí

thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo

và truyền bá tri thức Trong bối cảnh

Đổi mới đất nước, trên nền tảng tư

tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng

định đội ngũ trí thức trở thành nguồn

lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức

mạnh đất nước trong chiến lược phát

triển Nói chuyện tại Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ I của Hội phổ biến

khoa học, kỹ thuật Việt Nam, ngày

18-5-1963, Hồ Chí Minh căn dặn

“Các đồng chí phải là những chiến sĩ

trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và

khoa học, kỹ thuật; phải góp tài góp

sức để cải tiến bộ mặt xã hội của

nước ta, làm cho nhân dân ta sản xuất

và công tác theo khoa học và đời

sống của nhân dân ta văn minh, tức là

khoa học, lành mạnh và vui tươi Đó

là nhiệm vụ rất nặng nề mà cũng rất

vẻ vang” Hội nghị lần thứ bảy Ban

Chấp hành Trung ương khóa X

(8-2008) nêu quan điểm chỉ đạo “Trí

thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Với nữ giới cần “Có chính sách và kế hoạch

cụ thể để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng trí thức trẻ, trí thức là những người đã có cống hiến trong hoạt động thực tiễn, trí thức người dân tộc thiểu số và trí thức nữ”

Những lời căn dặn của Hồ Chí Minh gần nửa thế kỷ trước đây, cùng với quan điểm Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ bảy, khoá X về vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức đối với sự phát triển đất nước, chính là niềm tự hào, trách nhiệm và là động lực để nữ trí thức cống hiến cho đất nước Với bản lĩnh, trí tuệ và phẩm chất chịu thương, chịu khó, các chị

đã có nhiều sáng tạo được áp dụng có hiệu quả vào cuộc sống Trên tất cả các lĩnh vực, từ kinh tế, văn hóa - xã hội, xây dựng Đảng, Nhà nước, xây dựng nền quốc phòng toàn dân đến đối ngoại dù ở cương vị nào, các chị đều phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần làm rạng rỡ phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam “năng động, sáng tạo, trung hậu, đảm đang”

Với quan điểm chỉ đạo“Đầu tư cho đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững”, để tạo điều kiện thuận lợi cho nữ trí thức phát triển và cống hiến, theo chúng tôi, cần quan tâm đến một số vấn đề sau đây:

4.1 Ngày nay khoa học công nghệ nói chung và khoa học xã hội

Trang 35

nói riêng mang tính quyết định đối

với sự phát triển đất nước Nữ trí

thức Việt Nam tham gia nghiên cứu,

giảng dạy, làm việc ở tất cả các lĩnh

vực trong đời sống xã hội Do vậy,

lực lượng này luôn cần được quan

tâm/chăm sóc và phát triển Quan

tâm: cần có chính sách cụ thể, với sự

nhạy cảm giới, có quan điểm giới rõ

ràng, với sự định hướng “Biện pháp

thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi

là phân biệt đối xử về giới” Phát

triển: cần lắng nghe ý kiến của nữ trí

thức, cần thực hiện và sử dụng những

ý kiến khoa học của họ một cách

nghiêm túc

4.2 Có chính sách ưu tiên và thực

hiện nghiêm các văn bản luật pháp,

chính sách ưu tiên đối với phụ nữ

trong giáo dục và đào tạo Trong kế

hoạch đào tạo đội ngũ nữ trí thức nói

chung, đặc biệt nữ trí thức trẻ, cần

tạo điều kiện cho những chị em có

năng lực chuyên môn giỏi đạt được

học vị sau đại học trước khi họ có gia

đình hoặc chưa có con nhỏ Đồng

thời, cần quan niệm việc thực hiện

chức năng sinh con và nuôi dạy con

không phải là việc riêng của gia đình,

mà đó phải là một công việc xã hội

Bởi vì, việc duy trì dân số và nuôi

dạy con cái tốt hay không sẽ tạo nên

những hệ quả tương ứng đối với sự

phát triển của xã hội

4.3 Quan tâm và ưu đãi phụ nữ

các dân tộc thiểu số, phụ nữ miền

núi, vùng sâu vùng xa Làm tốt điều

này, chính là thực hiện tinh thần Nghị

quyết số 11-NQ/TƯ ngày 27-4-2007

của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ

thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước Trong đó,

Nghị quyết cũng nhấn mạnh với cán

bộ phụ nữ cần “có chính sách đặc thù đối với cán bộ nữ công tác ở vùng cao, vùng sâu, biên giới, hải đảo, là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ đi học có con nhỏ” Và như vậy, không chỉ tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số phát triển, mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của các vùng khó khăn, rút ngắn khoảng cách bất bình đẳng xã hội và phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền, dân tộc

4.4 Thúc đẩy hoạt động tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới, để nam giới và xã hội nhận thức được việc đầu tư giáo dục cho phụ nữ có tầm quan trọng như thế nào đối với

sự phát triển quốc gia (Hoàng Bá Thịnh, 2008) Bên cạnh đó, cần nhanh chóng làm thế nào đưa Luật giáo dục đặc biệt là Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình vào cuộc sống Cho đến nay, nhiều cán bộ quản lý, lãnh đạo ở địa phương vẫn chưa biết đến hai luật được ban hành năm 2006 và 2007 4.5 Xoá bỏ tâm lý giới (tự ty mặc cảm trước nam giới), sự hẹp hòi “níu

áo nhau” trong phụ nữ là điều cần thiết Quan trọng hơn, phụ nữ nói chung và nữ trí thức nói riêng cần nỗ lực, cố gắng vươn lên, không ỷ lại, phụ thuộc, trông chờ sự giúp đỡ của Chính phủ, của nam giới

4.6 Cần nghiên cứu xúc tiến thành lập Hội nữ trí thức Việt Nam, như một tổ chức xã hội tập hợp lực lượng nữ trí thức, kể cả đội ngũ nữ trí thức sinh sống và làm việc ở nước ngoài; tạo điều kiện cho nữ trí thức không chỉ chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và giúp đỡ nhau trong công

Trang 36

việc, hoạt động xã hội mà còn là tổ

chức bảo vệ quyền lợi và phát triển

cho nữ trí thức Đồng thời, việc huy

động các nguồn lực xã hội để hình

thành Quỹ hỗ trợ đào tạo nguồn nhân

lực nữ, đào tạo nữ trí thức trẻ là rất

cần thiết

Có như vậy, mới phát huy đến

mức cao nhất mọi nguồn lực, tiềm

năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là

năng lực sáng tạo của đội ngũ trí

thức Và như vậy, nữ trí thức mới

làm tốt được sứ mệnh trong nền kinh

tế trí thức và trong bối cảnh toàn cầu

hoá, hội nhập quốc tế

Th.s Lê Thị Linh Trang

Có thể thấy những thay đổi về

kinh tế - xã hội diễn ra gần đây mặc

dù đã có tác động lên cả nam giới và

phụ nữ nhưng những suy nghĩ, quan

điểm, thái độ của con người trong xã

hội về vấn đề giới và vai trò vị trí

của người phụ nữ dường như còn mơ

hồ, chưa rõ nét Như vậy, xã hội, nam

giới và bản thân người phụ nữ cần

phải xác định cho rõ vai trò, vị trí của

phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện

đại, nhất là trong giai đoạn hiện nay –

giai đoạn đất nước đang trong xu thế

hội nhập và phát triển Từ chỗ nhận

thức đúng đắn về những vai trò này,

hy vọng mỗi người sẽ có thể tự thân

giải quyết các vấn đề tương tự như

trên, hướng đến hạnh phúc của người phụ nữ, từ đó góp phần xây dựng một

xã hội văn minh có sự bình đẳng về giới

Vai trò vốn có của người phụ nữ Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một

bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong

xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là:

- Trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì

và phát triển xã hội

- Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại Nền văn hóa dân gian của bất cứ nước nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ

- Song song với những hoạt động góp phần sáng tạo ra mọi của cải vật chất và tinh thần, phụ nữ còn tích cực tham gia đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại

Vai trò của phụ nữ Việt Nam … Trong buổi tiếp các trưởng đoàn

dự cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ lần thứ 11 (WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) diễn ra vào tháng 9 –

Trang 37

2006 tại Hà Nội, Chủ tịch Nguyễn

Minh Triết khẳng định, Ðảng, Nhà

nước và nhân dân Việt Nam nhận

thức rõ về vai trò của phụ nữ trong

phát triển và hội nhập quốc tế Chủ

tịch nêu rõ: "Ở Việt Nam, vai trò của

phụ nữ rất quan trọng Trong cuộc

đấu tranh giải phóng dân tộc, phụ nữ

tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt

động Trong thời kỳ hòa bình và xây

dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị

lãnh đạo ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn

hóa, khoa học - kỹ thuật Vai trò

của phụ nữ hoàn toàn xứng đáng với

tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và

nhân dân dành tặng: Anh hùng, bất

khuất, trung hậu, đảm đang"

Trước khi đặt chân sang thế kỷ 21

Ở khu vực Á Đông, hiếm có dân

tộc nào phụ nữ lại đóng vai trò quan

trọng trong xã hội như ở Việt Nam

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc,

phụ nữ Việt Nam đã có những đóng

góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh

giải phóng dân tộc và xây dựng đất

nước Ngay từ những buổi đầu lập

nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm

lược, bà Trưng bà Triệu đã dấy binh

khởi nghĩa đánh đuổi quân thù Thế

kỷ 20, qua hai cuộc kháng chiến

chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử lại

ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ

nữ, các chị, các mẹ không ngại gian

khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng

chiến đấu, lao động, hy sinh, cống

hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả

con em cho độc lập tự do của Tổ

quốc Phụ nữ không chỉ chiến đấu

anh hùng mà đã lao động cần cù, gian

khó để vượt lên cảnh đói nghèo và

lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước

ngày càng to đẹp và đàng hoàng hơn

Đảng, Bác Hồ phong tặng phụ nữ

Việt Nam tám chữ vàng “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” trong thời kỳ kháng chiến và “Trung hậu, đảm đang, tài năng, anh hùng” trong thời kỳ đổi mới đất nước không chỉ là sự khích lệ, động viên mà còn

là sự thừa nhận và đánh giá vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam

Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà” tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình no

ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Có thể nói, vai trò của phụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng góp quan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam

Trong xu thế hội nhập và phát triển

Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, trong công cuộc xây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, phụ nữ Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội Vai trò này đang được khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờ hết Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của người phụ nữ trong gia đình Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự

ổn định của gia đình Là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng

Trang 38

chia sẻ những ngọt bùi cũng như

những đắng cay cùng chồng, khiến

người chồng luôn cảm thấy yên tâm

trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng

góp nhiều hơn cho xã hội Không chỉ

chăm sóc giúp đỡ chồng trong gia

đình, người vợ còn đưa ra những lời

khuyên thiết thực giúp chồng trong

công việc, đóng góp vào thành công

trong sự nghiệp của chồng Là những

người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực

sự là những tấm gương cho con cái

noi theo Người mẹ ngày nay còn là

một người bạn lớn luôn ở bên con để

hướng dẫn, động viên kịp thời Bất

cứ ai trong chúng ta đều có thể tìm

thấy ở những người phụ nữ, người

vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm

hồn và sự cân bằng bình yên trong

cuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho

chúng ta vượt qua những khó khăn để

sống một cuộc sống hữu ích

Trong thời đại mới, bên cạnh vai

trò quan trọng trong gia đình, người

phụ nữ còn tích cực tham gia vào các

hoạt động xã hội Ngày càng có nhiều

người trở thành chính trị gia, nhà

khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năng

động … Trong nhiều lĩnh vực, sự có

mặc của người phụ nữ là không thể

thiếu như ngành dệt, may mặc, du

lịch, công nghệ dịch vụ …

Theo Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt

Nam, sau 10 năm thực hiện Cương

lĩnh hành động của Hội nghị thế giới

lần thứ 4 về phụ nữ tại Bắc Kinh, vai

trò, vị trí của phụ nữ Việt Nam đã

được cải thiện rõ rệt

Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp

một phần rất lớn vào quá trình phát

triển của đất nước, thể hiện ở số nữ

chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao

động Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước Chỉ cần điểm qua một vài con số: Hiện có tới 33,1% đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) - cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%

Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69% Ngay trong giới báo chí, tỷ

lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới gần 30% Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế, và dịch vụ Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh

tế Nếu tính tổng số giờ làm việc của

nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới

Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập Số

hộ nghèo do phụ nữ làm chủ đã giảm

từ 37% năm 1998 xuống còn 8% năm 2004 Đây là những con số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển Quyền của phụ nữ về kinh tế đã được nâng lên thông qua việc pháp luật quy định phụ nữ cùng đứng tên với nam giới trong giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đai, nhà ở, và tài sản Việt Nam cũng là một trong số ít

Trang 39

các quốc gia đã hoàn thành báo cáo

về tình hình thực hiện Công ước về

xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối

xử với phụ nữ (CEDAW) Đặc biệt,

hệ thống các ban Vì sự tiến bộ của

phụ nữ đã được thành lập ở 45 bộ,

ngành và toàn bộ 64 tỉnh, thành phố

Mạng lưới cán bộ tư vấn về giới hoạt

động hiệu quả, hệ thống pháp luật

bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ

được tăng cường, Luật Bình đẳng

giới chính thức có hiệu lực từ ngày

01/7/2007

Trong bài phát biểu tại buổi toạ

đàm “Vai trò của Phụ Nữ Việt Nam

Trong Thế Kỷ XXI” do Quỹ Phát

triển Phụ Nữ Liên Hợp Quốc

UNIFEM và Hội phụ nữ Việt Nam tổ

chức dưới sự hỗ trợ của các tổ chức

Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, Chủ

tịch Hội phụ Nữ Việt Nam Hà Thị

Khiết đã tôn vinh người phụ nữ Việt

Nam: “Trong thành tựu chung của

đất nước, có sự đóng góp tích cực của

các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Là

một lực lượng lao động xã hội đông

đảo, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai

trò, khả năng, sức sáng tạo của mình

trên mọi lĩnh vực của đời sống xã

hội, thích ứng với sự hội nhập và

phát triển theo xu thế chung của nhân

loại”

Như vậy có thể nói, trong xu thế

hội nhập và phát triển của đất nước,

phụ nữ Việt Nam tiếp tục phát huy và

khẳng định vai trò, vị trí của mình

đối với sự phát triển của xã hội Khi

nền kinh tế của chúng ta càng phát

triển, phụ nữ càng có nhiều cơ hội

hơn Nó phá vỡ sự phân công lao

động cứng nhắc theo giới, cho phép

phụ nữ tham gia vào nền kinh tế thị

trường và khiến nam giới phải chia sẻ

trách nhiệm chăm sóc gia đình Nó có thể giảm nhẹ gánh nặng việc nhà cho phụ nữ, tạo cho họ nhiều thời gian nhàn rỗi hơn để tham gia vào các hoạt động khác Đồng thời nó còn tạo

ra nhiều cơ hội hơn cho phụ nữ trên thị trường lao động v.v… Chính nhờ Đảng có sự lựa chọn đường lối đúng đắn cho sự phát triển của đất nước

mà vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam không ngừng được nâng cao Tuy nhiên, đó cũng chỉ mới

là những bước khởi đầu thuận lợi Hiện thời chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế cần phải được khắc phục trong vấn đề bình đẳng giới, nhất là về mặt

tư tưởng, quan điểm của con người trong xã hội, kể cả nam giới và nữ giới Không chỉ có nam giới chưa nhận thức hoặc có thái độ không chấp nhận vai trò, vị trí của phụ nữ mà ngay chính bản thân nhiều phụ nữ cũng hiểu biết mơ hồ từ đó có những thái độ lệch lạc và không thể có cách giải quyết đúng đắn các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống có liên quan đến vai trò, vị trí về giới của mình Bà Rose Marie Greve, Giám đốc Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong buổi tọa đàm “Vai trò của Phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ XXI” nói trên,

đã từng nhận định: “Đã đạt được rất nhiều thành tựu, nhưng phía trước chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm Bất bình đẳng giới vẫn còn là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo và là một trong những cản trở cho sự phát triển bền vững Người phụ nữ cần phải được bộc lộ hết khả năng của mình cũng như thực thi và hưởng các quyền của mình Thiếu bình đẳng về giới gây cản trở cho phát triển và ảnh hưởng tiêu cực

Trang 40

đến tất cả các thành viên trong gia

đình và xã hội.”

Khi ở vào thời kỳ mới, để khẳng

định và phát huy vai trò của mình,

phụ nữ Việt Nam có nhiều mặt thuận

lợi do sự phát triển kinh tế mang lại,

nhưng đồng thời với nó là những thử

thách họ cần phải vượt qua

Xây dựng, khẳng định và phát

triển vai trò của phụ nữ Việt Nam

trong thời kỳ mới!

Về phía xã hội:

Qua báo cáo nghiên cứu chính

sách của Ngân hàng thế giới: Đưa

vấn đề giới vào phát triển – thông

qua sự bình đẳng giới về quyền,

nguồn lực và tiếng nói (năm 2001), ta

có thể tham khảo chiến lược ba phần

mà các tác giả đã đưa ra và vận dụng

hợp lý vào tình hình thực tế của Việt

Nam, trong đó:

- Thứ nhất: cải cách thể chế để

tạo lập quyền và cơ hội bình đẳng

cho phụ nữ và nam giới Cải cách

pháp lý sẽ tăng cường bình đẳng giới

rõ nét nhất qua: Luật hôn nhân gia

đình, luật chống bạo hành, bạo lực,

quyền về đất đai, luật lao động,

quyền chính trị Việc này sẽ tạo môi

trường cho sự bình đẳng về cơ hội và

quyền lực, hai yếu tố thiết yếu để đạt

được bình đẳng giới trên các phương

diện khác như giáo dục, y tế và tham

gia chính trị Điều này Việt Nam

chúng ta đã và đang thực hiện tốt (thể

hiện ở các văn bản luật đã được

thông qua và có hiệu lực thi hành, tỉ

lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XII là

33,1% ); cần phát huy, nỗ lực tăng tỉ

lệ nữ ở Hội đồng nhân dân 3 cấp và

các cơ quan quản lý nhà nước Cung

cấp các dịch vụ tạo thuận lợi cho việc

tiếp cận dành cho phụ nữ, như: hệ thống trường lớp, cơ sở y tế, chương trình cho vay vốn…

- Thứ hai: Đẩy nhanh phát triển kinh tế nhằm khuyến khích tham gia

và phân bố nguồn lực công bằng hơn Phát triển kinh tế có xu hướng làm tăng năng suất lao động và tạo nhiều

cơ hội việc làm cho phụ nữ, thu nhập cao hơn, và mức sống tốt hơn Đầu tư

có trọng điểm vào cơ sở hạ tầng và giảm bớt chi phí cá nhân cho phụ nữ khi thực hiện vai trò của họ trong gia đình sẽ có thể giúp họ có thêm thời gian để tham gia vào các hoạt động khác, dù là để tạo thu nhập hay làm công tác xã hội Điều này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc học hành của phụ nữ Thiết kế chính sách thị trường lao động phù hợp, như về nghỉ đẻ, sa thải, dưỡng bệnh, nghỉ bắt buộc… trong việc sinh đẻ để tạo điều kiện cho phụ nữ có cơ hội tham gia công việc trên thị trường, đồng thời chăm sóc gia đình Cung cấp bảo trợ

xã hội, an sinh xã hội phù hợp

- Thứ ba: Thực hiện những biện pháp thiết thực nhằm khắc phục sự phân biệt giới trong việc làm chủ các nguồn lực và tiếng nói chính trị Nhà nước nên thiết lập một môi trường thể chế bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng đến các nguồn lực và dịch

vụ công cộng cho cả nam và nữ Tăng cường tiếng nói của phụ nữ (sử dụng sáng kiến, ý tưởng) trong quá trình hoạch định chính sách

Ngoài ra có thể:

- Mở rộng các quan hệ hợp tác giao lưu, vừa phù hợp với xu hướng thời đại, vừa chia sẻ, trao đổi được kinh nghiệm quốc tế trong việc giài quyết các vấn đề về giới, đồng thời

Ngày đăng: 18/03/2013, 09:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  ảnh  phụ  nữ  thông  qua  văn  thơ, ca dao, tục ngữ truyền tụng trong  dân gian như "Thân cò lặn lội bờ ao -  Gánh  gạo  nuôi  chồng  tiếng  khóc  nỉ  non",  phần  nào  minh  chứng  người  phụ  nữ  xưa  thường  bị  gạt  sang  lề  cuộc  sống - Phụ nữ và gia đình
nh ảnh phụ nữ thông qua văn thơ, ca dao, tục ngữ truyền tụng trong dân gian như "Thân cò lặn lội bờ ao - Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non", phần nào minh chứng người phụ nữ xưa thường bị gạt sang lề cuộc sống (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w