1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHỤ NỮ VÀ TÂM LÝ HỌC TÀI CHÍNH VỀ SỰ LO LẮNG

22 539 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phụ Nữ Và Tâm Lý Học Tài Chính Về Sự Lo Lắng
Tác giả Nguyễn Trần Nhật Huy
Người hướng dẫn Victor Ricciardi, Assistant Professor of Finance
Trường học Đại Học Kinh Tế TPHCM
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Đề tài
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 392,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích trung tâm của bài nghiên cứu này là tóm tắt những kiến thức về những cảm xúc tiêu cực

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ TPHCM KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

-$$$ -

Đề tài:

PHỤ NỮ VÀ TÂM LÝ HỌC TÀI CHÍNH VỀ

SỰ LO LẮNG

THỰC HIỆN

Nhóm của Nguyễn Trần Nhật Huy

Tcdn6k33

Trang 2

PHỤ NỮ VÀ TÂM LÝ HỌC TÀI CHÍNH VỀ SỰ LO LẮNG

THE FINANCIAL PSYCHOLOGY OF WORRY AND WOMEN

VICTOR RICCIARDI ASSISTANT PROFESSOR OF FINANCE ĐẠI HỌC BANG KENTUCKY

Lời mở đầu

Mục đích trung tâm của bài nghiên cứu này là tóm tắt những kiến thức về những cảm xúc tiêu cực ( đặc biệt là sự lo lắng) và sự thiên lệch giới tính trong lĩnh vực thực hiện quyết định tài chính Bài viết này kết hợp chặt chẽ sự đa dạng của những nguồn nghiên cứu như những nghiên cứu học thuật đã xuất bản, những luận án, tài liệu công ty, sách tham khảo và những cuộc khảo sát khắp cả nước Như những nhà học thuật, chúng tôi có hướng đi kiểm chứng những giả định đã được thiết lập tốt và những lý thuyết về một lĩnh vực nghiên cứu riêng biệt Chẳng hạn, một tập hợp những nghiên cứu thử nghiệm toàn diện và những nổ lực khảo sát trong tài liệu về hành vi e ngại rủi ro cho thấy những khám phá có giá trị cao như sau:

Giới tính: nữ giới có xu hướng dè dặt về rủi ro hơn là nam giới

Tình trạng hôn nhân: những người độc thân có khả năng chấp nhận rủi ro hơn là

những người đã lập gia đình

Tuổi: những người trẻ tuổi thích tìm kiếm rủi ro hơn là những người lớn tuổi Trình độ giáo dục: những người có trình độ học vấn cao hơn thể hiện xu hướng

chấp nhận rủi ro cao hơn

Kiến thức về tài chính ( kinh nghiệm/ chuyên môn): những cá nhân tin rằng họ

có sự hiểu biết nhiều hơn về rủi ro và tình trạng rủi ro, nhận thấy một xu hướng chấp nhận rủi ro tài chính lớn hơn

Những nhà nghiên cứu tài chính hành vi đưa ra những quy tắc hành xử bằng cách kiểm tra những vấn đề cấp bách như vai trò của những cảm giác tích cực và tiêu cực trong việc đưa ra quyết định đầu tư Nói cách khác, chúng tôi nên khám phá những giả thuyết mới hơn là điều tra lại những giả thuyết đã được chứng minh hay chấp nhận rộng rãi Ví dụ như, trong một chương quyển sách “sự chịu đựng rủi ro” được viết bởi Grable ( 2008), tác giả cung cấp một phần là: “Những hướng dẫn nghiên cứu về tương lai” mà hướng dẫn này trình bày một danh sách mở rộng về những câu hỏi học thuật trong phạm vi bài này

Trang 3

Vào đầu những năm 1990, những nhà nghiên cứu nhận thức nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng của sự lo lắng trong quá trình ra quyết định Ricciardi cung cấp những nghiên cứu về " quá trình gây ra lo lắng " ảnh hưởng đến nhận thức của nhà đầu tư trong việc họ nhận ra rủi ro của một dịch vụ tài chính cụ thể và sản phẩm đầu tư Borkovec đã chứng minh vai trò quan trọng của sự lo lắng khi đề cập đến các nghiên cứu thực hiện của Veroff, Douvan, và Kulka Sự lo âu là một trong số hai đặc trưng của sức khỏe tinh thần để rồi đến hai mươi năm sau năm 2007 công

bố một tập hợp 8 dấu hiệu cư xử Keates chỉ ra rằng Viện Sức khỏe Tâm thần Quốc gia đã ghi nhận rằng 9,5% cư dân Mỹ (tương đương 20,9 triệu người) chịu đựng rối loạn tâm thần mỗi năm Trong một nghiên cứu bởi Trường đại học Harvard về vấn đề sức khỏe, Tổ chức y tế thế giới và ngân hàng thế giới chỉ ra

rằng vào khoảng năm 2030, sự buồn chán sẽ được xếp hạng thứ hai chỉ sau căn

bệnh thế kỷHIV/ AIDS ( Keates [2007])

Trong khoa học xã hội, chủ đề về sự lo lắng đã trở thành một đề tài nghiên cứu học thuật tồn tại trong một thời gian dài ( Breznitz [1971], Metzger, Metzger, Cohen, Sofka, và Borkovec [1990], MacLeod, Williams, và Bekerian [1991], Davey và Tallis [1994], Freeston, Rheaume, Letarte, Dugas, và Ladouceur [1994], Borkovec, Twenge [2000], Hazlett- Stevens và Borkovec [2001], Hazlett- Stevens, Zucker, và Craske [2002], Davey [2006], và McLaughlin, Borkovec và Sibrava [2007]) Hành động lo lắng là một kinh nghiệm phổ biến ở con người

bình thường và không thể tranh cãi được Sự lo âu từ những kí ức và sự tưởng

tượng về những giai đoạn trong tương laị đã làm thay đổi những phán đoán từng

ngày và trong dài hạn của chúng ta Quá trình lo lắng làm yếu đi những giả định

của mô hình quyết định cổ điển, mà trong đó, người ta có một cách tiếp cận hợp

lý, có hệ thống, và tính toán trước; đáng lo ngại thay vì tuân theo những nguyên lý của sự hợp lý bắt buộc trong đó, những cá nhân đưa ra quyết định trong một cách thức dễ xúc động, bản năng, và tự phát Về khía cạnh cảm xúc ảnh hưởng đến ra quyết định, thói quen lo lắng là mối bận tâm đang diễn ra về bối cảnh quá khứ và hiện tại Trong quá trình lo âu, một cá nhân hoặc phản chiếu trên một hoàn cảnh quá khứ hoặc hình dung sống ngoài một sự kiện tương lai, và cá nhân không thể ngăn chặn những kiểu suy nghĩ này xảy ra Một khía cạnh tâm lý của lo lắng là làm thế nào một cá nhân có thể phản ứng trước một điều kiện cụ thể hoặc hoàn cảnh là nguyên nhân gây lo âu, trầm cảm, sợ, mối quan tâm hoặc bất hạnh Tóm

lại, Davey [1994] đưa ra quan điểm như sau:

Lo lắng thường được xem như một công việc giúp giải quyết những vấn

đề tiềm tàng trong cuộc sống Nó thậm chí có thể được xem như một hoạt động cần thiết trong nhiều trường hợp Ví dụ, sinh viên khi dần đến các

kỳ thi cuối khóa thì thường phải lo lắng về chúng Điều này có lợi ích

Trang 4

giúp tạo động lực cho các cá nhân và giúp họ định rõ và suy nghĩ những vấn đề có thể xảy ra trong thời gian cho phép (P 38)

Các phần sắp tới của bài nghiên cứu này phác thảo một bộ sưu tập phong phú của những nỗ lực nghiên cứu ( mang tính học thuật hay không) về cảm xúc lo lắng và cảm xúc bi quan khác (cảm giác) trong phạm vi lĩnh vực đề tài, bao gồm:

 Sự ảnh hưởng của tác động tiêu cực ( cảm xúc) đến quá trình ra quyết định tài chính;

 Vai trò của lo lắng và hành vi sợ rủi ro trong tài chính hành vi, kinh

tế học, và kế toán học;

 Các mối quan hệ cơ bản giữa lo lắng và phụ nữ;

 Các ảnh hưởng của tác động tiêu cực ( lo lắng ) và sự thiên lệch giới tính trong tài chính hành vi và tâm lý học tài chính

Vai trò của tác động tiêu cực ( cảm xúc) đến việc ra quyết định Tài chính

Quan niệm về những cảm giác tiêu cực và quản lý tiền có một truyền thống lịch sử lâu đời và có ý nghĩa trong việc ra quyết định tài chính Trong suốt năm 1950 , bác

sĩ William Kaufman, một chuyên gia về bệnh thần kinh ( chuyên gia trong y học chuyên nghiên cứu về mối quan hệ lẫn nhau của tâm trí và thân thể, dùng thuật ngữ " sự điên rồ của tài chính" khi đề cập tới mối quan hệ có hại giữa tiền và

những cảm giác ( Anonymus 1954) Kaufman [1965] đề xướng một cách tiếp cận

cảm xúc liên quan tới tiền, nhận ra một sự khác biệt giữa những khía cạnh tích cực được mô tả như “sức khỏe của tiền” chống lại những mặt tiêu cực được biết như “ căn bệnh gây ra do tiền"

Kaufman đưa ra quan điểm rằng việc sử dụng tiền không thích hợp trở thành mối

đe dọa cảm xúc nghiêm trọng khi một người đối mặt với mâu thuẫn giữa mơ ước

và lương tâm của anh ta với hậu quả của hành vi tiêu tiền lầm lạc Những động lực thúc đẩy vô ý thức khó hiểu có thể ngăn anh ta khỏi việc sử dụng tiền tự phát theo những cách khéo Những người như thế thường phát triển một trong những căn bệnh tâm lý phổ biến nhất của thời đại: “ căn bệnh gây ra do tiền bạc” ( 1965, p.43-44) Ngay cả các cá nhân ngày nay nhiều người đang miễn cưỡng thừa nhận

họ có thể bị rối loạn cảm xúc khi sử dụng tiền và điều này gây ra những cảm xúc tiêu cực như căng thẳng, lo lắng và stress

Hơn năm mươi năm sau sự quan sát ban đầu bởi Kaufman về “căn bệnh gây ra do tiền”, bác sĩ Rodger Henderson vào 2006, một chuyên gia về stress và thần kinh, nhận thức rối loạn này được biết đến như Hội chứng bệnh gây ra do tiền Đối với dạng hội chứng này, những cá nhân có những triệu chứng căng thẳng xuất hiện từ

sự lo âu và mối lo do những cảm giác của việc không kiểm soát được tiền của họ

Trang 5

hay hiểu biết giới hạn về hoàn cảnh tài chính của họ Vào 2006, cuộc khảo sát của Henderson được tài trợ bởi công ty đầu tư và bảo hiểm AXA, cho một mẫu gồm 1.022 người ở Vương quốc Anh trên 16 tuổi, cho thấy 43% người trả lời có những triệu chứng có liên hệ với Hội chứng bệnh gây ra do Tiền Những kết quả này, suy rộng ra có 10,75 triệu dân cư Vương quốc Anh có những sự lo lắng về tiền và biểu hiện những dấu hiệu cảnh báo được liên kết với những triệu chứng trên ( AXA [2006]) Chẳng hạn, những triệu chứng vật lý của sự rối loạn bao gồm bệnh nhức đầu, buồn nôn, khó tiêu, những hồi hộp, một thiếu sự ngon miệng, và thói quen ngủ ít Bênh cạnh đó, những chỉ tiêu tâm lý học bao gồm những sự thay đổi tâm trạng, cáu kỉnh, lo lắng chung chung, những cảm giác tiêu cực, sự tập trung giảm,

trí nhớ kém, và phán đoán kém Điều kiện này là một ví dụ đáng ghi nhớ cho thấy

vai trò quan trọng của cảm xúc tiêu cực và việc ra các quyết định tài chính

Tài liệu tài chính hành vi khám phá ra vai trò của tác động tiêu cực ( cảm xúc) nằm trong quá trình ra quyết định ở nhiều phương diện khác nhau như tâm lý của

cá nhân, sự thành thạo của người ra quyết định, vấn đề nghỉ hưu, những ảnh hưởng được hình thành trong giáo dục, những căng thẳng về tài chính Cuộc nghiên cứu nhấn mạnh sự quan trọng của những cảm giác tiêu cực và " tâm lý của

cá nhân" Ví dụ, Hira và Mugenda [1999] điều tra sự lo âu và sự ra quyết định tài chính dựa hoàn cảnh này

Mức độ lo lắng tài chính đã được đo bằng phản ứng với ba câu hỏi sau

đây: (1) Bạn có thường lo lắng về tài chính của bạn không? (2) Các vấn đề tài chính của bạn có gây trở ngại cho hoạt động hàng ngày của bạn không?

và (3) Các vấn đề tài chính của bạn có can thiệp vào mối quan hệ cá nhân của bạn không? (P 77)

Gr Và Joo khảo sát những những lo âu tài chính của 406 cá nhân bằng việc giới thiệu họ với những một tập hợp " những yếu tố gây lo lắng " như sự suy giảm thu nhập tiềm năng, sự liên quan qua việc khai báo sự phá sản cá nhân, và ảnh hưởng của việc trải qua một sự mất mát đầu tư Sự nghiên cứu 8 câu hỏi lo âu về đạo đức

và 12 điều về sự lo âu hàng ngày ( E.G., sức khỏe, những tài chính), Ohman, Grunewald, và Waldenstrom [2003] đã ước lượng khoảng 200 phụ nữ có thai lo lắng về 16 điều và tìm thấy sự lo âu chính là sức khỏe của đứa trẻ, sự sinh nở và các vấn đề tài chính ( E.G., tiền và những vấn đề về việc làm) Xét về khía cạnh tình cảm của các quyết định, Leahy [1992] sử dụng một cách tiếp cận nghiên cứu trường hợp trong một vấn đề "Nhận thức trị liệu trên Wall Street " và mô tả vai trò của cảm xúc tiêu cực và các xu hướng bản thân của khách hàng của ông ấy Trong cuốn sách của Schott và Arbeiter [1998], các tác giả thừa nhận giá trị của tâm lý lo lắng đối với tài chính của một cá nhân và tình cảm ảnh hưởng đến quyết định quá trình của họ trong chương mang tên " Nhà đầu tư-Tôi không thể ngưng sự lo lắng

"

Trang 6

Tập hợp tiếp theo này là những nghiên cứu điều tra vai trò của ảnh hưởng tiêu cực ( Ex., lo lắng, mối lo) và những quyết định tài chính thông qua việc xem xét cảm xúc này gây ảnh hưởng sự quyết định như thế nào Năm 1993, William Criddle, một nhà tâm lý học cho rằng trong lĩnh vực tài chính và đầu tư, cá nhân có kinh nghiệm chịu sự căng thẳng ở mức độ cao hơn Criddle cũng nhận xét về vai trò của một chuyên gia tài chính, đầu tư chuyên nghiệp như là một sự việc "vô cùng nguy hiểm hơn so với thế giới của các nhà đầu tư nghiệp dư! Sự nghiên cứu bởi Noordink và Ashkanasy [2004] chỉ ra rằng những cảm xúc là những dấu hiện quan trong bên ngoài trong kinh nghiệm thương mại (của) 293 thương gia tài chính đến

từ Australia, đặc biệt là vai trò của sự lo lắng và sự nhận thức Trong một nghiên cứu về đề tài chính cá nhân của Garman và Sorhaindo [2005], xem xét các khái niệm quan trọng nhất của việc "xây dựng tốt tài chính cá nhân" trong đó một chuyên gia xem xét lại việc xác định hai vấn đề hàng đầu là "lo lắng về việc có thể

để đáp ứng các chi phí sinh hoạt bình thường hàng tháng" và "Cuộc sống ngày hôm nay trên một cơ sở chỉ có tiền lương." Trong một khuôn khổ ngân sách vốn, Kida, Moreno, và Smith [2.001] đã chứng minh rằng các nhà quản lý (tức là, 114 đối tượng kinh doanh với kinh nghiệm làm việc phong phú) kết hợp cả hai cảm xúc và thống kê tài chính khi đánh giá một lựa chọn đầu tư Những cá nhân đã tránh những sự lựa chọn tài chính mà có kết nối với sự phản ứng có tính tiêu cực của bản thân Trong một việc tiếp theo, Moreno, Kida, và Smith [2002] thông báo những kết quả tìm kiếm đáng ghi nhớ này:

Nói chung những giám đốc thường tránh những nguy cơ có thể xảy ra khi

dễ bị xúc động Tuy nhiên, khi bị ảnh hưởng, họ có xu hướng loại bỏ những giải pháp đầu tư mà gây ra ảnh hưởng tiêu cực và chấp nhận những giải pháp có ảnh hưởng tích cực Những kết quả cũng chỉ ra rằng những phản ứng dễ xúc động có thể gây ảnh hưởng đến những giám đốc dẫn đến việc đưa ra những giải pháp với hiệu quả kinh tế thấp (P 1331)

Sawers [2005] cũng tiến hành nghiên cứu vốn ngân sách để xem xét vai trò của ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến dự án đầu tư của 120 giám đốc điều hành Một khía cạnh quan trọng của nghiên cứu cho thấy rằng các nhà quản lý khi trình bày các quyết định phức tạp thì họ cảm thấy sợ hãi, lo lắng, và không thoải mái và biểu

lộ gia tăng nhu cầu làm chậm trễ các dự án hơn so với các thành viên trong nhóm kiểm soát

Quá trình tiếp theo của nghiên cứu đã kiểm tra ảnh hưởng của lo lắng lo lắng và

vấn đề tài chính khi về hưu Loewenstein, Prelec, và Weber [1999] trong sách của

họ mang tên "Những gì tôi lo lắng? Một nhận thức sâu xa vài nét về việc nhận thức tính kinh tế của việc về hưu " đánh giá các lo lắng về tiền bạc liên quan đến vấn đề nghỉ hưu Các tác giả của nỗ lực này lưu ý:

Trước khi thôi việc, một cá nhân đã thích nghi tới thu nhập hiện tại, và bởi vậy tác động của nó bị coi nhẹ Hơn nữa, một cá nhân chưa chắc chắn liệu việc tiết kiệm

sẽ đủ cho sự thôi việc Tất cả các việc trên làm tăng mối lo về tiến và đồng thời,

Trang 7

chấm dứt mối lo đó từ những hoàn cảnh tài chính khách quan (Loewenstein, Prelec, và Vê [ 1999, P 242])

Một sự cố gắng nghiên cứu bởi Cutler [2001] rằng những cá nhân đó với những thu nhập trong khoảng $35,000-$ 100,000 và những độ tuổi 35-43, 44-53, và 55-

64 lo lắng hơn về việc hoang phí tất cả tài sản khi về hưu cho việc chăm soc sức khỏe trong thời gian dài hơn là họ lo lắng về việc cất giữ lâu hơn các khoản tiết kiệm và những quỹ hưu bổng Trong một nghiên cứu gần đây của Owen và Wu [2007] báo cáo rằng các hộ gia đình thừa nhận việc không thoải mái ngày càng nhiều về áp lực tài chính về việc thiếu thốn về tài chính khi họ về hưu, thậm chí sau khi tính toán ảnh hưởng của áp lực tài chính trên tất cả tổng tài sản Các tác giả nhận định "chúng tôi tìm thấy bằng chứng hỗ trợ rằng ít nhất một phần của việc gia tăng lo lắng về việc về hưu là do bi quan hơn là những thay đổi trong hoàn cảnh riêng của một cá nhân" (Owen và Wu [2007, p.515])

Trong một nỗ lực nghiên cứu của Cutler [2001] về mối quan hệ giữa cá nhân và thu nhập có thu nhập từ $35,000-$ 100,000 và các đọ tuổi khác nhau 35-43, 44-53 và 55-64 đã cảm thấy lo lắng khi họ tiêu dùng tiền lương của mình nhiều cho chăm sóc sức khỏe hơn là sống qua ngày bằng tiền tiết kiệm và quỹ hưu trí Trong một nghiên cứu gần đây của Owen và Wu ( 2007) đã cho thấy rằng các hộ gia đình đã thừa nhận áp lực tài chính đã gây ra nhiều sự lo lắng hơn khi họ có đầy đủ về tài chính khi họ về hưu ngay cả khi tính toán ảnh hưởng của áp lực tài chính trên tổng tài sản Các tác giả nhận xét về những phát hiện của họ “ chúng tôi đã tìm thấy những bằng chứng cho thấy có ít nhất 1 bộ phận lo lắng hơn về sự về hưu là sự bi quan chung hơn là sự thay đổi hoàn cảnh của mỗi có nhân”

Đây là một loạt các nghiên cứu về sự lo lắng và sự đánh giá tài chính đã được tiến hành một cách khoa học ví dụ, Hagquist [1998] đánh gía mối quan hệ giữa căng thẳng về kinh tế và cảm nhận đối với sức khỏe với mẫu là 2400 thanh thiếu niên thụy Điển Nghiên cứu cho thấy sự phổ biến “ nhận thức về

sự yếu kém của y tế” nhiều hơn so với thanh thiếu niên, những người có thói quen hay thường xuyên phải lo lắng về tài chính gia đình mình sẽ chịu lo lắng nhiều hơn những thanh thiếu niên những người ít khi hoặc không bao giờ lo lắng về chuyện này Đối với các nghiên cứu của Sawyer và Wilson [1992] nghiên cứu các vấn đề có đóng góp vào khó khăn tài chính của 1,445 sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành Hóa học trên 34 tiểu bang Nghiên cứu cho thấy

“ những điều đóng góp nhiều nhất và sự lo lắng vè tài chính đó là …chi phí bảo hiểm y tế, tiếp theo đó là sự lo lắng( sinh viên) về các khoản nợ” (Sawyer and Wilson [1992, p 876]) Trong một nghiên cứu gần đây Mahrt-Smith [2007] đã cung cấp một cái nhìn độc đáo của tâm lý giáo dục và văn học trong lĩnh vực học thuật tài chính Mahrt-Smith viết “ lo âu có tương quan mật thiết với kết quả học tập… chính điều đó đã ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của các cá nhân” (Mahrt-Smith [2007, p 18]) Các tác giả đã chỉ ra rằng nếu các giáo sư về tài chính chỉ ra cho sinh viên sự kết hợp của các yếu tố khác

Trang 8

nhau sự buồn phiền, sự thích thú và sự ưu tiên cho kiến thức ; thực hiện 1 khóa học dự bị có thể làm cho kinh nghiệm học tập tăng lên và tăng mức độ hài lòng cho các khóa tài chính thực tế Scott, Eng và Heimberg [2002] đã kiểm tra mức độ lo lắng của những sinh viên chưa tốt nghiệp đại học của các dân tộc khác nhau Các tác gỉa tìm thấy “ các nhóm khác nhau về tổng số điểm trong bảng câu hỏi điều tra mức độ lo lắng (WDQ) và trong tất cả các miền trừ miền tài chính” Scott, Eng, and Heimberg [2002, p 15]) Nói tóm lại, các sinh viên đã đồng nhất họ như người da trắng, người Mỹ gốc Phi và người Mỹ gốc Á mọi người đều có kinh nghiệm như nhau về các vấn đề tài chính, tuy nhiên những nhóm có văn hóa khác nhau trong đánh giá của họ về những lo lắng khác Ross, Cleland, và Macleod [2006] đã điều tra sự kết hợp giữa các khoản nợ của sinh viên, tâm lý, và hiệu quả học tập một tập hợp con của 125 sinh viên y khoa chưa tốt nghiệp tiết lộ họ “ lo lắng về tiền bạc” có ảnh hưởng trực tiếp đến các bài nghiên cứu của họ trong đó những sinh viên

có tỷ lệ nợ cao thường có thứ hạng thấp trong lớp của họ bản chất, những sinh viên y khoa “ sự lo lắng về tiền bạc khi có tỷ lệ nợ cao và hoạt động kém hiệu quả hơn so với các đồng nghiệp cả họ trong các kỳ thi” (Ross, Cleland, and Macleod [2006], p 584)

Trong những năm gần đây, một lĩnh vực đang nổi lên trong tài chính hành vi

đã nảh hưởng tiêu cực tới cảm xúc và nhận thức về tài chính ( cũng được gọi

là hiểu biết về kinh tế) trong một laotj các công trình của (Glimcher [2004], Shiv, Loewenstein, and Bechara [2005], Shiv, Loewenstein, Bechara, Damasio, và Damasio [2005], Peterson [2007a], Peterson [2007b], and Zweig [2007]) Ví dụ như, Shiv, Loewenstein, Bechara, Damasio, và Damasio [2005] đã đánh giá sự nhận thức tài chính của những người không có cảm xúc giống như bị tổn thương não Nghiên cứu cho thấy các cá nhân với với ảnh hưởng cụ thể của tổn thương não gây ra những lợi nhuận đầu tư nhiều hơn bình thường và kiểm soát các nhóm Trong một nỗ lực, các tác giả thấy rằng khi não bị tổn thương thì những nhóm người này sẽ không trả qua những cảm xúc lo lắng, buồn rầu hoặc sợ hãi kết quả này đang có chiều hướng nghiêng

về khuynh hướng chấp nhận rủi ra cao với những kết quả xứng đáng và ít khi phô bày cảm xúc để phản ứng lại trước lợi nhuận hay lỗ

Phần này cung cấp một bộ sưu tập thú vị và những phát hiện độc đáo về vai trò của cảm xúc tiêu cực trong lĩnh vực đánh giá tài chính và đầu tư Trong lĩnh vực tài chính, lo lắng có ý nghĩa thực sự trong nhiều khía cạnh trong đầu

tư Ví dụ, “ các phương tiện truyền thông liên tục hỗ trợ cho hành vi đáng lo ngại trong tâm lý của bất kỳ nhà đầu tư nào khi tham gia thi trường chúng khoán họ kể lại những thông tin cho rằng thị trường giảm trong bất kỳ ngày nào hoặc việc phát tán những thông tin xấu từ các nguồn khác nhau như những bài viết mới trên mạng, báo chí và các báo cáo kinh doanh trên truyền hình” (Ricciardi [2008a]) Lo lắng về tài chính và cảm xúc tiêu cực ảnh hưởng đến tất cả các cá nhân như trẻ em, những người về hưu, nhà lập kế

Trang 9

hoạch tài chính và các giáo sư tài chính Tuy nhiên, các nghiên cứu bổ sung là rất cần thiết để xác định ý nghĩa của cảm xúc tiêu cực giữa các nhóm khác nhau (các giáo sư tài chính, những nhà đầu tư mới) và các loại dịch vụ tài chính riêng biệt, các loại tài sản và đầu tư chứng khoán

Mối quan hệ giữa lo lắng và rủi ro

Tài chính hành vi, kinh tế học và tài liệu về kế toán

Trong lĩnh vực khoa học xã hôi, mối quan hệ giữa lo lắng và cảm nhận rủi ro đã được kiểm định tại khu vực thịnh hành (Green, Penning-Rowsell và Parker [1987], Fischer, Morgan, Fischhoff, Nair, và Lave [1991], Redelmeier, Rozin, và Kahneman [1993], Kirkwood [1994], Rundmo and Sjoberg [1998], Walker, Mertz, K., Kalten, and Flynn [2003], Leiserowitz [2004], Fischhoff, Bruine de Bruin, Perrin, và Downs [2004], Setbon, Raude, Fischler, và Flahault [2005], Peters, Slovic, Hibbard, và Tusler [2006], Tennfjord và Rundmo [2007]) Đặc biệt, Loewenstein, Hsee, Weber, và Welsh [2001] đề xuất đánh giá các hành vi nguy hiểm và kết hợp các hoạt động nguy hiểm một thành phần của cảm xúc tiêu cực như sự sợ hãi, sự lo lắng, sự lo âu, buồn bã hoặc sợ hãi Ví dụ, Durand, Newby và Sanghani [2006] đã phát hiện ra các nhà đầu tư với mức độ cảm xúc tiêu cực cao

và các cá nhân có trình độ kinh doanh cao có khuynh hướng giảm thiểu được rủi

ro trong kinh doanh

Từ một quan điểm học thuật, các cuộc thăm dò về sự lo lắng và hành vi rủi ro lần đầu tiên được nghiên cứu trong khoa học xã hội và trong những năm sau đó xuất hiện trong các tài liệu tài chính hành vi Nền tảng cho các yếu tố hành vi của các nghiên cứu về rủi ro nhận thức trong tài chính hành vi, kế toán và kinh tế học được phát triển từ những nỗ lực trước đây về hành vi nguy hiểm và các hoạt động nguy hai trong các lĩnh vực phi tài chính Điều này mở đường cho nghiên cứu vè rủi ro

và các hoạt động nguy hại trong các nghiên cứu khoa học xã hội đã được trình bày

tại Decision Research ( một nghiên cứu được tiến hành bởi Paul Slovic) các tài

liệu về đặc biệt về nhận thức về các nhân tố rủi ro trong kinh doanh ngày nay đã được áp dụng trong tài chính và các quyết định đầu tư Những công việc chuyên

đề của Decision Research sử dụng phân tích nhân tố để phân loại các chỉ số rủi ro

vào hai nguy cơ cấu trúc chính cho chin tiêu chuẩn riêng biệt của rủi ro hành vi và câu hỏi khảo sát bởi Fischhoff, Slovic, Lichtenstein, Read and Comb [1978 Yếu

tố đầu tiên phát triển được biết đến là sự né tránh rủi ro trong đó nhiều rủi ro hành

vi được đo lường như rủi ro tiềm ẩn, những hậu quả nghiêm trọng, những rủi ro trong tương lai và sự kiểm soát những hậu quả Thực tế, yếu tố đầu tiên trong tài liệu này “ một cảm giác tiêu cực của mối quan tâm hay lo lắng” đối với nguy cơ trong những năm sau này được biết đến như sự sợ hãi điều đó ảnh hưởng đến nhận thức của một cá nhân đối với các rủi ro cho một hoạt động cụ thể hoặc những ành

vi nguy hiểm (Ricciardi [2008a]) Ví dụ, trong một tài liệu nghiên cứu từ các

tàiliệu kế toán hành vi của Hodder, Koonce và McAnally [2001] đề xuất rằng sự

sợ rủi ro có thể ảnh hưởng đến nhận thức của một cá nhân về rủi ro của một sản

Trang 10

phẩm đầu tư phức tạp ( ví dụ: chứng khoán phái sinh) Cuối cùng, những cảm xúc tiêu cực ảnh hưởng đến nhận thức của cá nhân về rủi ro trong quá trình đánh giá tài chính và đầu tư

Năm nghiên cứu đáng chú ý cung cấp một cuộc thảo luận về sự lo lắng và hành vi rủi ro lần lượt trên ba lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bao gồm : Snelbecker, Roszkowski, và Cutler [1990] trong kinh tế học hành vi , MacGregor, Slovic, Berry, và Evensky [1999],Goszczynska và Guewa-Lesny [2000], và Holtgrave và Weber [1993] trong tài chính hành vi và Koonce, McAnally, và Mercer [2005] trong kế toán hành vi Snelbecker, Roszkowski, và Cutler [1990] đã chỉ ra khi các chuyên gia tài chính đánh giá rủi ro của khách hàng ưu tiên họ nên kết hợp các cảm xúc của cá nhân ( như sự lo lắng) và quan điểm về các quyết định đầu tư Cuộc nghiên cứu qua khảo sát bằng điện thoại của 801 nhà đầu tư cá nhân đã cung cấp một bảng câu hỏi với bốn quan điểm của khách hàng về rủi ro và tỷ suất sinh lợi Có hai quan điểm chính của khách hàng với các phản ứng đáng kể nhất là một đặc tính xác định hành vi như sự lo lắng và một mong muốn cho một tỷ suất sinh lợi khi đầu tư cao hơn lạm phát Những thành phần trong đánh giá nguy cơ rủi ro với phát biểu sau “ tôi không muốn lo lắng mất ngủ về khoản đầu tư” Nghiên cứu này quan trọng trong kinh tế học đã xác định khái niệm lo lắng như là một chỉ báo quan trọng để đánh giá rủi ro tài chính của cá nhân

Vào 1999, tổ chức Decision Research tiến hành một nghiên cứu rộng rãi về quyết

định của các chuyên gia khi phân tích rủi ro đầu tư MacGregor, Slovic, Berry,

và Evensky [1999] đã gửi một cuộc khảo sát cho các cố vấn tài chính và 256 tham gia cung cấp đánh giá của họ về một loạt 19 loại tài sản với 14 nguy cơ

cụ thể Phát hiện chính của nghiên cứu này đã tiết lộ việc sử dụng phân tích hồi quy đa nhân tố trong đó nhận thức đươc rủi ro là biến phụ thuộc vào 98% trong rủi ro nhận thức về rủi ro của các chuyên gia có sự đóng góp của

ba nhân tố lo lắng, tính dễ biến động và sự hiểu biết vào năm 2002, Finucane cung cấp một quan điểm bổ sung về quan điểm này trong đó “ nhận thức được rủi ro được đánh giá là rất lớn tới mức các nhà cố vấn sẽ thấy lo lắng về các khoản đầu tư, các khoản đầu tư đã không đúng với giá trị thị trường suốt một thời gian dài và làm thế nào các cố vấn am hiểu về các lựa chọn đầu tư” (p 238) Nghiên cứu này là một ví dụ đáng chú ý của các chuyên đề học thuật như thế nào về “ tâm lý rủi ro” đã đi từ khoa học xã hội đến tài chính hành vi

Nghiên cứu của Goszczynska và Guewa-Lesny [2000] đã kiểm tra 11 chỉ tiêu định tính (dựa trên công việc trước đó của Slovic và những người khác) trong đó, người trả lời được yêu cầu đánh giá nhận về rủi ro của họ cho thang điểm 7 trên thang điêm 10 của Likert cho 10 loại hình đầu tư tài chính ( cổ phiếu, trái phiếu) trong một mẫu của 3 ngân hàng của Ba Lan (113 chuyên gia và 108 những người mới) câu hổi chính được đưa ra là “ sự khác biệt đáng kể nào liên quan đến đánh giá rủi ro của họ về các danh mục tài sản tài chính của các chuyên gia và những người mới vào nghề?” Các

Trang 11

tác giả đã mở rộng ba nguy cơ rủi ro bao gồm : sự chắc chắn của lợi nhuận, những nguy cơ thường gặp và việc trì hoãn các khoản lỗ Sự tính toán ba

mặt của rủi ro chiếm hơn 60% về sự nhận thức không đúng đắn về rủi ro

Đặc biệt, tác giả của tài liệu này ngụ ý một sự kết hợp “ quá trình của sư lo lắng” cho một yếu tố thứ 3 được xác định như là “ sự biến mất ngay lập tức của sự sợ hãi” từ này đồng nghĩa với không được trì hoãn và tâm lý lo sợ ( hành vi không thích sự mất mát )

Mối quan hệ cơ bản giữa lo lắng và phụ nữ

Trong những giai đoạn quyết định và khoa học xã hội, các tài liệu nghiên cứu

mang tính học thuật đã ghi nhận những khác biệt tồn tại giữa phụ nữ và nam giới

về sự xúc động (cảm xúc) ảnh hưởng đến quá trình đánh giá của họ Quan điểm cho rằng phụ nữ có nhiều cảm xúc hơn nam giới đã được nhắc đến liên tục và trở nên phổ biến trong những năm qua theo Plant, Hyde, Ketlner, và Devine [2000]

Ví dụ, trong năm 1980, Gove đã chỉ ra rằng phụ nữ liên tục báo cáo lên cấp trên của mình về bệnh tâm thần nhiều hơn nam giới Đặc biệt, so với nam giới, "phụ nữ

có nhiều khả năng tham gia vào các trọng tâm tự phủ định, do đó tạo ra tâm trạng tiêu cực hơn" (Craske [2003, p 201]) Levinson, Ponzetti, và Jorgensen [1999] cung cấp quan điểm này:

Mặc dù có rất nhiều sự giống nhau về giới tính và cảm xúc, nhưng trong thực tế có rất nhiều sự khác biệt trong việc thể hiện cảm xúc của nam và

nữ Các khác biệt này bao gồm mức độ mà họ nhận ra những cảm xúc của người khác và thể hiện cảm xúc của riêng mình thông qua nét mặt và giọng nói, và hành vi như sự gây gổ Những khác biệt này khác nhau tùy theo tình hình cụ thể và nền văn hóa

Các bằng chứng được đưa ra trong các tài liệu nghiên cứu về hạnh phúc và giới tính , theo Stevenson và Wolfers [2007], các tác giả chỉ ra trong 35 năm qua các chỉ số mang tính khách quan (tức là, dữ liệu thống kê) đã chỉ ra rằng chất lượng cuộc sống của phụ nữ đã được cải thiện tại Hoa Kỳ Mặt khác, "sự đo lường các biện pháp của chủ quan cũng như được chỉ ra rằng hạnh phúc của phụ nữ đã từ chối cả hai hoàn toàn và tương đối so với nam hạnh phúc "(Stevenson và Wolfers [2007, tr 1])

Các công trình nghiên cứu cũng đã ghi nhận rằng có một sự khác biệt đáng kể về giới tính về mức độ lo lắng của nam và nữ, trong đó nữ có mức độ lo lắng lớn hơn hơn nam giới trong nhiều tình huống đưa ra những quyết định Ví dụ, Karen Altfest, một chuyên gia thiết lập kế hoạch tài chính nhận xét rằng ở đây các khách hàng nữ "nỗi sợ hãi trở thành quý bà tồi tệ Cơn ác mộng tồi tệ nhất là những phụ

nữ này tưởng tượng mình đang sống trên đường phố, mặc quần áo rách rưới, đi xin

ăn và kéo theo những đồ dùng cá nhân đi khắp nơi Không có người đàn ông nào chia sẻ ý nghĩ này với tôi" (2001, trang 73-74) Phụ nữ có xu hướng lo lắng về một loạt các vấn đề như mối quan hệ cá nhân và những mối quan hệ trong công việc, tài chính, tiền bạc, điều kiện kinh tế, kinh nghiệm làm việc, vấn đề nghỉ hưu,

Ngày đăng: 06/04/2013, 10:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w