1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những người phụ nữ trong gia đình bác hồ

63 481 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những người phụ nữ trong gia đình Bác Hồ
Tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 184,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhng cha có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về “Những ngời phụ nữ trong gia đình Bác Hồ” - họ là những đã nuôi dỡng, vuntrồng lên một nhân cách lớn, một tài năng Hồ Chí Minh cho dân

Trang 1

Nguyễn Thị bích ngọc

Những ngời phụ nữ trong gia đình bác hồ

khoá luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành lịch sử việt nam

Vinh, 5-2005

Trang 2

A mở đầu

1 lý do chọn đề tài

Từ xa xa đến nay gia đình luôn đóng vị trí quan trọng đối với mỗi cá nhân

và với toàn xã hội Chính vì thế gia đình đợc xem là “tế bào” của xã hội, là đơn vịgốc Mọi chuyện của đời sống con ngời, từ già đến trẻ đều trông cậy vào gia

đình, cho nên nó là chỗ dựa đầu tiên, cơ bản trong suốt cuộc đời con ng ời Chính

từ cái nôi này, các thành viên trong gia đình đợc nuôi dỡng, vun trồng, phát triểnnhân cách, làm thành chỗ nơng tựa về tinh thần, vật chất, nơi an toàn nhất trongcuộc sống

Trong gia đình, ngời phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức cuộcsống êm đẹp và hạnh phúc Đó cũng là tấm gơng để con cái học tập và noi theo

Đặc biệt trong cuộc sống ngày nay, trên thế giới, phụ nữ đang chiếm hơn mộtnửa dân số, họ đã và đang có nhiều đóng góp to lớn vào sự tồn tại, phát triển củanhân loại

Đối với Bác Hồ kính yêu của chúng ta, phụ nữ và trẻ em là một trong những

đối tợng đợc Ngời dành cho những tình cảm thơng yêu đặc biệt Bác đã cho rằng

“phụ nữ là thớc đo tiến bộ của xã hội” Một trong những xuất phát điểm để Chủtịch Hồ Chí Minh quý trọng ngời phụ nữ là do tuổi thơ của Ngời đợc nuôi nấng,

đùm bọc trong vòng tay của bà, của mẹ và của chị gái Chính những ngời phụ nữ

đó đã có ảnh hởng rất nhiều đến tính cách của Ngời

Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn và tập trung nghiên cứu đề tài

“Những ngời phụ nữ trong gia đình Bác Hồ ”

Về mặt khoa học: Tìm hiểu “Những ngời phụ nữ trong gia đình Bác Hồ ”

để chúng ta có thể hiểu thêm về thân thế, cuộc đời mà họ đã trải qua.Từ đó có thể

bổ sung, hoàn thiện một phần hơn nữa về gia đình Bác Hồ - một gia đình rất ViệtNam, mà các đề tài nghiên cứu khác cha đề cập đến một cách đầy đủ

Về mặt thực tiễn: Trong nguồn gốc t tởng Hồ Chí Minh thì quê hơng, gia

đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành đó Cho nên đề tài mongmuốn sẽ phục vụ thêm cho công tác giảng dạy lịch sử, nghiên cứu sâu hơn vềcuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh Đồng thời qua đó có thể giáo dục truyền thống

Trang 3

của ngời phụ nữ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”cho cácthế hệ trẻ nớc ta, nhất là thế hệ trẻ trên quê hơng Bác Hồ kính yêu.

Đặc biệt hơn nữa là ngành du lịch Việt Nam đã chọn năm 2005 là “Năm

du lịch Nghệ An” Theo đó, tỉnh Nghệ An sẽ tập trung vào khu di tích Kim Liên Nam Đàn với trọng tâm là “Tuần lễ du lịch về thăm quê hơng danh nhân Hồ ChíMinh ” [1, 5] từ ngày 18 đến ngày 25 tháng 5 nhân kỷ niệm 115 năm ngày sinhcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh

-2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đề tài nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có rất nhiều, không chỉ ởtrong nớc mà ngay cả các học giả trên thế giới cũng đã đi sâu nghiên cứu, đặcbiệt là giai đoạn khởi đầu của cuộc đời Ngời Các nhà nghiên cứu trong nớc cũng

nh các học giả nớc ngoài đã tập trung tìm hiểu về nguồn gốc hình thành t tởng

Hồ Chí Minh, quê hơng, gia đình đó là những nhân tố chủ quan thuộc về phẩmchất cá nhân của một ngời Trong số các đề tài đó, việc nghiên cứu gia đình Bác

Hồ đợc xem là một mảng quan trọng, các tác giả đã đi sâu khai thác cuộc đời củacác thành viên trong gia đình cũng nh con đờng hoạt động cách mạng của nhữngngời thân của Bác Nhng cha có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về

“Những ngời phụ nữ trong gia đình Bác Hồ” - họ là những đã nuôi dỡng, vuntrồng lên một nhân cách lớn, một tài năng Hồ Chí Minh cho dân tộc chúng ta.Trong số các công trình nghiên cứu về gia đình Bác Hồ đã có một số thể hiệntrên những khía cạnh khác nhau đã đề cập nghiên cứu nh:

2.1 “Những ngời thân trong gia đình Bác Hồ” của tác giả Trần Minh Siêu Nhà xuất bản Nghệ An - năm 2004, nhng tác giả chỉ mới đề cập đến hai trongbốn ngời phụ nữ có ảnh hởng đến Hồ Chí Minh, đó là thân mẫu và chị cả của BácHồ

-2.2 “Hồ Chí Minh thời niên thiếu” của Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng,Tỉnh uỷ Nghệ An - Nhà xuất bản Nghệ An -năm 2002 thì chủ yếu mới đề cập

đến thời thơ ấu của Bác với ngời thân trong gia đình

2.3 “Bác Hồ thời niên thiếu ở Huế” của tác giả Nguyễn Đắc Xuân - Nhàxuất bản trẻ, lại chỉ tập trung nghiên cứu giai đoạn gia đình Bác Hồ ở Huế

Trang 4

2.4 “Chuyện kể từ Làng Sen” của Chu Trọng Hiến - Nhà xuất bản Nghệ

An, 2002, chỉ có tính chất tham khảo vì nó đợc viết theo lối văn học, tính giá trịlịch sử còn nhiều vấn đề đặt ra

2.5 Tác phẩm: “Cuộc đời không ngắn ngủi” của tác giả Chu Trọng Hiếncũng là trờng hợp tơng tự

2.6 Hay trong bài viết “ Vài nét về nếp sống văn hoá trong sinh hoạt hàngngày của gia đình cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc” của tác giả Trần Minh Siêu đềcập đến không đáng kể

2.7 “Búp sen xanh” của tác giả Sơn Tùng-Nhà xuất bản Kim Đồng, HàNội 1999 đã viết nhiều về gia đình Bác Hồ nhng còn đề cập một cách tổng thểdiễn đạt theo khía cạnh văn học

Nhìn chung, tất cả các đề tài, cuốn sách trên cha nêu đợc đầy đủ cuộc đờicủa những ngời phụ nữ trong gia đình Bác Hồ Họ mới chỉ đề cập đến nhiều về bàHoàng Thị Loan - thân mẫu của Bác và chị gái Nguyễn Thị Thanh Hay một sốvấn đề trong cuộc sống thờng nhật của gia đình khi Bác còn ở tuổi thiếu thời.Còn những hiểu biết về bà nội, bà ngoại của Ngời chỉ đợc biết đến rất ít ỏi trongnhững đề tài đã đợc nghiên cứu

Trong khoá luận tốt nghiệp của mình, tôi cố gắng hệ thống hoá những tliệu thu thập đợc có liên quan đến đề tài để có thể theo dõi, nghiên cứu, góp phầntái hiện một cách toàn diện hình ảnh những ngời phụ nữ trong gia đình Bác Hồ

Đồng thời qua nghiên cứu rút ra đợc một số ảnh hởng của họ đến sự hình thànhnhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh

3 Đối tợng, nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nhằm tâp trung nghiên cứu “Những ngời phụ nữ trong gia đình Bác

Hồ ” để thấy đợc thân thế, cuộc đời của họ cũng nh những ảnh hởng đến sự hìnhthành nhân cách của Bác Hồ - anh hùng dân tộc vĩ đại, một nhà văn hoá kiệtxuất Luận văn tập trung làm rõ:

Thứ nhất : Khái quát về mảnh đất, con ngời nơi Bác Hồ đã đợc sinh ra.Thứ hai : Cuộc đời của “Những ngời phụ nữ trong gia đình Bác Hồ”

đã trực tiếp gắn bó với tuổi thơ của Ngời

Trang 5

Thứ ba: ảnh hởng của những ngời phụ nữ ấy đến sự hình thành nhân cáchcủa Hồ Chí Minh

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

ở huyện Nam Đàn, tôi sử dụng các tài liệu nghiên cứu của Đảng bộ huyện,

t liệu quyết định xây dựng, tu sửa các khu di tích có liên quan đến Chủ tịch HồChí Minh của huyện Nam Đàn

ở tỉnh Nghệ An, tôi tập trung nghiên cứu các nguồn tài liệu từ Ban tuyêngiáo Tỉnh uỷ Nghệ An, Đảng bộ Nghệ An, Ban nghiên cứu Lịch sử Tỉnh Nghệ

An, các tài liệu thu thập ở Th viện tỉnh Nghệ An

Ngoài ra, còn sử dụng các đề tài nghiên cứu khoa học, các sách đã đợcxuất bản hay một số luận văn có liên quan đến đề tài một cách có chọn lọc

4.2.phơng pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài của mình, tôi đã sử dụng kết hợp nhiều

ph-ơng pháp:

- Đọc, đối chiếu hệ thống hoá các t liệu có liên quan đến đề tài

- Điền dã lịch sử ở các làng Kim Liên và Hoàng Trù thuộc xã Kim Liênhuyện Nam Đàn và xã Hng Đạo huyện Hng Nguyên

- Sử dụng phơng pháp luận sử học Mác-xít, t tởng Hồ Chí Minh

- Sử dụng các phơng pháp nghiên cứu lịch sử liên ngành nh: đối chiếu, sosánh phân tích, thống kê

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục tham khảo, phụ lục, phần nội dungcủa khoá luận đợc trình bày thành ba chơng nh sau:

Chơng 1: Khái quát mảnh đất và con ngời xứ Nghệ -Nam Đàn-Kim Liên

Trang 6

Chơng 2: Những ngời phụ nữ trong gia đình Bác Hồ

Chơng 3: ảnh hởng của Những ngời phụ nữ trong gia đình đến sự hìnhthành nhân cách của Hồ Chí Minh

B-nội dung

Chơng 1:

Khái quát mảnh đất, con ngời xứ Nghệ

-Nam Đàn- Kim Liên

1.1 Điều kiện Tự Nhiên

Giăng Lacutua trong cuốn Hồ Chí Minh (Nhà xuất bản”Seuil” Pari 1971)

đã bắt đầu công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh bằng việc tìm hiểu điều kiệnkiện quê hơng nơi đã sản sinh ra Ngời Tác giả đã viết “Đất đai khô cằn và giónóng nh thiêu nh đốt từ Lào thổi sang trong mùa hè, làm ruộng vờn nứt nẻ, cây

cỏ khô héo, khi có ma thì ma to nh trút nớc Bão không phải là hiếm, không cónơi đâu đẹp hơn, nhng cũng không có nơi đâu ác nghiệt hơn thiên nhiên ở nơinày Chúng ta ghi nhớ sự thách thức mà quê hơng bản quán ông Hồ đã đề ra choxã hội của mình” [4, 349]

Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, nằm trong toạ độ

từ 18o35’00” đến 20o00’10” vĩ độ Bắc, từ 103o50’25” đến 103o40’30” kinh độ

Đông Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông làBiển Đông còn phía Tây giáp nớc Dân Chủ Nhân Dân Lào gồm các tỉnh XiêngKhoảng, Bôli Khămxay, Hủa Phăn, với đờng biên giới dài 419 kilômét [27, 27]

Hiện nay Nghệ An là một tỉnh có diện tích lớn thứ ba trong cả nớc sau haitỉnh Đắc Lắc và Lai Châu Địa hình dài, rộng, đa dạng có cả: miền núi, trung du

và đồng bằng, có biển, hải đảo và thềm lục địa

Tỉnh Nghệ An bao gồm 18 huyện thì Nam Đàn là một huyện nằm phía

đông của tỉnh Phía bắc giáp huyện Đô Lơng và Nghi Lộc, phía nam giáp huyện

Đức Thọ và Hơng Sơn của tỉnh Hà Tĩnh, phía đông giáp huyện Hng Nguyên vàphía tây giáp huyện Thanh Chơng Nam Đàn nằm trong toạ độ địa lý 18o47’ vĩBắc, 105o24’ đến 105o37’ kinh độ Đông, nằm cách Thành phố Vinh 21 kilômét

Trang 7

về phía đông Đây là một huyện nằm trong vùng đồng bằng tập trung Nghi (Nam Đàn, Hng Nguyên và Nghi Lộc) thuộc lòng chảo Đô Lơng.

Nam-Hng-Nam Đàn có diện tích tơng đối nhỏ hẹp so với các huyện khác trong tỉnhNghệ An Diện tích tự nhiên là 29.688 ha, trong đó có 14.234 ha là đất nôngnghiệp, 8.395 ha là đất lâm nghiệp còn lại là đồi núi ao hồ

Kim Liên là một xã trong huyện Nam Đàn, nằm cách điểm mốc địa phận 4kilômét về phía đông Xã này trớc đây có tên gọi là Chung Cự thuộc tổng LâmThịnh , huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

ở đây có làng Kim Liên quê cha và làng Hoàng Trù quê mẹ Bác Hồ ởNghệ An có hai dãy núi lớn và nổi tiếng là Đại Huệ và Thiên Nhẫn thì cả hai đềunằm trên đất Nam Đàn Dãy Đại Huệ chạy dọc địa giới phía bắc từ đông sang tâycòn dãy Thiên Nhẫn lại chạy dọc địa giới phía tây từ bắc sang nam tạo thành

“vòng tay” ôm quanh huyện Nam Đàn Các dãy núi Đan, núi Thung và núi NgũLiên Châu nằm cất đầu về phía tây bắc cùng với hàng trăm con núi nhỏ xếp trùng

điệp dới chân núi Đại Huệ và núi Thiên Nhẫn trông nh những đàn voi, đàn ngựarong ruổi quanh bức tờng thành, che chắn cho vùng đất này Ngoài hai dãy núitrên cón có hàng chục dãy núi nhỏ nằm rải rác xen lẫn với rừng động, làng mạc

và lấn át sang cả hai bờ sông Lam, trong đó phải kể đến núi Chung

Núi Chung là dãy núi tuy không cao lắm nhng đứng từ trên đó nhìn xuống

ta có thể quan sát đợc cả một vùng đất rộng lớn xung quanh Nhìn về phía tây, có

rú Đụn ( Hùng Sơn ) đồ sộ, trên đó có thành Vạn An; nhìn về phía nam thấy dãyThiên Nhẫn với thành Lục Niên; ở phía đông nam là dãy Lam Thành với bangọn: Triều Khảm, Phợng Hoàng và Nghĩa Liệt có thành Thành Lam; còn ở phíabắc trông xa thấy núi Đại Huệ, Đại Vạc trên đó còn có dấu vết thành quách thờinhà Hồ Dới chân núi Chung bao quang bởi bảy làng của huyện Nam Đàn: KimLiên, Hoàng Trù, Vận Hội, Tỉnh Lý, Cờng Ky và Khoa Cử

Sông Lam là con sông lớn nhất của tỉnh Nghệ An, cùng với núi Hồng đãtạo thành biểu tợng của mảnh đất xứ Nghệ này Con sông này bắt nguồn từ Làochảy qua các huyện phía tây của tỉnh, khi đến huyện Thanh Chơng nó nhận thêmnhánh sông Rào Giang từ phía tây bắc, lách vào hai mỏm núi Đụn và Thiên Nhẫn

ở huyện Nam Đàn để từ đó mở rộng dòng theo hớng tây đông, uốn lợn quanh cohơn 16 kilômét ở phía nam của huyện rồi chảy xuống hạ lu Sông Lam đã chia

Trang 8

huyện Nam Đàn thành hai phần: bên kia sông bao gồm chín xã (nay nhập lạithành năm xã) cho nên thờng đợc gọi là vùng chín nam; bên này sông là các xãcòn lại trong đó có xã Kim Liên và thị trấn Nam Đàn.

Chính sông núi đã tạo cho mảnh đất này một địa hình tơng đối phức tạpnhng nó cũng đã điểm tô cho cảnh quan huyện Nam Đàn thêm hùng vĩ Ca dao

390C đến 400C Mùa ma từ tháng chín đến tháng mời hai, lợng ma cao nhất trongnăm 2.228 mm, thấp nhất khoảng 1402 mm, trung bình hàng năm lợng ma đạt1.428 mm Bão lụt thờng xuyên xảy ra vào các tháng chín, tháng mời âm lịch.Mỗi khi có lũ lụt, nớc sông lên nhanh làm cho đồng ruộng ngập lụt nhng khi nớcrút xuống thì rất chậm, gây úng lụt lan rộng và kéo dài trên cả vùng đồng bằng

có lúc kéo dài trong hơn một tháng

Khí hậu, thổ nghi của vùng đất đã hun đúc nên truyền thống của con ngờinơi đây: gian khổ đơng đầu với tự nhiên Cũng chính nó đã tạo nên cảnh nghèo,thiếu ăn, thiếu mặc thờng xuyên xảy đến với nhân dân xứ Nghệ Trớc đây, KimLiên vốn đợc xem là:

“ Nhất vui là cảnh quê mìnhKim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu ” [18, 166]

Nghệ An có một hệ thống giao thông đa dạng bao gồm đờng bộ, đờng sắt,

đờng sông, đờng biển và đờng hàng không tạo nên cơ sở hạ tầng quan trọng đốivới sự phát triển kinh tế -xã hội, quốc phòng an ninh của tỉnh Sông Lam và đờng

bộ 49 là hai tuyến giao thông quan trọng của huỵên Nam Đàn, nối liền giữa Nam

Đàn -Vinh - Thanh Chơng Tuyến đờng sắt Bắc Nam qua Nam Đàn dài 18kilômét, đờng quốc lộ 15A đi qua địa phận huyện dài 30 kilômét và quốc lộ 30 từ

Trang 9

Đô Lơng qua Truông Bồn xuôi Nam Đàn - đây chính là mạch máu giao thôngquan trọng trong lĩnh vực quốc phòng an ninh Ngoài ra, Nam Đàn còn có hệthống đờng giao thông liên huyện, liên xã và liên thôn đã đợc xây dựng và ngàycàng đợc củng cố, tạo thành mạng lới giao thông thông suốt toàn huyện.

Xét về nhiều mặt, Nghệ An là một trong những tỉnh có vị trí chiến lợcquan trọng trong quá trình dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta Nơi đây đã từng

đợc xem là “Phên dậu phơng Nam” hay là “Thành đồng của Nhà nớc và thenchốt của triều đại” [2, 65] phong kiến và cũng là nơi trọng điểm của khu vực BắcTrung Bộ sau này

1.2 Điều kiện lịch sử - văn hoá - xã hội

ý chí dân tộc, lòng yêu nớc, tinh thần quật cờng, bất khuất của nhân dânNghệ An đã đợc hình thành từ rất sớm Từ thế kỷ thứ một trớc công nguyên đếnthế kỷ thứ mời sau công nguyên, khi dân tộc ta chìm đắm dới ách đô hộ của cácthế lực phong kiến phơng Bắc, nhân dân Nghệ An đã cùng với nhân dân khắp nơitrong cả nớc đứng dậy khởi nghĩa để giải phóng dân tộc Mảnh đất Nam Đàn đợcxem là nơi “ nhạy cảm” với mọi biến động trong tiến trình lịch sử dân tộc, luôn

đi đầu trong các cuộc khởi nghĩa

Năm 722, trên đất Sa Nam ( Nam Đàn) nổi lên cuộc khởi nghĩa của MaiThúc Loan chống lại ách đô hộ của phong kiến nhà Đờng Đợc sự ủng hộ củanhân dân, Mai Thúc Loan đã tổ chức binh mã, chuẩn bị lơng thực, xây dựngthành Vạn An làm căn cứ khởi nghĩa và thành Hồng Lĩnh ( Hà Tĩnh) làm nơi dự

bị Khi lực lợng đã mạnh, thanh thế đã lớn nghĩa quân đã nhanh chóng tiến thẳng

Trang 10

ra Bắc, chiếm lấy thành Tống Bình Quân nhà Đờng do Quang Sở Khánh cầm

đầu đã phải tháo chạy Đất nớc đợc giải phóng, Mai Thúc Loan lên ngôi xng làMai Hắc Đế đóng đô tại thành Vạn An Nhng chỉ ít lâu sau, quân nhà Đờng quaylại phản công chiếm toàn bộ nớc Đại Việt Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loanchỉ giành đợc thắng lợi bớc đầu nhng điều đó cũng đủ chứng tỏ tinh thần bấtkhuất của nhân dân Nam Đàn

Năm 938, Ngô Quyền đã lãnh đạo nhân dân ta đứng dậy đánh đuổi quânxâm lợc Nam Hán giành độc lập cho đất nớc sau hơn 1000 năm Bắc thuộc Trongthời kỳ này Nam Đàn đợc xem nh là “phên dậu” vững chắc của nhà nớc phongkiến Đại Việt ở phơng nam

Năm 1041, dới thời tự trị của vua Lý Thái Tông, ông đã cho ngời con traithứ tám của mình là Lý Nhật Quang vào Nghệ An mở mang bờ cõi Khi vào đếnmiền đất phía nam này, Lý Nhật Quang đã cho nhân dân đắp đê, đắp đập dọc haibên bờ sông Lam Cùng với quá trình mở mang đất đai, nhiều lần nhân dân Nghệ

An nói chung và nhân dân Nam Đàn nói riêng đã góp sức cùng với Lý NhậtQuang đánh tan quân xâm lợc Chăm pa để bảo vệ vững chắc bờ cõi và tạo điềukiện để ổn định xây dựng quê hơng mình

Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc Nguyên - Mông vào thế kỷXIII của vua tôi nhà Trần, giống nh châu Hoan Diễn xa, Nam Đàn trở thành hậuphơng vững mạnh của cuộc kháng chiến Những ngời dân nơi đây đã trực tiếptham gia chiến đấu để bảo vệ nền độc lập dân tộc của mình Tiêu biểu cho nhữnglớp ngời đó là: Hoàng Tả Tốn, Lê Thạch, Hà Anh

Đến đầu thế kỷ XV, mợn cớ “phù Lê, diệt Hồ” quan quân nhà Minh đãsang xâm lợc nớc ta Trong khi, vua tôi nhà Hồ không thể chống cự đợc, đất nớclại bị rơi vào ách đô hộ, thống trị của phong kiến nhà Minh nhng nhân dân ta lạikhông chịu khất phục, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra Trong số đó phải kể

đến cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng vào năm 1409 trên đất Nam Đàn.Một lần nữa nơi đây đợc chọn làm nơi xây dựng hành dinh, phất cờ khởi nghĩa vàtrở thành căn cứ địa của cuộc khởi nghĩa kéo dài trong 5 năm Khi Trần QuýKhoáng lên làm vua lấy hiệu là Trùng Quang đã chọn đất Nam Hoa (Nam Kinh)làm nơi đóng đô, nhng cuộc khởi nghĩa cũng nhanh chóng bị dập tắt

Trang 11

Trong khởi nghĩa Lam Sơn, theo kế hoạch của Nguyễn Chích, Lê Lợi đãchuyển trung tâm của cuộc kháng chiến từ vùng rừng núi Lam Sơn( Thanh Hoá)vào nơi “hiểm yếu đất rộng, ngời đông” để làm bàn đạp tiến quân giải phóng đấtnớc thoát khỏi ách đô hộ của quân Minh Lúc này, Nam Đàn trở thành căn cứ củacuộc khởi nghĩa góp phần to lớn vào công cuộc kháng chiến chống quân xâm lợc.

Lê Lợi đã cho xây dựng thành luỹ Hồ Vơng ở chân núi Đại Huệ làm căn cứkháng chiến, còn núi Thiên Nhẫn lại đợc chọn làm nơi xây dựng thành Lục Niên

và sau trở thành chỉ huy sở của nghĩa quân kể từ tháng 2 năm 1425 - khi mà LêLợi và Nguyễn Trãi quyết định chuyển đại bản doanh từ Đỗ Gia ( Hơng Sơn) vềthành Lục Niên

Khi đất nớc ta rơi vào cảnh tranh chấp quyền lực của các tập đoàn phongkiến: mâu thuẫn giữa vua Lê - chúa Trịnh hay cục diện Nam Bắc triều (1527-1572) thì Nghệ An - Nam Đàn trở thành nơi đứng chân của nhiều cuộc khởinghĩa Nh năm 1661, khởi nghĩa của Nguyễn Hạo; năm 1742, khởi nghĩa củaNguyễn Diên ở Hng Lâm Đồng thời, Nam Đàn cũng là nơi tập hợp lực lợngkháng chiến chống chính quyền Lê - Trịnh Nh năm 1763, Lê Duy Mật - mộthoàng thân của nhà Lê đã rút về vùng trung du Thanh Hoá, Nghệ An cùng vớinhân dân tăng gia sản xuất, đào kênh, lập chợ, rèn đúc vũ khí chuẩn bị cho cuộckhởi nghĩa

Trong sự nghiệp cứu nớc của ngời anh hùng “áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ”, Nghệ An đã đóng góp sức ngời, sức của để nghĩa quân làm nênchiến thắng Trên con đờng thần tốc “Bắc tiến” đại phá 29 vạn quân xâm lợc MãnThanh, Nguyễn Huệ đã dừng chân tại trấn Nghệ An để tuyển mộ thêm quân và

-đã có hàng vạn trai tráng nơi đây tự nguyện tham gia vào nghĩa quân QuangTrung - Nguyễn Huệ cũng nhận thấy Nghệ An là nơi có điều kiện thuận lợi cóthể khống chế đợc trong Nam ngoài Bắc nên đã có ý định chọn nơi đây làm nơi

đóng đô Phợng Hoàng - Trung Đô chính là nơi ghi dấu tích lịch sử đó

Vào năm 1802, nhà Nguyễn đợc thiết lập và bắt đầu đặt quyền thống trịtrong cả nớc Các vua Nguyễn thay nhau trị vì đã ra sức tìm mọi cách ổn định đấtnớc nhng chính quyền chuyên chế trung ơng tập quyền đó đã dần dần đi vào con

đờng suy thoái Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra trong cả nớc, Nghệ An cũngkhông nằm ngoài ảnh hởng đó Năm 1813 đến 1823 là cuộc khởi nghĩa của Lê

Trang 12

Chấn, đến năm 1818 khởi nghĩa Nguyễn Tuấn nổ ra ở Nghệ An nhằm chống lạichế độ tô thuế nặng nề, các luật lệ hà khắc của nhà Nguyễn

Ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lợc nớc

ta, phong trào yêu nớc của nhân dân Nghệ An lại bùng lên Năm 1874 khởi nghĩacủa các sỹ phu yêu nớc nh: Trần Tấn, Đặng Nh Mai nhằm chống “cả triều lẫnTây” Năm 1884, khi vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vơng kêu gọi nhân dânkháng chiến chống quân xâm lợc thì phong trào Cần Vơng nổ ra mạnh mẽ ỏNghệ An, trong đó có Nam Đàn Cuộc khởi nghĩa của Vơng Thúc Mậu ở RúChung - Nam Đàn đã gây cho thực dân Pháp nhiều khó khăn

Đầu thế kỷ thứ XX, nhân dân Nghệ An lại tiếp tục sôi nổi với phong tràoyêu nớc và giải phóng dân tộc Trong đó phải kể đến những tên tuổi nh: PhanBội Châu, Đặng Thúc Hứa, Lê Quyên, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu và đặcbiệt là Nguyễn ái Quốc - Ngời đã tìm ra con đờng cứu nớc đứng đắn cho dân tộcViệt Nam, mở ra một thời đại mới trong lịch sử

Có thể nói quê hơng Nghệ An - Nam Đàn- Kim Liên đã có những đónggóp xứng đáng vào những thắng lợi của lịch sử dân tộc

Trang 13

1.2.2 Văn hoá - xã hội

Nghệ An đợc xem là mảnh đất mà con ngời đã c trú từ rất sớm cách ngàynay 20 vạn năm Dấu vết của con ngời nguyên thuỷ đã đợc tìm thấy ở hang Thẩm

ồm (Quỳ Châu).Tiếp theo là lớp ngời c trú của nền văn hoá Sơn Vi đã phát hiện

đợc di chỉ của thời đại này tại đồi Dùng, đồi Rạng (Thanh Chơng) Nền văn hoáHoà Bình đợc phát hiện tại Quế Phong, Con Cuông, Tơng Dơng Đây cũng là nơiphát tích của nền văn hoá Quỳnh Văn (Quỳnh Lu) Đồng thời, Nghệ An cũng làmột trong những trung tâm của nền văn hoá Đông Sơn nổi tiếng với di chỉ làngSạo ở Nghĩa Đàn

Trên địa bàn Nghệ An có 6 dân tộc anh em cùng sinh sống, bao gồm: ngờiKinh, Ơ đu, Hơ mông, Khơ Mú, Thổ và ngời Thái Trong đó ngời Kinh chiếm tới90% tổng dân số, lại tập trung chủ yếu ở đồng bằng, dọc theo triền các con sônglớn Dân c sinh cơ lập nghiệp ở mảnh đất này từ bao đời với tính chất thuần nông

là chủ yếu Trải qua các quá trình chinh phục, cải tạo tự nhiên khắc nghiệt và cáccuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm trong suốt hàng ngàn năm đã tạo cho vùng

đất xứ Nghệ khá nhiều các giá trị văn hoá, những nếp sống, cách ứng xử và cácmối quan hệ xã hội

Từ buổi đầu dựng nớc, c dân ở đây đã chung lng đấu cật với nhau để khaiphá đất hoang, mở mang diện tích đất canh tác để rồi từng bớc xây dựng nênnhững cánh đồng xanh bao la, thuần phục đợc thiên nhiên để tạo thành nhữnglàng đông đúc dân c Đối với c dân vùng đồng bằng, bên cạnh việc trồng lúa nớc-một loại cây trồng chủ yếu thì ngời dân còn trồng rất nhiều loại cây hoa màukhác nh: ngô, khoai, sắn, lạc, đậu, vừng Còn c dân ở ven các dãy núi thì làmthêm vờn trên núi, khai thác lâm thổ sản

Nghệ An lại là quê hơng của rất nhiều nghề truyền thống, hầu hết ở cáchuyện đâu đâu ngời dân cũng có nghề phụ ngoài nghề làm ruộng Đối với huyệnNam Đàn thì dệt vải, đan lát, mộc, rèn, thợ nề, trồng dâu nuôi tằm, làm gạchngói, làm tơng là những nghề riêng và rất nổi tiếng ở đất Nghệ - Tĩnh có câu caquen thuộc “ nhút Thanh Chơng, tơng Nam Đàn”

Về sinh hoạt tinh thần, vùng đất Nghệ An có những nét văn hoá đậm đàbản sắc riêng Nổi bật trong nền văn hoá đó phải kể đến những đêm hát phờngvải, đó cũng là môi trờng để thử tài năng của nam thanh nữ tú ở đây khi xa Quê

Trang 14

hơng của hát phờng vải lại chính là làng Kim Liên Bên cạnh đó là những điệuhát đò đa, hát dặm luôn làm xao xuyến lòng ngời, đánh thức lòng yêu thơngtrong mỗi con ngời, gợi lên sự quyến luyến với quê hơng xứ sở và chính nó lại tôi

đắp cho con ngời vốn văn hoá dân gian phong phú, cho con ngời một tinh thầnlạc quan yêu đời Chính nhờ có những hình thức sinh hoạt văn hoá này mà trớc

đây những ngời phụ nữ trong xã hội cũ tuy không biết đọc, không thông hiểu chữHán nhng lại có thể hiểu biết về những nghĩa lý của từ ngữ trong cuộc sống

Ngoài những câu hát dặm, hát đò đa nuôi dỡng tâm hồn mình thì nhữngngời dân xứ Nghệ còn có một kho tàng những câu chuyện cổ tích, truyện truyền

kỳ rất riêng của mình Những nhân vật ông Đùng, ông Bát Ngạo hay những câuchuyện “bắn trúng mặt trời” hay “phá cây nớc trôi” xa lạ với những ngời dân xứkhác nhng qua đó nó thể hiện đợc tâm hồn lãng mạn tích cực, bất chất gian khó,nguy hiểm và coi khinh những cám dỗ tầm thờng của ngời dân

Yếu tố con ngời là một tài sản quý giá, là nhân tố quyết định, cốt lõi thếmạnh của mỗi quốc gia nói chung và của từng vùng, từng miền nói riêng Conngời đã trải qua bao biến cố của lịch sử, trải qua bao triều đại, họ đợc rèn đúc,thử thách qua các cuộc đấu tranh nghiệt ngã để có thể tiếp tục sinh tồn và pháttriển cho nên họ mang trong mình bản chất rất dặc trng của mảnh đất nơi “chônrau cắt rốn”

Ngời dân xứ Nghệ luôn có tinh thần đoàn kết gắn bó với nhau bằng tínhcộng đồng cao Những hình ảnh quen thuộc của làng xóm Việt Nam nh: cây đa,bến nớc, sân đình cũng có ở nơi đây, ngời dân yêu thơng đùm bọc lẫn nhau tạonên sự bền vững trong mối quan hệ tình làng nghĩa xóm Dù trong bất kỳ hoàncảnh nào: trong thiên tai, địch hoạ hay khi xã hội có nhiều biến động thì con ngời

ở đây vẫn rất lạc quan, yêu đời, họ dám coi thờng gian khổ, hy sinh, không khoannhợng trớc kẻ thù, trớc thiên nhiên Thiên nhiên càng khắc nghiệt thì tinh thần

Trang 15

cải tạo tự nhiên của con ngời Nghệ An càng dẻo dai, bền bỉ Chính nó đã gópphần tôi luyện thêm nghị lực để họ có thể vợt qua những trở ngại trong cuộc sống

để vơn tới tơng lai

Con ngời xứ Nghệ không chỉ nổi tiếng với những thuần phong mỹ tục màcòn có những truyền thống tốt đẹp, trong đó phải kể đến sự hiếu học Đã từng cónhận xét: “vùng quê Nghệ Tĩnh nghèo nhng hiếu học và yêu nớc, nổi tiếng là quêhơng của những anh hùng dân tộc, văn nhân, hào kiệt trong lịch sử” [27, 31]

Trong lịch sử văn hiến của dân tộc ta, Nghệ An -Nam Đàn - Kim Liên “đãcống hiến cho đất nớc ta nhiều vị khoa bảng nhất” [18; 12] Ngày xa, ngời dân ở

đây dù có phải ăn rau, ăn cháo cũng góp tiền, góp gạo nuôi thầy dạy học cho concháu trong nhà đợc học hành tử tế Nay cuộc sống còn nhiều gian khó nhngnhiều gia đình vẫn nuôi con em mình ăn học đầy đủ

Mong muốn lớn nhất của các gia đình là:

Làm trai có chí thì nênHọc trần đói khổ mà nghiền kinh thi

áo sách đổi lấy võng điềuNón mũ đổi lấy chữ để vua ban [18, 16]

Trong lịch sử khoa bảng nớc ta, qua các kỳ thi Nam Đàn có rất nhiều nhàkhoa bảng nổi tiếng nh Trạng nguyên Trơng Xán ở đời Trần, Thám hoa NguyễnHữu Giao, Nguyễn Đức Đạt thời Nguyễn Có nhiều gia đình những thế hệ thi cử

đỗ đạt nh gia đình ông Vơng Hữu Phu ở làng Long Vân (Vân Diên) cha đỗ cửnhân, anh đỗ Phó bảng, em đậu Tiến sỹ

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trên đất Nam Đàn có bốn nhà nho

đ-ợc các nho sỹ cùng thời tôn là “tứ hổ”:

Thông minh bất nh SangUyên thâm bất nh SanTài hoa bất nh QuýCờng kế bất nh Lơng(Tức là không ai thông minh bằng Nguyễn Sang Quýkhông ai uyên thâm bằngPhan Văn San tức Phan Bội Châu, không ai tài hoa bằng Vơng Thúc Quý vàkhông ai có trí nhớ bằng Trần Văn Lơng).Trong số “tứ hổ” đó thì riêng làng KimLiêm đã có tới ba ngời

Trang 16

Chính từ sự hiếu học đó mà ngời Nghệ An đã góp sức mình vào tiến trìnhlịch sử dân tộc và đúng nh đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: “con ngời NghệTĩnh là vốn quý của địa phơng và của cả nớc”.

Những ngời phụ nữ trên mảnh đất này lại rất cần cù chịu khó Họ đã sớmhôm lao động cật lực để tạo dựng cuộc sống Gánh nặng gia đình chồng chất trên

đôi vai gầy của họ nhng những ngời phụ nữ đó vẫn hăng say đảm việc nhà, vẫn

có tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống

Cuộc sống đã thử thách con ngời nhng cũng từ đó đã bộc lộ bản chất, sứcmạnh của họ, để tất cả hớng tới cái mình cần đạt đợc Niềm vui sau một ngày lao

động mệt nhọc trên những cánh đồng là những buổi tối gió mát trăng thanh,những làn điệu dân ca, những điệu đò đa từ mặt nớc sông Lam vang hoà lên cùngvới tiếng hát dặm, hát phờng vải từ các thôn xóm Nhờ đó mà những ngời phụ nữtrong xã hội phong kiến xa không đợc học hành nhng lại biết nói, hiểu hết đợccái lý, cái tình trong cuộc sống

Bác Hồ đợc sinh ra trên mảnh đất đầy khắc nghiệt nhng cũng rất giàutruyền thống yêu nớc đó, tuổi thơ của Ngời lại đợc nuôi dỡng trong sự yêu thơng

đùm bọc của những ngời phụ nữ rất “ xứ Nghệ” này Chính vì thế đã tạo nêntrong Ngời một tính cách xứ sở nơi in dấu sâu sắc tính cách của ngời Việt Nam

Trang 17

có nhiều ruộng nhất trong làng Trong nhà lại luôn nuôi thầy dạy học cho concái, khi đã về già trong nhà ông Hà Văn Cẩn còn nuôi thầy cử nhân Hồ Sỹ Tạo.Vốn là một ngời ham học chữ “thánh hiền”nhng ông lại không màng đến chuyệnthi cử, chốn quan trờng.

Bà Hà Thị Hy lại đợc cha rất mực cng chiều, yêu quý Ông Hà Văn Cẩn đãtruyền cho con gái mình tất cả những ngón nghề, vốn hiểu biết về văn hóa vànghệ thuật của quê hơng nh: đàn, phách, ca trù Đặc biệt, bà lại có biệt tài vềmúa đèn cho nên dân làng gọi bà với cái tên thân mật: cô Đèn

Mặc dù nổi tiếng về đàn hát, trong nhà lại có hẳn một phờng hát ả đào một thú vui say mê của nhiều lớp ngời xa, để làm vui trong gia đình, bà con trong

-họ, trong làng nhng nghề sống chính của gia đình vẫn là cày ruộng Bà Hà Thị

Hy vẫn sống nh bất kỳ ngời con gái khác trong làng, vẫn thờng xuyên đi chợbuôn bán và hàng ngày ra đồng làm ruộng

Đến tuổi trởng thành, trong làng cũng có rất nhiều ngời đến dạm hỏi nhng

số bà lận đận trong con đờng tình duyên Có nhiều đám coi gia đình bà thuộc loại

“xớng ca vô loài” không phù hợp với họ Những nhà không bằng gia đình bà thìlại sợ không “ môn đăng hộ đối” Nhng cũng có nhiều nguồn tài liệu khác chorằng vì một sự xích mích nhỏ giữa bà và con trai làng Sài mà đã bị họ thề vớinhau: không ai đợc hỏi cới cô Đèn làm vợ, nếu con trai làng khác đến dạm hỏi thì

đón đờng đánh Cho nên đến ba mơi tuổi - cái tuổi đã toan về già, bà Hà Thị Hyvẫn cha lấy đợc chồng Theo quan niệm xa đã đợc xem là bà cô trong nhà Năm

1862, ông Nguyễn Sinh Nhậm (hay còn gọi là Nguyễn Sinh Vợng) - một ngời đãgoá vợ từ lâu bên làng Sen đánh liều sang hỏi cới thì bà về làm vợ kế đã chấm dứtcảnh “quá lứa lỡ duyên”

Trang 18

Ngời con gái tài hoa, nhan sắc của làng Sài ngày trớc đã về làm dâu dòng

họ Nguyễn Sinh - một dòng họ có danh giá ở làng Sen Dòng họ này đã có hơn

400 năm khởi nghiệp ở làng Sen thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ

An Đến đời ông Nguyễn Sinh Nhậm đã thuộc thế hệ thứ mời Đây là dòng họ córất nhiều ngời đỗ đạt và đã từng lập nhiều chiến công to lớn cho đất nớc Bảnthân ông Nguyễn Sinh Nhậm, gia đình lại thuộc vào hàng khá giả của đất làngSen, ông đã lập gia đình từ rất sớm với bà Lê Thị Mai Nhng do hiếm muộn nênkhi sinh ra đợc ngời con trai là ông Nguyễn Sinh Trợ (hay còn gọi là NguyễnSinh Thuyết) thì bà mất, kể từ đó ông Nhâm đã sống cảnh “ gà trống nuôi con”cho đến khi ngời con trai của mình trởng thành và lập gia thất

Sau một thời gian về làm vợ ông Nguyễn Sinh Nhậm, năm 1863 bà Hà Thị

Hy đã sinh ra một ngời con trai đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc-tức là thân phụ củaBác Hồ

Năm 1866, khi Nguyễn Sinh Sắc đợc ba tuổi thì ông Nguyễn Sinh Nhậmqua đời.Trớc lúc trút hơi thở cuối cùng, ông có dặn dò ngời con trai và ngời condâu của mình: thay cha giúp mẹ kế nuôi em Sắc nên ngời, mà điều hệ trọng làlàm sao cho Nguyễn Sinh Sắc đợc học chữ thánh hiền Nh vậy là mới ngoài bamơi tuổi bà Hà Thị Hy đã là một quả phụ, đúng nh câu nói của Nguyễn Du xa

“hồng nhan bạc mệnh” Bà ở vậy thờ chồng nuôi con, hàng ngày bà Hy thờng

đem ông Nguyễn Sinh Sắc ra đồng làm lụng, tối về hai mẹ con lại quây quần bênnhau Bà luôn luôn mong muốn khi con mình khôn lớn khi đã biết đợc mặt chữ

sẽ gửi con theo thầy học chữ nho

Nhng cuộc sống yên ổn của hai mẹ con kéo dài không đợc bao lâu, mộtnăm sau ngày mất của ông Nguyễn Sinh Nhậm (1867), bà Hà Thị Hy cũng đã đitheo ông Ông Nguyễn Sinh Sắc mồ côi của cha lẫn mẹ khi vừa tròn bốn tuổi,

ông theo về cùng sống với anh chị mình

Bà Hà Thị Hy ra đi khi tuổi đời còn quá ngắn ngủi Cuộc đời của ngời congái này thật tài hoa nhng cũng gặp không ít gian truân trong cuộc sống tình cảm,cuộc sống lứa đôi Tài sản giá trị nhất mà bà để lại trên đời đó chính là sự thôngminh, tài hoa đợc truyền lại cho Nguyễn Sinh Sắc

2.2 nguyễn thị kép – bà ngoại của Bác Hồ bà ngoại của Bác Hồ

Trang 19

2.2.1 Buổi đầu của cuộc đời

Bà Nguyễn Thị Kép là con gái của ông Nguyễn Văn Giáp ở làng Kẻ Sía(nay xóm 5, xã Hng Đạo, huyện Hng Nguyên, tỉnh Nghệ An) Đây là một vùng

đất với vài mảng đồi còn sót lại không ngừng bị xói mòn, đồng ruộng bao quanhthôn xóm Ông Giáp đợc xem là một trong những thí sinh giỏi của làng, cả cuộc

đời theo đuổi sự nghiệp học hành, thi cử nhng “học tài thi phận” cả bốn lần đi thi

đều chỉ đỗ tú tài, nên thờng đợc dân làng gọi với cái tên thân mật: Mềm Giáp

Năm Bính Thìn-Lần thứ hai thi hơng ông lại đậu tú tài cũng là lúc vợ của

ông sinh ngời con gái đầu lòng Để đánh dấu sự kiện đó trong cuộc đời, ôngNguyễn Văn Giáp đã đặt tên con mình là Nguyễn Thị Kép Năm bà Kép lên 6tuổi thì ông Giáp lại một lần nữa kéo lều chõng đến trờng thi mong đậu đợc bảngvàng Nhng trờng thi đã từ chối ông, dù đợc xem là một thí sinh giỏi lần này cũngchỉ đậu Tú tài

Trong một dịp đến làng Kẻ Sía thăm bạn, ông Mềm Cận tức ông HoàngXuân Cận - một kẻ sỹ ngời làng Chùa đã gặp và để ý đến cô bé con bạn Ôngthấy cảnh nhà bạn cũng hợp với gia phong nhà mình nên đã ngầm lợng tínhchuyện về sau kết mối thông gia Ông hy vọng sau này có thể dạm hỏi con gáicủa ông Mềm Giáp cho con trai của mình khi chúng đến tuổi trởng thành

Theo quan niệm của xã hội phong kiến xa “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.Năm 1866, đến tuổi lớn khôn theo đính ớc của hai ngời cha, cô Kép đã đi lấychồng cách huyện Việc đó đã bị bà con trong làng đàm tiếu, họ cho rằng:

Con gái mà gả giữa làngBằng cục vàng chôn đầu cửa ngõ,

Con gái mà lấy chồng xa Cầm bằng con lợn khái (con hổ) tha lên rừng [12, 24]

Nhng thoát ra khỏi cảnh “trâu ta ăn cỏ đồng ta” bà đã về làm dâu trong gia

đình ông Mềm Cận ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn Dòng họ Hoàng Xuân nhà chồng bà Nguyễn Thị Kép là một dòng họ có truyền thống hiếu học Concháu nhiều ngời có nghĩa khí, có công lao với đất nớc Nh năm 1527, khi Mạc

-Đăng Dung cớp ngôi nhà Lê dựng lên nhà Mạc, những ngời con trong họ đã đứnglên “phù Lê diệt Mạc” Vua Lê đã giao cho Hoàng Nghĩa Kiều (1540-1587) thế

hệ thứ sáu của dòng họ nhận chức tổng binh trong Đô tổng binh xứ Nghệ An

Trang 20

Ông đã lập công lớn đợc vua Lê phong cho chức Thái Bảo Hồng Quốc Công.

Ông Mềm Cận (tên thật là Hoàng Cơng tự Xuân Cận (1793-1870) là đời thứ 12của họ Hoàng Xuân Còn chồng của bà là anh Nho Đờng (tức là Hoàng Xuân Đ-ờng tự Văn Cát thị Chất Trực (1835-1893) là đời thứ 13, lại là một ngời học hànhgiỏi giang, đức độ, hiểu biết tình ngời, nghĩa đời [21, 54]

Một cuộc hôn nhân “ môn đăng hộ đối”, nhng trớc mắt bà là rất nhiều khókhăn Ca dao xa đã từng có câu:

Con ra đồng đất nớc ngời

Đứa trẻ lên mời cũng chào bằng anh

Bớc vào cuộc sống gia đình cũng cái cảnh ruộng vờn, trâu bò, khung cửi,những giá sách, chiếc án th, mấy tấm phản kê, lớp học nh gia đình mình nhng cócái gì đó khác biệt bởi “quen việc nhà mạ, lạ việc nhà chồng” Bà bắt đầu phảihọc từ đầu theo sự chỉ bảo ân cần của mẹ chồng từ chuỵên bếp núc, nhà cửa đếnviệc thờ phụng tổ tiên và ứng nhân xử thế với mọi ngời trong gia đình ÔngHoàng Đờng và bà Nguyễn Thị Kép chung sống trong ngôi nhà tranh năm gianlợp bằng lá mía Công việc chủ yếu của ngời phụ nữ là làm đồng, lúc rảnh rỗi cònlàm thêm nghề dệt vải

Năm 1868, bà Nguyễn Thị Kép sinh ngời con gái đầu lòng, tức là HoàngThị Loan - thân mẫu của Bác Hồ Cả tuổi ấu thơ của bà Loan đợc sống tronggiọng ru ấm áp nghĩa tình của ngời mẹ và lời giảng bài nồng nàn, nghĩa khí củangời cha Chín năm sau khi sinh ra Hoàng Thị Loan, năm 1877, ông Đờng và bàKép sinh ra ngời con gái thứ hai là Hoàng Thị An, đây cũng là lần sinh nở cuốicùng của bà Qua hai lần sinh nở mà không có con trai, đó là một tội “bất hiếuhữu tam, cô hậu chi đại” đối với dòng họ theo quan niệm xa Đặc biệt là vớidòng họ Hoàng Xuân - một cửu tộc tồn tại 13 đời với 27 quận công Nhng với

ông Hoàng Đờng “trai gái là con nếp lòn”, chính điều này đã làm bà Kép nểtrọng chồng mình hơn

Vốn là một ngời con gái nhà nho, bà đã dành hết tâm lực của mình để dạycon gái mình Qua những câu chuyện cổ nào là Phù Đổng, Thành ốc, Vua Đen,Tấm Cám, Lu Bình-Dơng Lễ từ đó những hình ảnh về những ngời anh hùng,những nữ nhân, anh th từng tận tuỵ hết mình vì chồng con đã kết dệt lên trongtâm hồn của các cô con gái của bà

Trang 21

Lớn lên ở một vùng quê với những lề thói vẫn còn rất khắt khe, con gáikhông đợc học chữ nhng bà đã dạy cho con mình từng chữ, từng nghĩa từ đơngiản đến phức tạp, từ dễ đến khó Bà đã làm tròn thiên chức của ngời mẹ khôngchỉ dạy cho con mình cái chữ, miếng ăn mà còn những cách xử thế ở đời Bà Képcùng hai cô con gái sớm chiều chăm lo việc đồng áng, về nhà lại bếp núc, lợn gà

để cho ông nho Đờng yên tâm với việc sách vở

Tết năm Mậu Thân 1878, gia đình bà có thêm một sự kiện mới, ông bà đã

đón nhận ông Nguyễn Sinh Sắc về làm con nuôi trong nhà Việc này không phải

nh mọi ngời suy diễn nhằm tìm kiếm ngời nối dõi tông đờng, thờ phụng khói

h-ơng mà chỉ với mong muốn giúp đỡ ngời con trai ấy bằng kiến thức, biết đờngnhân nghĩa Còn đối với bà Nguyễn Thị Kép có thêm một ngời con trai sẽ đỡ đần

đợc công việc nặng nhọc trong gia đình khi mà ông bà đã bớc sang tuổi già

Mặc dù là ngời con nuôi nhng ông Nguyễn Sinh Sắc vẫn đợc bà Kép đối

xử công bằng, xem nh một ngời con lớn trong gia đình Ông Sắc hơn bà Loanbốn tuổi nên đợc bà phân định: Sắc nhiều tuổi hơn là anh đảm đang những côngviệc nặng nhọc hệ trọng, còn Loan ít tuổi hơn là em phải lo công việc bếp núc,dọn dẹp trong ngoài Ông bà Hoàng Đờng đã cho ông Sắc đi học để mở mang trítuệ, học vấn và có thể theo đòi việc khoa cử

Đối với việc hôn nhân của bà Hoàng Thị Loan, bà Kép vẫn có phần do dự

đó cũng là ân tình của một ngời mẹ có con gái lớn Rút ra từ cuộc đời mình: làcon gái một vị tú tài sống cuộc đời thanh bạch nhng rất cao thợng, không có gìhơn cái cảnh vợ chồng tâm hợp dù nghèo đói Nhân tâm của ngời mẹ khi chỉ locho con ăn, con lớn và cùng con đắm mình trong các trang sách, thiên truyệnthần kỳ đã qua đi để trớc mặt phải đối diện với việc trăm năm, thành gia thất củacon cái lòng ngời mẹ thật trăm mối tơ vò Bà lo con mình tay yếu chân mềm đợcgả vào nơi “môn đăng hộ đối” hợp với nhà mình thì ấm thân con, lòng ngời mẹcũng mát dạ Nhng trớc mắt còn cái chân tình của ngời con khi nó thơng yêu mộtngời, với hai bàn tay trắng nó sẽ làm gì với cuộc sống trong tơng lai

Gia đình cả nội ngoại đều là những nhà nho danh tiếng trong vùng trongkhi đó ông Nguyễn Sinh Sắc thì lại mất cha mẹ, lại mang tiếng là con nuôi trongnhà thì trớc cuộc hôn nhân đó d luận sẽ nói gì ?

Miếng trầu ăn nặng nh chì

Trang 22

Ăn thì ăn đợc lấy gì trả ơn Nhng vì con cái lại đợc sự khuyên nhủ của ông Mềm Giáp cần phải thơngyêu đùm bọc ngời có tài, có đức bà đã chấp nhân cuộc hôn nhân, đây thực sự làmột sự lựa chọn khó khăn của ngời mẹ Năm 1881, ông bà đã cho ông NguyễnSinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan làm lễ hứa hôn, sau đó hai năm - 1883, một đámcới đã đợc diễn ra đơn sơ nhng đủ mọi tục lệ Không cần phải đón dâu xa, ông V-

ơng Thúc Mậu (Tú Mậu)- một ngời cao tuổi vợ chồng song tuyền, con cháu sumvầy làm chủ hôn Nh vậy là từ một ngời mẹ của hai ngời con gái nay đã có thêmmột ngời con rể trong nhà

2.2.2 Cuộc đời làm bà

Ông bà Tú Đờng đã xây dựng ngôi nhà tranh ba gian đầu góc vờn phía tâycủa gia đình để cho đôi vợ chồng mới cới có chỗ ở riêng Nơi đây lần lợt bàNguyễn Thị Kép đón chào những ngời cháu ngoại yêu quý của mình gia đời

Năm 1884, ngời cháu gái đầu tiên Nguyễn Thị Thanh (tự Bạch Liên)

Năm 1888, ngời cháu trai Nguyễn Sinh Khiêm (tự Nguyễn Tất Đạt)

Năm 1890, là Nguyễn Sinh Cung-Bác Hồ đợc chào đời trong vòng tay của

bà ngoại

Tuổi ấu thơ của ba chị em Bác Hồ đã đợc ông bà ngoại bồng bế, nâng niu

Bà ngoại đã ru cho Ngời nghe những làn điệu dân ca sâu lắng của quê nhà, những

điệu ví đò đa, những câu hát phờng vải trong đó chứa đựng bao nhiêu ân tình thi

tứ Gia đình đã chứng kiến những bớc đi chập chững, những tiếng bi bô đầu tiêncủa các cháu Cũng chính nơi đây Bác đã nhận đợc sự dạy bảo tận tình của ông

bà ngoại từ những việc làm nhỏ nhất trong cuộc sống hàng ngày, cũng nh tiếp thunhững điều hay ý đẹp của cha mẹ qua những trao đổi, việc làm đối với ông bà.Những hoài bão đẹp đẽ, lớn lao, những bài học làm ngời đầu tiên ông bà đãtruyền lại cho các cháu của mình Trong số ba ngời cháu ngoại đó, bà NguyễnThị Kép dành cho Bác Hồ nhiều tình thơng hơn cả

Năm 1893, ông Hoàng Đờng mất, một cái tang lớn với gia đình, cũng làmột sự tổn thất lớn lao với bà Kép vì bà đã mất đi chỗ dựa ông ra đi khi ngờicon rể, ngời học trò yêu quý của mình cha đậu đạt trên con đờng công danh.Thểtheo lời ớc nguyện của chồng, bà lại cùng ngời con gái của mình là Hoàng Thị

Trang 23

Loan góp công, góp sức nuôi con rể ăn học Đối với bà giờ đây những đứa cháu

là niềm an ủi, niềm tự hào, hạnh phúc

Năm 1894, ông Nguyễn Sinh Sắc đi thi và đậu cử nhân trờng Nghệ đó làmột sự trả ơn cho gia đình Hoàng Xuân và cũng thoả lòng mong ớc của ngời mẹ

vợ Con rể đã đỗ đạt lại càng hiếu thảo đối với mình đó là niềm vui lớn lao củangời mẹ vợ, nhng cũng là sự bùi ngùi của bà Trong lúc này đây bà thấy đợc ông

Đờng là một ngời chín chắn trong suy nghĩ có con mắt nhìn đời

Trong bớc đờng khoa cử của ngời con rể gặp nhiều trở ngại Khoa thi Hộinăm ất Mùi (1895) tốn kém nhiều, bà Nguyễn Thị Kép đã phải bán ruộng - mộttài sản quý giá nhất của gia đình mình cho ông Nguyễn Sinh Sắc đi thi, nhngkhông đỗ Để tạo điều kiện cho chồng ăn học, con gái bà- bà Hoàng Thị Loan đãquyết định theo chồng vào kinh đô Huế Lần này trẩy kinh bà hi vọng con rể củamình khi trở về sẽ đợc “ân tứ vinh quy” bỏ cái công đèn sách Năm 1896, hai vợchồng ngời con gái cả cùng hai đứa cháu ngoại của bà vợt qua 400 km vào Huế,

để lại quê nhà ngời mẹ đã ngoài 60 tuổi cùng một ngời con gái nhỏ Ngời con gáithứ hai của bà - bà Hoàng Thị An đã đi lấy chồng, trong ngôi nhà chỉ còn lại hai

bà cháu sớm chiều có nhau Bà lại thay con gái mình dạy bảo ngời cháu gáinhững điều trớc đây đã dạy cho con

Năm 1901, bà Hoàng Thị Loan qua đời ở Huế, một sự mất mát quá lớn vớigia đình, đặc biệt là với bà Nguyễn Thị Kép Bà đã không ngờ mình phải chứngkiến cảnh “tre già còn khóc măng non” Khi cha con ông Nguyễn Sinh Sắc từHuế trở lại làng Hoàng Trù thì cuộc sống gia đình lại càng khó khăn chồng chấthơn trớc Cha con ông không có thu nhập, không kế sinh nhai, lại một lần nữa tấtcả đều dựa vào bà ngoại Tuổi ngày càng già, sức càng yếu, lại đợc tin con gái

đột ngột qua đời trên đất khách càng làm cho bà càng yếu hơn nhng bà vẫnkhuyến khích, giúp đỡ tận tình, quan tâm đến các cháu để con rể mình tiếp tụctheo đuổi sự nghiệp học hành Bà thay con gái chăm sóc các cháu và lần thứ babán ruộng để ông Nguyễn Sinh Sắc có thể vào kinh ứng thí

Khoa thi Hội năm Tân Sửu (1901), ông Nguyễn Sinh Sắc đậu Phó bảng đãthoả lòng mong đợi của bà Nếu nh cha bà - ông Mềm Giáp đã mất một đời đènsách, bốn lần thi hơng tất cả đều chỉ đỗ tú tài, còn chồng bà - ông Nho Đờng hailần thi hơng cũng chỉ đợc gọi là Tú kép thì nay chàng rể đã có danh, có tớc Quan

Trang 24

niệm xa: có ruộng cả ao liền để lại cho con mà con dốt nát thì nó sẽ làm trắng taynhng ruộng không đẻ ra chữ mà chữ đẻ ra ruộng đã trở thành sự thực đối với bà.

Đây có thể xem là một niềm vui lớn mà bà Nguyễn Thị Kép mong đợi cả cuộc

đời

Tuổi già của bà có các cháu xum vầy bên cạnh, lại có sự hiếu thuận chăm

lo của ông Nguyễn Sinh Sắc.Tuy khi đỗ đạt ông đã đa các con về làng Sen sinhsống nhng vẫn để cô Nguyễn Thị Thanh - con gái đầu lòng hàng ngày về làngChùa chăm sóc bà ngoại Độ vài hôm ông lại sang đây thăm bà, ông đã thay ngời

vợ hiền của mình chăm sóc tuổi già cho mẹ.Thời gian này, Bác Hồ gắn bó với bàNguyễn Thị Kép hơn cả cho nên nhiều khi làm việc gì bà cũng nhớ đến ngờicháu ngoại này

Cuối năm 1903, bà Nguyễn Thị Kép ốm nặng, ông Nguyễn Sinh Sắc đãchuyển về làng Chùa sống trong thời gian bà bị bệnh để thờng xuyên thăm bệnh

và chữa trị cho bà Các cháu của bà đều túc trực theo dõi bệnh tình Đến ngày 28tháng 2 năm Giáp Thân (ngày 6 tháng 4 năm 1904), bà Nguyễn Thị Kép đã qua

đời Một lần nữa Bác Hồ lại chứng kiến cảnh “sinh ly tử biệt” đa tiễn ngời thân

về nơi “chín suối” Trong tuổi ấu thơ của mình, Bác đã phải chịu bốn cái tang lớncủa gia đình Ông Nguyễn Sinh Sắc đã tổ chức đám tang chu toàn và chịu tangtheo nghi lễ nh bố mẹ đẻ của mình

Bà Nguyễn Thị Kép đã mang trong mình những đức tính quý báu của ngờiphụ nữ: chịu thơng, chịu khó, siêng năng, giản dị, luôn chăm lo làm tròn bổnphận của một ngời vợ, ngời mẹ, ngời bà Cả cuộc đời của bà gắn bó với gia đìnhBác Hồ, bà đã hy sinh rất nhiều, đóng góp lớn lao vào việc nuôi dỡng những conngời yêu nớc cho dân tộc ta

2.3 Hoàng Thị Loan – bà ngoại của Bác Hồ thân mẫu của Bác Hồ

2.3.1 Tuổi ấu thơ

Bà Hoàng Thị Loan đợc sinh trởng trong một gia đình nho học lâu đời

Ông nội là cụ Hoàng Cơng (tự là Xuân Cận) đã từng đậu ba lần tú tài trong cáckhoa thi hơng dới triều Nguyễn Thân sinh là ông Hoàng Đờng (tự Văn Cát thịChất Trực) là một nhà nho có tiếng tăm trong vùng Nam Đàn Ông thờng mởnhững lớp học tại gia, chủ yếu là để truyền thụ kiến thức cho những ngời dân

Trang 25

ham học trong vùng Nhân dân trong làng Hoàng Trù rất kính trọng, yêu mến gia

đình ông nên hay gọi là cụ Tú, ông đồ An Thân mẫu của bà Hoàng Thị Loan là

bà Nguyễn Thị Kép - bà vốn là con gái đầu lòng của ông Nguyễn Văn Giáp ởlàng Kẻ Sía xã Hng Đạo, huyện Hng Nguyên Bà Nguyễn Thị kép kết duyên với

ông Hoàng Đờng khi còn rất trẻ, đó là một cuộc hôn nhân “môn đăng hộ đối” và

bà sinh ra hai ngời con gái: Hoàng Thị Loan (1868) và Hoàng Thị An (1877) BàKép vốn là một ngời thông minh, hiền lành, chăm chỉ, đặc biệt thuộc rất nhiềulàn điệu dân ca, chính tính cách của bà đã ảnh hởng nhiều đến những ngời congái

Gia đình cụ Tú đợc xem nh là gia đình gia giáo, lễ nghi nho học nhng bêncạnh đó lại vẫn là những ngời lao động “một nắng hai sơng”, “bán mặt cho đất,bán lng cho trời” Cả gia đình đều có lòng thơng ngời, có cách nhìn cuộc sốngkhoáng đạt, những suy nghĩ, những việc làm đã vợt ra khỏi lễ giáo phong kiến lúcbấy giờ

Bà Hoàng Thị Loan ra đời vào một ngày: vội vàng ăn nhãn tháng năm,thung dung ngồi đợi hồng ngâm tháng mời Khi mà ngoài đồng trên các thửaruộng những bông lúa đã trổ bông, dới bể thì những con cá thèn mang đầy bụngtrứng và giữa sự chờ đón, mong đợi của cha mẹ và gia đình

Ngay từ nhỏ, bà Hoàng Thị Loan đã đợc sống trong giọng ru ấm áp, nhữngcâu hát ví dặm của mẹ, cùng với sự giảng giải kinh sách, chữ nghĩa nồng nàn,hiền triết của bố Tất cả nh những bài hát ru êm nhẹ, hoà quện vào trong nhữnggiấc ngủ Đồng thời, bà cũng đã hấp thụ sự tiến bộ trong gia đình nho học này.Bằng sự yêu thơng, tuổi thơ của bà Hoàng Thị Loan đợc chăm sóc và giáo dục

đầy đủ.Tuy nhiên nh chúng ta đã biết, sự “giáo dục” đó phải theo những ràngbuộc phong kiến, lễ nghi “công, dung, ngôn, hạnh” của thời đại bà sinh sống- xãhội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX

Những câu chuyện mẹ kể cho bà nghe bên khung cửi về những Phù Đổng,Thành ốc,Vua Đen, Lu Bình- Dơng Lễ, Tống Trân- Cúc Hoa đều có giá trị sâu

đậm trong trái tim trẻ thơ Trong số những câu chuyện kể thì có lẽ hình ảnhnhững nữ anh hùng có dấu ấn hơn cả, bởi qua đó bà thấy đợc họ đã từng tận tuỵ,liều chết vì chồng vì con Vốn là một ngời mẫn cảm chắc chắn sẽ ảnh hởng

Trang 26

không ít đến tính cách của bà Đã có nhiều câu hỏi đợc bà đặt ra cho mẹ: sao lại

có đợc ngời đàn bà tốt đẹp nh Cúc Hoa ở trên đời?

Đối với một nhà nho, chiếc án th là vốn quý giá nhất của cuộc đời thanhbạch, hết mình vì chữ thánh hiền Bà Hoàng Thị Loan lớn lên cùng với nó, gắn bó

nh chiếc khung cửi của mẹ Nếu nh trong con mắt bà, vải mắc trên go cùng vớitiếng thoi đa hàng triệu con suốt thì những cuốn sách với biết bao nhiêu chữnghĩa, “rừng nho bể thánh” ấy cũng giống nhau Sự cần cù của mẹ đã ăn sâu vào

bà, ngay từ nhỏ đã nhận thấy: bố đẩy cày trên ruộng không thạo bằng đa bút, cầmliềm không đẹp bằng cầm sách, nhng đối vối mẹ cái liềm và cái thoi đều khéo léo

nh nhau Mẹ đã giành cho bố tất cả thời gian, trong nhà này ruộng nơng là phần

mẹ, còn đèn sách là phần bố

Là con gái một nhà nho đã từng hai lần đỗ tú tài cho nên vốn kiến thức chữHán của bà không ít Ngay từ bé bà đã đợc mẹ dạy cho chữ nghĩa.Từ những chữ,những câu đơn giản đến khó, bà Kép đã đọc nhiều lần cho con nghe thành quen,nhng để hình dung ra mặt chữ thì thật là khó Mà theo quan niệm phong kiến,con gái không đợc học chữ, mà ở vùng quê này, họ chỉ đợc học làm ruộng hoặcnghề canh cửi hay hát phờng vải Đợc sinh ra trong gia đình nho học, suốt ngày

là tiếng ê a đọc chữ của học trò, những tiếng giảng giải kinh nghĩa của cụ đồ An

đã ăn nhập vào tâm trí bà Bà đòi ông Hoàng Đờng bày cho học, ban đầu ông vẫn

có sự toan tính không phải ông không muốn dạy cho con mà bởi vẫn còn e ngại

d luận, phong tục khắt khe của địa phơng Nh đã thành cái lệ việc dạy cho congái thuộc về thiên chức của ngời mẹ, trong khi bà Nguyễn Thị Kép cho rằng chỉcần con gái mình học lỏm, học mót đợc chữ nào hay chữ ấy không cần học đờng

đờng, chính chính nh học trò nam

Nếu nh ở đời Trần, luật lệ nghiêm khắc là thế mà T đồ Trần Nguyên Đánvẫn nuôi thầy trong nhà để dạy học cho con cái thì bây giờ gạt bỏ những yếu tốlạc hậu của thôn quê, ông Hoàng Đờng lại dạy chữ cho con gái mình Có lẽ đócũng xuất phát từ quan niệm của nhà nho: một ngời con gái đã thạo nghề canhcửi mà lại biết chữ nghĩa thì càng hay, trên đời này chẳng có sự hiểu biết nào làthừa Đây là những t tởng đã vợt qua lễ giáo, suy nghĩ đơng thời “đàn ông trongnhà, đàn bà xó bếp”

Trang 27

Kể từ đó một lớp học “đặc biệt” đã đợc mở ra trong nhà cụ đồ, cha là thầy,con gái là trò, nhng nó chỉ đợc diễn ra khi màn đêm buông xuống, trong nhàkhông còn tiếng đọc bài của học trò và xung quanh chòm xóm đã tĩnh mịch vàomàn đêm.Tâm của một ngời thầy, trái tim của một ngời bố luôn mong muốn conmình hiểu biết nhiều hơn trong cuộc sống Chính thông qua những buổi học đó,

bà Hoàng Thị Loan đã tỏ rõ trí thông minh, hiểu biết của mình Không hề lạ lẫm,ngập ngừng khi phải tiếp xúc với những chữ thánh hiền, bàn tay của bà đa các nétchữ cũng chẳng khác gì nh khi đang dệt nên những cành hoa trên khung cửi ChữHán một thứ chữ khó học, khó hiểu hết nghĩa nhng do có trí thông minh, bà đã

đem lại niềm vui, tự hào cho thầy Các loại sách ấu học, luận ngữ của Khổng Tửchỉ đọc vài lần là có thể hiểu hết Chỉ có sách Mạnh Tử trở lên với nhiều câu triết

lý xa xôi thì cần phải ngẫm nghĩ Bài học chữ Hán đầu tiên đợc cha đặt ra là làmcâu đối, tuy khó nhng khi đã nắm đợc thể thức thì nó lại trở nên dễ dàng, để từ đó

bà đặt ra những câu đối đáp Sự học không chỉ dừng lại ở ngời cha mà nó đã mởrộng ra nhiều nơi: ngoài đồng ruộng, sự đối đáp giữa hai mẹ con và trong những

đêm hát phờng vải Ban đầu chỉ là sự học tập trong gia đình, trong những sự vật,sinh hoạt ngày ngày sau đó mở rộng ra ngoài làng xóm Trí tuệ đã mở dần ra theo

sự lớn khôn của bà và trong đó có sự sáng tạo âm thầm không ngừng

Cái quan niệm: “có học hay không cốt ở bản thân mình” đã bắt đầu nhennhóm từ tuổi trẻ đó Đối với bà, con ngời ta khi đã quyết tâm làm gì đó thì bất cứviệc gì cũng có thể tạo dựng đợc Cũng nh nếu cha bà không dạy cho mà ngàynào ông cũng dạy học, nếu cứ nghe đi nghe lại, tập viết nhiều lần thì tất yếu vẫn

sẽ học đợc Tâm lý ngời đàn ông bỏ công ăn học hàng chục năm, cày nát đũngquần mà cũng chẳng đỗ đạt trở về với cày cuốc không kiếm đủ miếng ăn chomình huống hồ đàn bà con gái, cho học để biết thêm dăm ba chữ không khéo bọncon trai sợ không dám lấy đã không còn phù hợp vơí suy nghĩ của nhà nho này

Không chỉ thông minh trong học chữ, bà Hoàng Thị Loan còn là ngời cógiọng hát nổi tiếng của làng Chùa Hát phờng vải là một thú vui, thi vị của ngời

xa, đã từng có câu thơ ca ngợi nó:

Không ăn đi hát cũng no

Đau đầu cũng lụ, hen ho cũng lành [8, 3]

Trang 28

Trong những đêm sáng trăng, trai gái trong làng thi nhau đối đáp Nhữngcon ngời vốn quen với việc đồng áng, vật lộn với ma nắng cuốc cày, luôn luônphải lo việc nhà cửa, vờn tợc, đêm đêm gắn liền với khung cửi nhng họ vẫn có đ-

ợc những lời hay ý đẹp Bà Loan cùng với em gái mình bà Hoàng Thị An lànhững ngời hát hay, sáng tác giỏi thờng đợc bầu bạn tôn lên đứng đầu phờngHoàng Trù gọi là trùm phờng làng Chùa

Khi bà Hoàng Thị Loan lên 10 tuổi, cũng là lúc gia đình ông đồ Hoàng ờng có một sự kiện quan trọng Một buổi chiều sau tết nguyên đán Mậu Thân(1878) khi từ làng Chùa sang Làng Sen chơi, ông đồ thực sự cảm động trớc hình

Đ-ảnh một cậu bé ngồi trên lng trâu đang dán mắt vào quyển sách thờ ơ với mọi thúvui của trẻ con trong ngày tết mà không hề hay biết có ngời đang đến gần Cuộc

đời mồ côi của ông Nguyễn Sinh Sắc bắt đầu thay đổi từ đó, đợc trở thành connuôi của gia đình ông Hoàng Đờng Mặc cho sự dèm pha của thiên hạ, ông vẫngiúp cho con ngời hiếu học này học chữ, có đợc những kiến thức nho học, biết đ-

ợc đờng nhân nghĩa, để có thể làm một con ngời có ích Đây phải chăng là quanniệm: Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một ngời

Vốn có em muộn, chỉ quen trong nhà có cảnh một mình, lại nhạy cảm, vốnrất nhân nghĩa, bà Loan và ông Sắc đã trở thành những ngời bạn thân Hai tínhcách: trầm lắng, suy t của ông Sắc và sôi nổi nh trang sách mở rộng của bà Loan

đã nhanh chóng hoà đồng, tạo thành sự vô t hồn nhiên trong tuổi thiếu thời

Tuổi thơ của bà Hoàng Thị Loan thật bình yên, bà sống giữa ngời mẹ vớitâm hồn tinh tế, bên ngời cha hiền hoà, hiểu biết rộng, một ngời em gái nhỏ tuổixinh đẹp và một ngời anh- ngời bạn trầm t Cũng chính trong thời gian này đãhình thành nên tính cách kín đáo, trầm tĩnh, hiền hoà, chăm chỉ, tần tảo cần có ởmột ngời thiếu nữ sau này

2.3.2 Mời một năm tiếp theo sống trên đất Chung Cự

Khi ngời mẹ nhìn thấy ngời con gái của mình đã hình thành những đờngnét nh: khuôn mặt hình trái xoan, cặp mắt xanh to lúc nào cũng tỏ rõ sự ngạcnhiên, gò mũi thanh thoát đó cũng là thời khắc báo hiệu tuổi thơ đã đi qua bắt

đầu tuổi trởng thành với vẻ đẹp rất riêng Lúc này bà Hoàng Thị Loan đã bớcsang tuổi thứ 12

Trang 29

Năm 1883, bà Hoàng Thị Loan đã trở thành một thiếu nữ nết na thuỳ mị,luôn luôn vui vẻ, hoà nhã, duyên dáng, ngày ngày chăm chỉ việc đồng áng, tối lạimiệt mài canh cửi nh bao cô gái khác trong làng Chùa này Theo lời kể của bàTrần Thị Tuất - con gái bà Hoàng Thị An em gái của bà Loan thì : “dì Loan tínhtình chất phác, đoan trang Mẹ tôi thờng nói việc làm của dì thì chu đáo, điềunghĩ của dì thì đôn hậu, nhân từ Dì biết nhiều mà nói ít, con trai của nhiều nhàgia thế đến ngấp nghé đa tin” [8;19] Đây cũng là lứa tuổi bắt đầu có sự thay đổi,những chàng trai trong làng đã ngấp nghé Để phù hợp với gia phong nhà mình,

bà sẽ phải lấy một ngời chồng nhà giàu có, đậu đạt cao hay đang làm quan

Nhng trong cuộc sống tình thơng và niềm tin luôn là những dờng cột chocác mối quan hệ khác Khi ngày càng lớn lên, bà Hoàng Thị Loan càng thấu hiểu

đợc quá khứ, tâm trạng của ngời anh nuôi mình Bà Loan bớc sang tuổi 13 thì

ông Sắc đã 17 tuổi, mối quan hệ anh em đã trở nên ngợng ngùng Nhờ sự dạy bảocủa bố mẹ, bà cũng rất quý trọng tài năng, tấm lòng đức độ của ngời con traicùng chung sống trong gia đình Lúc này, chú bé chăn trâu trong ngày tết nămnào đã trở thành một thanh niên nho nhã, mang trên mình dáng dấp th sinh Cũng

từ đây trong hai con ngời bắt đầu có sự thay đổi

Là một ngời rất tự chủ trong mọi việc, đặc biệt quan niệm của nhà nho:

“một bụng chữ bằng nửa hũ vàng” đã ăn sâu trong tâm trí bà Để từ đó một cuộctình duyên đợc bắt đầu giữa hai con ngời này.Trong gia đình, ông Hoàng Đờng làngời vui mừng nhất trớc tình cảm của con gái đầu lòng và ngời con trai hiền hậu,giỏi giang Nguyễn Sinh Sắc, còn bà Kép với tấm lòng ngời mẹ lại có phần bănkhoăn Bà Nguyễn Thị Kép sợ dân làng cời chê vì “trao tơ phải lứa, gieo cầu

đúng nơi” Đây cũng là những vớng mắc thờng tình của tấm lòng ngời mẹ khicon mình sắp bớc qua khỏi nhà Đối với bà Loan lại rất vững tin vào tình cảm củamình bởi “có lng có vai thì có khoai có lúa”, niềm tin đó đợc đặt ở tấm lòng, ýchí của ngời bạn đời mặc dù cuộc sống chung sẽ có không ít gian khổ khó khăn

Năm 1883, bà Hoàng Thị Loan chính thức bớc vào cuộc đời làm vợ, đúng

nh quan niệm “ nữ thập tam, nam thập lục”, một gia đình mới ra đời Ông bàHoàng Đờng đã tạo dựng một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ tre lấy từ trong vờn, mía làmvách trên mảnh đất của gia đình Trong ngôi nhà ba gian ấy, gian thứ nhất làmnơi học tập, nghỉ ngơi của ông Sắc, nó đã đánh dấu sự miệt mài khổ học trong

Trang 30

đã động viên lớn lao và là điều kiện vững chắc trên con đờng công danh của ông

Cũng chính từ ngôi nhà đầy ấm áp đó, lần lợt chào đốn những con ngờimới:

Năm 1884, lúc bà Hoàng Thị Loan 16 tuổi, đã sinh ra ngời con gái đầulòng Nguyễn Thị Thanh tự Bạch Liên

Năm 1888, 20 tuổi bà sinh ngời con thứ hai Nguyễn Sinh Khiêm tự Tất

Đạt

Đến năm 1890, vào năm 20 tuổi đã sinh ra Nguyễn Sinh Cung - chính làBác Hồ, tự là Tất Thành

Mỗi một ngời con ra đời lại đem đến cho gia đình họ Hoàng niềm vui lớn

và trách nhiệm làm mẹ của bà Loan cũng lớn hơn Hy vọng của ngời mẹ cũng đã

đợc thể hiện trong cách đặt tên, đó là sự thanh bạch, liêm khiết và cung kính

Ngày 7 tháng 4 năm Quý Tỵ (1893), khi 25 tuổi bà chịu một tổn thất lớnlao, đã phải chịu một tang lớn đó chính là ông Hoàng Đờng qua đời Lời trăngchối cuối cùng của ngời cha là dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, gia đình cũng phảitạo điều kiện để ông Nguyễn Sinh Sắc ăn học thành danh Nhớ lời cha dặn, bàLoan đã động viên chồng “trau dồi văn chơng, dùi mài kinh sử” để có thể đáp lạicái ơn nghĩa to lớn của ngời thầy đã yên nghỉ Từ đây ông Sắc tiếp tục công việcdạy học của ngời bố vợ

Năm Giáp Ngọ (1894), ông Nguyễn Sinh Sắc đậu cử nhân trờng Nghệ.Trong khoa thi năm ấy, trờng Nghệ có hai ngàn thí sinh dự thi mà chỉ có 22 ngời

Trang 31

đỗ Đây là một niềm vui lớn của bà Loan Khi nghe tin chồng đậu cử nhân sắpvinh quy bà vẫn đang ở ngoài đồng cấy nốt thửa ruộng còn dở, ngời nhà chạy rabáo tin mừng mời bà về chuẩn bị trầu nớc đón chồng và bà con chòm xóm sangchia vui Nhng qua giây phút xúc động bà nói: đậu thì mừng nhng ông Nghè, ôngCống cũng sống về ăn, rồi lại tiếp tục cấy cho xong mới về nhà Sự thành đạt củachồng đó là niềm vui của cả gia đình, là công lao ý chí rèn luyện của ôngNguyễn Sinh Sắc nhng là kết quả của sức chịu đựng gian khó, vất vả, sự lao độngcần cù vì chồng, vì con Những tiếng gọi “chị Cử, bà Cử” ban đầu còn ngợngngập nhng dần dần đã trở nên quen thuộc

Với học vị cử nhân thì ông Sắc có thể đợc bổ nhiệm làm huấn đạo, giáo thụhoặc có thế lực thì làm tri huỵên, tri phủ nhng ông Sắc lại không nghĩ đến con đ-ờng công danh quan lại mà muốn tiếp tục đợc học hành, đợc trải nghiệm qua kỳthi hội, thi đình để thi thố tài năng của mình Cho nên cuộc sống bình dị vẫn diễn

ra trong ngôi ngà tranh ấy, gia đình vẫn hàn vi nh thuở nào Bà Loan vẫn tiếp tụcgánh vác cuộc sống, gia đình ngày càng khó khăn để ông Sắc có thể yên tâmchuẩn bị cho kỳ thi hội Những ngời con vẫn đợc mẹ dạy bảo tận tình, tiếng cời

đùa luôn cất lên trong ngôi nhà này

Khoa thi hội năm ất Mùi (1895), ông Nguyễn Sinh Sắc không đỗ đạt, từkinh đô Huế trở về trong lòng mang đầy những vớng mắc, mặc dù bên cạnh ông

bà Loan dịu dàng khuyên nhủ, săn sóc nhng không làm vơi đi sự phẫn chí trongcon ngời ấy khi mà đã dốc hết tâm lực cho việc thi cử, mặt khác đã làm phụ lòngngời vợ tần tảo vì mình Từ sự kiện này ông Nguyễn Sinh Sắc đứng trớc hai sự lựachọn: một là về nhà dạy học hoặc là vào kinh học trong trờng Quốc Tử Giám đểchuẩn bị cho kì thi sau, tiếp tục con đờng khoa cử Đức tính dịu dàng nhng cơngquyết trong con ngời bà Loan đến đây lại đợc bộc lộ, với quyết tâm lớn và quyết

định sẽ đa con theo chồng vào kinh đô Huế tìm cách sinh sống và góp sức nuôichồng ăn học Đây là một quyết định khó khăn, táo bạo đối với cuộc đời bà, bởi

từ bé đến giờ bà chỉ gắn bó vời làng xóm, ruộng vờn cùng nghề canh cửi trên quêhơng mình cha bao giờ xa mẹ, rời nhà, xa quê hơng

Mời một năm (1883-1894), sống trong ngôi nhà tranh ba gian ở làngHoàng Trù cũng là bằng ấy năm bà Hoàng Thị Loan sống cuộc đời làm vợ và đãlàm mẹ của ba ngời con cũng là khoảng thời gian bà đã “một nắng hai sơng” với

Ngày đăng: 20/12/2013, 19:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14- Trần ngọc Linh- Trơng Văn Phú (2003), Kể chuyện Bác Hồ, tập 1. Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện Bác Hồ
Tác giả: Trần ngọc Linh- Trơng Văn Phú
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2003
15- Bùi Dơng Lịch (1968), Nghệ An ký. Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Nghệ An ký
Tác giả: Bùi Dơng Lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Sự thật
Năm: 1968
17- Nhiều tác giả (2002), Bên mộ Ngời . Hội văn học nghệ thuật Nghệ An và đài truyền hình Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bên mộ Ngời
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2002
18- Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (1984), Ca dao Nghệ Tĩnh. Sở văn hoá Thông tin Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao
Năm: 1984
19- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí. Nhà xuất bản Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Thuận Hoá
20- Trần Minh Siêu (1994), Di tích chủ tịch Hồ Chí Minh ở Kim Liên . Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích chủ tịch Hồ Chí Minh ở Kim Liên
Tác giả: Trần Minh Siêu
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 1994
21- Trần Minh Siêu(2004), Những ngời thân trong gia đình Bác Hồ . Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ngời thân trong gia đình Bác Hồ
Tác giả: Trần Minh Siêu
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 2004
24- Nguyễn Thị Bích Thuỷ (2004), Nhớ công ơn Ngời . Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhớ công ơn Ngời
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2004
25- Trần Dân Tiên (1969), Những mẩu chuyện về hoạt động của Hồ Chí Minh . Nhà xuất bản Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mẩu chuyện về hoạt động của Hồ C
Tác giả: Trần Dân Tiên
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hoá
Năm: 1969
26- Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng, tỉnh uỷ tỉnh Nghệ An (2002), Minh thời niên thiếu. Nhà xuất bản Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh thời niên thiếu
Tác giả: Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng, tỉnh uỷ tỉnh Nghệ An
Nhà XB: Nhà xuất bản Nghệ An
Năm: 2002
27- Sơn Tùng (1999), Búp sen xanh . Nhà xuất bản Kim Đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Búp sen xanh
Tác giả: Sơn Tùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Kim Đồng
Năm: 1999
29- T tởng Hồ Chí Minh di sản văn hoá dân tộc (2000). Nhà xuất bản Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: T tởng Hồ Chí Minh di sản văn hoá dân tộc
Tác giả: T tởng Hồ Chí Minh di sản văn hoá dân tộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân
Năm: 2000
30- Nguyễn Đắc Xuân (2004), Bác Hồ thời niên thiếu ở Huế. Nhà xuất bản Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bác Hồ thời niên thiếu ở Huế
Tác giả: Nguyễn Đắc Xuân
Nhà XB: Nhà xuất bản Trẻ
Năm: 2004
16- Nhà nữ cách mạng Bạch Liên nữ sỹ- chị cả của cụ Nguyễn ái Quốc, bản đánh máy của khu di tích Kim Liên Khác
22- Trần Minh Siêu, Báo cáo khoa học, vài nét sống văn hoá trong sinh hoạt hàng ngay của gia đình cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc Khác
23- Trần Minh Siêu, Báo cáo khoa học, những điểm nổi bật trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh Khác
28- Thờng vụ tỉnh uỷ- Ban chấp hành quân sự tỉnh Nghệ An (1997), Nghệ An lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp ( 1945-1954) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành nhân cách Hồ Chí Minh - Những người phụ nữ trong gia đình bác hồ
Hình th ành nhân cách Hồ Chí Minh (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w