Vào thời gian trong ựàn có nhiều ấu trùng, có khoảng 50% ong thu hoạch trở về tổ với các viên phấn có màu sắc khác nhau.. Tuy nhiên khi nguồn mật không phong phú, gần 1/ 2 số ong mang về
Trang 1hoa các enzim invectaza Men này có tác dụng chuyển hoá ựường saccaro thành ựường ựơn là gluco
và fructo ựồng thời những men khác do ong tiết ra biến ựổi một phần gluco thành axit gluconic Vì
vậy mật luôn có phản ứng axit (mật ong chắn có pH khoảng 3,9) Khi mật chắn hàm lượng nước trong
mật ong chỉ còn 18- 20%, ong ựổựầy các lỗ tổ phắa trên và vắt nắp tổ bằng một màng sáp mỏng Mật chắn có thể bảo quản ựược rất lâu Quá trình chắn của mật diễn ra khoảng từ 9- 10 ngày, tuỳ thuộc vào nguồn hoa, thời tiết và thếựàn ong Ở ong A.cerana ựôi khi mật chắn có tỉ lệ nước cao hơn ựạt 22 - 24% đường saccaro trong mật chắn vào khoảng 1- 4%, ựường gluco và fructo tăng ựến 70- 75% Hàm lượng ựạm thấp 0,1- 0,4%, muối khoáng 0,2%, axit hữu cơ 0,1- 0,4% Nếu quay mật nhiều lần (3- 4 ngày một lần) khi mật chưa chắn, hàm lượng nước rất cao từ 25- 28% Mật này dễ bị lên men, không bảo quản ựược lâu
- Thu ho ạch phấn
Vào thời gian trong ựàn có nhiều ấu trùng, có khoảng 50% ong thu hoạch trở về tổ với các viên phấn có màu sắc khác nhau Màu của viên phấn phụ thuộc vào loài hoa (phấn ngô, bắ ựỏ màu vàng, phấn lúa vàng nhạt, phấn cỏ rác màu ựỏ, phấn mùi màu tắm, phấn cà phê màu nâu sẫm ) Quan sát màu của viên phấn do ong mang về người nuôi ong có thể biết sự nở hoa của các cây nguồn mật,
phấn khác nhau và bán kắnh bay của ong
Khi thu hoạch phấn, ong dùng vòi và hàm trên ựể liếm hoặc cắn rách bao phấn dắnh vào các
lớp lông của cơ thể Sau ựó nó dùng chân trước và chân giữa ựể chải phấn ởựầu và cơ thể, rồi chuyển
ựến chân sau Bàn chải chân sau vê phấn hoa thành những viên nhỏ đôi khi ong nhả ra một chút mật hoa ựể làm cho phấn dắnh ựược rồi chuyển vào Ộgiỏựựng phấnỢ ở mặt ngoài ựốt chày chân sau Giỏ
ựựng phấn có một sợi lông cứng ở trung tâm có tác dụng giữ viên phấn ởựúng vị trắ
Trọng lượng của viên phấn hoa mang về tổ phụ thuộc vào sự phong phú của phấn trên cây và
thời tiết Trời lặng gió, một giỏ phấn hoa của ong A.mellifera là 16 - 20 mg, khi có gió là 8 - 12 mg Ong A.cerana lấy phấn cây mù tạt giỏ phấn 8 mg còn lấy phấn ngô là 19 mg (Naim và Bisht,1979) Thông thường ong chỉ lấy một loại phấn và lấy phấn nhiều nhất vào buổi sáng từ 8- 11h đa số ong thu hoạch mang về tổ hoặc là mật hoặc là phấn Tuy nhiên khi nguồn mật không phong phú, gần 1/ 2
số ong mang về tổ cả mật và phấn.Thời gian lấy một giỏ phấn thường nhanh hơn lấy một diều mật
Trường hợp cây vừa có mật vừa có phấn, ong lấy mật hoa trộn với phấn ựể cho phấn hoa ẩm có thể cho vào giỏựựng phấn Có khi cây chỉ cho phấn (như ngô, lúa, cỏ rác ) ong phải hút một giọt mật
tr-ước khi rời tổ Thời gian lấy ựầy một giỏ phấn từ 6 - 10 phút cho ựến 187 phút Một ngày một con ong
có thể lấy từ 6 - 47 chuyến, nhưng ong thường thắch lấy mật hơn là lấy phấn Sau khi ựem phấn về ong
ựể phấn vào trong lỗ tổ Các con ong khác trẻ hơn sẽ ép chặt phấn vào lỗ tổ Nhờảnh hưởng của vi sinh vật lên men lactic, một phần ựường thêm vào phấn hoa biến ựổi thành axit lactic Do ựó phấn hoa
có thể bảo quản khá lâu Phấn hoa là nguồn protein, lipit, muối khoáng và vitamin chủ yếu ựối với ong Khi thiếu phấn hoa, ong chúa giảm ựẻ , ong nuôi ấu trùng ắt và ngừng tiết sáp xây tổ Woyke (1976) thấy rằng vào vụ mật ong A.cerana nuôi ựược 95% số trứng cho ựến khi vắt nắp, nhưng khi có nguồn hoa rải rác chỉ là 50%, và vào mùa thiếu thức ăn tỷ lệ này bằng không, là do khi thiếu phấn, ong
thợăn một phần hoặc toàn bộấu trùng Có tập tắnh trên là do ong dự trữ và sử dụng lại lượng protein trong mùa thiếu thức ăn
Trang 2- L ấy nước
Khi trong tự nhiên không có mật hoa, phải sử dụng mật ong dự trữ, ong lấy nước vềñể làm loãng mật cho ấu trùng ăn Khi trời khô hanh, ong lấy nước vềñể tăng ñộẩm khu vực nuôi ấu trùng Khi trời nóng nực, ong lấy nước vềñể làm mát tổ vì vậy vào tháng 6 tháng 7 có rất nhiều ong ñi lấy
nước.Một con ong có thể lấy ñược từ 50 - 100 chuyến trong một ngày Ong cũng vận chuyển nước trong diều mật; khi về tổ chúng trao cho một số ong tiếp nhận Trong ñàn, ong không dự trữ nước vào các lỗ tổ như dự trữ mật và phấn mà có một số ong dự trữ nước trong diều mật Về mùa hè cần tạo cho ong nguồn nước nhân tạo ở trong trại ñể ong lấy nước sạch, không phải bay xa, tiết kiệm ñược năng
lượng Những ngày quá nóng có thể cho nước vào máng ñặt sẵn trong ñàn
Ngoài việc thu hoạch mật, phấn hoa và nước ra, ong A mellifera còn lấy cả các nhựa dính trên
chồi một số loại cây về chế biến thành keo ong ñể thu hẹp cửa tổ, bịt những chỗ hở của thùng Ong A cerana không lấy keo
• ðời sống ong chúa
+ S ự phát triển từ trứng ñến trưởng thành
Ong chúa cũng phát triển từ trứng thụ tinh như ong thợ nhưng sự phát triển của nó có một vài sai khác Theo nguồn gốc ra ñời của chúa có thể chia ra : chúa chia ñàn, chúa thay thế và chúa cấp tạo Các ấu trùng ong chúa chia ñàn và thay thếñược phát triển trong nền mũ chúa xây dựng một cách ñặc
biệt, thường nằm ở rìa bên hoặc mép dưới của bánh tổ.Từ các nền mũ chúa theo sự lớn lên của ấu trùng, ong thợ xây thành lỗ tổ chúa có hình hạt dẻ Khi ñàn ong mất chúa ñột ngột, ong chọn một số lỗ
tổấu trùng non dưới 3 ngày tuổi, mở rộng các lỗ tổ này rồi xây dần lên thành mũ chúa
Trong suốt giai ñoạn ấu trùng, ong thợ cho ấu trùng ăn bằng sữa chúa một cách dư thừa.Trong khi ñó ở ong thợ từ khi mới nởñến 2,5 - 3 ngày tuổi ấu trùng chỉñược ăn một lượng sữa vừa ñủ Mặt khác thành phần của sữa ong chúa cũng khác với sữa ong thợ Hàm lượng ñường trong sữa ong chúa
là 34% và ñược duy trì từ 1 ngày ñến 4 ngày tuổi, còn ở sữa ong thợ là 12% và ñược ăn như vậy trong 1,25 ngày (Shuel và Dixon 1959) Chính hàm lượng ñường cao này kích thích ấu trùng ong chúa ăn nhiều thức ăn hơn và nó ảnh hưởng ñến hạch Corpora allata ởñầu của ấu trùng Hạch này tiết ra hoocmon kích thích sâu non (Juvenile hoocmon) là neotenin ðến ngày thứ 3 của giai ñoạn ấu trùng
mức ñộ neotenin cao sẽ dẫn ñến sự phân hoá thành ong chúa, còn nếu mức ñộ neotenin thấp sẽ dẫn
ñến thành ong thợ (Beetsma, 1979) Vì vậy người nuôi ong khi tạo chúa thường chọn ấu trùng dưới 1 ngày tuổi và tốt nhất từ 12- 18 h tuổi ñểấu trùng ñược ăn sữa chúa Qua 5 ngày ong thợ vít nắp mũ chúa lại Lúc ñó trong mũ chúa vẫn còn lượng thức ăn dư thừa, ấu trùng sẽ vừa kéo kén vừa ăn sau ñó
sẽ lột xác hoá nhộng Ong nuôi dưỡng cho ấu trùng ong chúa ăn sữa ong chúa nhiều hơn so với ấu trùng ong thợ là do lỗ tổ của ong chúa hướng xuống phía dưới Nhộng của ong chúa sản sinh ra lượng pheromon khá nhiều (30 µg) ñủñể hấp dẫn ong thợñến ủấm Khi hoàn thành giai ñoạn phát triển, ong chúa tự cắn nắp mũ chúa và chui ra ngoài
+ Chúa t ơ và chuyến bay giao phối.
Sau khi vũ hoá việc ñầu tiên của ong chúa tơ là ñi tìm các mũ chúa già khác, dùng hàm trên
cắn vào vách mũ chúa rồi dùng ngòi ñốt ñể tiêu diệt các con ong chúa sắp vũ hoá nằm trong ñó Nếu ong chúa ñược tạo ñể chuẩn bị chia ñàn thì ong thợ bâu kín xung quanh mũ chúa ñể ong chúa vũ hoá
trước ñó không giết ñược.Vào ngày ñầu tiên ong chúa có xu tính âm với ánh sáng Nó thường lẩn
Trang 3tránh ánh sáng ở cửa tổ Vài giờựầu sau khi chúa vũ hoá, ong thợ hầu như không ựể ý tới chúa tơ Sau
ựó chúng dùng râu chạm vào ong chúa, chải chuốt cho nó, cho chúa ăn rồi có những hoạt ựộng quấy
rầy, xâm kắch ong chúa như rung lưng, lắc cánh Hoạt ựộng xâm kắch càng tăng lên làm cho ong chúa
hoạt ựộng hơn, nhanh nhẹn hơn Nó tỏ ra tức giận, trèo qua ong thợ, thậm chắ ựốt chết cả ong thợ
Bằng những việc làm này ong chúa ựã thiết lập vai trò thống trị của nó (Werver,1980) hơn nữa việc
tập luyện sẽ làm ong chúa khoẻ hơn, có khả năng bay tốt Khi ựược 3- 5 ngày tuổi, nó có xu tắnh
dương với ánh sáng, bò ra ngoài cửa tổ và bay ựịnh hướng lần ựầu trong vòng vài phút Những lần bay
về sau lâu hơn ựến 30 phút Ong chúa thường bay ựi giao phối vào những ngày trời nắng ấm, nhiệt ựộ không khắ cao hơn 20
oC , trời ắt gió Ong chúa thường bay giao phối cách tổ khoảng 2 km, ắt khi xa hơn
5 km (Crane 1990) và mỗi chuyến bay giao phối kéo dài từ 22,5 - 30 phút Ong chúa A.cerana thường bay ựi giao phối, sau khi vũ hoá là 5 - 7 ngày và ựẻ sau khi vũ hoá là 8- 12 ngày, còn ở ong A.mellifera là 6 - 9 ngày và 8- 13 ngày Thời gian bay ựi giao phối nhiều nhất của ong A.cerana gần
giống như của ong A.mellifera (A.cerana là 13h - 14h, ong A.mellifera là 12h30 - 13h30 Verma 1986) Nhưng theo Mardan, ong A.cerana giao phối nhiều nhất vào khoảng 15 h là khi mặt trời ởựúng góc ựộ là 45
o
Nếu như thời tiết xấu, sự giao phối của ong chúa chậm lại ựôi khi tới 30 - 35 ngày như
-ng o-ng chúa giảm khả năng ựẻ và tuổi thọ ngắn Khi bay giao phối, ong chúa tiết pheromon ựể hấp
dẫn ong ựực và nó sẽ giao phối với những con ong ựực ựuổi kịp nó Ong chúa thường giao phối 1 - 3
lần Một ong A.mellifera giao phối với 8 - 10 ong ựực (Trjasko 1956;Woyke 1955 Ruttner 1985) như
-ng một ong chúa A.cerana giao phối với khoảng 15 - 30 ong ựực (Woyke 19755 Koeniger và Punchihewa 1994), do lượng tinh dịch ở ong ựực A.cerana ắt hơn Một ong ựực A.cerana phóng ựược khoảng 0,35 ml tinh dịch chứa 1,20 triệu tinh trùng nghĩa là ắt hơn ở một ong ựực A.mellifera từ 5 - 6
lần.( Verma, 1990) Muốn thụ tinh nhân tạo cho ong chúa A.cerana phải lấy tinh trùng từ 40 - 60 ong
ựực (Woyke 1972) vì thế các chương trình chọn lọc giống ong A.cerana cần phải tiến hành bằng cách giao phối tự nhiên ở khu vực cách li vềựịa lắ
Sau khi giao phối 1 - 4 ngày, ong chúa bắt ựầu ựẻ trứng Khi ựẻ, ong chúa tìm các lỗ tổ trứng
ựã ựược dọn vệ sinh ựểựẻ Nó chui ựầu vào lỗ tổ kiểm tra và ựưa hai chân trước ra ựo lỗ tổ (Koeniger, 1970) Bằng cách này ong chúa biết ựược ựấy là lỗ tổ ong thợ hay lỗ tổ ong ựực mà ựẻ trứng thụ tinh hay không thụ tinh Nếu là lỗ tổ ong thợ, van túi trữ tinh mở ra, và một trong những tinh trùng ựược
nhả ra sẽ thụ tinh cho trứng Nếu là lỗ tổ ong ựực van túi trữ tinh sẽựóng lại, trứng sẽ không ựược thụ tinh, và chỉ nở ra ong ựực Khả năng ựẻ trứng của ong chúa phụ thuộc vào tuổi của ong chúa, thếựàn,
dự trữ thức ăn, số lỗ tổ trứng và ựiều kiện mật phấn bên ngoài Ong chúa càng già sức ựẻ trứng của nó càng giảm, tỷ lệ trứng không thụ tinh cao đôi khi một số chúa chưa già nhưng giao phối vào lúc thời
tiết không thuận lợi nên nhận ựược ắt tinh trùng thì sức ựẻ trứng cũng giảm nhanh
Ớ đời sống của ong ựực.
+ S ự phát triển từ trứng ựến trưởng thành
Khác với ong chúa và ong thợ, ong ựực ựược phát triển từ trứng không thụ tinh Cũng giống
nhưở ong thợ, trong 2,5 - 3 ngày ựầu tiên ấu trùng ong ựực ựược ăn bằng thức ăn ấu trùng nhưng thành phần có khác gọi là Ộsữa ong ựựcỢ Sữa ong ựực cho ấu trùng 1 - 2 tuổi ăn có hàm lượng ựường 7,5 % và khi ấu trùng ựược 3 - 5 ngày tuổi là 24,9% (Haydak 1957) Sau 3 ngày tuổi, ấu trùng ong
Trang 4gấp 2 lần ấu trùng ong thợ và kắch thước của nó cũng tăng lên nhiều hơn Tuy nhiên tỷ lệ chết của ong
ựực ở giai ựoạn ấu trùng cao hơn tỷ lệ chết của ong thợ rất nhiều Theo Woyke 1977:
Tỷ lệ chết ấu trùng ong thợ ong ựực
Theo Levenet (1956) ựể nuôi 1000 ong ựực A mellifera từ trứng ựến trưởng thành cần 750 gr
mật ong và 450 gr phấn hoa, và trong suốt cuộc sống của mình, số ong ựực trên tiêu thụ hết khoảng 6,32 kg mật ong Theo tắnh toán của những người nuôi ong, ựể tạo 1000 ong ựực trong ựàn thì giảm
mất 7 kg mật Tuy nhiên theo số liệu tắnh toán ngày nay số lượng mật ong tiêu tốn cho 1 ấu trùng còn
lớn hơn nhưng thực tế những ựàn ong có nhiều ong ựực năng suất mật vẫn không giảm, bởi vì trong
ựàn ong có nhiều mối tương tác mà chúng ta vẫn chưa hiểu hết
Sau 7 ngày, ong nuôi dưỡng ngừng cho ăn và vắt nắp lỗ tổ lại Lỗ tổ ong ựực thường nằm ở các góc phắa dưới của bánh tổ Nắp vắt lỗ tổ ong ựực nhô cao hơn so với nắp vắt của ong thợ Sau khi vắt nắp lỗ tổựược 2 - 3 ngày trên nắp vắt lỗ tổ ong ựực A cerana xuất hiện 1 lỗ thủng nhỏở chắnh giữa
do ong thợ lấy bớt sáp ựi Lý do hình thành lỗ nhỏựó còn chưa ựược rõ (Ruttner, 1988) Thời gian phát triển từ trứng ựến trưởng thành của ong ựực là 24 ngày ựối với ong A mellifera và 22 - 23 ngày
ựối với ong A cerana Giai ựoạn phát triển của ong ựực dài hơn so với ong chúa và ong thợ vì giai
ựoạn nhộng kéo dài hơn điều ựó làm cho các pha ấu trùng ve Varroa phát triển thuận lợi trên ấu trùng ong ựực
Ong ựực lưỡng bội: Ong ựực ựược sản sinh từ những trứng không thụ tinh đó là những con ong ựực ựơn bội, nghĩa là chúng chỉ có mẹ, không có bố và chỉ có một nửa số nhiễm sắc thể là 16 chứ không phải là 32 nhiễm sắc thể nhưở con cái (Ong chúa và ong thợ là những con ong cái lưỡng bội vì
có cả bố và mẹ) Ở những ựàn ong mà chúa giao phối cận huyết có những con ong ựực lưỡng bội phát triển từ trứng thụ tinh mà ong chúa ựẻở lỗ tổ ong thợ Khi dưới 1 ngày tuổi, ấu trùng của chúng tiết ra
chất pheromon, ựó là Ộchất ănỢ Những ong chúa cận huyết ở ong A.cerana cũng ựẻ ra trứng và ấu trùng ong ựực lưỡng bội nhưng những ấu trùng này tiết ra ắt Ộ chất ănỢ hơn và chúng chỉ bịăn thịt ở 1 -
4 ngày tuổi (Woyke 1977, 1980) ỘChất ănỢ sản sinh ra khi ấu trùng còn rất nhỏ ,có tác dụng ựểựàn ong khỏi lãng phắ thức ăn nuôi chúng Ỏ ong mật không có nhiễm sắc thể giới tắnh riêng biệt Theo Woyke (1976) giới tắnh của ong ựực xác ựịnh bởi 12 alen ở locus giới tắnh X, kắ hiệu là Xa, Xb.Xc Con cái phát triển từ trứng thụ tinh lưỡng bội dị hợp tửở locus X Ong ựực phát triển từ trứng không
thụ tinh thì phát triển bình thường Trứng thụ tinh ở trạng thái lưỡng bội ựồng hợp tửở locus X sẽ nở thành ong ựực lưỡng bội Hiện tượng này xảy ra khi ong chúa giao phối với ong ựực cận thân
+ Ong ựực trưởng thành và sự bay giao phối
Sau khi vũ hoá ong ựực thường ựậu trên các cầu bánh tổ có ấu trùng, nơi có nhiệt ựộ cao 35
oC
ựể thúc ựẩy sự hình thành tinh tử Suốt 3 - 4 ngày ựầu tiên nó không tự lấy thức ăn ựược mà ựược ong
thợ nuôi dưỡng bằng phấn hoa và mật ong Dần dần nó có thể tự lấy thức ăn trong các lỗ tổ không vắt
nắp Ong ựực dành 70 Ờ 80% thời gian ựể nghỉ ngơi hoàn toàn, thời gian còn lại bò ựi ựây ựó trong tổ Khi ựược 6 - 10 ngày tuổi, ong ựực thực hiện những chuyến bay ựầu tiên ựể bài tiết và ựịnh hướng vị
Trang 5trắ tổ, ở ngày thứ 12 Ờ 14 sau vũ hoá ong ựực thành thục về mặt sinh dục và sẽ bay ựi giao phối vào
tuổi 15 - 16 ngày (Hestmnamek, 1962)
+ S ự giao phối giữa ong chúa và ong ựực.
Khi ong chúa tơ bay tới ựiểm hội tụ ong ựực, rất nhiều ong ựực bay theo nó giống như một cái
ựuôi sao chổi ở sau ong chúa Cuối cùng một trong số ong ựực sẽựuổi kịp ong chúa, dùng chân trước
và chân giữa ôm lấy lưng còn chân sau ôm lấy bụng của ong chúa Tiếp theo nó cong bụng lộn cơ quan giao cấu vào buồng ngòi ựốt ựã mở của ong chúa, rồi nó trở nên tê liệt, chân rời ra, cánh không
vẫy nữa, cuối cùng nó lật về phắa sau Ong chúa tiếp tục bay mang theo ong ựực bị tê liệt Lúc này tinh trùng sẽựi vào ống dẫn trứng chung và ựôi ống dẫn trứng ựơn Sau ựó ong ựực rời ra, nhưng ựể lại các nút hình thành từ phần còn lại của dương vật và chất nhày của ong ựực ựông lại khi gặp không khắ,
ngăn không ựể tinh trùng thoát ra Chỉ vài giây sau con ong ựực khác lại bám vào ong chúa ựể giao
phối như con ong ựực trước và tất nhiên nó phải gạt bỏ chất nhầy do con ong ựực trước ựể lại Các ong
ựực sau khi giao phối sẽ bị chết
Khi thấy ựã ựủ lượng tinh trùng, ong chúa bay về tổ với dấu hiệu do ong ựực ựể lại gọi là Ộdấu
hiệu giao phốiỢ Nó tự bỏ dấu hiệu giao phối trong vòng 3 - 5 phút bằng cách bò trên bánh tổựể thành
lỗ tổ gạt vào dấu hiệu giao phối làm nó tụt ra đôi khi ong thợ giúp chúa loại bỏ dấu hiệu giao phối này Khoảng 1 - 4 ngày sau giao phối, ong chúa bắt ựầu ựẻ trứng
Ớ Cấu trúc tổ ong
Tổ ong là nơi bảo vệ ong khỏi các kẻ thù và mưa gió Trong tự nhiên ong A.mellifera và A.cerana thường làm tổ trong hốc cây, hốc ựá
+ C ấu tạo và sự sắp xếp bánh tổ: Tổ ong A.mellifera và ong A.cerana gồm có vài bánh tổ xếp thẳng
ựứng và song song với nhau (5 - 8 bánh tổ) Chiều dày bánh tổ chỗ nuôi ấu trùng là 20 Ờ 21 mm và
chỗ chứa mật là 25 - 30 mm Khoảng cách giữa hai bánh tổ kề nhau Ộ khoảng cách con ongỢ là 7,5
mm Giữa các bánh tổ có vách chung từựó có các lỗ tổựi về hai phắa ngược chiều nhau Lỗ tổ ong có hình lục giác ựều, ựáy lỗ tổ nằm ở vách chung ựồng thời lại là ựáy của 3 lỗ tổở phắa ựối diện Cấu tạo
như vậy tạo nên ựộ bền của tổ rất cao và lỗ tổ có sức chứa lớn nhất, tiết kiệm ựược nhiều sáp xây dựng
nhất Trên bánh tổ có các lỗ tổ ong thợ, ong ựực, ong chúa và lỗ tổựựng mật Số lượng lỗ tổ ong thợ là nhiều nhất Kắch thước lỗ tổ phụ thuộc vào loài ong và nòi ong mà khác nhau ở ong A.mellifera dao
ựộng từ 4,7- 5,4mm ở ong A.cerana là từ 4,2 Ờ 4,87 mm Ong A.cerana ở phắa Bắc nước ta có ựường kắnh là 4,6 mm còn ong A.cerana ở phắa nam là 4,3 mm, ong ựực ở phắa bắc là 5,4 mm ong ở phắa nam là 5,1 mm Các lỗ tổ có xu hướng chếch lên phắa trên một chút Các lỗ tổựựng mật có ựộ chếch
lớn hơn Các lỗ tổ ong ựực thường nằm ở phắa dưới và thường chỉ xuất hiện vào mùa chia ựàn Trong mùa phát triển, 3/ 4 số lỗ tổựược dùng ựể nuôi ấu trùng, 1/ 4 dành ựể chứa mật phấn Các lỗ tổ ong
thợựược vắt nắp phẳng còn lỗ tổ ong ựực lồi lên thành hình nón Vào mùa mật, số lỗ tổ nuôi ấu trùng
giảm xuống còn số lỗ tổựựng mật ựược tăng thêm
Việc nghiên cứu cấu tạo tổ các loài ong có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chế tạo ra các loại thùng ong thắch hợp đặc biệt dựa vào khoảng cách giữa hai bánh tổựểựịnh chiều rộng xà trên của thanh xà và khung cầu, ựo thể tắnh tổ ong tự nhiên, diện tắch bánh tổựể quy ựịnh kắch thước thùng ong cho thắch hợp Vắ dụ xà cầu ong A.mellifera cần phải to hơn, thể tắch thùng phải lớn hơn ong A.cerana
Trang 6Hình 6.6 - Bánh tổ ong
+ S ự già hoá của bánh tổ và
ho ạt ñộng xây dựng bánh tổ
m ới Bánh tổ mới xây,
mềm dẻo có màu trắng hoặc vàng sáng, sau một thời gian nuôi dưỡng ấu trùng, màu của bánh tổ sẫm ñi do các áo kén,
chất cặn bã trước khi ấu trùng hoá nhộng thải ra Vách tổ
hẹp lại, bánh tổ trở nên già cứng, không có mùi thơm như trước Theo Mikhailop,(1927) ñường kính
lỗ tổ ong thợ có 17 - 21 thế hệ ong ra ñời hẹp hơn 5 - 6% về thể tích Khi lỗ tổ có 68 thế hệ ra ñời thì
khối lượng ong thợ ra ñời từñó giảm ñi 18,8% Ong A.cerana không thích các bánh tổ quá cũ vì có mùi hôi, ong chúa không thích ñẻ trứng, sâu ăn sáp dễ xâm nhập Ở một sốñàn ñông quân, ong thợ
cắn bỏ các lỗ tổ cũ cho ñến tận lớp ñáy rồi xây lại các lỗ tổ mới Do ong A.cerana dọn vệ sinh ởñáy thùng kém, lớp sáp vụn do ong cắn ra lại hấp dẫn bướm sâu ăn sáp ñến ñẻ trứng Từñó sâu non lại nở
ra, ăn sáp rồi bò vào các bánh tổ khác Nếu số lượng sâu ăn sáp nhiều có thể làm ñàn ong bỏ tổ bốc bay Vì vậy cần phải thường xuyên dọn vệ sinh ñáy tổ và thay khoảng 1/ 2 số bánh tổ trên các ñàn ong
của trại trong một năm
Quá trình xây tổ mới do ong non ñảm nhiệm, sáp ñược tiết ra từ các tuyến sáp ở 4 ñốt bụng
cuối cùng của ong thợ Trong 3 ngày ñầu tiên của cuộc sống, các tế bào tiết sáp ñược tăng dần về kích
thước và ñạt cực ñại vào lúc ong ñược 12 - 18 ngày tuổi Sau ñó hoạt ñộng của tuyến sáp ngừng lại
Việc tiết sáp xây tổ phụ thuộc vào tình hình ñàn ong và nguồn mật phấn trong tự nhiên Người ta ước tính rằng ñể sản xuất ra ñược 453 g sáp ong phải tiêu tốn 3,8 kg mật ong Khi xây tổ, ong hình thành nên các dây ong ở chỗ xây tổ Chúng dùng các cựa ở chân sau lấy sáp ra khỏi gương sáp chuyển lên chân trước rồi ñưa lên hàm nhai, nghiền trộn với nước bọt Sau vài phút sáp trở nên có hình tròn nhỏ,
nó ñược ñặt lên bánh tổ Cục sáp có thể nằm ởñó hoặc lại ñược ong thợ khác lấy ñi nghiền lại Trong
thực tếñể xây ñược một lỗ tổ phải có sự tham gia của hàng trăm con ong, mà mỗi một con chỉ tham gia chưa ñến 1 phút Từ các dây ong hình thành nên các miếng bánh tổ nhỏ, dài mà ong tiếp tục xây dài ra và nối lại với nhau thành bánh tổ mới Ong xây bánh tổ tích cực nhất ở chỗ bánh tổ có nhiều ấu trùng mở nắp do ởñó có nhiều ong non Chúng ăn nhiều phấn ñể phát triển tuyến tiết sữa, nên tuyến sáp của chúng cũng phát triển mạnh
ðể giúp ong xây tổ nhanh và nhận ñược bánh tổ vững chắc có nhiều lỗ tổ ong thợ, người nuôi ong sử dụng tầng chân nhân tạo Cần lưu ý sử dụng tầng chân có kích thước ñúng với lỗ tổ tự nhiên
của ong Nếu kích thước lớn hơn lỗ tổ tự nhiên , ong sẽ xây nhiều lỗ tổ ong ñực
Trang 7+ S ự ựiều hoà nhiệt ẩm ựộ trong tổ
Tất cả các loài ong mật ựều có khả năng tạo ra và duy trì nhiệt ựộ trong tổở mức ựộ không
ựổi Ở ong A.mellifera nhiệt ựộở khu vực nuôi ấu trùng luôn ổn ựịnh trong khoảng 32 - 34
oC đây là nhiệt ựộ thắch hợp nhất cho ấu trùng phát triển, nếu cao quá hoặc thấp quá ựều ảnh hưởng ựến sự phát triển của ấu trùng , làm giảm sức sống hoặc kéo dài sự phát dục
Sựựiều hoà nhiệt ựộ do ong thợựảm nhiệm, ựàn ong càng ựông thì khả năng ựiều hoà nhiệt
ựộ càng tốt Khi nhiệt ựộ không khắ xuống thấp, ong tụ tập lại trên bánh tổ thành chùm, ựông tới mức làm cho chúng tạo ra nhiệt ựộ cao trên một diện tắch nhất ựịnh ở chỗ có ấu trùng Nhiệt ựộ càng thấp thì ong càng dày ựặc hơn, chúng tiêu thụ mật ong càng nhiều ựể tạo ra năng lượng cần thiết đàn ong A.mellifera chịu ựược nhiệt ựộ thấp Ờ 40
oC , còn các ựàn A.cerana chỉ chịu ựược nhiệt ựộ 0
oC Tuy nhiên ở Nhật Bản ong A.ceranajaponica lại chịu ựựng nhiệt ựộ lạnh Ờ 20
oC
tốt hơn là ong nhập nội A.mellifera (Sakai,T 1989) Xét về mặt cá thể ong A cerana chịu lạnh tốt hơn, ở Quảng đông Trung
Quốc ong A.cerana bắt ựầu ựi làm khi nhiệt ựộ không khắ ngoài trời là 7
oC Ngược lại ong A.mellifera không thể rời tổở nhiệt ựộựó, nếu nó bay ra nó sẽ bị chết (Liu, 1984)
Khi nhiệt ựộ không khắ cao trên 34
oC , ựể làm mát tổ, ong tiến hành thông gió Chúng ựậu ngoài cửa tổ vẫy cánh tạo ra dòng không khắ ựẩy vào tổ Ong A.mellifera quay ựầu vào cửa tổ khi quạt gió, ngược lại ong A.cerana quay ựầu ra Nếu sự thông gió vẫn chưa ựủ, ong dàn rộng ra khắp tổ và tụ
tập lại thành chùm dưới ựáy thùng Nhờ vậy, nhiệt ựộ trong tổựược giảm xuống Khi trời quá nóng ong ựi lấy nước về tổ, ựặt giọt nước lên trên nắp vắt lỗ tổ nhộng, hoặc treo lên phần trên phắa ngoài lỗ
tổ có ấu trùng Nước bốc hơi làm giảm nhiệt ựộ và tăng ẩm ựộ trong ựàn Bằng cách này ong duy trì
ẩm ựộ không khắ trong tổ luôn luôn ở khoảng 65 - 80%, là ẩm ựộ thắch hợp cho sự phát triển của ấu trùng
Cẹu hái ền tẺp ch−ểng 6
1 ậẳc ệiÓm cựa 2 gièng ong ệ−ĩc nuềi phữ biạn ẻ Viỷt nam : A mellifera vộ A cerana
2 Thộnh phẵn ệộn ong vộ cịc chục nẽng, hoỰt ệéng cựa chóng
3 CÊu tróc tữ ong vộ sù ệiÒu hoộ nhiỷt Èm ệé trong tữ ong
Trang 8Ch ương VII: CâY NGUỒN MẬT PHẤN VÀ SỰ THỤ PHẤN
CâY TRỒNG BẰNG ONG MẬT
Chương 7 đề cập đến tầm quan trọng cây nguồn mật, khai thác cây nguồn mật nuôi ong
7.1 Vai trũ của cõy nguồn mật phấn ủối với ong
Ong ủi lấy thức ăn từ nguồn tự nhiờn là mật và phấn hoa Mật hoa và phấn hoa cú thể cung
cấp tất cả cỏc năng lượng cần thiết cho ong Trong thành phần của mật ong cú nhiều cỏc loại ủường saccaro, gluco, fructo là nguồn năng lượng cơ bản cần thiết cho ấu trựng, cho cỏc cỏ thể ong và cho
cảủàn ong Ong thường sử dụng và nuụi ấu trựng bằng mật hoa mới lấy về, ủồng thời chế biến một
phần cũn lại thành mật hoa Phấn hoa là nguồn cung cấp protein, chất bộo, vitamin, muối khoỏng cho ấu trựng và ong non Khi thiếu phấn ủàn ong khụng nuụi dưỡng ấu trựng và ngừng xõy tổ, vỡ thế
nơi nào cú nguồn mật phấn dồi dào quanh năm thỡ ong phỏt triển mạnh và cho năng suất cao Tuy nhiờn khụng phải tất cả cỏc loài thực vật cú hoa ủều cho mật và phấn hoa, ủều cú giỏ trịủối với ong
như nhau Những thực vật cung cấp cho ong mật hoa và phấn hoa ủược gọi là cõy nguồn mật Những
thực vật cho mật nhưng ớt hoặc khụng cho phấn cũng ủược xếp vào nhúm này Cũn những thực vật
mà trờn cỏc bụng hoa của nú, con ong chỉ lấy ủược phấn hoa gọi là cõy nguồn phấn (ngụ, lỳa, trinh nữ, hoa hồng, thuốc phiện ) Cỏc cõy nguồn phấn này cú vai trũ rất quan trọng ủối với người nuụi ong,
ủặc biệt khi ủàn ong nuụi nhiều ấu trựng, chuẩn bị quõn cho vụ mật Mặt khỏc khi con ong ủi lấy phấn trờn những bụng hoa nú lại ủem phấn hoa thụ phấn cho nhuỵ hoa tạo khả năng hỡnh thành quả và hạt
Vỡ vậy năng suất cỏc loại thực vật trờn lại phụ thuộc ủỏng kể vào hoạt ủộng của cỏc con ong Mối liờn quan hữu cơ này là cơ sở kinh tếủể sử dụng ong trong thụ phấn cõy trồng nụng nghiệp
Cũng như cỏc nước nhiệt ủới khỏc, chỳng ta cú thảm thực vật rất ủa dạng, cú nhiều loài cõy nở hoa nhưng số lượng khụng nhiều Diện tớch của vựng trồng trọt cú một vài loại cõy trồng trờn diện tớch
lớn như cao su, tỏo, nhón, chụm chụm là những vựng nuụi ong rất tốt Cũn những vựng khỏc, khú cú
thểủặt ong với số lượng lớn Vỡ thếở những nơi nuụi ong cốủịnh, người nuụi ong cần phải trồng thờm một số cõy nguồn mật phấn bổ sung Tuy nhiờn nếu chỉ trồng cõy phục vụ cho ong thỡ sẽ khụng kinh tế mà việc trồng trọt này cần kết hợp với việc trồng cỏc cõy ăn quả, cõy trồng nụng nghiệp, lõm nghiệp, cõy cụng viờn búng mỏt
Do tầm bay của ong A.cerana khụng xa nờn việc tỡm ra vựng cú nguồn mật phấn phong phỳ là
yếu tố quan trọng nhất ủể nuụi ong thành cụng
+ Sự tiết mật hoa của thực vật
Mật hoa là chất lỏng cú ủường ủược tiết ra từ tuyến mật hoa của thực vật nhằm hấp dẫn cụn trựng ủến thụ phấn
Tuyến mật hoa thường thấy trờn ủài hoa, cỏnh hoa, nhịủực và nhuỵ, ủa số nằm ở gốc bầu và ở nhuỵ Tuyến mật của hoa nụng, sõu cú ảnh hưởng trực tiếp ủến khả năng lấy mật của ong Những
chủng ong cú chiều dài vũi hỳt lớn, cú khả năng thu mật tốt ở cỏc loài cõy cú tuyến mật sõu như cỏ lào, cỳc quỳ Vỡ thế ong nội thu mật cỏ lào kộm hơn ong í Tuyến mật ngoài hoa thường nằm trờn cỏc
cơ quan sinh dưỡng của cõy như cuống lỏ, thõn lỏ, lỏ kốm và lỏ bắc gọi là mật lỏ Mật lỏ thường cú ở cỏc cõy cao su, bụng, ủay, trẩu, keo tai tượng Ở cõy cao su, mật lỏ xuất hiện ở thời kỳ cõy thay lỏ Cỏc
Trang 9lá non có khả năng tiết mật Cây ñay tiết mật trong thời kỳ sinh trưởng mạnh (tiết nhiều nhất khi ñạt ñộ cao 80 - 200 cm) Khi không có mật hoa, ong mới lấy mật lá Mật ong ñược lấy từ mật lá có hương vị kém hơn là mật ong lấy từ mật hoa, nên giá bán rẻ hơn
Trong mật hoa có chứa một hỗn hợp axit hữu cơ, các muối khoáng và các este Chính các este này làm cho hoa có mùi thơm Hàm lượng ñường trong mật hoa biến ñộng rất lớn từ 25 - 60% tuỳ thuộc vào loài cây và các yếu tố ngoại cảnh khác mà lúc ñặc lúc loãng Ví dụ mật hoa nhãn miền Bắc
có hàm lượng ñường bình quân 50%, hoa vải thiều 23%, ñay cách 27% ðộñặc của mật hoa có ảnh
hưởng lớn ñến sự thu hoạch của mật ong Nếu mật ñặc quá, (lớn hơn hoặc bằng 70%) ong khó hút vào
diều mật Nếu loãng quá thì ong không thích lấy vì phải tốn nhiều năng lượng vận chuyển mật hoa về
tổ và chế biến nó thành mật ong Ong thích lấy mật hoa nhất khi nồng ñộñường là 50%, dưới 5% ong không lấy Khi có nhiều loại cây cùng nở hoa một lúc, thì ong sẽ lấy ở những bông hoa nào có lượng
mật hoa nhiều, nồng ñộñường ñặc lại tiêu tốn năng lượng ít nhất cho một chuyến ñi lấy, ñể có hiệu
quả kinh tế cao nhất Ví dụ hoa nhãn và hoa vải cùng nở một lúc, tuy hoa nhãn có lượng mật hoa ít
hơn hoa vải một chút (2,5 mg so với 3,3 mg) nhưng tỷ lệñường lại cao hơn nhiều (50% so với 23%) nên ong thường bỏ hoa vải ñể lấy mật hoa nhãn
7.2 Những ñiều kiện ảnh hưởng ñến sự tiết mật của cây
Thực vật thường xuyên chịu tác ñộng của ñiều kiện ngoại cảnh như nhiệt ñộ, ẩm ñộ, ánh sáng, lượng mưa vì thế các ñiều kiện ngoại cảnh này cũng ảnh hưởng lớn ñến sự tiết mật hoa
a ¶nh h ưởng của nhiệt ñộ không khí
ðể tiết ñược mật hoa thực vật cần nhiệt ñộấm áp Nhiệt ñộ tối thấp ñểña số các loài thực vật
tiết mật là 10
oC
Khi nhiệt ñộ tăng thì sự tiết mật tăng và thích hợp nhất là ở 20 - 25
oC Tuy nhiên một
số cây như bạch ñàn, sú vẹt lại tiết mật nhiều ở nhiệt ñộ cao 35 - 38
oC Một số cây như nhãn, vải thiều,
bí ñao, ñay, mật tiết nhiều vào ban ñêm nhưng loãng hơn nên buổi sáng ong ñi làm ít Khi nhiệt ñộ
tăng nước trong mật hoa bốc hơi ñặc lại, ong ñi làm mạnh hơn
b ¶nh h ưởng của ẩm ñộ không khí
Phần lớn các thực vật tiết mật nhiều khi ẩm ñộ không khí trên 60%, thấp hơn thì ít tiết mật Tuy nhiên có một số thực vật có thể tiết mật khi ẩm ñộ không khí thấp hơn (bạch ñàn ) Nhìn chung khi ẩm ñộ không khí tăng, quá trình tiết mật tăng nhưng hàm lượng ñường trong mật sẽ giảm một cách tương ứng và ngược lại Vì vậy vào những ngày ẩm ñộ quá khô, có gió Lào, cây tiết mật kém,
mật hoa khô nhanh nên ong ít hoặc không ñi làm
c ¶nh h ưởng của ánh sáng mặt trời
Thực vật cần ánh sáng mặt trời ñể quang hợp, ñồng hoá cacbonic của không khí thành tinh bột
và ñường Do ñó, ánh sáng ñủ sẽ xúc tiến quá trình tiết mật hoa Vì vậy những ngày mùa ñông, mây
mù, cây tiết mật kém Những cây, bụi, cỏ có mật hoa trong rừng rậm cho mật ít hơn so với các loại cây gỗ có tán rộng, mọc ở chỗ trống, ñược chiếu sáng ñủ
d ¶nh h ưởng của mưa gió
Mưa kéo dài nhiều ngày có ảnh hưởng xấu ñến sự tiết mật do không ñủ ánh sáng xúc tiến cho
sự quang hợp Mưa làm ñộẩm không khí tăng, mật hoa loãng Mưa còn làm rửa trôi mật hoa Mưa to
Trang 10còn làm rụng các loại hoa như hoa nhãn, hoa vải, bạch ñàn Tuy nhiên nếu thời hạn hoa nở ngắn, cây còi cọc ít hoa và tiết mật kém.Trước và ñầu vụ mật có mưa, cây sinh trưởng tốt và tiết mật nhiều Khi trời gió to, tuyến mật co lại, sự tiết mật giảm ñi, ñộñặc tăng lên Khi có gió mùa ñông bắc,
trời lạnh, ẩm ñộ khô cây tiết mật kém, ong ít ñi làm Gió to còn ảnh hưởng ñến việc ñi làm của ong trên hoa làm trôi dạt ong và ong tốn nhiều năng lượng ñể bay về tổ nhất là khi nguồn mật ở ngược chiều với hướng gió thổi
e ¶nh h ưởng của ñất ñai và chế ñộ canh tác
Nhìn chung cây tiết mật tốt khi ñược trồng trên ñất phì nhiêu, màu mỡ, ñủẩm ñộ Các cây ñược bón phân tưới nước ñầy ñủ thì tiết mật nhiều hơn Nhãn trồng ở vùng ñồi núi Lai Châu - Sơn La (Hoà Bình) tiết mật kém hơn là nhãn ñược trồng ở vùng ñồng bằng hoặc bãi bồi có phù sa (Hưng Yên, Hà Nam Ninh) Táo ghép ñược cắt cành hàng năm, tưới nước và bón phân ñầy ñủ cho nhiều mật
hơn là táo không ñốn, chăm sóc kém Tuy nhiên một số cây như bạch ñàn lá liễu, chân chim, sau sau
dù mọc ởñất cằn cỗi ,vẫn tiết mật tốt
g ¶nh h ưởng của tuổi cây, tuổi hoa và thời kì nở hoa
Mật hoa và lá ñược tiết nhiều hơn ở các cây ñang thời kì sung sức như cao su sau 8 năm, bạch
ñàn sau 6 - 7 năm, keo tai tượng 4 - 7 năm Cây non hoặc già cỗi thì tiết mật kém hơn, thời gian nở hoa ngắn hơn
Mật hoa ñược tiết nhiều hơn ở những bông hoa ñã nở hoàn toàn, chuẩn bị cho việc thụ phấn
Một số hoa họ cúc như cúc quì, cỏ lào, càng cua thuộc loại hoa tự, ñầu trạng thì khi những vành hoa ngoài nở xong, hoa hơi héo thì mới tiết mật nhiều Vào nửa ñầu của sự nở hoa của một bông hoa, mật hoa ñược tiết ra nhiều hơn so với nửa cuối Tuy nhiên có một số hoa tiết mật cả sau khi hoa ñã nở xong như chân chim, hoặc khi hoa ñã rụng như: cau, dừa
7.3 Các cây nguồn mật chính ở Việt Nam
Nước ta có rất nhiều loại cây cung cấp mật và phấn cho ong mà chúng ta vẫn gọi là cây nguồn
mật Tuy nhiên không phải bất cứ có sự nở hoa của cây nguồn mật nào, ñàn ong cũng có thể tích luỹ ñược lượng mật dư thừa cho con người khai thác Những cây nguồn mật chỉ cung cấp ñủ lượng mật
phấn cho ñàn ong phát triển gọi là cây nguồn mật duy trì hỗ trợ, ví dụ: chè (trà), bí ñao, cam, chanh, doi (mận) Cây nguồn mật duy trì có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển ñàn, chuẩn bị cho vụ khai thác Còn cây nguồn mật chính là những cây tiết nhiều mật, số cây nhiều, tập trung và khi các cây
ñó nở hoa, ong có thể thu hoạch và dự trữñược mật trong bánh tổ của chúng Cây nguồn mật chính quyết ñịnh sản lượng mật thu ñược trong năm Tuỳ theo vùng ñịa lí, khí hậu và ñiều kiện canh tác mà
có các cây nguồn mật chính khác nhau Ở các tỉnh phía Bắc các cây nguồn mật chính bao gồm: vải thiều, nhãn, bạch ñàn, ñay, vẹt, táo, bạc hà dại, cỏ lào, chân chim, keo tai tượng Phần lớn mật ong lấy
từ các cây nguồn mật chính trên có chất lượng tốt, trong và thơm ngon Do diện tích các loại cây trên không nhiều, thời tiết không ổn ñịnh nên có năm thu ñược nhiều, có năm thu ñược ít, chỉ phù hợp với
việc nuôi ong gia ñình và giống ong nội A cerana
Ở phía Nam, cao su là cây nguồn mật quan trọng nhất Mật cao su chiếm tới 3/ 4 tổng sản
lượng mật ong của nước ta Sau cao su là chôm chôm, nhãn, cỏ lào, tràm, cúc quì và hoa dừa Dừa ở
Bến Tre nở hoa quanh năm nên những người nuôi ong ởñó cũng thu mật ñược quanh năm (trừ những