1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc

104 308 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2
Trường học Trường Đại học Xây dựng (https://www.dxu.edu.vn)
Chuyên ngành Kỹ thuật xây dựng
Thể loại Chương
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Tập trung sự chú ý lãnh đạo thi công vào các mcj tiêu quan trọng: Toàn bộ công việc lập kế hoạch tiến độ nhằm thực hiện các mục tiêu của sản xuất xây dựng nên việc lập tiến độ cho thấy

Trang 1

Xây dựng phương án sản xuất nằm trong khâu thiết kế biện pháp kỹ thuật sản xuất Xây dựng phương án sản xuất cần nêu nhiều khả năng thực hiện

để lựa chọn Không nên chỉ xây dựng một phương án vì như thế sẽ bị chủ quan

Cần tiến hành lựa chọn phương án để sản xuất sau khi đã phân tích kỹ những ưu , nhược điểm của các phương án đề nghị

Ra quyết định là hành động quản lý quan trọng của tác nghiệp quản lý sản xuất Quyết định được cân nhắc và lựa chọn qua phân tích ưu nhược

điểm theo nhiều mặt của các phương án đề xuất

Phải truyền quyết định đến người có nhiệm vụ thi hành Mệnh lệnh sản xuất phải bằng văn bản, rõ ràng, đầy đủ các điều kiện như nội dung công việc phải làm, định mức thời gian, định mức vật tư, định mức nhân lực Thời hạn khởi công, thời hạn hoàn thành, vật tư, nhân lực, phương tiện

được phép sử dụng Nếu khẩn cấp, ra lệnh miệng thì lệnh miệng là nhất thời, phải ghi chép lệnh miệng thành văn bản và gửi đến các bên liên quan sau khi đã bắt đầu thực hiện lệnh miệng nhưng trước khi công việc giao bằng lệnh miệng hoàn thành

Quá trình thực hiện công tác, đơn vị ra mệnh lệnh sản xuất phải nhận

được báo cáo về quá trình diễn biến của sản xuất Khi cần, phải đôn đốc quá trình thi hành, và thường xuyên kiểm tra quá trình thi hành Nếu thấy quá trình thực hiện sản xuất có điều gì đó không chính xác như lệnh đã ban hành hoặc quá trình diễn biến mới chen trong quá trình sản xuất, cần thiết thông tin lên cấp ra lệnh để nắn chỉnh, điều tiết, bổ sung khi cần thiết

Không thể tách rời quá trình quản lý sản xuất với theo dõi, bảo đảm chất lượng môi trường và an toàn lao động

Chương II : Kế hoạch hoá sản xuất xây dựng

2.1 Các phương pháp lập kế hoạch

Lập kế hoạch tiến độ là quyết định trước xem quá trình thực hiện mục tiêu phải làm cái gì, cách làm như thế nào, khi nào làm và người nào phải làm cái đó

Kế hoạch làm cho các sự việc có thể xảy ra phải xảy ra, nếu không có kế hoạch có thể chúng không xảy ra Lập kế hoạch tiến độ là sự dự báo tương lai, mặc dù việc tiên đoán tiên lai là khó chính xác, đôi khi nằm ngoài dự kiến của con người, nó có thể phá vỡ cả những kế hoạch tiến độ

Trang 2

tốt nhất, nhưng nếu không có kế hoạch thì sự việc hoàn toàn xảy ra một cách ngẫu nhiên

Lập kế hoạch là điều hết sức khó khăn, đòi hỏi người lập kế hoạch tiến độ không những có kinh nghiệm sản xuất xây dựng và còn có hiểu biết khoa học dự báo và am tường công nghệ sản xuất một cách chi tiết, tỉ mỉ và một kiến thức sâu, rộng

2.1.1 Vai trò của kế hoạch tiến độ trong sản xuất xây dựng

a Sự đóng góp của kế hoạch tiến độ vào việc thực hiện mục tiêu

Mục đích của việc lập kế hoạch tiến độ và những kế hoạch phụ trợ là nhằm hoàn thành những mục đích và mục tiêu của sản xuất xây dựng Sơ đồ dưới đây cho thấy kế hoạch tiến độ là cơ sở quản lý thi công xây dựng:

Giúp ta biết

Trang 3

Lập kế hoạch tiến độ và kiểm tra thực hiện sản xuất trong xây dựng là hai việc không thể tách rời nhau Không có kế hoạch tiến độ thì không thể kiểm tra được vì kiểm tra có nghĩa là giữ cho các hoạt động theo đúng tiến trình thời gian bằng cách điều chỉnh các sai lệch so với thời gian đã

định trong tiến độ Bản kế hoạch tiến độ được cung cấp cho ta tiêu chuẩn

để kiểm tra

b Tính hiệu quả của kế hoạch tiến độ

Tính hiệu quả của kế hoạch tiến độ được đo bằng đóng góp của nó vào thực hiện mục tiêu sản xuất đúng theo thời gian dự kiến, với chi phí và cá yếu tố tài nguyên khác đã dự kiến

c Tầm quan trọng của kế hoạch tiến độ

Lập kế hoạch tiến độ nhằm những mục đích quan trọng sau đây:

+ ứng phó với sự bất định và sự thay đổi:

Sự bất định và sự thay đổi làm cho việc phải lập kế hoạch tiến độ là tất yếu Tuy thế tương lai lại rất ít khi chắc chắn và tương lai càng xa thì các kết quả của quyết định càng kém chắc chắn Ngay những khi tương lai có

độ chắc chắn khá cao thì việc lập kế hoạch tiến độ vẫn là cần thiết Đó là vì cách quản lý tốt nhất là cách đạt được mục tiêu đã đề ra Toán học cho

ta những phép tính toán để có kết quả là làm cách nào đó để đạt được mục tiêu với chi phí thấp nhất Hơn nữa bản kế hoạch tiến độ đưa ra để các bộ phận của tổ chức thực hiện sẽ biết phần mình tham gia trong việc thực hiện công việc chung như thế nào

Dù cho có thể dự đoán được những sự thay đổi trong quá trình thực hiện tiến độ thì việc khó khăn trong khi lập kế hoạch tiến độ vẫn là điều khó khăn

+ Tập trung sự chú ý lãnh đạo thi công vào các mcj tiêu quan trọng:

Toàn bộ công việc lập kế hoạch tiến độ nhằm thực hiện các mục tiêu của sản xuất xây dựng nên việc lập tiến độ cho thấy rõ các mục tiêu này

Để tiến hành quản lý tốt các mục tiêu của sản xuất, người quản lý phải lập

kế hoạch tiến độ để xem xét tương lai, phải định kỳ xét soát lại kế hoạch

để sửa đổi và mở rộng nếu cần thiết để đạt được các mục tiêu đã đề ra + Tạo khả năng tác nghiệp kinh tế:

Việc lập kế hoạch tiến độ sẽ tạo ra khả năng cực tiểu hoá chi phí xây dựng vì nó giúp cho cách nhìn chú trọngvào các hoạt động có hiệu quả và

sự phù hợp

Kế hoạch tiến độ là hoạt động có dự báo trên cơ sở khoa học thay thế cho

Trang 4

định hướng chung, thay thế luồng hoạt động thất thường bằng luồng hoạt

động đều đặn Lập kế hoạch tiến độ đã làm thay thế những phán xét vội vàng bằng những quyết định có cân nhắc kỹ càng và được luận giá thận trọng

+ Tạo khả năng kiểm tra công việc được thuận lợi:

Không thể kiểm tra được sự tiến hành công việc khi không có mục tiêu rõ ràng đẫ định để đo lường Kiểm tra là cách hướng tới tương lai trên cơ sở xem xét cái thực tại Không có kế hoạch tiến độ thì không có căn cứ để kiểm tra

về vật tư, về tiền vốn, về tính năng động, về trình độ quản lý v.v… Phải nhìn hôm nay mà phán đoán tương lai ít nhất là trong thời kỳ thực hiện tiến độ qua mỗi chặng thời gian Nói một cách giản đơn là tự đánh giá khả năng thực hiện kế hoạch của mình một cách nghiêm túc, khách quan Không thể lấy nhiệt tình, hăng say hay lòng mong muốn mà chủ trương việc lập kế hoạch

b Thiết lập các mục tiêu:

Phải xây dựng được mục tiêu cho toàn bản kế hoạch và mục tiêu cho từng hạng mục, từng thời điểm Các mục tiêu sẽ định ra kết quả cần thu được, chỉ ra điểm kết thúc trong các việc cần làm, nơi nào cần chú trọng ưu tiên

và cái gì cần hoàn thành bằng một mạng lưới các chiến lược, các chính sách, các thủ tục, các quy tắc, các ngân quỹ và các chương trình

Trang 5

Cụ thể là phải nêu mục tiêu cụ thể cho toàn bản kế hoạch tiến độ Sau khi xem xét kỹ khả năng của đơn vị, định ra dự kiến các mục tiêu cần đạt về thời gian, về chi phí được phép, để đạt mức lợi nhuận dự kiến Mục tiêu cho từng hạng mục về thời gian, về sự phối hợp, về thực hiện các chỉ tiêu

về nhân lực, chi phí, vật tư, phương tiện, an toàn lao động, về quản lý điều hành…

Khi một công trình nhiều hạng mục cần chú ý đến mục tiêu phối hợp Thời điểm cần làm được đến đâu để hạnh mục khác triển khai thuận lợi

Có cái nhìn cụ thể nhưng cũng đòi hỏi cái nhìn tổng thể để thấy trong cái chung có cái riêng, những cái riêng tập hợp thành cái chung

Để đạt được mục tiêu cần thiết lập các chính sách thực hiện ra sao, thí dụ như về chính sách cho công các đất, cần nhấn mạnh chính sách đảm bảo

an toàn, vệ sinh công nghiệp mà chú ý vừa mức đối với năng suất hoặc chi phí, đối với hoàn thiện chính sách là tạo cho sản xuất có bộ mặt nghiêm trang hay bộ mặt vui tươi chẳng hạn

Để lập được mục tiêu, cần thiết lập ngay cả các quy định về trình tự, về thủ tục quan hệ giữa các đơn vị thực hiện kế hoạch tiến độ Các quy tắc, các chương trình phụ trợ đều phải dự liệu cho từng công tác

Đồng thời phải nghiên cứu những kế hoạch hiện có của đơn vị để ghép kế hoạch ấy với kế hoạch đang thiết lập Đó là những giả thiết về môi trường

mà trong đó kế hoạch của ta sẽ được thực hiện

Đối với người quản lý thì sự nhất trí về các tiền đề cho bản kế hoạch là hết sức quan trọng Người chấp bút lập kế hoạch càng hiểu biết và nhất trí trong việc sử dụng các tiền đề thích hợp cho việc lập kế hoạch thì quá trình điều khiển kế hoạch sau này sẽ tạo dựng được sự phối hợp chặt chẽ

Dự báo đóng vai trò quan trọng trong việc xác định các tiền đề Những

điều cần có đầy đủ thông tin để dự báo có thể là: loại thị trường phục vụ cho xây dựng công trình Những điều liên quan đến thị trường vật liệu xây dựng sử dụng, loại thiết bị, máy móc cho trang bị kỹ thuật cho công trình, cần chú ý khai thác cả giá bán, các cơ sở cung cấp và sự chênh lệch chất lượng, chênh lệch giá cả, khả năng vận chuyển và chi phí vận chuyển Những triển khai kỹ thuật cần tiến hành Cần hiểu biết rõ về vật

Trang 6

lực, chất lượng lao động, điều kiện sử dụng, chi phí cho việc triển khai kỹ thuật này Thuế và chính sách thuế Thuế liên quan đến chi phí, giá thành

và chính sách hàng hoá Ngoài ra còn hàng loạt những thông tin về phân chia lãi cổ phần, tài chính Ngay cả môi trường xã hội của sản xuất cũng phải được nghiên cứu trước khi lập kế hoạch tiến độ

Phải hình dung được mọi yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện tiến

độ ngay khi lập tiến độ Phải hình dung được những khó khăn, thuận lợi, những thời cơ cũng như những trì trệ có khả năng xảy ra Càng dự kiến

được nhiều tình huống và chắc chắn sẽ đề ra những giải pháp ứng phó thì bản kế hoạch mới gọi là có tính hiện thực cao được

d Xác định các phương án lựa chọn:

Trước khi đưa ra kế hoạch tiến độ phải xác định được các phương án công nghệ thực hiện kế hoạch Nghĩa là biện pháp thi công gồm phương pháp sản xuất, các hiểu biết về bí quyết sản xuất, sử dụng vật tư (số lượng, chất lượng), cách pha trộn, cách liên kết, trình tự sử dụng, lao động sử dụng, công cụ, thiết bị sử dụng, thời gian thích hợp, phương thức vận chuyển, phương tiện vận chuyển…

Ta đều biết trong xây dựng cơ bản luôn tồn tại một đặc tính là tính đa dạng phương án, đa khả năng trong việc thực hiện giải pháp công nghệ

Để đạt được cùng một mục tiêu có thể có nhiều phương án khả dĩ để thực hiện Cho nên trong xây dựng phải lựa chọn trong số phương án khả dĩ lấy phương án thoả mãn các mục tiêu đề ra, chưa thể và cũng không nên

đặt vấn đề luôn luôn là phương án tối ưu Thông thường phương án đưa ra ban đầu không phải là phương án đạt các mục tiêu đề ra Việc nêu các phương án để dựa vào các tiêu chuẩn để kiểm tra tính xác thực của phương án là điều tối cần thiết

Cần chú ý là không có và không thể có trong thực tiễn một loại phương án tối ưu chung chung Chỉ có phương án tối ưu theo mục tiêu xác định Rất nhiều khả năng là những mục tiêu khác nhau lại mâu thuẫn với nhau Thí

dụ mục tiêu nhanh thường dẫn đến chi phí vượt quá khả năng thực hiện phương án một cách ung dung hơn Đến ngày nay đã có những phép tính

về quy hoạch toán giúp ta lựa chọn phương án trong trong tập hợp khả năng khả dĩ

Thông thường những chỉ tiêu để lựa chọn phương án:

* Chỉ tiêu thời gian hoàn thành công việc

* Chỉ tiêu chi phí cho công việc

* Chỉ tiêu năng suất lao động

* Chỉ tiêu mức cơ giới hoá công nghệ

* Chỉ tiêu mức chi phí một hay một số loại tài nguyên nào đấy

Trang 7

* Chỉ tiêu tính thực hiện của phương án hay là độ tin cậy của phương an Vấn đề không phải là nêu tất cả các phương án khả dĩ, mà cần giảm bớt các phương án phải đem ra lựa chọn mà phải nêu ra các phương án có nhiều triển vọng nhất để phân tích Ngay cả khi sử dụng các công cụ toán học hiện đại thì công việc quy hoạch chỉ tốt khi số phương án là phù hợp Muốn vậy, người làm kế hoạch phải tham gia khảo sát sơ bộ để định ra những phương án triển vọng nhất

Sau khi lựa chọn phương án công nghệ, liên kết các quá trình công nghệ thành một tiến độ như đã đề xuất ở phần trên

e Liên kết các phương án công nghệ đã lựa chọn theo trình tự thi công một tổ hợp công tác :

Từng biện pháp thi công để thực hiện một công tác đơn lẻ, cần tổ hợp những công tác đơn lẻ theo một trình tự hợp lý cho từng tổ hợp công tác tạo ra sản phẩm xây dựng đồng bộ Bản chất của sự lựa chọn trình tự thi công là lựa chọn nguyên tắc sắp xếp các công việc theo yếu tố thời gian

và các yếu tố không gian trong sản xuất

Trình tự này phụ thuộc công nghệ chung tạo ra sản phẩm xây dựng với các yêu cầu sau đây:

• Tuân thủ các nguyên tắc về công nghệ nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm cao nhất

Thí dụ như để tạo ra kết cấu bê tông cốt thép có các quá trình là làm cốppha, gia công cốt thép, lắp đặt cốt thép, trộn và vận chuyển bê tông,

đổ và đầm bê tông, bảo dưỡng bê tông

Như vậy trình tự phải tuân theo là : công tác cốp pha phải xong mới lắp

đặt cốt thép được Khi lắp đặt xong cốt thép mới đổ bê tông được Bê tông

đã đổ xong mới bảo dưỡng bê tông được

Tuy nhiên, khi lắp đặt cốppha vẫn có thể gia công cốt thép nhưng việc lắp

đặt cốt thép chỉ có thể tiến hành khi công tác côppha đã xong và chỉ khi lắp xong cốt thép mới đổ bê tông được

Trong quy trình tiến hành đóng cừ thép larsen để văng chống thành hố

đào sâu, nhiều nơi đã không tuân thủ trình tự hợp lý nên gây khó khăn trong quá trình thi công

Phải vạch tuyến cho hàng cừ Sau đó lắp các thanh dưỡng để xác định vị trí hàng cừ Phải lắp lớp giằng theo mặt phẳng nằm ngang hố đào ngay sau khi đã ấn các thanh cừ xuống sâu rồi mới đào đất Nếu chưa tạo ra hệ giằng ngang cho thanh cừ , chưa được đào đất Nhiều đơn vị thi công chỉ làm hệ gằng ngang khi đã đào đất và khi bắt đầu hệ cừ bị biến dạng do sức đẩy của áp lực ngang lên lớp cừ Khi cừ đã biến dạng do áp lực ngang thì khó sửa chữa vì áp lực ngang khá lớn

Trang 8

• Tuân thủ các nguyên tắc về an toàn lao động nhằm tránh các tai nạn có thể gây ra trong quá trình phối hợp công tác

Cần hết sức chú ý đến sự phối hợp không gian khi sắp xếp các công tác với nhau trong một không gian chung Không được tiến hành hai việc

đồng thời trên một phưiơng thẳng đứng mà chưa có che chắn an toàn Khi sắp xếp các việc gần nhau theo mặt bằng, phải xem xét sự ảnh hưởng lẫn nhau về an toàn lao động Không thi công dưới bán kính nguy hiểm của cần trục tháp Bán kính quay của cần trục tháp phải hạn chế nếu có đường chuyển tải điện có thể gây nguy hiểm cho quá trình vận hành cần trục tháp

• Tuân thủ các nguyên tắc phối hợp chặt chẽ nhất, không gây ra sự chờ đợi lẫn nhau khi tiến hành các công tác

Cần tiến hành ngay những công tác có thể tiến hành được mà không bị

ảnh hưởng của các việc khác Khi lập biện pháp kỹ thuật thi công cho từng công tác phải xác định ngay các yêu cầu về sự phối hợp và tính thời gian phối hợp bắt buộc và sự liên kết cần thiết

• Việc thi công từng công tác chỉ bắt đầu khi công việc theo quy

định công nghệ đứng trước phải hoàn thành và cũng như tạo tiền đề cho công việc kế tiếp được bắt đầu ngay

• Càng kết hợp được các việc được phép tiến hành song song với nhau càng nhiều càng tốt nhằm tạo ra sản phẩm xây dựng đồng bộ sớm nhất

Một số trình tự hay được sử dụng như sau:

+ Với công tác xây dựng kết cấu nhà nhiều tầng thì việc tạo ra kết cấu nên thi công từ thấp lên cao Hoàn thiện các kết cấu lại nên thi công từ trên xuống dưới

+ Làm đường, làm đường dây, làm hệ đường ống thì nên làm từ xa công trường dẫn về công trường Ngoài công trường làm trước, trong công trường làm sau

+ Với các hệ kỹ thuật thì cuối nguồn làm trước, đầu nguồn thi công sau

Tuy nhiên những trình tự này không phải là kinh điển Tuỳ theo điều kiện cụ thể mà người thiết kế trình tự thi công cho công trình , cho toìan công trường phải nghiên cứu lựa chọn cho hợp lý

f Đánh giá những phương án lựa chọn:

Trang 9

Đối với mỗi phương án phải dựa vào mục đích và các tiền đề để đánh giá các phương án này Một phương án có thể đạt lợi nhuận cao nhất nhưng vốn đầu tư ban đầu lại quá lớn cũng như thời gian thu hồi vốn đầu tư chậm Phương án khác thu lợi nhỏ hơn nhưng rủi ro ít hơn Lại có phương

án khác phù hợp hoàn cảnh của Công ty Xây lắp của mình hơn

Nếu mục tiêu duy nhất là lợi nhuận cực đại mà tương lai là chắc chắn, khả năng dự trữ tài chính lớn thì việc đánh giá phương án thật dễ dàng Nhưng khi lập kế hoạch lại thường xuyên va chạm với những yếu tố bất định như khan hiếm vốn cũng như các yếu tố ẩn tàng khác nhau khó mà xác định ngay được phương án, ngay cả trong trường hợp đối với những phương án tưởng như hết sức đơn giản

Tuy có thể có những thuật toán tối ưu nhưng thực tế sự đáp ứng của những công cụ này thường là không đáp ứng yêu cầu của người quản lý

Sự đánh giá các phương án dẫn đến kết quả là phải lựa chọn phương án Lựa chọn phương án là quyết định hành động và thời điểm mà kế hoạch

được chấp thuận, thời điểm thực sự để ra quyết định

g Lên sơ đồ kế hoạch tiến độ:

Sau khi tiến hành năm bước trên, đưa các công tác vào một lịch để thể hiện tượng hình quan hệ giữa các công việc với nhau trên một sơ đồ gắn với thời gian cụ thể

h Xây dựng những kế hoạch phụ trợ bảo đảm điều kiện thi công:

Khi đã đưa công việc vào lịch thời gian, từ từng công việc, xác định được các thông số cần biết qua biện pháp công nghệ trải theo lịch thời gian Đó

là việc lập các kế hoạch phụ như cung ứng vật tư từng loại, nhiên liệu, phương tiện, máy móc, tài chính, nhân lực, năng lượng…

Mọi kế hoạch sau khi lập xong và kèm với nó là các kế hoạch phụ, cần lượng hoá bằng cách lập ngân quỹ, lập kế hoạch tài chính Kế hoạch tài chính làm cho kế hoạch có ý nghĩa Sau này, điều hành tốt thì ngân quỹ là phương tiện để kết hợp các kế hoạch khác nhau

i Hệ thống thông tin cần thiết:

Thực tế thực hiện tiến độ thi công là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá tiến

độ thi công Việc báo cáo hoặc phản ánh kịp thời các thông tin để theo dõi các chỉ tiêu kế hoạch là điều hết sức cần thiết Nếu quá trình thi công

Trang 10

muốn, cần thiết phải điều chỉnh kế hoạch Những điều chỉnh này phải kịp thời và đúng lúc

* Chọn chương trình hành động

mà chúng ta thực hiện

* Liên kết, phối hợp

* Đưa vào lịch thời gian

Lập các mục tiêu hay mục đích:

* Giao chỉ tiêu bằng tiền

* Tính toán các chi phí bằng tiền

Xác định phương án:

* Phương án nào hứa hẹn nhất để đạt

mục tiêu của ta

So sánh các phương án dựa trên các

mục tiêu phải thực hiện:

* Phương án nào có cơ hội tốt nhất

đạt mục đích với chi phí ít nhất và đạt

hiệu quả cao nhất

Trang 11

2.1.3 Phân chia công trình thành các hạng mục và phân chia hạng mục thành các công việc

Sự phân chia công trình thành hạng mục và phân chia hạng mục thành công việc hết sức quan trọng Sự phân chia này được gọi là sự tìm tòi cấu trúc của sự phân chia công việc ( WBS , Work Breakdown Structure )

Sự phân chia cấu trúc hệ thống công việc dựa vào công nghệ sản xuất, dựa vào khối lượng công tác, dựa vào mục tiêu hoặc khối lượng công tác Người phân chia công việc cần nắm vững công nghệ sản xuất tổng thể công trình đồng thời phải nắm vững chi tiết từng công tác tạo nên sản phẩm xây dựng để tránh không sót việc, sai công nghệ

Việc phân chia công trình lớn thành hạng mục có thể theo các cách như sau:

1 Phân chia hạng mục công trình theo công nghệ sản xuất hoặc theo

sử dụng:

Một công trường xây dựng nhà ở có nhiều ngôi nhà ở khác nhau, một công trường xây dựng công nghiệp có nhiều phân xưởng khác nhau mà mỗi phân xưởng xếp trong một ngôi nhà riêng biệt thì mỗi ngôi nhà ở riêng biệt, mỗi phân xưởng nằm trong một ngôi nhà riêng biệt có thể coi

là một hạng mục công trình

Như thế, mỗi hạng mục nhà ở xây dựng riêng biệt có chức năng sử dụng riêng biệt Mỗi phân xưởng nằm trong một ngôi nhà riêng biệt có một công nghệ sản xuất riêng biệt

Phần xây dựng đường xá trong khu xây dựng nhà ở hay công nghiệp cỏ thể coi là một hạng mục công trình nằm trong toàn bộ công trình xây dựng nhà ở hay nhà máy Phần xây dựng các công trình cấp nước, thoát

Trang 12

nước, đường điện mạnh, điện yếu, mỗi dạng công tác có cách vận hành sử dụng khác nhau đều có thể coi là một hạng mục trong toàn thể việc xây dựng trong khu vực công trường

Sự phân chia hạng mục công trình theo công nghệ sản xuất của sản phẩm xây dựng có lợi ích là khi hoàn thành một hạng mục thì sản phẩm xây dựng có thể đưa vào sản xuất sinh lợi ngay Xét về sản phẩm đồng bộ của toàn thể công trình phải đợt khi toàn bộ công trình đều phải xong để đi vào sản xuất nhưng nếu từng phân xưởng đã có khả năng cung cấp sản phẩm bộ phận cho xã hội thì cách phân chia hạng mục kiểu này là cách rút ngắn thời hạn khấu hao tài sản công trình, bắt công trình đưa vào sản xuất sớm hơn thời hạn quy định cho toàn bộ công trình hoạt động sản xuất

Một công trình lớn như nhà cao tầng chẳng hạn, có thể phân chia theo công nghệ sản xuất xây dựng của một công trình Thí dụ phân chia nhà thành hạng mục thi công phần ngầm và khi đến phần thân thì cứ sáu tầng thành một hạng mục chẳng hạn cho khung nhà và sau đó hoàn thiện ngay sáu tầng đã xây dựng ấy Cách phân chia kiểu này có thể căn cứ vào thời hạn thực hiện cho một hạng mục hoặc căn cứ vào đoạn công trình có thể thực hiện trong một định kỳ thời gian nào đấy

Nếu là xây dựng nhà ở, việc chia hạng mục thành những đơn vị ở hoàn chỉnh để ở được thì khi xong một hạng mục, đưa ngay hạng mục ấy vào

sử dụng là điều có lợi Tuy thế để sử dụng được từng hạng mục riêng biệt phải có những biện pháp công nghệ giải quyết cho sự khai thác từng hạng mục được thuận lợi Thí dụ như phải tạo thêm hàng rào ngăn cách giữa khu còn xây dựng với khu vực đã đưa vào khai thác, thêm thiết bị an toàn

và tiện nghi cho việc khai thác sử dụng trong khi còn đang sản xuất xây dựng

2 Phân chia hạng mục theo khối lượng công tác hoặc đầu tư:

Một công trình khó phân chia theo đơn vị sử dụng nhỏ hoàn chỉnh hoặc theo dây chuyền sản xuất của một cơ sở sản xuất phức tạp, có thể lấy mức

để phân chia là khối lượng công tác hoặc đầu tư Thí dụ khi làm một nhà cao tầng, có thể phân chia thành những bộ phận gọi là hạng mục thanh toán cho những phần khối lượng công tác có kích cỡ thoả đáng cho kỳ thanh toán chẳng hạn Đối với nhà công nghiệp, lấy kích cỡ của một bộ phận gọn trung bình làm cơ sở cho việc phân chia hạng mục những bộ phận nhỏ hoặc quá nhỏ so với kích cỡ phân chia hạng mục có thể ghép nhiều bộ phận thành hạng mục Thí dụ việc lắp mạng thông tin liên lạc, mạng đồng hồ chạy điện, mạng chuông báo động có thể ghép chung thành hạng mục thi công điện yếu Thậm chí hệ cấp nước, hệ thoát nước,

Trang 13

hệ thông gió, điều hoà không khí có thể ghép lại thành hạng mục công trình kỹ thuật

Vấn đề là theo khối lượng công tác đầu tư hoặc xây lắp thì kích cỡ của hạng mục hay còn gọi là quy mô hạng mục nên như thế nào

Quy mô cho một hạng mục không nên quá lớn mà cũng không nên quá nhỏ Một công trình có thể chia thành một hai trục hạng mục là vừa phải Khi cần chia thành nhiều hạng mục thì số lượng hạng mục cũng không nên tới số nhiều trăm Nếu công trình làm gọn trong năm thì số lượng hạng mục nên một con số Nếu thời hạn thi công hai, ba năm thì số lượng hạng mục nên hai con số nhưng nên dưới ba chục

Quy mô khối lượng công tác của hạng mục nên sắp xếp theo khả năng thực hiện cũng như kế hoạch cung ứng vốn Làm sao cho trong một giai

đoạn thanh toán, việc chi phí vốn sẽ gọn hạng mục mà ít bị di chuyển dở dang vốn sang kỳ khác cho một hạng mục được phân chia

3 Phân chia hạng mục theo mục tiêu sử dụng hoặc khai thác sản xuất:

Có một số công trình ví dụ như khách sạn, nhà ở, nhà có mặt phố có thể

bố trí của hàng hoặc nhà sản xuất có ý định vừa xây dựng vừa khai thác công trình thì việc phân chia hạng mục có thể bố trí theo tưng giai đoạn

sử dụng hoặc khai thác

Việc phân chia hạng mục theo mục tiêu sử dụng từng bộ phận của công trình nhằm khai thác hết tiềm năng của loại dạng công trình bắt công trình phải sinh lợi trước khi kết thúc giai đoạn thực hiện đầu tư và xây dựng Muốn đấp ứng được yêu cầu này thì công trình phải được phân chia hạng mục sao cho khi đưa một bộ phận công trình vào khai thác thì bộ phận đó phải nằm trong một hạng mục đã được hoàn thành và coi như hoàn thành

Để thực hiện được ý tưởng này thì trong thiết kế tổ chức xây dựng và thiết

kế tổ chức thi công phải có những biện pháp nhằm đảm bảo được mục tiêu đề ra Thí dụ như khi làm xong tầng trệt của nhà có cửa hàng, định khai thác đồng thời với việc xây dựng các tầng trên, phải có hệ thống che chắn sao cho cả hai việc khai thác và sử dụng đều thuận lợi Việc khai thác không bị mất an toàn do việc xây dựng gây ra đồng thời việc xây dựng không vì lo mất an toàn mà mất năng suất lao động

Thực hiện việc phân chia hạng mục theo mục tiêu sử dụng hoặc khai thác

đòi hỏi sự phối hợp giữa been xây lắp và bên khai thác sử dụng phải có phối hợp ăn ý, tương hỗ Theo sự phân chia giai đoạn trong đầu tư và xây dựng thì phân chia hạng mục kiểu này đã gây ra sự đan xen giữa giai

đoạn thực hiện đầu tư với giai đoạn kết thúc đầu tư đưa công trình vào sử

Trang 14

và khai thác công trình xảy ra khá thường xuyên trong kinh tế thị trường Theo quan điểm càng nhanh thu hồi vốn đầu tư cho tài sản cố định càng nhanh thì hiệu quả đầu tư càng cao, người đầu tư luôn luôn nghĩ đến việc thu hồi vốn và càng thu hồi vốn đầu tư nhanh bao nhiêu, hiệu quả đầu tư càng lớn bấy nhiêu

4 Xác định trình tự các hạng mục công trình

Trình tự thực hiện các hạng mục là sự sắp xếp thứ tự thời gian, trước sau trong thứ tự các hạng mục phải thực hiện Trình tự thực hiện các hạng mục không những chỉ là vấn đề lựa chọn các giải pháp tối ưu trong công nghệ xây lắp mà còn phụ thuộc vào mục tiêu sử dụng khai thác công trình như phần trên đã nêu ý tưởng Trình tự thực hiện các hạng mục có ý nghĩa không những về khoa học công nghệ mà còn có ý nghĩa về mặt quản lý vốn, mặt hiệu quả đầu tư và sử dụng vốn nữa

* Sắp xếp trình tự thực hiện các hạng mục theo công nghệ sản xuất

Theo tổng kết công nghệ xây dựng thì nhiều tác giả đã kiến nghị một số kinh điển về trình tự thực hiện các hạng mục trong một công trình có nhiều hạng mục cũng như trình tự thực hiện công nghệ trong một hạng mục

Về tương quan giữa vị trí hạng mục trong và ngoài công trường xây dựng, các tác giả trước đây đã khuyến nghị những hạng mục bên ngoài công trường nên làm trước, các hạng mục trong công trường làm sau Thông thường các hạng mục ngoài công trường là những hạng mục phụ trợ cho việc vận hành công trình sau này đồng thời khi xây dựng là công trình cung cấp tiện nghi kỹ thuật cho việc xây dựng Thí dụ như đường ô tô từ

đường quốc gia dẫn đến công trình, đường cao áp dẫn điện đến trạm cung cấp điện của công trình v.v… Nếu làm những hạng mục công trình này trước thì được lợi ngay cho thời gian thực hiện xây dựng những hạng mục chính sau này

Về chiều cao, thì hạng mục công trình ngầm dưới đất nên làm trước, hạng mục trên mặt đất làm sau Làm như vậy khi xây dựng phần trên sẽ không

bị đào bới phần ngầm dưới mặt đất lên Việc đào bới do không theo trình

tự này sẽ gây những hố, những hốc làm ruỗng, rỗng trong lòng đất, gây khó khăn khi phải nhồi nhét lấp đầy trước khi làm các việc hoàn thiện bên trên Trong cùng phần ngầm thì chỗ sâu làm trước, chỗ nông làm sau Làm như vậy sẽ thuận lợi do phía dưới sẽ đỡ phía trên, chỗ sâu thường khó khăn hơn chỗ nông, làm chỗ khó trước sẽ thuận lợi về sau

Trang 15

Về công nghệ sản xuất hoặc phụ thuộc theo chức năng của công trình thì những hạng mục nào phục vụ cho quá trình khởi động công trình nên làm trước, những hạng mục nào hoàn toàn khai thác sử dụng chuyên dụng có thể thi công sau

Những khuyến nghị của các chuyên gia về công nghệ sẽ được áp dụng tuỳ thuộc khối lượng đầu tư cũng như theo mục tiêu định sẵn Như phần trên

đã phân tích, khối lượng cũng như mục tiêu đã định sẽ đem lại hiệu quả

đầu tư cao hơn mà cía giá phải trả thêm về mặt công nghệ cũng không thể ngăn cản trình tự lập khác đi theo các quan điểm khối lượng cũng như mục tiêu đã định trước

* Sắp xếp trình tự thực hiện các hạng mục theo khối lượng đầu tư

Khối lượng theo hạng mục công trình thông thường không đồng đều Để phân bổ khối lượng thực hiện trong kỳ kế hoạch, việc sắp xếp trình tự thi công có thể theo khối lượng đầu tư Hạng mục có đầu tư lớn có thể được sắp xếp làm trước theo quan điểm chi vốn Hoặc cũng có thể ghép nhiều hạng mục có đầu tư ở mức trung bình lại cùng được thi công đồng thời hoặc trong cùng kỳ kế hoạch nhằm giải quyết sự cân đối đầu tư giưã các thời điểm khác nhau Cũng có khi điều kiện đầu tư chỉ cho phép có thể trong mức độ hạn chế mà phải sắp xếp trình tự đaàu tư hợp lý theo khối lượng đã định, không để khối lượng dở dang cho nhiều hạng mục Cách sắp xếp ở đây là làm sao cho trong kỳ kế hoạch khối lượng đầu tư cho hạng mục công trình được thực hiện gọn Càng để nhiều hạng mục dở dang, càng khó khăn trong việc quản lý cũng như kéo dài thời hạn hoàn thành công trình gây ra hậu quả làm giảm hiệu quả đầu tư

Có thể diễn tả phân mục này trong cách trình bày gọn là có tiền ứng với hạng mục nào thì ưu tiên làm hạng mục ấy Tuy vậy nhưng cũng cần cân nhắc về mặc công nghệ như nêu ở phần trên để giảm bớt khó khăn xảy ra trong quá trình thi công cũng như giảm chi phí do không thực hiện đúng trình tự kinh điển

* Sắp xếp trình tự thi công các hạng mục theo mục tiêu định sẵn

Nhiều người khi chủ công trình đề ra yêu cầu trước về trình tự tiến hành thực hiện các hạng mục như một dạng tiên đề cho bài toán thi công: người thi công phải lập bài giải trên cơ sở tiên đề cho trước đó mà không

được bàn luận gì thêm

Trường hợp này thường xảy ra với những khi chủ công trình có nhu cầu

sử dụng, khai thác trước một số hạng mục trong toàn bộ công trình Cũng

Trang 16

chính hoặc chính ngay người thi công Trong trường hợp này cần tính toán sao cho trình tự được xếp theo mục tiêu này được phù hợp với trình

tự hợp lý về công nghệ Trình tự hợp lý về mặt công nghệ sẽ đem lại những thuận lợi cho người thi công đồng thời thông thường trình tự ấy cũng cần chi phí xây dựng là ít nhất trong các phương án về trình tự Tuy nhiên nếu điều kiện phải tuân theo các yêu cầu về mục tiêu mà không thể khớp được với trình tự hợp lý về công nghệ thì phải ưu tiên cho trình tự theo mục tiêu Vì mục tiêu là bài toán được nêu lên như một đầu bài để tìm giá xây dựng Đó thông thường là điều kiện để giao và đấu thầu cho nên khi lập giá thầu đã phải tính những yếu tố bất lợi gây ra do mục tiêu

về trình tự tạo lên

Trong trường hợp này nếu kết hợp được cả việc sắp xếp trình tự theo điều kiện đầu tư thì rất tốt Làm được sự kết hợp cả ba cách sắp xếp trình tự sx dẫn đến một phương án trình tự thi công các hạng mục tối ưu

2.1.4 Phân chia hạng mục thành các quá trình và tổ chức thực hiện phối hợp các quá trình chủ yếu

Theo cấu trúc tổ chức công trình, ta có thể chia công trình phức tạp thành các hạng mục công trình Hạng mục công trình lại được chia thành các quá trình sản xuất xây dựng Các quá trình này có thể lại được chia thành các công việc cụ thể như các nhiệm vụ công tác cho người thực hiện xây dựng Ta có thể biểu diễn thành sơ đồ:

Công trình Xây dựng

Hạng mục 1 Hạng mục 1 Hạng mục n-1 Hạng mục n

Quá trình 1 Quá trình 1 Quá trình 1 Quá trình 1

Quá trình 2 Quá trình 2 Quá trình 2 Quá trình 2

Quá trình n-1

Trang 17

Để tổ chức lao động có thể bố trí nhỏ hơn như dưới quá trình có các công việc, dưới các công việc có các phần việc

Về nhân lực thực hiện, hạng mục có thể do một đội thực hiện, một quá trình có thể do một tổ thực hiện, một công việc có thể do một nhóm thợ thực hiện, một phần việc có thể chỉ do một vài công nhân thực hiện

sử dụng vật liệu xây dựng nào

Một hạng mục có thể được phân chia thành quá trình xây dựng phần ngầm dưới mặt đất, quá trình xây dựng phần thô trên mặt đất, quá trình hoàn thiện, quá trình lắp đặt các trang thiết bị kỹ thuật v.v…

Quá trình đào đất lại có thể chia ra phần việc đào, phần việc hạ mực nước ngầm, phần việc văng chống, phần việc tu sửa mái dốc v.v

Nguyên tắc phân chia hạng mục thành quá trình dựa theo chủng loại nhân công theo nghề nghiệp sử dụng: lao động đơn giản, nghề bê tông, nghề

nề, nghề sắt thép, nghề mộc khuôn và đà giáo Sự phân chia này phải tạo cho công nhân lao động đạt năng suất cao nhất trên cở sở lao động thuận lợi nhất

Có thể phân chia các quá trình theo các công cụ được sử dụng: Thí dụ quá trình khoan đào đất là quá trình sử dụng máy khoan, quá trình xục rửa lỗ khoan trong công nghệ khoan cọc nhồi là quá trình sử dụng máy nén khí cùng với máy bơm bùn, quá trình lắp đặt thép trong hố khoan, quá trình

đổ bê tông phải sử dụng ô tô tự đổ tự trộn Trong quá trình thực hiện xây dựng phần thô của thân nhà lại có thể chia thành các quá trình làm khung

bê tông cốt thép cho nhà, phần xây chèn cho các khung bê tông cốt thép Yêu cầu của nguyên tắc phân chia này là người lao động sử dụng công cụ

Quá trình n Quá trình n Quá trình n Quá trình n

Trang 18

lao động thuận lợi nhất, tạo cho máy móc phát huy được hết năng lực của máy, hết công suất thiết kế của máy

2 Mức độ phân chia các quá trình

Mức độ phân chia nhỏ các quá trình phụ thuộc vào giải pháp công nghệ chung và giải pháp tổ chức cũng như trình độ tổ chức của đơn vị xây lắp Nguyên lý tổ chức lao động theo khoa học là càng phân chia nhỏ bao nhiêu càng phải tính đến sự phối hợp phức tạp bấy nhiêu và càng có hiệu quả nếu phối hợp tốt Thông thường mức đọ phân chia công việc nên chọn đủ để cho một nhóm công nhân sử dụng chung một loại dạng công

cụ chính thực hiện Cũng có thể phân chia theo thời gian thực hiện và thông thường chọn thời gian thực hiện khoảng một tuần kỳ 7 đến 10 ngày

được thực hiện trên một tuyến công tác Sự phân chia này làm cho các tổ công nhân hiện nay được chia phổ biến trên các công trường của Việt Nam

Cũng có thể phân chia theo khối lượng công tác phải thực hiện cho một nhóm dạng loại công nhân thực hiện trong một thời gian được xác định Khối lượng công tác này nên phân chia đồng đều theo đơn vị công lao

3 Sự phối hợp các quá trình sản xuất chủ yếu

Sau khi phân dạng hạng mục thành các quá trình sản xuất xây dựng cần thiết phải phối hợp các quá trình để tạo lên sản phẩm xây dựng

Tận dụng hết mọi điều kiện lao động, mặt bằng có thể bố trí lao động phải được bố trí có người lao động

Trang 19

Tạo mối điều hoà về khối lượng, về nhân lực, về vật tư, về phương tiện sao cho việc quản lý kế hoạch, tiến đọ thuận lợi nhất Không gây những mối căng thẳng không cần thiết trong các khâu cung cấp vật tư, nhân lực, phương tiện

Tạo điều kiện ra sản phẩm xây dựng điều hoà nhất làm cơ sở thanh toán, quyết toán được vốn, làm cho tiền vốn được luân chuyển nhịp nhàng nhất

Các phương pháp thực hiện phối hợp:

Thực hiện phối hợp theo kinh nghiệm sản xuất của người điều hành

Đây là phương pháp phổ biến nhưng cũng thô sơ nhất Sự phối hợp hoàn toàn phụ thuộc hiểu biết, kinh nghiệm sản xuất của người điều hành Kinh nghiệm rất phụ thuộc vào quá trình công tác, quá trình được đào tạo mà người điều hành đã kinh qua Phương pháp này có tính chất tự phát Cơ sở khoa học của phương pháp không được đúc rút có hệ thống và phân tích

đầy đủ Trong chừng mực nào đó, khi mà mức độ phức tạp của công trình vừa phải thì phương pháp này là thích ứng

Phương pháp phối hợp theo một kế hoạch định trước, thí dụ như tiến độ phải đạt đến mức quy định để chào mừng ngày kỷ niệm nào đó, sự kiện nào đó phải xuất hiện ở một thời điểm định trước

Thực chất phương pháp này là sự kết hợp phương pháp kinh nghiệm với

sự ghi chép những sự phối hợp ấy làm thành lịch biểu thời gian

Phương pháp này cần phải được thực hiện tốt sự phân chia cho hợp lý các quá trình Sự phân công người thực hiện phải thật phù hợp và sự sử dụng vật tư, máy móc, phương tiện phải thoả đáng

Phối hợp các quá trình công tác theo nguyên tắc của tổ chức dây chuyền Nguyên tắc này đòi hỏi sự phân chia các quá trình phức tạp thành các quá trình đơn giản do một chủng loại công nhân kỹ thuật thực hiện Sự phân

bố khối lượng công tác cũng như số lượng nhân công phải tuân theo nguyên tắc điều hoà, tương đối đồng đều về mặt số lượng Sự phối hợp này đòi hỏi luôn luôn tổ lao động có việc và trên mặt bằng để lao động luôn luôn có người làm Việc phối hợp các quá trình theo nguyên tắc dây chuyền là cả một khoa học đã được các nhà tổ chức lao động nghiên cứu rất công phu

Nguyên tắc phối hợp các quá trình cộng việc theo một dạng trình tự khoa

Trang 20

cơ sở tối ưu về thời gian thực hiện, tối ưu hoá về chi phí, có chú ý đến các yếu tố độ tin cậy: Phương pháp phối hợp theo sơ đồ mạng lưới hoặc tiến hơn là phương pháp pert

Dữ liệu chuẩn bị cho việc lập bản tiến độ thi công là :

* Căn cứ vào biện pháp thi công cho từng công việc, tính ra khối lượng công tác phải thực hiện Bản khối lượng này cần chính xác để có thể dùng làm căn cứ để thanh toán với công nhân và nghiệm thu với chủ đầu tư

* Tính toán thời gian được sử dụng để thực hiện công tác

* Nhân công được sử dụng

* Tính toán vật tư các loại được phép sử dụng

* Các phương tiện, công cụ thi công được sử dụng với phụ tùng và nhiên liệu, nhân công, thời gian được sử dụng

* Các yếu tố phụ trợ được phép sử dụng như vật tư, nhân lực , phương tiện

dự phòng khi có sự cố

Sau khi có đầy đủ các nhân tố trên, hãy đặt các câu hỏi và trả lời các câu hỏi ấy để ghép, phối hợp các công việc thành tiến độ:

• Việc nào được coi là việc làm đầu tiên của toàn bộ quá trình

• Việc này xong sẽ đến các việc nào

• Việc nào xong đến việc này

• Việc này có thể làm song song với việc nào

• Còn phải bổ sung việc nào nữa, còn chưa xếp việc nào vào hệ thống các công việc

Hỏi và trả lời cho từng công việc, ta sẽ hình dung ra bản kế hoạch tiến độ

2.2 Các phương pháp tổ chức sản xuất dẫn đến bản tiến độ

2.2.1 Lập tiến độ theo lịch công tác

Lập tiến độ theo lịch công tác là phương pháp lập kế hoạch đơn giản nhất Người giao việc tổ chức họp với những người phải thực hiện công việc Lệnh sản xuất được nêu là một công việc được làm từ ngày nào đến ngày nào với những chi tiết về khối lượng, vật tư được sử dụng, nhân công và các điều kiện khác được cung ứng ra sao

Người thực hiện công việc ghi chép trên lịch những dữ liệu ấy

Cách làm này phù hợp với những công việc đơn giản, thời gian thực hiện ngắn ngày

Trang 21

Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday

Thiết kế Kiến trúc, 79 days

Nếu phạm vi điều khiển rộng hơn, nhiều công việc phải tiến hành đồng thời lịch sẽ thể hiện dày đặc, gây rối cho người đọc lịch Cần có phương

Trang 22

pháp thể hiện có hình ảnh hơn : phương pháp thể hiện lịch công tác theo

đường ngang xuất hiện

2.2.2 Lập tiến độ theo sơ đồ ngang

(1) Thể hiện lịch tiến hành các công việc

Tiến độ được xây dựng nhờ ghép khối tên công việc và các dữ liệu liên quan với lịch thời gian Dòng thể hiện công việc sẽ vạch nét ngang trên lịch thời gian ứng với thời gian phải thực hiện Ta sẽ có biểu đồ có đủ dữ liệu về công việc, nhìn vào lịch, có thể thấy rõ hình tượng ngày nào phải làm việc gì, có bao nhiêu việc làm đồng thời trong một ngày

Lập lịch tiến độ thi công theo sơ đồ ngang là bước tiến bộ, ít bị sót việc Giả thử có sót công việc nào đó thì dễ phát hiện được vì trên sơ đồ có thể hình dung ra không những một việc mà cho người đọc thấy hình tượng cả nhóm công việc có mối tương quan với nhau

Phương pháp này do một kỹ sư người Đức tên Gantt sáng tạo ra bảng thể hiện nên được gọi là phương pháp sơ đồ Gantt

Khối tên công việc được thể hiện qua bảng Số cột của bảng nhiều hay ít tuỳ theo người lập kế hoạch muốn thể hiện Tuy nhiên những cột quan trọng bao gồm:

Khối lượng

Q

Định mức nhân công Đ

Nhân công

C=

Q/Đ

Số người

N

Máy

sử dụng,

Ca máy

Thời gian thi công

t

Thời gian Bắt

đầu

Thời gian Kết thúc

trong đó : Q là khối lượng công tác theo đơn vị cho trong cột 3

Đ là định mức công được sử dụng cho một đơn vị khối lượng đơn vị sẽ là đơn vị ở cột 3 chia cho số sản phẩm phải đạt của một người trong một đơn vị thời gian

C là số nhân công được sử dụng để thực hiện công việc

Trang 23

Ngày bắt đầu là ngày được quyết định khi lập kế hoạch thi công

Người lập kế hoạch cần xin ý kiến người lãnh đạo cho ngày bắt đầu của công việc đầu tiên của bản kế hoạch Những việc tiếp theo được tính toán nhờ thời gian thực hiện từng công việc và mối quan hệ giữa các công việc

Trên bảng lấy làm thí dụ này có 11 cột và thể hiện các nội dung ghi trên bảng Có thể thêm những cột cho biết sử dụng các loại vật tư, hoặc thể hiện mối quan hệ giữa các việc, nghĩa là nêu tên các việc đứng trước cho từng công việc

Khối kẻ lịch thời gian ghép ngay lề phải của khối công việc

Công việc đầu tiên của khối công việc ngang với khoảng thời gian dành cho việc thực hiện công việc này

Lịch được trình bày theo 2 hoặc 3 dòng tiêu đề bên trên Nếu dòng tiêu đề

có 3 dòng thì dòng trên là năm, dòng tiếp theo là tháng và dòng dưới là ngày Nếu dòng tiêu đề có 2 dòng, dòng trên là tháng, dòng dưới là ngày Khi lập bảng phối hợp tổng thể các đơn vị trên công trường, công việc không chia quá nhỏ thì đơn vị có thể lấy là tuần lễ Tổng thời gian thi công dài, có thể vài năm thì đơn vị thời gian có thể lấy là quý của năm Bản kế hoạch cho hạng mục công trình, đơn vị thời gian thể hiện trên lịch nên chọn là ngày

Cách chọn đơn vị của khối lịch thi công trong bản tiến độ sao cho khi treo bản tiến độ người xem có thể thấy được bức tranh tổng thể thời hạn thi công, không mất công vào những chi tiết mà chưa cần thể hiện tới mức

đó

Trang 24

Khối lịch thời gian nh− bảng sau:

Thể hiện lịch chi tiết đến ngày theo kiểu ghi ngày, tháng, năm

-

Nhìn theo dòng ghi tên công việc với những dữ liệu liên quan, cần chú ý

đến cột thời gian đ−ợc sử dụng để thực hiện công việc Hãy căn cứ vào ngày bắt đầu đ−ợc thực hiện công việc rồi theo số ngày cần để thực hiện

Trang 25

công việc , vẽ trên lịch một nét ngang từ điểm ứng với ngày bắt đầu công việc đến khi hết thời gian được dùng để thực hiện công việc

Vạch thời gian thực hiện từ dòng trên của bản tiến độ xuống dòng dưới cùng của bảng Nhìn vào bảng tiến độ đã vạch xong, ta có thể hình dung

ra toàn bộ công tác thi công của hạng mục hay công trình

So sánh giữa bảng tiến độ lập theo lịch từng ngày với bảng tiến độ trình bày theo đường ngang thgì bảngb tiến độ theo đường ngang cho ta hình

ảnh trực quan toàn bộ quá trình xây dựng hạng mục hay công trình Tuy nhiên việc vạch mối quan hệ giữa các công việc với nhau hết sức phụ thuộc vào kinh nghiệm của người lập kế hoạch Cho đến nay, sự bắt đầu cho công việc chưa có quy định hay mối ràng buộc chặt chẽ

Khối bên trái của bảng , vẫn ghi từng loại công việc giống như ở bảng tiến độ thi công chung Khối lịch ta vạch những nét ngang tương ứng, mỗi

đơn vị thời gian theo cột có yêu cầu loại tài nguyên ấy là bao nhiêu với từng công việc

Dòng cuối cùng của bảng là nhu cầu cho loại tài nguyên của các công việc được cộng dồn theo cột cho từng đơn vị thời gian

Trang 26

ThÝ dô sau ®©y yªu cÇu vÒ lo¹i vËt t− lµ xi m¨ng:

Trang 27

Nhu cầu về Xi măng từng ngày cho tháng 10 và tháng 11-2004 Một thí dụ về cách trình bày yêu cầu vật t− trong bản tiến độ:

Trang 28

(3) Điều chỉnh tiến độ cho phù hợp với các mức cung ứng tài nguyên:

Khi mới sơ thảo bản kế hoạch tiến độ thì biểu đồ cung ứng tài nguyên

thường nhấp nhô qua các thời điểm khác nhau Hiện tượng mức yêu cầu

tài nguyên của từng thời đoạn thay đổi nhiều sẽ làm cho việc cung ứng tài

nguyên vất vả khó khăn và sản xuất thiếu điều hoà

Mức sử dụng tài nguyên trung bình được tính như sau:

i i tb

t

t a

Trang 29

Trong đó

atb là mức sử dụng tài nguyên trung bình

ai là mức sử dụng tài nguyên trong đơn vị thời gian thứ i

ti là đơn vị thời gian ở thời điểm i

Tỷ số này nhỏ hơn 1 và càng sát với 1 càng tốt

2.2.3 Lập tiến độ theo dây chuyền

(1) Khái niệm :

Phương pháp tổ chức sản xuất theo dây chuyền ra đời giữa thế kỷ 19, thời

kỳ thế giới diễn ra cuộc cách mạng vĩ đại trong sản xuất công nghiệp, biến sản xuất thủ công thành sản xuất cơ khí hoá

Nhiều nghiên cứu lớn về tổ chức sản xuất theo khoa học được thực hiện trong thời kỳ này Những chuyên gia lớn về tổ chức sản xuất như Taylor, Gilbert đã thực hiện phép bấm giờ theo dõi quá trình thao tác sản xuất Qua phân tích các quá trình sản xuất , các chuyên gia thấy rõ được, sản

xuất phải bảo đảm tính điều hoà và tính liên tục trong cung ứng lao

động, trong cung ứng vật tư và đồng thời cả việc cho ra sản phẩm cũng như vậy

Trang 30

Các nguyên tắc điều hoà và liên tục là cơ sở cho phương pháp tổ chức sản xuất theo dây chuyền

Để tổ chức sản xuất có 3 phương pháp chính là :

+ Phương pháp tuần tự : khi sản xuất ra nhiều sản phẩm thì cách tiến

hành công việc tuân theo thứ tự , chế tạo xong sản phẩm này mới bắt đầu

đến sản phẩm tiếp theo

Làm theo phương pháp tuần tự, sản xuất nhà hạ, không căng thẳng và dễ

điều hành Nhân lực, vật tư sử dụng đều đều, không bị căng thẳng Tuy nhiên, sản xuất theo phương pháp này thời gian bị kéo dài

+ Phương pháp tổ chức sản xuất song song : khi sản xuất nhiều sản phẩm

thì tiến hành chế tạo đồng thời nhiều sản phẩm cùng một lúc Tổ chức sản xuất kiểu song song có nhu cầu cung cấp vật tư, nhân lực căng thẳng Cùng lúc phải cung ứng điều kiện sản xuất cho tất cả các quá trình chế tạo sản phẩm Cái lợi của phương pháp này là số lượng sản phẩm hoàn thành đồng thời được nhiều, thời gian cho sản xuất được rút ngắn

+ Phương pháp tổ chức sản xuất theo dây chuyền: Khi phải sản xuất

nhiều sản phẩm, phương pháp này kết hợp giữa hai phương pháp trên Phương pháp dây chuyền loại trừ nhược điểm của các phương pháp trên

để chọn cho mình cách làm thích hợp

Nội dung chính của phương pháp dây chuyền là chia quá trình sản xuất của mỗi sản phẩm thành các quá trình nhỏ có đặc tính sản xuất giống nhau, được gọi là các dây chuyền công nghệ Những quá trình công nghệ nhỏ ấy được sản xuất liên tục qua các sản phẩm Có nghĩa là công việc

được thực hiện tuần tự với các quá trình phân nhỏ giống nhau và thực hiện song song với các quá trình phân nhỏ khác nhau

Làm như vậy bảo đảm tính chất sản xuất là: các quá trình công nghệ giống nhau được tiến hành liên tục qua nhiều sản phẩm khác nhau Các dây chuyền công nghệ khác nhau lại được sản xuất liên tục cho mỗi sản phẩm theo trình tự của công nghệ sản xuất Ta thấy cách tổ chức như thế phản ánh được tính điều hoà và liên tục

Đối với sản xuất xây dựng thì chia công trình thành các hạng mục giống nhau, các hạng mục ấy lại được chia thành các công việc giống nhau Tổ chức sản xuất theo nguyên tắc là những công việc giống nhau được tiến hành từ hạng mục này qua hạng mục khác, trong mỗi hạng mục thì công việc theo công nghệ khác nhau nối đuôi nhau được thực hiện

Trang 31

Cách tổ chức theo dây chuyền phải bảo đảm được: trên mặt bằng sản xuất luôn có người lao động và người lao động luôn luôn tham gia sản xuất không bị ngừng việc Điều này phản ánh tính điều hoà và liên tục

Như thế, để thiết lập được dây chuyền xây dựng cần:

• Chia nhỏ các quá trình sản xuất thành những quá trình bộ phận và những nguyên công

• Phân công lao động giữa những người thực hiện

• Xác định nhịp độ sản xuất

• Kết hợp tối đa về thời gian thực hiện các quá trình bộ phận

Các thông số chính của dây chuyền là:

m thông số không gian, là không gian diễn ra quá trình sản xuất đơn vị,

được gọi là không gian đơn vị Thông thường không gian xây dựng được chọn là hạng mục công trình hoặc đơn nguyên xây dựng

n thông số công nghệ là công nghệ sản xuất có đặc tính chia nhỏ giống

nhau, được gọi là công nghệ đơn vị Thường công nghệ đơn vị được chọn

là một chủng loại công nhân thực hiện các thao tác nghề nghiệp như công tác nề, công tác mộc, công tác cốp pha, công tác cốt thép…

k thông số thời gian, là thời gian một công nghệ đơn vị thực hiện trong

một không gian đơn vị Thông số này được gọi là chu kỳ sản xuất xây dựng Thông thường chu kỳ sản xuất xây dựng được chọn là ngày, hai ngày, ba ngày, một tuần lễ , một tuần 10 ngày

Theo phương pháp tuần tự thì thời gian thực hiện m hạng mục công trình

là :

T = mTck Cường độ nhu cầu tài nguyên cho một đơn vị thời gian là :

T

R

Trong đó :

Tck thời gian của một chu kỳ sản xuất xây dựng một hạng mục

Trang 32

Ta thấy nếu tổ chức sản xuất theo phương pháp song song thì thời gian xây dựng toàn bộ m hạng mục chỉ bằng thời gian thi công một hạng mục nhưng nhu cầu tài nguyên lại gấp 5 lần so với phương pháp tuần tự Tổ chức theo kiểu dây chuyền thì thời gian sẽ nhỏ hơn phương pháp tuần tự

và tài nguyên sử dụng cũng nhỏ hơn so với phương pháp song song

(2) Quy luật cơ bản của dây chuyền :

Để thể hiện kế hoạch thi công một công trình, thường dùng sơ đồ xiên Sơ

đồ ấy hình thành từ các ô chữ nhật tạo thành lưới ô

Trục tung thể hiện các hạng mục hay là không gian lao động

Trục hoành thể hiện thời gian thực hiện thi công các hạng mục

Trên lưới ô này thể hiện các đường chéo từ ô bắt đầu thi công qua các hạng mục của các dây chuyền công nghệ

Trang 33

Một dây chuyền công nghệ được xác định bởi số lượng người tham gia

được tính như sau:

mk

Q mks

P ts

P

N = = = ( 2.2.3-3)

Trong đó :

P là khối lượng công việc trên m phân đoạn

s là số lượng sản phẩm của một người thực hiện trong một đơn vị thời gian mà ta gọi là định mức sản phẩm phải thực hiện trong một đơn vị thời gian

Q là số công được sử dụng để thực hiện m phân đoạn

Từ công thức (3) ta thấy : s

P

Một dây chuyền được đặc trưng bởi :

Cường độ của dây chuyền đơn : mk

P t

P

( 2.2.3- 6)

Đơn vị đo của cường độ của các loại dây chuyền là khối lượng phải hoàn thành trong đơn vị thời gian Trong một đơn vị thời gian, dây chuyền nào thực hiện được nhiều khối lượng thì dây chuyền ấy có cường độ lớn

Khi triển khai dây chuyền có nhiều dây chuyền đơn, nghĩa là có nhiều loại công tác khác nhau tham gia, số n sẽ lớn, cho một công trình nhiều phân đoạn , số m cũng lớn, ta thấy xuất hiện các khoảng thời gian T’ , T’’ và T’’’

Khoảng thời gian T’ được gọi là giai đoạn triển khai năng lực sản xuất

Trang 34

ở giai đoạn này, lần lượt đua thêm vào trong dây chuyền xây dựng những

tổ đội lao động mới, máy móc mới, vật tư , tài nuyên mới

Khoảng thời gian T’’ được gọi là giai đoạn dây chuyền ổn định và khoảng thời gian T’’’ được coi là giai đoạn thu gọn công việc Giai đoạn này, các dạng tài nguyên được thu dần Dây chuyền nào có thời gian T’’ càng lớn thì thời gian ổn định của dây chuyền càng dài

Thông thường hai giai đoạn T’ và T’’’ bằng nhau và :

Thời kỳ ổn định của dây chuyền là:

T’’ = T – 2T’ = k(m+n-1) – 2(n-1)k = k (m-n+1) ( 2.2.3-8) Kinh nghiệm cho thấy có 3 trường hợp :

Các chỉ tiêu để đánh giá một dây chuyền :

Mức độ ổn định của dây chuyền:

) 1 (

) 1 (

''

ư +

n m k T

T

α (2.2.3-9) Hiệu suất của dây chuyền:

Trang 35

=

=

n m k

m T

m

β (2.2.3-10) Chi phí thời gian cho một đơn vị sản phẩm:

m

n m k m

T = ( + ư 1 )

=

γ (2.2.3-11) Mức điều hoà chi phí tài nguyên :

1

ư +

= m m n

δ (2.2.3-12) Các chỉ số α, β , γ càng lớn càng tốt, còn δ càng nhỏ càng tốt Các thông số cơ bản của dây chuyền là:

• Thông số không gian:

Thông số không gian được ký hiệu là m đã đề cập ở trên Thông số không gian là khu vực xây dựng được chia từ công trình Thông số không gian có thể là một hạng mục công trình, có thể là một đơn nguyên xây dựng Thông số không gian của dây chuyền nên là những bộ phận công trình có khối lượng bằng nhau hay tương đối bằng nhau Những bộ phận của công trình ấy được gọi là một phân đoạn có đủ mặt bằng công tác để triển khai một dây chuyền công nghệ bộ phận

Muốn tổ chức sản xuất được theo phương pháp dây chuyền thì số lượng các phân đoạn phải đáp ứng được :

1min ≥ n +

Thì dây chuyền mới giữ được ổn định Nừu không thoả mãn điều kiện này dây chuyền có thể bị gián đoạn Lựa chọn phân đoạn hay thông số không gian còn liên quan trực tiếp đến thời hạn thi công trong một phân đoạn Trong thực tế thì khi lựa chọn thông số không gian phải kết hợp với khe nhiệt, khe lún và sự phân chia kết cấu của ngôi nhà

• Thông số công nghệ:

Trang 36

Thông số công nghệ là số l−ợng các công nghệ sản xuất tham gia trong

dây chuyền Thông số công nghệ đ−ợc ký hiệu là n Thông số công

nghệ đ−ợc gọi là dây chuyền công nghệ hay dây chuyền bộ phận

• Thông số thời gian :

Thông số thời gian là thời gian một dây chuyền bộ phận có nhịp tham gia

sản xuất trong một phân đoạn Thông số thời gian đ−ợc ký hiệu là k

Đây chính là nhịp độ, là chu kỳ của dây chuyền của một quá trình sản xuất Thông số thời gian còn đ−ợc gọi là môđun chu kỳ Môđun chu kỳ k bằng :

1

− +

=

n m

T k

(3) Các dạng dây chuyền xây dựng:

Theo cơ cấu dây chuyền có các loại:

- Dây chuyền chuyên môn hoá

- Dây chuyền phân nhỏ hoàn toàn

Theo mức độ tiến triển :

- Dây chuyền ổn định

- Dây chuyền không ổn định

Trang 37

Hình sau đây minh hoạ sơ đồ dây chuyền nhịp nhàng, nhịp bội và không nhịp

Với dây chuyền không nhịp nhàng có thể chuyển thành dây chuyền tương

đương như hình mô tả sau đây :

Trang 38

(H×nh 12)

Mét d©y chuyÒn cã thÓ liªn tôc, cã thÓ gi¸n ®o¹n H×nh vÏ sau ®©y m« t¶ c¸c h×nh th¸i liªn tôc hay gi¸n ®o¹n cña d©y chuyÒn

Trang 39

( Hình 14)

(4) Khoảng ghép sát của các dây chuyền :

Khi thiết kế dây chuyền , một mặt phải bảo đảm tính chất điều hoà và liên tục, một mặt phải tuân theo các quy định về an toàn lao động Một trong những nguyên tắc chính trong tổ chức dây chuyền cần bảo đảm an toàn lao động là trong một phân đoạn không đ−ợc phép có hai dây chuyền bộ phận cùng tham gia sản xuất

Khi thể hiện dây chuyền trên sơ đồ tiến độ, nếu có hai dây chuyền bộ phận cùng tham gia lao động trong một phân đoạn cần đẩy lùi dây chuyền nằm sau nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất

Khoảng ghép sát của hai dây chuyền trong một phân đoạn là khoảng cách

về thời gian để cho trong suốt thời gian thực hiện các dây chuyền công nghệ không có bất cứ một phân đoạn nào có hai dây chuyền bộ phận cùng lao động

Khoảng ghép sát tới hạn là khoảng thời gian phải lùi nhỏ nhất của một dây chuyền nhằm bảo đảm không có hai dây chuyền cùng lao động trên một phân đoạn

Thí dụ có hai dây chuyền đ−ợc tổ chức nh− hình vẽ:

(Hình 21)

Khoảng ghép sát ở phân đoạn thứ m là Om đ−ợc tính nh− sau:

∑ ∑− −+

=O m 1k '' m k'

Trang 40

Khoảng ghép sát tới hạn khi Om = 0

Nếu Om có giá trị âm thì các dây chuyền bộ phận sát nhau phải lùi đúng bằng đại l−ợng ấy

Lấy hình vẽ trên làm thí dụ để tính khoảng ghép sát cụ thể

Ta xét khoảng ghép sát tại phân đoạn thứ 4 :

O4 = ( 3 + 1+ 2 ) – ( 1 + 1 + 3 ) = 1 Nh−ng trên phân đoạn 5 thì khoảng ghép sát là :

O5 = ( 3 + 1 + 2 + 1 ) – ( 1 + 1 + 3 + 5 ) = -3 Kết quả tính cho thấy cần dịch chuyển dây chuyền thứ hai lùi về bên phải

3 môđuyn chu kỳ thì mới bảo đảm đ−ợc trong một phân đoạn không có 2 dây chuyền cùng hoạt động

Để giảm công sức tính toán, khi đã xây dựng đ−ợc các dây chuyền công nghệ, cần nhìn trên biểu đồ thể hiện xem tại phân đoạn nào các dây chuyền bộ phận cắt nhau hoặc cùng nằm trong một phân đoạn và chỉ cần tính khoảng ghép sát cho phân đoạn ấy để lùi dây chuyền bắt đầu sau là

đ−ợc

Ngày đăng: 24/07/2014, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ các bước lập kế hoạch phản ánh như sau: - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Sơ đồ c ác bước lập kế hoạch phản ánh như sau: (Trang 10)
Hình sau đây minh hoạ sơ đồ dây chuyền nhịp nhàng, nhịp bội và không  nhịp. - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Hình sau đây minh hoạ sơ đồ dây chuyền nhịp nhàng, nhịp bội và không nhịp (Trang 37)
Bảng công việc hiện nay đ−ợc trình bày theo hai kiểu: - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Bảng c ông việc hiện nay đ−ợc trình bày theo hai kiểu: (Trang 52)
Hình 2 :  Hệ thống con tiến độ thực hiện - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Hình 2 Hệ thống con tiến độ thực hiện (Trang 65)
Hình 4. Thành tố nhân lực thi công - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Hình 4. Thành tố nhân lực thi công (Trang 66)
Hình 5. Ứng xử của các biến thuộc              Hình 6. Ứng xử của các - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Hình 5. Ứng xử của các biến thuộc Hình 6. Ứng xử của các (Trang 67)
Bảng 2- Kết quả thu được từ 107 bảng câu hỏi - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Bảng 2 Kết quả thu được từ 107 bảng câu hỏi (Trang 70)
Bảng 1 -Kết quả thu được từ việc   phỏng vấn 30 đối tượng - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Bảng 1 Kết quả thu được từ việc phỏng vấn 30 đối tượng (Trang 70)
Bảng 3- Ma trận hệ số tương quan giữa giá các loại vật liệu - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Bảng 3 Ma trận hệ số tương quan giữa giá các loại vật liệu (Trang 71)
Bảng 5- Tóm tắt các thông số của các công tác xây lắp công trình - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Bảng 5 Tóm tắt các thông số của các công tác xây lắp công trình (Trang 72)
Hình 1-Mô hình tác động và phân tích rủi ro - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Hình 1 Mô hình tác động và phân tích rủi ro (Trang 74)
Hình 2 -Xác xuất tích lũy giá vốn của nhà thầu - Tổ chức sản xuất xây dựng - Chương 2 doc
Hình 2 Xác xuất tích lũy giá vốn của nhà thầu (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w