Giáo trình tổ chức sản xuất xây dựng này bám sát Luật Xây Dựng và các Nghị định để hướng dẫn áp dụng Luật Xây Dựng như nghị định 16/2005/NĐ-CP , nghị định 209/2004/NĐ-CP và 08/2005/NĐ-CP
Trang 1PGS lª kiÒu
tæ chøc s¶n xuÊt x©y dùng
nhµ xuÊt b¶n x©y dùng
hµ néi – 2005
Trang 2mục lục
Lời giới thiệu
Chương I : Những khái niệm chung về tổ chức sản xuất xây dựng
1.1 Tổ chức
1.2 Tổ chức sản xuất
1.3 Tổ chức sản xuất xây dựng cơ bản
1.4 Các yếu tố cơ bản của tổ chức quản lý xây dựng
Chương II : Kế hoạch hoá sản xuất xây dựng
2.1 Các phương pháp lập kế hoạch
2.2 Các phương pháp tổ chức sản xuất dẫn đến bản tiến độ
2.3 Tác nghiệp thực hiện kế hoạch
2.4 Các yếu tố rủi ro khi điều hành kế hoạch
Chương III : Tổ chức phục vụ sản xuất xây dựng
3.1 Nhiệm vụ, nội dung và kế hoạch hoá việc tổ chức cung ứng vật tư 3.2 Kế hoạch cung ứng vật tư
3.3 Các hình thức tổ chức cung ứng vật tư xây dựng
3.4 Các hình thức tổ chức quản lý xe máy thi công
3.5 Tổ chức cung cấp điện
3.6 Tổ chức cung cấp nước
3.7 Tổ chức thoát nước cho công trường
3.8 Tổ chức nhà tạm phục vụ thi công
3.9 Tổ chức cơ sở gia công, chế tạo cấu kiện phục vụ sản xuất chính 3.10 Lập tổng mặt bằng xây dựng
4.7 Quản lý các yếu tố ngẫu nhiên bất lợi cho thực hiện dự án
4.8 Phân tích kết quả đã đạt ( Earned-value analyzis )
Trang 3Lời giới thiệu
Nền kinh tế nước nhà chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhiều khái niệm mới và nhiều phương thức làm ăn mới đã xuất hiện ở nước ta nhằm đẩy mạnh nền sản xuất xây dựng phù hợp với những chuyển biến to lớn về khoa học công nghệ và về tổ chức sản xuất xây dựng theo con đường công nghiệp hoá
Những giáo trình về tổ chức sản xuất xây dựng trước đây chưa đáp ứng
được sự cập nhật tình hình chuyển biến của đất nước ta và thế giới
Giáo trình này đáp ứng sự đổi mới chung của đất nước Những kiến thức cơ bản cùng với nhiều khái niệm và phương thức tổ chức hiện đại, thực tiễn đang diễn ra ở nước ta được đúc rút công phu và có cơ sở khoa học
Giáo trình tổ chức sản xuất xây dựng này bám sát Luật Xây Dựng và các Nghị định để hướng dẫn áp dụng Luật Xây Dựng như nghị định 16/2005/NĐ-CP , nghị định 209/2004/NĐ-CP và 08/2005/NĐ-CP mới ban hành ở nước ta cùng với chủ trương hoàn thiện các tổ chức sản xuất xây dựng của Nhà nước và cập nhật những phương thức điều khiển hiện
đại, tư duy và phương tiện mới trên thế giới Tuy nhiên với mong muốn hoàn thiện, các tác giả mong đón sự đóng góp của đông đảo bạn đọc và
đồng nghiệp
Các tác giả chân thành cảm ơn tập thể bộ môn Công nghệ và Tổ chức Xây dựng, phòng Quản lý Khoa học Công nghệ và Khoa Xây dựng trường đại học Kiến trúc, TS Đỗ đình Đức đã cộng tác và giúp đỡ để cuốn sách ra mắt kịp thời
Các tác giả
Trang 4Chương I: Những khái niệm chung về tổ chức sản xuất xây dựng 1.1 Tổ chức
Là tập hợp những người có cùng khuynh hướng chính trị, tập trung trong
tổ chức để thực hiện mục tiêu chính trị xác định
Một tổ chức phải xây dựng được mục tiêu hành động cho tổ chức mình
Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu, tổ chức phải xây dựng được điều lệ, tôn chỉ đúng đắn nhằm thu hút mọi cố gắng của các thành viên trong các hoạt động của tổ chức
- Mục tiêu của tổ chức
Giáo trình này tập trung vào tổ chức kinh tế nên không đề cập đến các tổ chức chính trị, xã hội
Một tổ chức kinh tế phải xác định được mục tiêu, chiến lược và kế hoạch hành động cho doanh nghiệp của mình Những mục tiêu chính của một doanh nghiệp là :
Trang 5+ Mục tiêu kiếm lời ( profit objective )
Sản xuất, kinh doanh cần chi phí để trang trải những chi tiêu phục vụ cho sản xuất và các rủi ro trong quá trình sản xuất Lợi nhuận nhằm bù đắp mọi chi phí trong quá trình sản xuất và tạo ra sự phát triển tiếp tục Không
có lợi nhuận sẽ không đủ tiền lương bù đắp cho lao động tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ không thể cung ứng hàng hoá hay dịch vụ cho khách hàng
và cộng đồng
+ Mục tiêu cung ứng ( service objective )
Tổ chức kinh tế có nhiệm vụ phải cung ứng hàng hoá hoặc dịch vụ cho xã hội Đó là sự phân công chung của cộng đồng Đây là nghĩa vụ của doanh nghiệp sản xuất hay dịch vụ với xã hội nhằm giữ cho cộng đồng tồn tại và phát triển
Việc cung ứng sản phẩm hay dịch vụ phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội Nhu cầu của xã hội phát triển không ngừng nên mục tiêu cung ứng này cũng thường xuyên thay đổi cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của công chúng và tình trạng cạnh tranh trên thị trường
+ Mục tiêu phát triển ( growth objective )
Trong một nền kinh tế đang mở mang thì sự phát triển của tổ chức kinh tế
là dấu hiệu của sự tăng trưởng lành mạnh Để thực hiện phát triển lành mạnh, tổ chức kinh tế mà ta sẽ gọi là các doanh nghiệp phải được tăng thêm vốn liên tục Vốn tăng có thể do được huy động thêm dưới mọi hình thức hoặc sử dụng chính ngay lợi nhuận tạo ra để làm tăng vốn
+ Trách nhiệm với xã hội ( social responsibilities )
Ngoài việc kiếm lợi nhuận, doanh nghiệp còn có nghĩa vụ với xã hội như
là bảo vệ quyền lợi của khách hàng, của những người cung cấp đầu vào cho sản xuất của doanh nghiệp , với nhân viên của mình Nói rộng ra là doanh nghiệp phải bảo vệ quyền lợi của cộng đồng Trong mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh, doanh nghiệp phải tuân theo pháp luật, những quy định chung của cộng đồng và phải bảo đảm sự bền vững của môi trường sinh thái Doanh nghiệp phải chịu sự quản lý của Nhà Nước về
đường lối phát triển kinh tế chung và doanh nghiệp phải theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 6Đạo đức kinh doanh ( business ethics ) là yêu cầu về phép ứng xử của doanh nghiệp nhằm dung hoà lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của cộng đồng
Sau khi xây dựng được mục tiêu của tổ chức kinh tế, doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp Kế hoạch hành động là công việc phải xây dựng thường xuyên cho các khoảng thời gian nhằm
đạt được các mục tiêu và chiến lược đề ra
- Yêu cầu của tổ chức
Một tổ chức sản xuất kinh doanh phải xác định rõ mục tiêu, chiến lược kinh doanh và có kế hoạch hành động thực hiện mục tiêu rõ ràng Tổ chức hoạt động theo điều lệ chặt chẽ nhằm bảo đảm mọi hoạt động đạt
được mục tiêu Có hai phạm trù khi xây dựng chiến lược kinh doanh của
tổ chức cần xác định rõ ràng là cơ chế hoạt động và cơ cấu của tổ chức cần phù hợp nhằm tạo mọi điều kiện cho mọi hoạt động của tổ chức được thuận lợi
Cơ chế là những qui định về mối quan hệ giữa các thành viên và thành phần của cơ cấu trong tổ chức Cơ chế là chính sách chung của doanh nghiệp về quan hệ giữa người với người trong và ngoài doanh nghiệp, là quan hệ giữa người và vật tư trong lao động sản xuất, quan hệ giữa người lao động và công cụ sản xuất, là phương pháp hoạt động của doanh nghiệp, là mối quan hệ giữa các thành phần của cơ cấu trong doanh nghiệp và chính sách thụ hưởng, chính sách phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp
Cơ chế trong doanh nghiệp của nền kinh tế thị trường phải thể hiện được: + Sự thống nhất giữa quan điểm và chủ trương của doanh nghiệp với định hướng kinh tế – chính trị của đất nước
+ Phải lấy khách hàng là đối tượng định ra cơ chế sản xuất cho phù hợp + Phải đạt được mục đích của sản xuất là hiệu quả và tiết kiệm
+ Phải đáp ứng được các chức năng cơ bản của doanh nghiệp một cách thuận lợi, không được cứng nhắc để gây cản trở cho việc thực hiện các chức năng của doanh nghiệp
Cơ cấu là các tổ chức bộ phận được thiết lập trong doanh nghiệp và mối liên hệ giữa những bộ phận ấy
Những cơ cấu chính được thực hiện là:
+ Cơ cấu tổ chức trực tuyến là cơ cấu mà người lãnh đạo doanh nghiệp thực hiện hết các chức năng của quản lý Trong cơ cấu này, mọi liên hệ giữa các thành viên trong tổ chức là liên hệ trực tiếp
Trang 7+ Cơ cấu tổ chức theo chức năng là cơ cấu mà nhiệm vuh quản lý được phân chia cho các đơn vị riêng biệt theo các chức năng của quản lý
+ Cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến có tham mưu , bên cạnh người lãnh đạo
có hệ thống tham mưu, cố vấn
+ Cơ cấu tổ chức kiểu trực tuyến-chức năng là cơ cấu hiện nay đang được các tổ chức ở nước ta áp dụng phổ biến Theo cơ cấu này, người lãnh đạo doanh nghiệp được sự trợ giúp của các cấp chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định
Hai phạm trù cơ chế và cơ cấu phản ánh chính sách chung của doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh
Cần luôn ý thức rõ ràng rằng thị trường luôn luôn biến động nên cơ chế
và cơ cấu phải phản ánh được tính chất “ động ” của thị trường mà doanh nghiệp là một thành viên của thị trường, tồn tại và phục vụ thị trường Từng giai đoạn, cơ chế và cơ cấu cần được xem xét và kiểm tra tính phù hợp với thị trường vào từng thời điểm Không nên coi cơ chế, cơ cấu của
tổ chức là điều không thay đổi được dẫn đến sự cứng đờ của cơ chế hoặc cơ cấu của doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp không thích ứng với thị trường
- Sự gắn liền tổ chức và quản lý
Tổ chức là sự gắn kết nhiều người với nhau để thực hiện những mục tiêu
mà với tư cách cá nhân riêng lẻ thì họ không thể đạt được Quản lý là yếu
tố cần thiết để bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực cá nhân
Quản lý là sự tạo dựng nên môi trường mà trong đó mỗi người tham gia trong tổ chức có thể hoàn thành các mục tiêu đề ra cho mình theo nhóm với thời gian, tiền bạc, chi phí vật chất và sự không thoả mãn cá nhân ít nhất Quản lý là sự tiến hành những phương thức nhằm đạt được mục tiêu
đề ra với mức sử dụng nguồn lực có thể có được
Quản lý là một khoa học nhưng quản lý đôi khi còn là nghệ thuật Là khoa học, có nghĩa là quản lý tuân theo những nguyên tắc đã rõ ràng, đã
được chứng minh là đúng Thí dụ như thống kê và ghi chép có hệ thống mọi hoạt động của doanh nghiệp nhằm theo rõi mọi chi phí bỏ ra và thu lại Cần thực hiện chế độ kế toán thích hợp để có thể nắm chắc mọi hoạt
động tài chính của doanh nghiệp là những yêu cầu sinh tử của doanh nghiệp Trong điều hành quản lý, có những kỹ thuật phải tuân thủ nhằm
đưa công tác phối hợp những thành viên trong tổ chức được có hiệu quả Chẳng hạn như những quy định về chế độ báo cáo định kỳ hoặc báo cáo
Trang 8đột xuất nhằm làm cho người quản lý luôn có đầy đủ những thông tin của quá trình sản xuất
Hiện nay, trong điều kiện cụ thể của nước ta, quản lý đôi khi thể hiện còn
là nghệ thuật Có nghĩa là một số khâu trong công tác quản lý chưa chứng minh được hết là vì sao thực hiện nó lại tốt nhưng thực tế đem thực hiện những khâu ấy lại có hiệu quả là đạt được mục tiêu đề ra với chi phí chấp nhận được
Một số nguyên tắc trong quản lý có tính chất mô tả hoặc tiên đoán chứ chưa mang tính chất tất yếu Vì những nguyên tắc này còn đôi khi có tính chất nghệ thuật Điều này phản ánh rằng có những nguyên tắc trong quản
lý phản ánh sự liên hệ của một biến số với các biến số khác sẽ diễn ra thế nào khi các biến số này tác động qua lại Phải tiên đoán được sự việc thông qua những thông tin thu thập được , hoạt động quản lý mới có hiệu quả
Trong quản lý có những kỹ thuật quản lý Kỹ thuật quản lý là phương pháp thực hiện các công việc sao cho công việc đạt được mục tiêu định trước Kỹ thuật quản lý là những hoạt động tác nghiệp phải tuân theo nhằm đạt được mục tiêu chi tiết hoặc mục tiêu tổng thể có hiệu quả nhất Thí dụ trong quản lý phải thực hiện các kỹ thuật lập ngân sách, hạch toán giá thành, lập kế hoạch và kiểm tra sự thực hiện các điều đã nêu lên trong
kế hoạch ( phương pháp PERT) hoặc phương pháp đường găng ( CPM ) , lên kế hoạch nhờ sử dụng chương trình Microsoft Project, kiểm tra tỷ lệ thu hồi vốn đầu tư, các biện pháp phát triển tổ chức, cách quản lý theo mục tiêu Kỹ thuật quản lý là những nguyên tắc và phương pháp cần tuân thủ nhằm làm cho các hoạt động sản xuất có hiệu quả nhất
Mọi hoạt động của tổ chức gắn chặt chẽ với các hoạt động quản lý, vì thế
ta thấy xuất hiện khái niệm tổ chức quản lý sản xuất gắn liền với nhau, khó tách rời nhau, cũng như không được phép tách rời nhau
Tổ chức quản lý đòi hỏi phải được trang bị cho các nhà tổ chức quản lý những kiến thức có hệ thống Hệ thống có nghĩa là một tập hợp các sự vật
có liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau để hình thành nên một tổng thể hoàn chỉnh Hệ thống tổ chức quản lý của doanh nghiệp là hệ thống mở ( opening system ) điều đó có nghĩa là để tạo dựng nên hệ thống tổ chức quản lý một doanh nghiệp phải xét đến rất nhiều hệ thống khác tác động tới Tự tạo ra sự tách biệt giữa các hệ thống làm cho mọi hoạt động của doanh nghiệp nhiều khi thất bại
Hệ thống tổ chức quản lý doanh nghiệp cho đến nay là hệ thống phức tạp trong điều kiện nước ta Các nhà quản lý doanh nghiệp cần thiết phải
được trang bị kiến thức để điều hành tốt doanh nghiệp của mình, sinh lợi chính đáng và phục vụ được thị trường theo đúng đường lối phát triển kinh tế của đất nước
Trang 9
- Tác động của tổ chức quản lý là con người
Hoạt động quản lý nhằm làm cho tổ chức thực hiện được các mục tiêu đã thiết lập Quản lý đề ra các nguyên tắc phải tuân thủ nhằm tiến hành phân tích các hoạt động của sản xuất, thúc đẩy , kiểm tra, hiệu chỉnh sản xuất
để đạt được mục tiêu có chất lượng nhất, đúng thời hạn, chi phí tiết kiệm nhất Tổ chức quản lý doanh nghiệp thực chất là điều khiển doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu đề ra
Khi phải tiến hành điều khiển, tổ chức sản xuất phải tuân theo các quy luật của điều khiển nói chung và điều khiển cụ thể trong môi trường doanh nghiệp
Nguyên tắc chung của điều khiển một hệ thống là : hệ điều khiển phải có năng lực cao hơn, có độ phức tạp nhiều hơn hệ bị điều khiển Nếu hệ bị
điều khiển phức tạp hơn hệ điều khiển thì hệ thống sẽ có những trục trặc xảy ra Thí dụ như một máy tính điện tử chẳng hạn Mỗi máy có một tính năng và cấu hình xác định Hệ điều hành chỉ giới hạn trong cấu hình của máy Nếu ta đồng thời ra nhiều lệnh mà máy chưa kịp sử lý dẫn đến tình trạng treo máy vì sử lý không kịp Sự cải thiện thường xuyên , nâng cao chất lượng thường xuyên hệ điều khiển cho thích ứng với nhiệm vụ của từng giai đoạn phát triển doanh nghiệp là yêu cầu tất yếu Điều này là yêu cầu nghiêm khắc của thời kỳ mới của sự phát triển kinh tế ngày nay
Mỗi con người với tư cách là một thành viên trong hệ bị điều khiển lại là một hệ thống phức tạp Từng người có những nhu cầu , năng lực, trình độ, tâm tư, nguyện vọng cũng như tình cảm, sức khoẻ, hoàn cảnh giống nhau
và cũng rất khác nhau Cho nên điều khiển một hệ thống có con người tham gia được coi là điều khiển một hệ thống lớn
Điều khiển một hệ thống có con người tham gia phải bảo đảm hiểu biết hết được những đặc điểm sau đây:
+ Phải nắm vững mục tiêu của sản xuất và con đường dẫn đến mục tiêu
Điều này có nghĩa là, người lãnh đạo sản xuất phải hiểu được mặt hàng sẽ xuất xưởng là mặt hàng nào , phương thức để chế tạo, sản xuất ra mặt hàng ấy Người đứng ra tổ chức sản xuất trong quy mô của mình phải biết
được mình muốn gì, và bằng cách nào để đạt được ý muốn ấy
Người tổ chức sản xuất cần có đủ trình độ để hiểu biết về sản xuất trong phạm vi mình phụ trách
Trong điều kiện cần nâng cao chất lượng sản phẩm thường xuyên, cần
đáp ứng những nhu cầu mới của thị trường, bắt buộc người tổ chức sản xuất phải thường xuyên học tập, cập nhật tri thức thì mới hoàn thành được nhiệm vụ
Trang 10Trước đây, do đặc thù của xã hội nước ta là một nước đi lên từ nghèo nàn
và lạc hậu, chúng ta lại phải trải qua hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm nên điều kiện sản xuất theo công nghiệp hoá gặp nhiều khó khăn Tiêu chí lựa chọn cán bộ lại không dựa chính vào kỹ năng nghề nghiệp nên sản phẩm tạo ra có chất lượng thấp Phần lớn người lao động trong ngành xây dựng không được đào tạo có hệ thống nên chất lượng công trình không đạt Cũng do nền kinh tế đi lên từ mức khởi điểm rất thấp nên yêu cầu chính là hãy có sản phẩm còn khâu chất lượng được xếp sau khâu số lượng nên thời gian tới đây, những người tham gia trong tổ chức sản xuất xây dựng phải nỗ lực phấn đấu nhiều, phải học tập nhiều
+ Trong hệ thống có con người tham gia, cần lưu ý đến các đặc điểm sinh vật của con người Sinh vật có đặc tính là thường xuyên tạo ra các kháng thể chống lại những kích thích tác động vào nó như là một bản năng tự vệ Cho nên muốn người lao động tham gia có hiệu quả trong tổ chức sản xuất thì phải làm cho con người muốn lao động
Để cho con người muốn lao động phải cho họ thấy rõ rằng lao động mang lại lợi ích chính cho bản thân mình Phải đi làm và làm tốt nhiệm vụ của mình mới có lương, có thu nhập để nuôi sống và phát triển bản thân mình Khi người lao động không ham muốn lao động thì kết quả lao động rất thấp Khi đó, lao động chỉ là chiếu lệ, năng suất lao động thấp, chất lượng sản phẩm lao động kém
Cần tạo ra những kích thích để người lao động ham công việc của mình Những kích thích này là yếu tố thúc đẩy sản xuất như là trả lương theo số lượng và chất lượng sản phẩm đạt được chẳng hạn, thi đua và khen thưởng theo kết quả thi đua là yếu tố kích thích sản xuất
Nguyên tắc để người lao động ham làm tốt nhiệm vụ của mình là phải để người lao động thấy được nếu họ hoàn thành có hiệu quả cao công việc của mình, họ sẽ được điều gì đó Hãy tạo cho người lao động lòng ham muốn lao động
Tuy nhiên, là sinh vật nên con người thường bị những phản ứng tự thân làm cho mọi kích thích bị nhàm chán Đặc điểm này được gọi là tính trơ nhờn sinh học Cần thường xuyên nâng cao mức độ của các giải pháp kích thích, chống lại hiệu ứng trơ nhờn
Không những thực hiện các biện pháp kích thích sản xuất tích cực là nếu sản xuất tốt, người lao động sẽ được thêm lợi ích mà còn phải thực hiện biện pháp kích thích tiêu cực là nếu sản xuất kém, người lao động sẽ bị thiệt thòi điều gì đó Thu lợi nếu sản xuất tốt Giảm lợi nếu sản xuất kém Hai kiểu kích thích phải đan xen và tác động vào người lao động, tạo nên nguồn kích thích đồng bộ , chống hiệu ứng trơ nhờn trong con người là nguyên tắc điều khiển hệ thống có con người tham gia
Trang 11Những biện pháp kích thích sản xuất cụ thể rất đa dạng Có thể những kích thích thuộc về loại tinh thần, như nếu sản xuất tốt, được cấp giấy khen, được đưa vào bảng danh dự, được kết nạp công đoàn, đoàn thanh niên Cũng có thể là những kích thích vật chất như tăng mức lương, thưởng tiền hay hiện vật
Lúc nào cũng cần lưu tâm đến đặc tính sinh vật là tính trơ nhờn nên phải thường xuyên đổi mới kiểu hay mức độ kích thích, tạo cho người lao động
có lòng ham muốn sản xuất
điều kiện cụ thể của thị trường Tổ chức sản xuất có chức năng cung ứng hàng hoá hay dịch vụ cho thị trường nên loại tổ chức này phải tuân theo những quy luật của sản xuất hàng hoá hay dịch vụ của thị trường
Tổ chức sản xuất nằm trong cơ cấu chung của nền kinh tế quốc dân nên
tổ chức sản xuất phải tuân theo những định chế của một đơn vị trong hệ thống kinh tế xã hội của quốc gia Tổ chức sản xuất phải thi hành các nghĩa vụ với Nhà Nước, phải hoạt động theo pháp luật và theo những định hướng chung của đường lối phát triển kinh tế của Nhà Nước
Quá trình sản xuất của doanh nghiệp phải đảm bảo sự phát triển bền vững của địa phương, bảo đảm sự an toàn cho người lao động , cho môi trường sinh thái của nơi sản xuất
- Mục tiêu của tổ chức sản xuất
Tổ chức sản xuất hay dịch vụ được hình thành nhằm cung ứng hàng hoá hay dịch vụ cho xã hội Xã hội trong nền kinh tế thị trường và phát triển
có những nhu cầu thường xuyên nâng cao và biến động nên mục tiêu của
tổ chức sản xuất phải đáp ứng sự phát triển này Kinh tế thị trường tồn tại
sự cạnh tranh nhằm tạo được lợi ích cho người tiêu dùng Nhờ cạnh tranh
mà xã hội phát triển, sản xuất hàng hoá ngày càng hoàn thiện hơn
Mục tiêu của doanh nghiệp được xây dựng phải phù hợp với vốn đăng ký
và vốn hoạt động của doanh nghiệp Phải xác định rõ phạm vi sản xuất và
Trang 12quy mô sản xuất Mặt hàng sản xuất phải phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của Nhà Nước và địa phương , nơi quản lý doanh nghiệp Mục tiêu sản xuất của doanh nghiệp phải đóng góp cho sự phát triển kinh
tế xã hội của đất nước, của địa phương Mục tiêu sản xuất phải tạo ra mặt hàng tiên tiến, tham gia chung trong nền kinh tế của quốc gia và địa phương, không trái với pháp luật và không được tạo ra ô nhiễm môi trường sinh thái của khu vực sản xuất
- Yêu cầu của tổ chức sản xuất
Tổ chức sản xuất phải phù hợp với mục tiêu đã xây dựng Sự phù hợp của
tổ chức sản xuất với mục tiêu cần bảo đảm được trên các mặt quy mô, cơ chế và cơ cấu Nhiều doanh nghiệp đã bành trướng cơ sở vật chất, trang
bị, nhà xưởng lớn hơn mục tiêu sản xuất đã được các đoàn khảo sát kinh
tế nhận xét là con voi đẻ ra sản phẩm là các hạt phân chuột Cơ cấu cồng kềnh, chỉ riêng chi phí cho công tác chăm nom cơ sở vật chất và nuôi bộ máy quản lý, điều hành đã hết mức thu, không còn đủ chi phí tái sản xuất, chưa nói đến tái sản xuất mở rộng
Tổ chức sản xuất cần thoả mãn yêu cầu tiên tiến Tính tiên tiến được thể hiện ở phương thức sản xuất tiên tiến, công cụ lao động tiên tiến, tổ chức sản xuất tiên tiến, có kế hoạch mục tiêu, có kế hoạch chi tiết và kế hoạch tác nghiệp hoàn chỉnh
Tổ chức sản xuất có yêu cầu tiết kiệm Cần thiết đầu tư hoặc chi phí bao nhiêu cần dự liệu trước và bảo đảm sản xuất trong phạm vi định liệu trước Cần thiết chi thì phải chi Không cần thiết thì phải tiết kiệm Tiền bạc, tài sản, của cải là do lao động cực nhọc mang lại
Yêu cầu của công tác tổ chức sản xuất là đáp ứng tính linh hoạt của các nhu cầu của thị trường Tổ chức sản xuất cần đủ độ mềm dẻo để mở rộng nhất thời hoặc ngược lại co hẹp nhất thời phạm vi sản xuất, cũng như quá trình sản xuất.Tuy nhiên không vì phải bảo đảm tính linh hoạt mà làm mất tính ổn định Chỉ sản xuất tốt khi tổ chức ổn định Điều này có nghĩa
là phải tạo ra thế ổn định trong sự linh hoạt và phải dễ thay đổi , dễ thích ứng với các yêu cầu thay đổi của thị trường nhưng tổ chức sản xuất phải
đủ mức ổn định để giải toả tâm lý bất định cho người sản xuất
Yêu cầu quan trọng của tổ chức sản xuất là tính dễ kiểm soát Cơ cấu sản xuất phải tường minh Chức năng và nhiệm vụ của thành phần trong cơ cấu phải rõ ràng, mạch lạc Không để cho có chồng chéo nhiệm vụ hoặc phân nhiệm không rõ ràng Mối quan hệ qua lại giữa các thành phần của cơ cấu sản xuất cần được định đoạt và tổ chức phối hợp nhịp nhàng Không để xảy ra lộn xộn, nhiều khi nhìn nhau mà không hoạt động, hoặc
Trang 13hoạt động bừa bãi, gây lãng phí khắc phục sai do sự thiếu minh bạch về phân công, phân nhiệm
Từng bộ phận phải lấy nhiệm vụ chung của sản xuất làm tiêu chí hành
động Không vì lợi ích cục bộ mà ảnh hưởng lợi ích toàn cục
Quá trình sản xuất phải bảo đảm tính tin cậy: Người chỉ đạo sản xuất từng cấp phải có đầy đủ thông tin của các hệ thống con trong hệ thống mà mình quản lý Mọi hoạt động đều có ghi chép , thống kê chi tiết và đầy
đủ thông tin Sổ sách kế toán là hệ thống ghi chép biến động tài chính trong quá trình sản xuất phải được ghi chép đúng nghiệp vụ, đẩy đủ và kịp thời Tài liệu kế toán phải bảo đảm tính trung thực và độ tin cậy cần thiết Hệ thống ghi chép kế toán phải tuân thủ đúng và đủ các quy định theo luật pháp
- Phương châm, phương pháp tổ chức sản xuất
- Tổ chức sản xuất phải được nghiên cứu tốt để giúp tập thể cán bộ và công nhân trong đơn vị đạt được các mục tiêu đề ra một cách thuận lợi nhất, có hiệu quả nhất
- Các biện pháp tổ chức sản xuất phải bền vững , tạo cho sản xuất ổn
định, phát huy hết nỗ lực của cá nhân và tập thể tham gia trong tổ chức sản xuất
- Cần tạo ra tâm lý tin cậy trong công nhân bằng quy trình sản xuất được bbàn bạc kỹ lưỡng, công nhân được hiểu biết rõ ràng về mọi thao tác sẽ thực hiện, điều kiện sản xuất ổn định, đòi hỏi trình độ cao trong quá trình sản xuất Người công nhân sản xuất phải yên tâm với công việc, không bị những khó khăn của cuộc sống hay tình trạng bấp bênh của công ăn, việc làm gây ra sự bất ổn tâm lý
- Đơn vị sản xuất phải đoàn kết, nhất trí, không có mâu thuẫn nội bộ Không khí sản xuất luôn luôn khích bác lẫn nhau giữa công nhân với nhau là nguồn gốc giảm năng suất lao động Tình trạng bè phái trong công nhân làm cho không khí của sản xuất thiếu ổn định Đây chính là nguồn gốc của sự tạo ra sản phẩm chất lượng xấu
- Phải huấn luyện và có biện pháp giáo dục đề cao tính kỷ luật trong sản xuất đồng thời với phát huy hết sáng tạo, nỗ lực cá nhân Người công nhân không chấp hành lệnh sản xuất của phân xưởng, không tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất là đầu mối của sự giảm thấp chất lượng
Trang 14Cần huấn luyện tính tự giác trong sản xuất, giáo dục đạo đức nghề nghiệp, lương tâm và trách nhiệm với sản phẩm, với khách hàng
- Tổ chức sản xuất phải được thường xuyên xem xét và chỉnh lý để đảm bảo tính gọn nhẹ Sự cồng kềnh của tổ chức làm giảm tính hiệu quả của sản xuất, là đầu mối kéo theo sự chậm trễ, quan liêu, làm giảm năng suất
và hiệu quả của sản xuất Sản xuất trong môi trường kinh tế thị trường cần nhanh Giữ gìn bí mật của bí quyết sản xuất, tạo bất ngờ cho thị trường để chống cạnh tranh không lành mạnh là đặc điểm tự bảo vệ sản xuất, bảo vệ cơ sở sản xuất của mình Thị trường và thị hiếu tiêu dùng thường xuyên nâng cao nên tổ chức sản xuất phải nhạy với những biến động của thị trường Thông tin kinh tế là nguồn để phản ánh tính nhạy với thị trường của doanh nghiệp Phân tích thông tin một cách khoa học, đủ luận cứ ,
đúng theo các quy định của pháp luật và đường lối của Đảng và Nhà Nước là sự bảo đảm cho tổ chức sản xuất được gọn nhẹ Đầy đủ thông tin, nắm vững chính sách của Đảng và Nhà Nước cũng như đường lối phát triển của doanh nghiệp tạo cho sản xuất sự ổn định, sự yên tâm thực hiện
kế hoạch sản xuất
- Sự ổn định trong sản xuất là sự không bị bất ngờ trước những biến động của thị trường Mọi biến động đều được dự liệu trước thì sản xuất sẽ không bị những biến động gây trở ngại cho sản xuất Tổ chức sản xuất thích ứng với biến động, chủ động với biến động tạo ra thế ổn định trong
tổ chức sản xuất Trong tổ chức sản xuất phải có bộ phận chuyên thu thập
và phân tích thông tin nhằm không bị bất ngờ trước sự biến động của thị trường, đồng thời luôn có giải pháp đối phó với biến động ấy Bản chất của tự nhiên là biến đổi và ngẫu nhiên Cần dự báo thị trường qua việc thu thập và sử lý thông tin chính xác để thiết lập kế hoạch sản xuất sẽ đưa doanh nghiệp vào thế ổn định, tạo năng suất và hiệu quả trong sản xuất
1 3 Tổ chức sản xuất xây dựng cơ bản
- Sản phẩm xây dựng cơ bản
Tổ chức sản xuất xây dựng là các hoạt động tạo ra sản phẩm xây dựng Sản phẩm xây dựng là cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động của đời sống con người, phục vụ cho các hoạt động sinh hoạt vật chất hoặc tinh thần và các hoạt động sản xuất , tạo ra của cải cho xã hội của con người Vì lý do an toàn và phát triển, con người cần có nhà ở Nhà ở là sản phẩm xây dựng cơ bản Để đi lại, giao thông, cần có đường xá, cầu cống
Đường xá, cầu cống là sản phẩm xây dựng cơ bản Để sản xuất, cần có
Trang 15nhà máy Nhà máy là sản phẩm xây dựng Sản phẩm xây dựng là phương tiện cho các hoạt động khác của xã hội
Sản phẩm xây dựng mang tính chất dịch vụ, phục vụ cho một hoặc nhiều mục đích của con người Nhưng sản phẩm xây dựng nhiều khi là mục
đích của lao động xã hội
Nhà ở, nếu chỉ xét ý nghĩa dịch vụ thì là nơi để tái sản xuất sức lao động Nhưng đã quá lâu rồi, con người mong muốn có chỗ ở ổn định và lâu dài nên nhà ở cũng là mục tiêu phấn đấu của nhiều người Khi đó nhà ở biến thành mục đích của sản xuất xã hội
- Sản phẩm xây dựng là kết quả đầu tư của các hình thức :
+ Xây dựng mới
+ Cải tạo
+ Mở rộng
+ Đầu tư chiều sâu
Công trình xây dựng mới là những dự án có công trình được tạo nên trên khu đất mới nhận Trên khu đất này có thể đã có sản phẩm do con người tạo ra như hoa màu, cây cối Có thể trên khu đất này có nhà cửa đã xây dựng Cũng có thể khu đất này còn hoang hoá, chỉ có cây cối mọc sẵn, không do người trồng
Với những khu đất đang có hoa màu hoặc có công trình từ trước, người chủ đầu tư mới phải tiến hành đền bù cho chủ đang sử dụng nay bị thu hồi mới được sử dụng theo mục đích đầu tư được duyệt
Sản phẩm xây dựng là sản phẩm cải tạo khi đã có sẵn công trình đang hoạt động Công trình đang hoạt động này không còn phù hợp với nhiệm
vụ mới nên được phép cải tạo Công trình được cải tạo là công trình được phép sửa chữa , nâng cấp, điều chỉnh dây chuyền công năng nhằm đáp ứng nhiệm vụ mới Cải tạo một công trình sẵn có nhằm giảm chi phí đầu tư so với xây dựng mới Rất không có ý nghĩa khi chi phí đầu tư cho công trình cải tạo lại lớn hơn chi phí cho công trình xây dựng mới
Sản phẩm xây dựng được tạo nên theo hình thức đầu tư mở rộng là sản phẩm được tạo ra trên cơ sở đã có công trình được xây dựng trước đây nhưng nay công trình ấy không phù hợp với nhiệm vụ mới về quy mô sản xuất Làm cho công trình tăng quy mô nhờ việc xây dựng thêm diện tích
sử dụng, mua sắm thêm không nhiều trang bị mới để công trình đáp ứng nhiệm vụ mới là việc làm nhằm giảm chi phí đầu tư so với hình thức xây dựng mới mà vẫn đáp ứng yêu cầu Thường mức đầu tư cho công trình mở
Trang 16rộng không nhiều lắm so với đầu tư mới để tạo ra công trình có tính năng
sử dụng tương tự
Sản phẩm xây dựng do hình thức đầu tư là đầu tư chiều sâu gồm sản phẩm
có trang bị sản xuất được thay đổi, điều chỉnh mà việc làm thêm diện tích mới là không đáng kể so với tổng số tiền đầu tư Sự thay đổi hoặc mua sắm thêm trang bị mà không cần làm thêm nhiều diện tích mới mà công trình vẫn đáp ứng được công năng là sự tiết kiệm trong đầu tư Cần lưu ý rằng sản phẩm xây dựng là để phục vụ cho một hoạt động sản xuất hoặc
sử dụng khác nên tiết kiệm được đầu tư cho vỏ nhà là điều có ý nghĩa
Quá trình tạo ra sản phẩm xây dựng được khái quát hoá qua sơ đồ:
Trước đây, để tạo ra sản phẩm xây dựng cụ thể và trực tiếp, người
ta dừng thuật ngữ kỹ thuật thi công Quá trình nghiên cứu và thể nghiệm nhiều năm, người nghiên cứu đã cố gắng tìm tòi những mối quan hệ, những nguyên tắc của các khâu trong kỹ thuật thi công để thấy mối giàng buộc giữa chúng với nhau Khi phát hiện được cái luận lý của các khâu trong kỹ thuật thi công, kỹ thuật đã được nâng lên một mức: đó là công nghệ
techniques + logiques = technology (Kỹ thuật nâng lên thành luận lý đó là công nghệ )
1 Lao động 2 Phương tiện
Công cụ 3.Vật liệu xây dựng
4 Thông qua các tác động công nghệ sản xuất
5 Sản phẩm Xây dựng
Trang 17- Các đặc điểm của sản phẩm xây dựng cơ bản
Sản phẩm xây dựng cơ bản tuy là sản phẩm công nghiệp nhưng lại rất không giống các sản phẩm công nghiệp khác Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng đã ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình chế tạo ra nó
+Sản phẩm xây dựng cơ bản chiếm diện rộng, chiếm không gian lớn và
gắn liền với mặt đất ( hoặc mặt nước trên đất)
Từ đặc điểm này, chúng ta thấy không thể che phủ hoặc khó che phủ cho sản phẩm xây dựng trong quá trình chế tạo sản phẩm Các tác nhân thời tiết, khí hậu, thiên nhiên mặc sức ảnh hưởng đến quá trình sản xuất Việc các tác nhân thiên nhiên tác động khiến cho khi lập kế hoạch sản xuất xây dựng cần dự liệu mọi khả năng để tránh những tác động tiêu cực Chúng ta biết đặc điểm khí hậu của nước ta là có hai mùa mưa và nắng rõ rệt Cần sắp xếp sao để khi không mưa, tiến hành những việc ngoài trời để khi mưa làm những việc trong mái che Các tác nhân thiên nhiên bình thường không được xem như khó khăn đột xuất để kéo dài thời hạn thi công Người lập kế hoạch thi công phải lường trước điều kiện thiên nhiên tác động mà dự báo và điều này được phản ánh trong thời hạn thực hiện dự án khi dự thầu xây lắp
Do chiếm diện rộng, chiếm không gian lớn và gắn liền với mặt đất nên khi chế tạo sản phẩm xây dựng, vật liệu để chế tạo phải vận chuyển
từ nơi khai thác đưa về đến vị trí xây dựng công trình Từ điều này, khâu vận chuyển quyết định quá trình sản xuất xây dựng Công tác vận chuyển chiếm tỷ lệ lớn trong công sức và giá thành xây dựng
Các yếu tố địa chất công trình, địa chất thuỷ văn khu vực xây dựng
ảnh hưởng nhiều đến sản xuất xây dựng do sản phẩm xây dựng gắn liền với mặt đất, mặt nước Việc sử lý nền móng, chống các sự cố lún sụt, n-
ước ngầm, cát chảy là những khó khăn cần được dự liệu trước trong quá trình thi công và có biện pháp để ngăn ngừa
Ngoài ra còn những yếu tố con người và xã hội gây ra các tác động tiêu cực do đặc điểm sản phẩm xây dựng chiếm không gian lớn, chiếm diện rộng gây ra: sự bảo vệ chống phá hoại, chống mất cắp tài sản, chống
vi phạm địa giới xây dựng, chống phá hoại vô hình do sản phẩm, bán thành phẩm xây dựng bị phơi lộ dưới bầu trời có những tác động của mưa, nắng và các điều kiện thay đổi của khí hậu, thời tiết
Trang 18+ Thời gian chế tạo sản phẩm xây dựng dài:
So với sản xuất nhiều sản phẩm công nghiệp khác, thời gian chế tạo sản phẩm xây dựng dài nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm Thời gian chế tạo dài qua nhiều mùa khí hậu nên những yếu tố thiên nhiên tác động mạnh mẽ đến quá trình sản xuất xây dựng Do đặc điểm của mỗi mùa khí hậu, khi sản xuất xây dựng cần tính toán, dự liệu để tránh những bị động khi có tình huống bất thường do khí hậu sinh ra
Khi thời gian chế tạo dài còn những ảnh hưởng của con người, của xã hội tác động như những biến động do thay đổi tổ chức, thay đổi chủ tr-
ương sản xuất, đầu tư, xây dựng công trình
Thời gian chế tạo dài làm tăng chi phí bảo quản vật tư, bảo quản công trình Ngoài ra, vật tư, bán thành phẩm còn bị giảm thấp chất lượng
do phải bảo quản lâu
+ Đặc điểm về tính đa dạng và phức hợp của sản phẩm xây dựng:
Sản phẩm xây dựng có rất nhiều hình thái khác nhau ( phản ánh tính đa dạng): về qui mô, về loại dạng, về kích cỡ, về sử dụng vốn đầu tư Sản phẩm xây dựng lại do rất nhiều chủng loại nghề nghiệp, loại nhân lực khác nhau tham gia chế tạo, rất nhiều chủng loại vật liệu tạo thành ( phản
ánh tính phức hợp) Do nhiều đơn vị có những nghiệp vụ khác nhau cùng tham gia sản xuất trên công trình vào những thời điểm klhông nhất thiết
là trùng nhau nên việc tổ chức phối hợp cho đồng bộ, không bị đợi chờ nhau, tạo nên sự nhịp nhàng, ăn ý, điều hoà là sự khó khăn của điều khiển sản xuất xây dựng Từ đặc điểm đa dạng và phức hợp của sản phẩm xây dựng nên điều khiển sản xuất xây dựng đòi hỏi các tiêu chuẩn về quản lý
và điều hành sản xuất phức tạp hơn các sản xuất khác
+ Những đặc điểm khác:
Nhiều tác giả phương Tây đưa ra những đặc điểm của sản phẩm xây dựng rất khác nhau nhưng tựu trung có các ý mà người tổ chức sản xuất xây dựng cần lưu tâm là :
• Các doanh nghiệp xây dựng thường là nhỏ hoặc doanh nghiệp nhỏ chiếm đại đa số
• Chi phí nhân công trong sản phẩm khá cao do phần lớn sản phẩm
được sản xuất đơn chiếc
Trang 19• Giá cả trong ngành xây dựng tăng nhanh, năng suất lao động tăng chậm, mức trang bị cho công cụ lao động thấp hơn so với các ngành công nghiệp khác và vai trò của Nhà Nước nhúng vào quá trình sản xuất xây dựng thường là lớn so với các ngành công nghiệp khác
- Về lao động trong xây dựng cơ bản :
*Lao động trong xây dựng là lao động có nghề nghiệp
Trước đây, người nông dân tự xây nhà cho mình Do tự thân cuộc sống đòi hỏi mà con người tự phải xây dựng những công trình Ngày nay, những công trình xây dựng đã phức tạp, vượt ra ngoài khuôn khổ tự cung
tự cấp nên con người muốn làm được các công trình phải được đào tạo Xã hội phát triển ngày nay phần vì phân công xã hội, phần vì lao động trong xây dựng đòi hỏi có kiến thức và tay nghề cao, nên bắt buộc lao
động trong xây dựng phải là lao động có nghề nghiệp
Hiện nay số người tham gia lao động trong ngành xây dựng ở nước ta tới trên 1,3 triệu người Tuy nhiên số người đã qua trường học các cấp từ công nhân đến sau đại học mới chiếm không quá 20% nên chất lượng công trình xây dựng là mối lo khá bao trùm Cần phải giáo dục nghề nghiệp cho công nhân tham gia trong ngành xây dựng để tiến tới, người lao động làm công tác gì thì phải được đào tạo về nghiệp vụ ấy và phải có chứng chỉ đã được đào tạo
* Lao động trong xây dựng cần được tổ chức theo khoa học
Do sự phát triển của nghề nghiệp, do quy mô công trình xây dựng ngày càng lớn và mức độ phức tạp ngày càng cao, số người cần tập trung để thực hiện xây dựng công trình ngày càng lớn nên tổ chức lao động trong xây dựng đòi hỏi phải
được tổ chức theo khoa học
Phương hướng để tổ chức lao động theo khoa học có những nét chủ yếu sau đây:
(i) Cải tiến việc tổ chức và phục vụ nơi làm việc
(ii) áp dụng phương pháp và thao tác lao động tiên tiến
(iii) Cải tiến phân công và hợp tác trong lao động
(iv) Hoàn thiện định mức lao động
(v) Đào tạo và nâng cao trình độ người lao động
(vi) Cải thiện điều kiện lao động
(vii) Kết hợp lao động và nghỉ ngơi
Trang 20(viii) Tăng cường ý thức tổ chức, kỷ luật
(ix) Hợp lý tổ chức lao động của người lao động
(x) Cải tiến công tác tổ chức của cán bộ
* Lao động trong xây dựng là lao động có định mức:
Định mức là lượng thời gian , vật tư, giờ công, giờ máy được phép sử dụng để thực hiện một đơn vị sản phẩm Thực hiện định mức nhằm làm cho người lao động phải quan tâm đến kết quả công việc của mình thực hiện Làm việc theo định mức và thụ hưởng kết quả lao động theo định mức là một biện pháp kích thích sản xuất Định mức lao động phụ thuộc
sự hiểu biết về nghề nghiệp, phụ thuộc tay nghề của công nhân, phụ thuộc trình độ sử dụng máy móc, công cụ
Trong từng công việc đều có định mức nhân công và định mức vật liệu sử dụng Nhiệm vụ cơ bản của định mức kỹ thuật lao động là mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần giáo dục lương tâm nghề nghiệp, đạo đức lao động Những nhiệm vụ chủ yếu và cụ thể của định mức lao động là:
# Hợp lý hoá lao động làm tiền đề định ra hao phí lao động, hao phí thời gian sử dụng máy
# Xác định được hao phí lao động và thời gian sử dụng máy
# Thúc đẩy tăng năng suất lao động
- Các hình thức tổ chức doanh nghiệp:
Theo sở hữu thì doanh nghiệp chia ra:
Doanh nghiệp xây dựng một chủ sở hữu :
Doanh nghiệp Nhà Nước hay doanh nghiệp tư nhân
Doanh nghiệp đa sở hữu:
Công ty tráchnhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty mẹ con, tập đoàn xây dựng
Theo ngành nghề hoặc sản phẩm xây dựng bao gồm:
Công ty xây dựng công nghiệp
Công ty xây dựng nhà ở
Công ty xây dựng công trình môi trường đô thị
Công ty xây dựng công trình hoá chất
Công ty tu sửa và tôn tạo công trình văn hoá
Trang 21Công ty xây dựng cầu-đường
Theo quy mô :
Doanh nghiệp được phân theo quy mô : lớn, vừa và nhỏ
Với khung tiền tệ năm 1996, Bộ Kế hoạch Đầu tư chia quy mô doanh nghiệp theo các tiêu chí vốn, lao động, doanh thu, nộp ngân sách Nhà Nước Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa ra cách xác
định quy mô doanh nghiệp theo số điểm như bảng sau đây: Sốthứ tự Tiêu thức Trị số Điểm số
Tổng công ty xây dựng là tập hợp nhiều công ty xây dựng thành viên nhằm tăng cường sức mạnh, tạo ra sự liên kết, liên
hệ hỗ trợ trong sản xuất và phát triển
Trang 22Tập đoàn xây dựng cũng là đơn vị kinh tế lớn có nhiều công ty thành viên nh−ng sản xuất kinh doanh đa nghề, thậm chí không chỉ có mặt hàng xây dựng mà còn sản xuất điện năng, luyện cán thép, kinh doanh nhà hàng, thậm chí cả du lịch, thể thao, bóng đá nữa
- Về cơ cấu tổ chức doanh nghiệp xây dựng:
Doanh nghiệp xây dựng có đ−ợc tổ chức theo các hình thức sau
Tổng Công ty