Vật tư phục vụ cho sản xuất phải được đáp ứng đúng chủng loại, có chất lượng theo các yêu cầu của sản xuất, đủ về số lượng, đúng thời gian và dĩ nhiên là giá cả trong phạm vi được phép..
Trang 1thực hiện kế hoạch Qua phần trên, ta công nhận với nhau rằng bản chất
tự nhiên là ngẫu nhiên và luôn luôn có thể gây ra rủi ro Cần xác định các khả năng sẽ tác động làm ảnh hưởng xấu đến kết quả thực hiện kế hoạch Lập các mô hình mô phỏng các việc trong bản kế hoạch khi chịu tác động của môi trường, thị trường , của thiên nhiên và con người , tìm quy luật biến thiên của nó và hàm số hoá những biến thiên này
• Xây dựng mô hình xác suất tương tự hay các dạng mô hình khác thích
hợp sử dụng cho mô hình thực của các việc trong bản kế hoạch
• Dùng cách đánh giá của phép tính xác suất để định ra độ tin cậy của các công việc đưa vào bản kế hoạch
Vấn đề xây dựng mô hình mô phỏng đang được những nhà nghiên cứu quốc tế quan tâm Nhiều tài liệu dựa theo mô hình mô phỏng của Monte-Carlo đưa ra cách dự báo của mình Nhiều tác giả khác sử dụng thuật toán
di truyền, một dạng mô phỏng sinh học để đánh giá các dự án và dự báo kết quả của việc thực hiện dự án Đây là đề tài thời sự trong nghiên cứu tối ưu hoá bản kế hoạch tiến độ ngày nay
Chương III : Tổ chức phục vụ sản xuất xây dựng
3.1 Nhiệm vụ, nội dung và kế hoạch hoá việc tổ chức cung ứng vật tư
3.1.1 Nhiệm vụ của công tác cung ứng vật tư
Công tác cung ứng vật tư là khâu hết sức quan trọng trong tổ chức sản xuất xây dựng Công tác cung ứng vật tư có nhiệm vụ đáp ứng các yêu cầu về vật tư phục vụ cho sản xuất của đơn vị
Vật tư phục vụ cho sản xuất phải được đáp ứng đúng chủng loại, có chất lượng theo các yêu cầu của sản xuất, đủ về số lượng, đúng thời gian và dĩ nhiên là giá cả trong phạm vi được phép
Nhiệm vụ của công tác cung ứng vật tư là việc thu mua, vận chuyển, cất chứa và chuyển giao cho sử dụng
3.1.2 Nội dung của công tác cung ứng vật tư
+ Tổ chức thu mua
Trang 2Tổ chức thu mua có thể là công ty nằm trong tổng công ty xây dựng hoặc chỉ là đơn vị phòng trong một công ty
Nếu đơn vị thu mua là một công ty thì công ty này hoạt động như một
đơn vị hạch toán độc lập, việc kinh doanh hoàn toàn tự chủ nhưng nhiệm
vụ chủ yếu là sản xuất, thu mua vật tư để cung ứng nguồn hàng cho các
đơn vị xây lắp thuộc tổng công ty
Đơn vị thu mua vật tư là một phòng của một công ty thì việc hạch toán do công ty đảm nhiệm Lúc này, nhiệm vụ thu mua cũng là nhiệm vụ của chung của công ty và việc phục vụ cho sản xuất của các bộ phận xây lắp
là nhiệm vụ chủ chốt của đơn vị cung ứng vật tư
+ Các yêu cầu của công tác thu mua :
- Thu mua đúng chủng loại vật tư yêu cầu : vật tư được thu mua đúng
loại hàng, đạt các tiêu chí về chất lượng như tính chất cơ lý hoá học, hình dạng, độ kỹ gia công Vật tư mua phải khớp với mẫu mã chào hàng của nhà sản xuất đã được thoả thuận giữa những người thương thảo và ký kết hợp đồng Hàng hoá phải có catalogues in ấn chính thức kèm theo Hàng hoá phải có bao bì hợp cách để tiện cho công tác vận chuyển và bảo quản
Về nguyên tắc người bán phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá bán, nhưng người mua phải kiểm tra chất lượng cẩn thận trước khi nhận hàng Hàng hoá phải được người bán tự kiểm tra chất lượng trước khi giao hàng và có chứng thực bằng văn bản đã kiểm tra chất lượng Khi có nghi ngờ về chất lượng, người mua có quyền chỉ định đơn vị có chức năng kiểm định chất lượng hợp pháp kiểm tra lại chất lượng, chi phí kiểm định này do người bán hàng phải trả
Nếu hàng hoá mà người bán là đại lý bán hàng, người bán phải có văn bản do nhà sản xuất đồng ý cho người đại lý được chính thức bán sản phẩm của họ
Không thu mua hàng trôi nổi trên thị trường mà không có xuất sứ rõ ràng
- Thu mua đủ số lượng vật tư yêu cầu : Hàng hoá giao nhận phải được
cân đo theo đúng quy định trong hợp đồng thu mua Không được áng chừng hoặc có những thoả thuận không được ghi trong văn bản hợp đồng thu mua hàng hoá
Số lượng phải phù hợp với số lượng ghi trong hợp đồng Đơn giá để thanh toán phải phù hợp với chất lượng đã quy định và khớp với các điều kiện hợp đồng Khi phát hiện thấy điều kiện chất lượng không khớp với hợp
đồng thu mua đã ký kết, cần có văn bản ghi nhận sự khác biệt và có điều chỉnh đơn giá theo thực tiễn
Trang 3- Giao hàng đúng hạn theo yêu cầu
Hàng hoá giao nhận phải đúng hạn Thời hạn giao nhận hàng đã được tính toán sao cho thời gian cất chứa tại công trường là ngắn nhất Lưu giữ vật tư lâu ở công trường, chưa đưa vào sử dụng phải chịu chi phí bảo quản tăng, tăng diện tích cất chứa và dễ bị những rủi ro về bảo quản, về lưu giữ Thời hạn định ra để nhận hàng đã tính toán phục vụ thi công sát ngày Nếu chậm trễ sẽ gây ra chờ đợi giữa các bộ phận thi công với nhau hoặc nhỡ nhàng trong việc sử dụng máy móc, phương tiện đã bố trí hợp đồng rất ăn khớp trong tiến độ chung
- Vận chuyển an toàn
Quá trình vận chuyển vật tư đến giao cho công trường phải đảm bảo thật
an toàn Vận chuyển không an toàn sẽ làm thiếu hụt vật tư đã được trù liệu sát với số lượng sử dụng Khi thiếu hụt vật tư do vận chuyển không
an toàn đem lại sẽ phải mất công đàm phán giữa các bên hữu quan về lượng bổ sung và phải có thời gian để bổ sung vật liệu Điều này dẫn đến làm chậm trễ thời gian giao nhận, ảnh hưởng đến tiến độ thi công hay sản xuất của doanh nghiệp Những hàng hoá giao không đúng hạn phải lập biên bản sử lý ngay Những hàng hoá bị hư hỏng do vận chuyển phải lập
hồ sơ và sử lý kịp thời Nếu thiếu hụt phải được bổ sung ngay Khi chất lượng thay đổi, phải có giải pháp thích hợp để sử lý, không để ảnh hưởng
đến tiến độ thi công vì vật tư thiếu hoặc không đáp ứng yêu cầu
Nếu có nghi ngờ về chất lượng, số lượng cần lập biên bản ngay tại chỗ và
có hướng giải quyết tức thời
+ Các hình thức thu mua :
*Thu mua qua đấu thầu
Trang 4
Khi lượng vật tư mua sắm nhiều, có giá trị lớn, cần tiến hành tổ chức đấu thầu cung cấp nhằm tạo ra sự cạnh tranh, mang đến lợi ích là chất lượng vật tư được cung ứng đảm bảo, số lượng đầy đủ, giá thành hạ Các phương thức thầu hay được sử dụng trong thu mua vật tư là:
- Đấu thầu trọn gói theo hình thức rộng rãi hoặc hạn chế nhà cung cấp: Việc tổ chức đấu thầu theo đúng các bước ghi trong Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế
Đấu thầu và Nghị định số 14/2000/ NĐ-CP ngày 05/5/2000 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế Đấu thầu
- Đấu thầu chào hàng cạnh tranh:
Khi số lượng cũng như giá trị thu mua chưa đủ mức đấu thầu, có thể gọi thầu chào hàng cạnh tranh
Chào hàng cạnh tranh, bên thu mua cũng phải lập hồ sơ mời thầu và nêu
rõ các yêu cầu chất lượng, số lượng, thời hạn cũng như các ràng buộc khác cho bên chào hàng Người chào hàng nào đáp ứng các tiêu chí về chất lượng, số lượng , giá phải chăng thì được mời ký kết hợp đồng cung ứng
*Thu mua theo đơn đặt hàng:
Đối với hàng hoá đặc chủng, không phổ biến trên thị trường hoặc có các yêu cầu đặc biệt về chất lượng bên thu mua có thể yêu cầu được cung ứng dưới hình thức đơn đặt hàng Nơi được yêu cầu cung ứng theo đơn đặt hàng thường phải là nơi sản xuất chuyên trách, có sở trường cũng như năng lực cung ứng loại hàng đặc chủng được yêu cầu Những mặt hàng còn đang trong giai đoạn sản xuất thí điểm hoặc còn đang trải qua giai
đoạn thí nghiệm để hoàn chỉnh được khuyến khích cung ứng theo đơn đặt hàng Cũng có thể có những mặt hàng không sản xuất đại trà vì nhu cầu cung ứng chung của xã hội không lớn nhưng nếu đơn vị sử dụng có yêu cầu, có thể đặt mua theo đơn đặt hàng Thí dụ như khi cần thi công công trình biển mà đơn vị thu mua cần sử dụng xi măng bền sunphát, có thể yêu cầu nhà máy sản xuất xi măng sản xuất đặc thù một số lượng xi măng như yêu cầu
* Thu mua lẻ
Khi khối lượng hoặc giá trị thu mua nhỏ, mặt hàng thu mua đơn chiếc có thể thu mua lẻ Khi thu mua lẻ cũng phải khảo sát thị trường để nắm được tình hình tồn tại mặt hàng cần tìm có trên địa bàn, cần giá cả hợp lý của mặt hàng để tránh sự thu mua chủ quan Cần có khâu khảo sát để tìm hiểu
Trang 5thị trường về loại hàng hoá cần thu mua Chất lượng hàng hoá , sự phù hợp của catalogue với các yêu cầu sử dụng là tiêu chí hàng đầu để quyết
định thu mua Không vì thu mua lẻ mà nhân nhượng các tiêu chí tiêu chuẩn chất lượng sử dụng Từng món hàng thu mua đúng hoặc thấp hơn giá dự toán thì tổng chi phí cho sản xuất mới không vượt dự toán Nhân nhượng về giá cả sẽ kéo theo sự vượt dự toán Tuy nhiên việc quyết định phải cân nhắc trên thế tổng thể và sự việc toàn cục Cần cân nhắc , không vì một mặt hàng mà làm toàn bộ hay nhiều công việc bị ách tắc Cân nhắc trên sự tăng giá của một số mặt hàng thu mua làm ảnh hưởng đến toàn cục ra sao Phải tính được cái giá của thời gian để xem lợi hay hại khi phải quyết định những việc ngoài dự kiến
Câu chuyện Điền Kỵ có Tôn Tẫn là quân sư thi ngựa với vua nước Tề thời Chiến Quốc bên Trung Quốc luôn nhắc nhở người quản lý phải nhìn cái lợi tổng thể khi quyết định chiến thuật sản xuất hay hành động
3.1.3 Tổ chức vận chuyển
Đặc điểm của sản phẩm xây dựng là kích thước lớn, thời gian thi công dài
và gắn liền với mặt đất nên công tác vận chuyển trong công nghiệp xây dựng là hết sức quan trọng Tổ chức vận chuyển có hiệu quả đem đến lợi ích là giảm chi phí sản xuất và đảm bảo chất lượng hàng hoá, vật tư trong xây dựng
Công tác vận chuyển bao gồm vận chuyển hàng hoá, vật tư từ bên ngoài vào công trường được gọi là vận chuyển đối ngoại và vận chuyển bên trong công trường được gọi và vận chuyển nội bộ
Cả hai loại vận chuyển đều có ý nghĩa quan trọng như nhau
Để vận chuyển vật tư từ bên ngoài vào trong công trường có các hình thức khác nhau tuỳ theo phương thức giao nhận hàng được ký kết trong hợp
đồng mua bán Nếu điều kiện mua bán ghi rõ phương thức giao hàng tại công trường thì việc vận chuyển do người bán hàng chịu trách nhiệm Nếu điều kiện mua bán ghi rằng người nhận hàng tại nơi bán thì bên thu mua phải tổ chức vận chuyển
Hình thức tổ chức vận chuyển có thể là dạng hợp đồng, có thể là dạng tự vận chuyển Nếu tổ chức vận chuyển theo dạng hợp đồng, bên thuê phải nêu đầy đủ quy cách và số lượng vật tư được chuyển, phương thức bốc dỡ hàng, phương thức chuyên chở, phương thức giao nhận, trách nhiệm bảo quản hàng hoá khi di chuyển trên đường và khi giao nhận, phương thức thanh toán cũng như trách nhiệm các mặt khác liên quan của bên thuê và bên thực hiện
Trang 6Nếu vật tư được bên mua tự vận chuyển thì bộ phận chuyên chở phải chịu trách nhiệm từ khâu giao nhận hàng với người bán đến khi đưa hàng về, giao cho thủ kho lưu giữ hoặc cho bộ phận sử dụng ở khâu sản xuất
Về hình thức có thể vận chuyển theo phương tiện chuyên trách như vận chuyển bằng ô tô, vận chuyển bằng tàu hoả, vận chuyển bằng tàu thuyền
đường thuỷ Nếu đường vận chuyển xa , trong vận chuyển cần tính toán sao cho chi phí vận chuyển là thấp nhất kể cả phương thức vận chuyển liên hợp, sử dụng các phương tiện chuyên chở thích hợp với các cung
đường
Về tổ chức vận chuyển có thể tổ chức trọn gói từ bốc xếp, di chuyển và hạ hàng, giao nhận Nếu có cung ứng viên quen thuộc đường xá và nghiệp vụ giỏi có thể tách từng khâu trong tổng thể các công đoạn vận chuyển để giao việc theo từng công đoạn như bốc xếp, di chuyển, xuống hàng Trong quá trình vận chuyển hàng, có khi phải tổ chức vận chuyển từng công đoạn khi phải chuyển tải, khi phải bốc xếp
Trong tổ chức vận chuyển phải luôn luôn đề phòng các sự cố trong quá trình vận chuyển
Khi lập phương án vận chuyển , phải nêu ra các khả năng làm ách tắc vận chuyển và đề ra phương án đối phó với những ách tắc này Những khả năng hay xảy ra trong công tác vận chuyển thường là:
+ Không đủ hàng để chuyên chở
+ Phương tiện bốc xếp không đáp ứng thời gian
+ Đường sá xấu, không bảo đảm tốc độ di chuyển Đường sá bị ngập, lụt cục bộ và các sự cố về đường sá đột ngột, không lường trước được như mưa gió, xạt lở đường bất ngờ
+ Mất mát hàng hoá giữa đường
+ Xe bị hỏng khi đang di chuyển
+ Tai nạn giao thông khi xe đang di chuyển
+ Xe bị giữ do vi phạm luật lệ giao thông trong quá trình di chuyển
Ngay khi lập phương án vận chuyển cần có các giải pháp ứng phó với từng sự cố khả dĩ xảy ra trong quá trình vận chuyển
Thí dụ như với sự cố thiếu hàng chuyên chở, giải pháp đối phó là kết hợp nhiều nguồn hàng để khi thiếu hàng, phải chuyên chở kết hợp cho đủ chuyến xe Với sự thiếu phương tiện bốc xếp, cho phép bốc xếp ngoài giờ hoặc kết hợp bốc cơ giới với thủ công, sao cho thời gian bốc xếp hàng lên
Trang 7Cần lập bản đồ di chuyển để theo dõi lộ trình di chuyển cho từng xe, từng
đoàn xe Phải bố trí phương tiện liên lạc như điện thoại di động và các quy ước liên lạc để nắm chặt chẽ quá trình di chuyển của từng xe
3.1.4 Tổ chức cất chứa
Tuỳ theo loại hàng hoá, tuỳ theo phương thức tổ chức vận chuyển , có các phương thức cất chứa là:
+ Cất chứa trung gian:
Quá trình vận chuyển hàng hoá có số lượng nhiều, phải qua nhiều chủng loại phương tiện chuyên chở, có thể phải tổ chức cất chứa trung gian Cất chứa trung gian thường kho chứa nằm ngoài công trường, thường là kho tại đầu mối bốc rỡ hàng Kho trung gian nên lựa chọn là kho của cơ sở chuyên cất chứa như kho trong cảng, kho trong nhà ga Thí dụ nhận hàng
từ tầu thuỷ với số lượng lớn, trong khi nhận hàng từ tầu dỡ lên mà chưa tổ chức di chuyển khỏi kho của cảng, cần cất chứa trung gian tại kho cảng
+ Cất chứa tại công trường:
Cần tổ chức kho, bãi, tại công trường để tiếp nhận hàng hoá chưa sử dụng ngay hoặc hàng hoá có số lượng lớn, chứa tạm trên công trường để sử dụng dần Các loại kho này sẽ đề cập ở phần dưới
3.1.5 Tổ chức giao ra sản xuất
+ Giao nhận tại kho:
Nếu hàng hoá được cất chứa tại kho công trường, khi có yêu cầu sử dụng, người sử dụng lập yêu cầu bằng văn bản ( dạng phiếu đề nghị ), qua các cấp duyệt y và làm các thủ tục là phiếu xuất và được thủ kho giao hàng Thủ tục đề nghị xuất hàng và xét duyệt là cần thiết để vật tư, hàng hoá mua sắm cho việc gì được sử dụng đúng vào việc đó Việc lập phiếu xuất kho là thủ tục kế toán để quản lý hàng hoá nhập và thông qua kho Hàng hoá, vật tư là vật phẩm có giá trị cao để tạo ra sản phẩm xây dựng Nếu sử dụng tuỳ tiện, không đúng định mức được phép, không phù hợp với yêu cầu sử dụng sẽ gây ra lãng phí, tạo nên sự đội giá sản phẩm xây dựng Vật tư là dạng tiền nằm dưới dạng vật chất Quản lý không chặt chẽ khâu vật tư là tạo ra kẽ hở cho tham ô, lãng phí
Việc giao nhận phải đảm bảo đúng chủng loại vật tư ghi trong phiếu đề nghị và phiếu xuất kho Cần có phương tiện cân đong, đo đếm cho đúng
số lượng vật tư được giao Phấn đấu để không bị hao hụt quá mức và giảm
tỷ lệ hao hụt là phương hướng nhằm hạ giá thành sản xuất xây dựng
Trang 8Đối với những loại vật tư nhập theo bao bì như xi măng, ventonite, bitum, hộp sơn có thể giao nhận theo số lượng ghi trên bì Tuy nhiên cũng cân theo xác suất một số bao để thấy số lượng bên đóng bao cung cấp Việc giao theo số lượng ghi trên bao bì chỉ thực hiện khi bao bì còn nguyên vẹn Nếu bao bì đã bị mở, bung , rách, hỏng, phải kiểm tra bằng cân thực
tế
+ Nhận tại nơi sử dụng:
Khâu bảo quản vật tư, hàng hoá trong kho cần thiết phải chi phí một khoản tiền, khoản này sẽ được phân bổ vào giá thành xây dựng Giảm
được chi phí cất chứa vật liệu , hàng hoá trong kho góp phần vào việc hạ giá thành sản phẩm Một trong biện pháp hạ chi phí bảo quản kho có thể
tổ chức theo hình thức là bên cung ứng vật tư giao hàng hoá tại hiện trường sử dụng
Hình thức này được thực hiện theo cách là bên cung ứng nhận hàng trực tiếp từ nơi bán hàng và giao ngay tới nơi cần sử dụng Thực hiện phương thức này hàng hoá không qua kho mà giao thẳng từ khâu thu mua về nơi
sử dụng Điều này đòi hỏi khâu thủ tục xuất nhập vật tư cần ghi chép đầy
đủ, làm đầy đủ các chứng từ Trước khi sử dụng cần lập phiếu yêu cầu và cấp có thẩm quyền phê duyệt cho phép sử dụng Sau đó phải qua kế toán vật tư làm thủ tục xuất hàng Khâu thu mua cũng phải làm phiếu nhập hàng để hợp pháp hoá khâu xuất hàng cho sử dụng
3.2 Kế hoạch cung ứng vật tư
3.2.1 Cơ sở để thiết lập kế hoạch cung ứng vật tư :
Kế hoạch cung ứng vật tư được lập theo nhu cầu của sản xuất của doanh nghiệp:
Nhu cầu vật tư phải căn cứ vào kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp Kế hoạch này được lập theo tiến độ triển khai các dự án sản xuất, được xác
định cụ thể cho năm , quý và tháng kế hoạch
Kế hoạch triển khai thi công cho từng dự án được lập theo chương trình Microsolf Project Phần mềm Microsolf Project đã được đưa chính thức vào hệ chương trình Window từ Window 98 trở lại đây Hiện nay đã có chương trình phần mềm Microsolf Project 2002 sử dụng để lập và theo dõi tiến độ sản xuất của các doanh nghiệp
Để xác định được biểu đồ nhu cầu vật tư theo thời gian thi công, khi nhập các công việc trong tiến độ, cần tính toán lượng vật tư cần sử dụng cho từng công việc Sau khi đã nhập các loại vật tư với tên danh mục vật tư, số
Trang 9lượng vật tư vào từng việc trong bảng tiến độ, phần mềm Microsolf Project sẽ lập cho ta bảng nhu cầu vật tư theo tiến độ sản xuất
Căn cứ vào bảng nhu cầu từng loại vật tư, ta định kế hoạch cung ứng
Xác định thời gian cung ứng theo yêu cầu sử dụng :
Tuỳ theo khả năng hàng hoá, vật tư của thị trường, tuỳ theo thời tiết, khả năng chuyên chở, điều kiện cất chứa của kho, bãi mà định kế hoạch cung ứng vật tư
Vật tư có thể đưa về công trường trước ngày sử dụng một số ít ngày, cũng
có thể cất chứa trong kho công trường lâu hơn nếu khả năng cung ứng của thị trường không ổn định Nguyên tắc bao quát là không để sản xuất thiếu vật tư nhưng cũng không để chi phí lưu kho, lưu bãi lớn, hoặc vật tư bị giảm chất lượng do cất chứa lâu ngày hoặc bị ảnh hưởng do điều kiện bảo quản kém
Khi khả năng cung ứng vật tư của thị trường không ổn định thì thời gian phải mua hàng đưa về công trường sớm Khi vật tư ở thị trường sẵn thì thời gian cất chứa vật tư ở công trường ít hơn Thời tiết tốt, khả năng ảnh hưởng đến sự chuyên chở ít thì không cần quá vội vàng mua và chứa vật tư Nếu thời tiết luôn đe doạ đến sự an toàn vận chuyển thì phải chủ động mua sắm vật tư để ít chịu ảnh hưởng của thời tiết khi thu mua và vận chuyển vật liệu
Tuỳ thuộc phương tiện chuyên chở vật tư mà quyết định thời gian bắt đầu thu mua vật tư hoặc chuyên chở vật tư về công trường Nếu phương tiện ít thì phải mua hàng sớm, với phương tiện vận chuyển bị hạn chế, túc tắc chuyên chở dần Nếu lực lượng chuyên chở mạnh, khi cần bao nhiêu xe
có chừng ấy, thì không nên thu mua hàng sớm để tốn chi phí lưu giữ, cất chứa
Nếu khả năng cất chứa tại công trường không dồi dào thì giảm lượng cất chứa, coi như kho của người bán là kho của công trường Cần thương lượng mua bán sớm để chủ động nguồn hàng và thời gian cần hàng
Khi điều kiện kho bãi ở công trường, nếu cất chứa hàng với lượng nhiều
sẽ làm cho hàng hoá bị giảm chất lượng thì cân nhắc và liệu định sao cho
số lượng cất chứa tại công trường, trên nguyên tắc, sự cất chứa không
được làm giảm chất lượng hàng hoá
Thời gian bắt đầu nhập hàng phải là thời gian được cân nhắc kỹ càng , đạt
được sự tối ưu Sự kịp thời và đáp ứng yêu cầu của sản xuất là mục tiêu để lựa chọn phương án tập kết vật tư Không để thiếu và chậm trễ khâu cung ứng vật tư nhưng cũng không để phải cất chứa quá nhiều và lưu giữ vật tư lâu làm tăng chi phí bảo quản vật tư là điều cần tránh
Trang 103.2.2 Định mức vật tư sử dụng :
Việc sử dụng vật tư phải theo định mức Số liệu định mức của Viện Kinh
tế Bộ Xây dựng đưa ra nhằm định hướng sử dụng vật tư Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất, kỹ sư thi công căn cứ điều kiện cụ thể của chất lượng vật tư thành phần và do yêu cầu cụ thể của chất lượng sản phẩm để thiết kế thành phần vật tư trong sản phẩm xây dựng
Định mức đưa vật tư vào sản xuất phải do kỹ sư kỹ thuật điều hành sản xuất cụ thể quyết định Người kỹ sư này cần căn cứ các yêu cầu chất lượng ghi trong bộ hồ sơ mời thầu để thiết kế vật tư sử dụng Các tiêu chí chất lượng sản phẩm không được vượt quá các yêu cầu chất lượng của
bộ hồ sơ mời thầu nhưng cũng không được sử dụng thấp hơn các yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu Định mức vật tư do Viện Kinh tế Bộ Xây dựng
đưa ra là tài liệu quan trọng khi đưa vật tư vào sản xuất Định mức này giúp cho kỹ sư quyết định vật tư sử dụng vì định mức Bộ Xây dựng đưa ra thường được dùng làm dữ liệu tham khảo chính khi quyết định giá thành sản phẩm Định mức hao hụt là sự khống chế lượng vật tư được phép hao hụt trong quá trình vận chuyển, cất chứa vật tư trong kho và khi sử dụng tại hiện trường Phấn đấu hạ mức hao hụt vật tư là phương hướng cho tất cả các khâu tham gia trong quản lý vật tư Hạ thấp mức hao hụt vật tư thực tế là biện pháp hạ giá thành sản phẩm một cách chính đáng và có trí tuệ
Những biện pháp giảm hao hụt chủ yếu:
* Làm bãi đổ cát, đá, sỏi có lớp láng mặt và nền đủ cứng chịu được lực nén của bánh ô tô
* Khi nhập hàng cát, đá, sỏi phải đánh đống và đo chính xác Cách đo đại khái dẫn đến nhận không đủ hàng
Trang 11Hàng năm, nếu chúng ta phải nhập hàng vạn khối cát , đá, sỏi thì khối lượng hàng không có thực phải trả khá lớn, số thực có thể đến hàng ngàn mét khối
*Khi cần pha cắt thép thanh trong việc cắt các thanh thép theo thiết kế để
đưa vào kết cấu bê tông cốt thép hay pha tấm tôn để cắt theo các hình yêu cầu, cần tính toán sao cho lượng thép phế, thép đầu mẩu là ít nhất
Đã có bài toán quy hoạch tuyến tính để tìm lời đáp cho phương án triển khai cắt sao cho lượng phế liệu là ít nhất
Thí dụ: Phải cắt thanh thép có đường kính nào đó thành 40 đoạn 2,5 m và
60 đoạn dài 1,6 m Thép trong kho chỉ có loại độ dài thống nhất 6 mét
Nếu làm bình thường, ta lấy các thanh 6 m ấy cắt cho đủ 40 đoạn 2,5 m
Cắt kiểu này , sử dụng vật liệu đạt 82%
Nếu chọn phương án một thanh cắt lấy 2 đoạn 2,5 m ( kiểu 1 ) và thanh khác cắt lấy 1 đoạn 2,5 m và 2 đoạn 1,6 m ( kiểu 3 ) thì mẩu thừa chỉ có 0,3 m
Khi này, cách cắt được lựa chọn là lấy 5 thanh cắt theo kiểu 1 và 30 thanh theo kiểu 3 thì vẫn đáp ứng yêu cầu và sử dụng được 93% vật liệu
Hình vẽ minh hoạ như sau:
Muốn số thanh lấy ra dùng là ít nhất hay là tiết kiệm nhất số thanh thép
được lấy ra nên phải chọn số x,y,z là ít nhất sao cho x + y + z nhỏ nhất có thể được
Trang 12
Cộng từng vế của (1) và (2) ta có :
2x + 3y + 3z = 100
3( x + y + z) = 100 + x Muốn x + y + z nhỏ nhất thì x cũng phải nhỏ nhất
y ≥ 0 nên theo (2) ta có :
3y = 60 – 2z ≥ 0 nên :
z ≤ 30 theo (1) thì z = 40 – 2x nên :
x ≥ 5 Như thế x + y + z nhỏ nhất khi x ≥ 5
Từ đó suy ra : z = 30 , y = 0
Kết luận : Cắt 5 thanh kiểu 1 và 30 thanh kiểu 3
Phương pháp để tính là lập các phương án khả dĩ để cắt Sau đó thiết lập các phương trình tuyến tính và giải bài toán tuyến tính theo kiểu hệ
phương trình phải đáp ứng hàm mục tiêu là sử dụng vật liệu ít nhất hoặc
sử dụng sao cho vật liệu phế là ít nhất Bài toán này khá phổ biến trong quy hoạch toán học
3.2.3 Bảng nhu cầu vật tư
Bảng nhu cầu vật tư được thiết lập như lập bảng nhu cầu nhân lực bên dưới bản tiến độ sản xuất Điều khác là bản tiến độ nhân lực bên dưới bản tiến độ cho thấy sử dụng nhân lực theo đúng thời gian thao tác trên hiện trường Còn bảng nhu cầu vật tư cho ta thấy lúc nào thì sử dụng vật tư gì
Từ bản nhu cầu sử dụng vật tư, ta định cung ứng trước một thời gian bao nhiêu ngày Thời gian cất chứa vật tư phụ thuộc vào khả năng cung ứng của thị trường, phụ thuộc điều kiện chuyên chở và phụ thuộc thời tiết Nếu khả năng cung ứng của thị trường dồi dào, lúc nào cũng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của công trường, việc dự trữ nên lựa chọn là tối thiểu
Nếu chuyên chở không gây khó khăn cho việc cung ứng vật tư thì nên hạn chế dự trữ vật tư trong kho Tuỳ thuộc mùa thi công để đề phòng khó khăn chuyên chở do mưa bão gây ra Nếu mùa có khí hậu khác thường, cần dự trữ vật tư để nếu thời tiết khó khăn thì vẫn đủ vật tư sử dụng
3.2.4 Vấn đề dự trữ vật tư :
Trang 13ảnh hưởng của dự trữ vật tư đến sản xuất xây dựng ở nước ta vấn đề dự trữ vật tư thường theo kinh nghiệm của người tổ chức sản xuất, tuy là một yêu cầu khách quan nhưng có ý nghĩa về mặt lý thuyết và đặc biệt trong ứng dụng vào thực tiễn sản xuất xây dựng
Thiết lập bài toán tối ưu hoá dự trữ vật tư trong sản xuất xây dựng để tối
ưu hoá sản xuất xây dựng là phù hợp với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam.Từ những nghiên cứu, trên cơ sở tối ưu hoá dự trữ vật tư sẽ lựa chọn
được giải pháp kinh tế tối ưu cho sản xuất và lựa chọn quy mô mặt bằng kho bãi chứa vật liệu hợp lý phục vụ việc thiết kế tổng mặt bằng xây dựng, phù hợp với nền kinh tế thị trường của nước ta
+ Chiến lược quản lý dự trữ
Có hai hệ thống quản lý dự trữ chính là :
(1) Hệ thống có số lượng cố định và chu kỳ thay đổi :
Hệ thống này đặt ra số hàng xác định mỗi khi mức dự trữ vật tư giảm tới mức nào đó Mức hàng hoá không thể giảm hơn nữa gọi là mức báo động vì giảm tới mức ấy có nguy cơ ảnh hưởng đến sản xuất Chỉ được giảm tới mức đó thì phải bổ sung, nếu không thì sản xuất sẽ ngưng trệ vì thiếu vật tư
(2) Hệ thống có chu kỳ cố định và số lượng thay đổi :
Hệ thống này kiểm tra mức tồn kho theo những khoảng thời gian đều đặn
và nhu cầu phải cung cấp tiếp tục bằng lượng sản phẩm dự trữ đã sử dụng cộng thêm lượng vật tư dự trữ bảo hiểm
+ Dự trữ vật tư trong sản xuất xây dựng
Trong sản xuất xây dựng phải sử dụng nhiều loại vật tư Cần nghiên cứu thị trường cũng như thấy được chủng loại vật tư quan trọng với các mức khác nhau cho sản xuất xây dựng Phải có con mắt nhìn vật tư sử dụng như thế đồng bộ nhưng cũng phân biệt ra mức cấp thiết khác nhau Để
đơn giản, có thể phân loại vật tư thành các nhóm phụ thuộc nơi cung cấp,
đặc điểm và giá trị của vật tư Đây là phương pháp phân loại của Pareto Tuỳ vật tư ở nhóm nào mà có chính sách đối đãi về dự trữ với nhóm ấy Pareto chia vật tư thành 3 nhóm để có chính sách dự trữ khác nhau:
Nhóm A : thường chiếm 15~25% loại vật tư chiếm 75~85% tổng giá trị tiêu thụ
Trang 14Nhóm B : thường chiếm 25~35% loại vật tư chiếm 10~20% tổng giá trị tiêu thụ
Nhóm C : thường chiếm 50~60% loại vật tư chiếm 5~10% tổng giá trị tiêu thụ
+ Yêu cầu của dự trữ vật tư
Dự trữ vật tư phải đáp ứng 5 yêu cầu sau đây :
1 Đáp ứng yêu cầu của sản xuất theo tiến độ thi công
2 Phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, quy luật thị trường và đặc
điểm của sản xuất xây dựng
3 Phải thoả mãn các ràng buộc về diện tích mặt bằng, khả năng vốn trong từng giai đoạn, thời hạn dự trữ sao cho vật tư không giảm chất lượng do cất chứa
4 Phải phát huy hiệu quả kinh tế của phương án tổ chức sản xuất
5 Có tác động tích cực đến các nội dung khác của sẩn xuất xây dựng cụ thể trên công trường
3.2.5 Các phương pháp tính toán dự trữ vật tư
1 Phương pháp tính toán dự trữ vật tư theo biểu đồ
Như trên đã trình bày, căn cứ vào tiến độ thi công mà tính toán khối lượng phải thực hiện, tính toán khối lượng công tác, từ khối lượng công tác tính toán lượng vật tư cần sử dụng cho từng công tác Dựa vào tiến độ thi công mà lập ra bản khối lượng yêu cầu
Lập được hai loại biểu đồ cung ứng vật tư là:
* Biểu đồ cung ứng và tiêu thụ vật tư hàng ngày, cách làm như sau:
Lập trục toạ độ phù hợp với bản tiến độ đã vạch ra Trên trục hoành vẽ
đường biểu thị vật liệu tiêu thụ hàng ngày Tịnh tiến sớm lên một số ngày như đã cân nhắc, sẽ có biểu độ vật liệu cần cung ứng theo ngày Số ngày
được chọn sớm lên chính là thời gian dự trữ quy định
* Biểu đồ cung ứng và tiêu thụ vật liệu cộng dồn ( luỹ tiến ) được vẽ như sau:
Lập biểu đồ nhu cầu vật tư hàng ngày
Vẽ đường nhu cầu luỹ tiến bằng cách cộng dồn các nhu cầu hàng ngày
Ta sẽ biểu diễn được đường chỉ tăng từ trái sang phải
Chọn lượng cung cấp và định ra thời gian cung ứng, lượng dự trữ ban đầu,
vẽ được đường cung cấp luỹ tiến
Trang 15Độ chênh giữa hai đường nhu cầu và cung cấp tại một điểm, nếu tính theo tung độ là lượng hàng trong kho và theo hoành độ là thời gian dự trữ
2 Phương pháp tính toán dự trữ vật tư theo mô hình Wilson
- Mô hình dự trữ tất định:
Giả thử một loại vật tư trong thời kỳ T ( T=1) là Q đơn vị Mức tiêu thụ là
đều đặn và thời gian để bổ sung hàng vào kho là không đáng kể Chi phí cho mỗi lần đặt hàng là A, giá đơn vị hàng là C, hệ số chi phí dự trữ là I, thời gian đặt hàng là To Xác định số lần đặt hàng và lượng hàng đặt sao cho tổng chi phí phải trả là bé nhất trong điều kiện sử dụng và dự trữ là thường xuyên
Mô hình này lưu ý tới 4 trường hợp sau đây:
* Mô hình dự trữ một giai đoạn : Nhu cầu là một biến ngẫu nhiên
Trang 16* Mô hình dự trữ có bảo hiểm : Dự trữ có bảo hiểm xét đến điều kiện thực
tế thời gian đặt hàng có thể là một biến ngẫu nhiên tuân theo một quy luật xác suất nào đó
* Mô hình dự trữ bán thành phẩm : Dự trữ bán thành phẩm nghiên cứu mô hình phối hợp các giai đoạn thi công , phân chia thành nhiều công
đoạn kế tiếp nhau Sự phân chia làm sao cho sự gián đoạn của khâu trước không hay ít ảnh hưởng nhất đến các khâu sau
* Dự trữ với hàng hoá có khả năng tự huỷ :
Bài toán này khá khó khăn và đòi hỏi khi giải cần cân nhắc rất cẩn thận Không dự trữ thì sản xuất gặp khó khăn Dự trữ nhiều mà sử dụng chậm hơn tốc độ hư hỏng thì lãng phí Tính toán làm sao để không xảy ra hư hỏng vật tư hoặc nếu có là ít nhất và sản xuất không bị chờ đợi vì khâu cung cấp trễ
3 Mô hình dự trữ nhiều loại vật tư có ràng buộc
Cần dự trữ m loại hàng ( vật tư ) với nhu cầu thường xuyên là Qi đơn vị (
i = 1,2,3 m )
Chi phí cho mỗi lần đặt hàng loại i là Ai , giá mỗi đơn vị hàng loại i là Ci Ii là hệ số chi phí dự trữ loại hàng i , hệ số dung tich kho của đơn vị hàng loại i là fi Các giả thiết về tiêu thụ ( sử dụng) và cung cấp như mô hình của Wilson
Xác định phương án dự trữ và tiêu thụ tốt nhất trong các trường hợp:
- Cơ sở dự trữ có dung tích kho fo cho m loại hàng
- Khả năng vốn cho mỗi chu kỳ dự trữ, tiêu thụ hạn chế là Co
3.2.6 Bài toán tối ưu hoá dự trữ vật tư xây dựng
1 Phát biểu bài toán
- Điều kiện bài toán: Nhu cầu vật tư đã xác định theo tiến độ thi công Giá vật tư thay đổi Chi phí giao dịch mua và chi phí dự trữ từng giai
Trang 17Tiến độ thi công đã tối ưu hoá, thời hạn thực hiện tiến độ và nhu cầu vật tư theo thời gian đã được xác định Công tác cung ứng (đặt hàng, mua, vận chuyển) được biểu thị bằng giá vật tư đến chân công trình Các yếu
tố ngẫu nhiên có ảnh hưởng lớn đến quá trình xây dựng (đình chỉ thi công, phá huỷ hệ thống hạ tầng ) sẽ được giải quyết Các yếu tố ngẫu nghiên có ảnh hưởng không đáng kể đến quá trình xây dựng (sự cố nhỏ,
ách tắc giao thông tạm thời ) không xem xét trong bài toán Coi giá đô
la Mỹ (USD) là cơ sở để xem xét biến động giá vật tư Coi khoảng thời gian một kỳ trong tính toán là đủ nhỏ để chỉ dùng cho một lần cung cấp vật tư
3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dự trữ vật tư trong sản xuất xây dựng
Các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến bài toán tối ưu hoá dự trữ vật tư : Giá cả vật tư của thị trường , vốn lưu động để thu mua vật tư, diện tích mặt bằng dành cho dự trữ, cất chứa vật tư, thời hạn bảo quản tối đa của một
số chủng loại vật tư , lựa chọn thời kỳ tính toán dự trữ vật tư , các yếu tố
về lãi suất vốn vay và khấu hao kho bãi
3.2.7 Mô hình toán học về tối ưu hoá dự trữ vật tư trong xây dựng
Gọi i = {1,2, m} - tập chỉ số loại vật tư ;
j = {1,2, n} - tập chỉ số thời kỳ ;
q(i,j) - cầu vật tư i của thời kỳ j ;
p(i,j) - giá vật tư i mua ở thời kỳ j ;
A(i) - chi phí một lần đặt vật tư i (cố định) ;
d(i,j) - chi phí dự trữ một đơn vị vật tư i trong thời kỳ j ;
w (i) - hệ số dung tích kho (bãi) vật tư i ;
V(j) - vốn đầu thời kỳ j ;
h(i) - thời hạn bảo quản tối đa vật tư i ;
K - dung tích kho tối đa
Tham số của mô hình: Các chỉ số đã xác định i,j, q(i,j), p(i,j), A(i), d(i,j), w(i), V(j), h(i), K
Biến số của mô hình: Các giá trị (xti) có thể nhận là: 0; lượng vật tư bằng nhu cầu sử dụng của chính kỳ đó; lượng vật tư của kỳ đó và một số kỳ tiếp theo
Mô hình 1 (Mô hình tổng quát)
Định nghĩa hàm chi phí khi đặt hàng một lần tại thời điểm t cho nhu cầu
từ t đến j (gọi là phương thức dự trữ phân đoạn) đối với mỗi loại vật tư i
Trang 18Li(t,j) = Ai + ∑
=
j t u
pitqiu + 0,5 ∑
=
j t u
diuqiu + ∑
+
=
j t
div (3.1) Các hàm ràng buộc của bài toán: j-t ≤ h(i) (3.2)
wiqiu ≤ K (3.4) Cực tiểu hàm F(n) = ∑ Li (t,j) (3.5)
1.Trường hợp có các ràng buộc (3.3) và (3.4) riêng biệt
Hàm mục tiêu: Min Fi(n)
F(0) = 0; Fi(j) = Min {Fi(t-1)+Li(t,j)} (3.6)
1≤ t ≤j Trong đó: Li(t,j) = Ai + ∑
=
j t u
pitqiu + 0,5 ∑
=
j t u
diuqiu + ∑
+
=
j t
div Với các hàm ràng buộc: j - t ≤ h(i) (3.7) ∑
pitqiu+ 0,5∑
=
j t u
diuqiu + ∑
+
=
j t
div +α ∑
=
j t u
pitqiu Nếu (3.7) - (3.9) không thoả mãn
Li(t,j) = +∞
Fi(j) = Min {Fi(t-1)+Li(t,j)} 1≤ t ≤j
- Quá trình tìm chiến lược mua và dự trữ (với α=0)
+ Nếu Fi(n) = F(0) + L(1,n) thì mua toàn bộ khối lượng hàng i ngay từ
Trang 19+ Nếu Fi(n) = F(t1-1) + L(t1,n) thì đầu giai đoạn t1 mua hàng cho các giai
=
1 1
2
t t
t
qit ; x(t) = 0 với t2 < t <t1
Tiếp tục như vậy cho đến khi tk = 1, nhận được chiến lược đặt hàng tối ưu Thuật toán này cho phép khôi phục chiến lược tối ưu nếu bỏ đi một số giai đoạn cuối Ngoài ra, nếu ở đầu giai đoạn t bất kỳ tình hình thay đổi thì F(t-1) cho thấy những giai đoạn đã qua vẫn chọn được chiến lược tối
ưu Tiếp tục giải bài toán với các số liệu điều chỉnh sẽ nhận được chiến lược tối ưu cho các giai đoạn sau Về lý thuyết, không thể chứng tỏ hai chiến lược tối ưu kế tiếp như vậy tạo thành chiến lược tối ưu toàn bộ, nhưng thực tế khi có những thay đổi trong dữ liệu thì không thể làm lại những gì đã diễn ra Vì vậy, cách làm này thực tế lại tìm được chiến lược toàn bộ tốt nhất cấu thành từ hai chiến lược tối ưu kế tiếp
2 Trường hợp có các ràng buộc (3.3) và (3.4) tổng quát
Thuật giải
- Bước a: Giải m bài toán cho m loại hàng ở mô hình 2 bỏ qua các ràng
buộc (3.3) và (3.4) Kiểm tra kết quả nếu (3.3) và (3.4) thoả mãn, nhận
được lời giải của bài toán Nếu ràng buộc (3.3) không thỏa mãn, chuyển sang bước b
p1tq1u+ 0,5 ∑
=
j t u
d1uq1u + ∑
ư
=
j t
d1v+ α ∑
=
j t u
p1tq1u (3.10)
j - t ≤ hi
+ Với i>1 : Li(t,j) = Ai + ∑
=
j t u
pitqiu + 0,5 ∑
=
j t u
diuqiu + ∑
+
=
j t
pitqiu + 0,5 ∑
=
j t u
diuqiu + ∑
+
=
j t
div + α ∑
=
j t u
pitqiu
j - t ≤ hi
Trang 20+ Với i ≥ k : Li(t,j) = Ai + ∑
=
j t u
pitqiu + 0,5 ∑
=
j t u
diuqiu + ∑
+
=
j t
div
j - t ≤ hi
(Trong các trường hợp nếu j - t > hi thì Li(t,j) = +∞)
Sau đó hoán vị thứ tự các mặt hàng và thực hiện lại quá trình trên
Kết quả của bước b có thể là:
- Nhận được một số phương án thoả mãn (3.3), chuyển sang bước c
- Nếu không có phương án nào thoả mãn (3.3), tăng α và làm lại bước b Tiếp tục như vậy cho đến khi hoặc là mọi mặt hàng đều mua cho từng kỳ
và tiêu thụ trong kỳ mà vẫn không thoả mãn (3.3), có thể kết luận bài toán trên không có lời giải hoặc nhận được phương án cực tiểu chi phí thoả mãn (3.3)
Bước c: Nếu bước b nhận được các phương án thoả mãn (3.3) trong đó có
phương án thoả mãn (3.4) thì phương án thoả mãn (3.4) có chi phí nhỏ nhất là phương án tối ưu Ngược lại, giải bài toán ở mô hình 2 với việc bổ sung số hạng: ∑
+
=
j t
β wiqiu với β>0 đủ nhỏ vào các hàm Li(t,j) như thủ tục
ở bước b Quá trình này chỉ chọn trên những phương án thoả mãn (3.3) ở bước b
Kết quả ở bước c có thể là:
- Nhận được một số phương án thoả mãn (3.4) với một số β tối thiểu, lúc
đó chọn phương án có chi phí nhỏ nhất
- Không tồn tại phương án thoả mãn (3.4), bài toán không có lời giải
3 Trường hợp bài toán không có lời giải
Trường hợp bài toán không có lời giải ngay ở bước b, có thể chỉ ra lượng vốn thiếu ở một vài thời kỳ nhờ phương án gần thoả mãn (3.3) hơn cả Trường hợp bài toán không có lời giải ở bước c, cũng có thể chỉ ra quy mô kho (bãi) tối thiểu thoả mãn quá trình dự trữ
Tuy nhiên, dễ dàng thấy rằng điều kiện có lời giải có thể kiểm tra trước, các điều kiện này thể hiện bởi hai biểu thức sau:
10
Trang 21Có thể xây dựng phần mềm giải bài toán tối ưu hoá dự trữ vật tư :
Phần mềm có tên là DTVT-02 được xây dựng để giải bài toán tối ưu hoá
dự trữ vật tư trong xây dựng Quá trình xây dựng phần mềm gồm 8 bước: (1) Xác định mục tiêu của chương trình; (2) Phân tích các điều kiện ràng buộc của bài toán; (3) Phân tích thiết kế hệ thống; (4) Xác định các module; (5) Xây dựng thuật toán; (6) Thực hiện trên ngôn ngữ Visual Basic 6.0; (7) Viết chương trình, thiết kế giao diện của bài toán; (8) Chạy thử, kiểm tra
Giải bài toán tối ưu hoá dự trữ vật tư với mô hình 1
Gồm 3 phần: Các dữ liệu đầu vào của bài toán; xử lý các dữ liệu đầu vào
và hiển thị kết quả Mục này trình bày các thủ tục thực hiện chương trình Giải bài toán tối ưu hoá dự trữ vật tư với mô hình 2
Trên cơ sở kết quả bài toán với mô hình 1, mục này trình bày thêm các thủ tục kiểm tra tổng vốn, quy mô kho bãi cho mỗi thời kỳ
Hướng dẫn sử dụng phần mềm DTVT-02
Khởi động chương trình; Giải bài toán theo mô hình 1; Giải bài toán theo mô hình 2; Kết thúc chương trình
3.2.8 Dự báo khả năng cung ứng của thị trường
Khả năng cung ứng của thị trường phụ thuộc nhiều yếu tố và có thể đánh giá bằng tiêu chí thời gian đáp ứng hoặc giá cả các loại vật tư Dự báo giá vật tư cũng có ý nghĩa bao hàm chỉ tiêu thời gian cung ứng và ngược lại
1 Lựa chọn phương pháp dự báo
Mục này trình bày một số phương pháp dự báo: dự báo theo hàm số tương quan; phuơng pháp san bằng hàm số mũ; dự báo ngẫu nhiên Lựa chọn mô hình dự báo giá vật tư của thị trường gồm: phân tích số liệu thống kê; lựa chọn mô hình; lựa chọn phần mềm dự báo; kiểm định kết quả dự báo
2 Dự báo khả năng cung ứng vật tư xây dựng của thị trường
Trên cơ sở phân tích các số liệu giá vật tư quan sát Mô hình dự báo được lựa chọn là véc tơ hồi quy (Var Model) Mô hình Var cho phép dự báo giá các loại vật tư trong mối quan hệ tác động qua lại đồng thời Phần mềm
được lựa chọn là Econometrics views (Eviews), là phần mềm chuyên dụng cho việc ước lượng, kiểm định các mô hình kinh tế, đặc biệt là mô hình với các chuỗi thời gian Kết quả dự báo phù hợp quy luật biến động của giá vật tư trong quá khứ với sai số chấp nhận được Phần mềm dễ khai
Trang 22thác, thuận lợi cho dự báo Kết quả dự báo giá vật t− là cơ sở quan trọng cho bài toán tối −u hoá dự trữ vật t−
3.2.9 Sử dụng kết quả bài toán tối −u hoá dự trữ vật t− trong thiết kế tổng mặt bằng xây dựng
1 Khảo sát bài toán giả định
Trang 23Cần đáp ứng 5 loại vật tư (cát xây; xi măng; thép; gạch xây; ván khuôn gỗ) theo tiến độ với các ràng buộc về vốn, diện tích kho bãi và thời gian lưu trữ Sử dụng phần mềm DTVT-02 để khảo sát bài toán, tổng hợp kết
quả
tính toán theo 2 mô hình như sau:
Kết quả theo mô hình 1 Kết quả theo mô hình 2
Thời gian Tổng vốn
(103 đ)
Chiếm kho (m2)
788 767 786
742 597 507 429 323 138
570
687 1182
461 439
430
618 498 422 358 270 116 0
Trang 24(Mô hình 2 với ràng buộc l−ợng vốn tối đa có thể huy động ở mỗi kỳ ≤
1.500.000 10 3 đ)
2 Phân tích kết quả bài toán:
* Nhu cầu kho bãi từng kỳ
Hình 3-7: Nhu cầu kho, bãi từng kỳ
Nhu cầu kho bãi
684
825 674
788 767 786
742 597 507 429 323 138
570
687 1182
461 439
430
618 498 422 358 270 116 0
Trang 25
H×nh 3-8: C«ng suÊt kho, b·i cÇn thiÕt
* C«ng suÊt kho, b·i cÇn thiÕt
T.kú 5 285.000 276,67 T.kú 5 747.750 439,37 T.kú 6 1.254.990 410,67 T.kú 6 1.156.500 430,67 T.kú 7 1.315.500 353,2 T.kú 7 1.417.165 618,2 T.kú 8 1.005.500 232,5 T.kú 8 1.092.350 498,65 T.kú 9 588.850 405,51 T.kú 9 623.850 422,18 T.kú
* Nhu cÇu kho b·i tõng kú
Nhu cÇu kho b·i
138
570
687 1182
461 439
430
618 498 422 358 270
116 0
Trang 26Nhu cầu kho bãi đ−ợc tính toán dựa vào l−ợng vật t− đã xác định ở phần trên, giá vật t−, định mức chứa vật t− trên 1 m2 diện tích kho hoặc bãi,
công thức tính diện tích kho, bãi với điều kiện Q = 1,2
387 155
785 939
1500
422 747 1156 1417 1092
623 624
387 155
a / T h e o t í n h t o á n
9 8 7 5 6 4 0 0 0 0 đ ( 1 0 0 % )
Trang 27Hình 3-10: Tổng chi phí mua vật tư
- Kết quả mô hình 1 cho phép xác định kế hoạch mua, dự trữ vật tư đáp ứng yêu cầu sử dụng và thời hạn lưu trữ với chi phí nhỏ nhất Mô hình 1 ứng dụng cho những trường hợp không có các ràng buộc về vốn và diện tích kho, bãi
Mô hình 2 cho phép nhận được kế hoạch mua, sử dụng và dự trữ vật tư tối
ưu đáp ứng yêu cầu tiến độ, thoả mãn các ràng buộc Sự điều chỉnh trong mô hình 2 vẫn đáp ứng mối quan hệ về khối lượng giữa các chủng loại vật tư, đảm bảo tính đồng bộ trong cung ứng cho sản xuất Mô hình 2 phù hợp với thực tiễn sản xuất xây dựng trong điều kiện hiện nay
Trang 28- Công suất kho bãi cần thiết (tổng diện tích kho bãi trong các kỳ khảo sát) theo chương trình DTVT-02 giảm 16,64% so với tính toán theo lý thuyết Công suất kho bãi là cơ sở tiết kiệm diện tích kho bãi, cho phép xác định quy mô sử dụng đất hợp lý phục vụ thi công Tổng chi phí mua,
dự trữ vật tư các kỳ tính theo mô hình 1 giảm 1,01%, theo mô hình 2 giảm 0,23% Mức độ tiết kiệm phụ thuộc biến động giá vật tư của thị trường
- Theo tính toán của chương trình DTVT-02 có những thời điểm diện tích kho bãi và chi phí tăng đột biến Nguyên nhân do tại những thời điểm đó
có sự chênh lệch đáng kể về giá vật tư nên có hiện tượng mua dồn khối lượng của các kỳ tiếp theo để dự trữ Nếu nhu cầu vốn và diện tích kho bãi vượt quá khả năng, có thể giải quyết như sau:
+ Giải bài toán theo mô hình 2 với ràng buộc là giới hạn về khả năng cung ứng vốn và diện tích kho bãi tối đa cho phép
+ Đối với diện tích kho bãi, có thể chọn giải pháp gửi vật tư ở kho của các
đại lý cung ứng (khi đã đặt mua) hoặc thuê kho nếu những chi phí này vẫn nhỏ hơn lợi nhuận đạt được do mua được vật tư
ở thời điểm giá thấp
4 Các ứng dụng trong thiết kế tổng mặt bằng xây dựng
Kết quả bài toán ứng dụng vào thiết kế tổng mặt bằng thi công là cơ sở xây dựng kế hoạch mua, khai thác vật tư, vận tải, cung ứng vốn, tổ chức sắp xếp hệ thống kho bãi, hệ thống giao thông
5 Kế hoạch hạn chế các tác hại của rủi ro trong cung ứng vật tư
+ Các yếu tố làm ảnh hưởng đến việc cung ứng vật tư
Có quá nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc cung ứng vật tư Thị trường biến
động, không đủ lượng vật tư cung cấp là nguyên nhân hết sức quan trọng Thiếu phương tiện chuyên chở hoặc phương tiện chuyên chở không phù hợp, không đáp ứng các yêu cầu chuyên chở là một khó khăn trong cung ứng vật tư Sự chuyên chở không đáp ứng thời gian gây khó khăn cho sản xuất Sự cố giữa đường về chuyên chở là rủi ro thường trực Thiếu lực lượng hoặc phương tiện bốc, xếp hàng hoá, vật tư cũng gây khó khăn cho cung ứng vật tư Chất lượng vật tư không đáp ứng cũng gây khó khăn cho cung ứng vật tư Thời tiết, khí hậu ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch vận chuyển Tình hình đường xá, chất lượng đường xá gây khó khăn cho chuyên chở vật tư Có những lý do tưởng như không thể xảy ra là thiếu vốn lưu động để trả tiền vật tư đôi khi là lý do khó tránh Thủ tục chuyển
Trang 29tiền, thủ tục giao nhận đôi khi là cản trở trong cung ứng vật tư Lập kế hoạch cung ứng vật tư cần thấy hết những rủi ro, cản trở trong khâu cung ứng vật tư Biết để có kế hoạch phòng tránh, kế hoạch đối phó nhằm hoàn thành nhiệm vụ tốt nhất
+ Kế hoạch đối phó với các rủi ro trong khâu cung ứng vật tư
Khi lập kế hoạch cung ứng vật tư, ứng với mỗi loại vật tư được ghi vào kế hoạch cung cấp, bao giờ cũng đặt ra câu hỏi có khả năng nào gây ra khó khăn cho việc cung ứng loại vật tư này Cần làm rõ các khó khăn khả dĩ gây khó khăn cho cung ứng vật tư để lập kế hoạch đối phó Không thấy
được khó khăn, sẽ bị bất ngờ trong quá trình thực hiện
ứng với mỗi khó khăn, mỗi loại rủi ro , phải đề xuất cách đối phó Cần lập thành bảng ứng với kế hoạch cung ứng vật tư gọi là kế hoạch quản lý rủi ro trong khâu cung ứng vật tư
Về khó khăn do thiếu nguồn, cách ứng phó là ký kết hợp đồng cung cấp sớm hơn thường lệ Khi cần thiết có thể nghĩ đến sự vay mượn tạm thời của các đơn vị cung ứng khác, của đơn vị sản xuất bạn.Với khó khăn trong khâu vận chuyển, cần làm rõ những khó khăn nào Mỗi loại khó khăn có cách ứng xử riêng Nguyên tắc chung để sử lý các yếu tố ngẫu nhiên và bất định là cần có nguồn dự trữ, nguồn thay thế Bố trí quân sự, việc sử dụng thê đội 3, thê đội dự trữ đề phòng bất trắc là điều cần thiết Phương án đã lựa chọn là để sử dụng khi sự việc bình thường Phương án
dự trữ là phương án phải dùng khi gặp khó khăn, trục trặc Đã trù liệu khi
có khó khăn, đã có biện pháp chống lại ngẫu nhiên thì sẽ vượt qua được khó khăn Tuy nhiên phải liệu định trước, kể cả sự tính toán khả năng tăng chi phí do phải dùng phương án dự trữ
+ Thống kê là khâu quan trọng để dự báo các rủi ro
Trong quá trình điều hành quản lý doanh nghiệp , sự theo dõi, thống kê các sự cố , các yếu tố ngẫu nhiên gây ảnh hưởng đến sản xuất cần được thống kê đầy đủ Kết quả thống kê những sự việc đã xảy ra giúp ta dự báo
sự kiện sẽ xảy ra trong tương lai
3.3 Các hình thức tổ chức cung ứng vật tư xây dựng
3.3.1 Tổ chức cung ứng qua kho trung gian hoặc qua kho của công trường:
Trang 30Đây là hình thức thu mua phổ biến Rất ít khi tổ chức phối hợp để cho thu mua vật tư mang thẳng về công trình để sử dụng ngay Tuy nhiên cũng có đôi lần, có hàng hoá như xi măng về được giao thẳng xuống công trình sử dụng luôn Trường hợp này xảy ra khi cần đổ bê tông khối lượng lớn Trong điều kiện thi công ở các đô thị mặt bằng chật hẹp, điều kiện tổ chức kho trung gian hoặc kho công trường khó khăn, cần tính toán
để kho công trường là có diện tích nhỏ nhất Cũng có thể tận dụng kho của người bán hàng, trong điều kiện cho phép được sử dụng trong thời gian cấp bách, nhanh, gọn làm kho của công trường Trong điều kiện thị trường phong phú, cần tính toán, sắp xếp có khoa học để “ mở rộng biên giới công trường ra thị trường” nhằm giảm lượng kho tại hiện trường đến mức tối thiểu
Cần tận dụng các hình thức sản xuất tiên tiến như sử dụng bê tông thương phẩm, mua cánh cửa đã sản xuất từ nơi bán, để giảm kho bãi sản xuất bê tông, giảm nơi gia công gỗ tại hiện trường
3.3.2 Tổ chức cung ứng vật tư thẳng đến công trình
Tính toán, phối hợp giữa nơi cung cấp, nơi bán hàng với tiến độ sản xuất thi công để cung ứng vật tư thẳng đến hiện trường xây lắp là phương pháp thi công và cung ứng có hiệu quả Khi thi công btrong đô thị với mặt bằng chật hẹp, việc cung ứng vật tư đưa thẳng vào thi công gần như là giải pháp bức bách và cần thiết
Tổ chức thi công theo phương pháp này cần được theo dõi khâu xuất nhập vật tư chi tiết và chính xác, tránh hiện tượng quên, sót không ghi chép đầy
đủ lượng vật tư cung ứng, gây ra hiện tượng hạch toán không chính xác Ngày nay có nhiều phương thức cung ứng hàng hoá tiên tiến, nhiều cơ sở gia công chế biến, thương mại đưa ra nhiều mặt hàng tiện lợi cho cung cấp hàng hoá như sản xuất nhiều bán thành phẩm gần như hoàn chỉnh, không cần gia công thêm tại hiện trường Lúc này, việc sử dụng lao động sống tăng giá trị sản phẩm rất ít nên việc thi công trên hiện trường có thể gọn, nhẹ
3.3.3 Tổ chức cung ứng theo hợp đồng xây dựng
Với sự phong phú của thị trường cung ứng vật tư phục vụ thi công hiện nay, nhiều đơn vị có thể tổ chức phương thức cung ứng vật tư sát với tiến
độ thi công, đồng thời sử dụng chính đơn vị cung ứng vật tư tham gia lắp
đặt vật tư mà họ cung ứng
Thí dụ như việc lắp đặt điều hoà nhiệt độ cho công trình chẳng hạn Đơn
vị trúng thầu cung ứng khâu trang bị điều hoà phải lắp đặt luôn các máy
Trang 31cho đến khi bàn giao sử dụng tốt những máy này Nhiều trang bị cần lắp
đặt khác trong công trình như cung ứng và lắp thang máy hoặc các trang
bị khác, đơn vị cung ứng vật tư có thể thực hiện nhiệm vụ bán hàng của mình như những thầu phụ một dạng loại mặt hàng Cung ứng vật tư loại dạng này có thể xem là dạng tổ chức cung cấp đồng bộ
3.3.4 Cung ứng vật tư trong điều kiện kinh tế thị trường :
Khác với trước đây, đơn vị được cung cấp vật tư cho xây lắp thực hiện theo kế hoạch, nay sự cung cấp hàng hoá cho mọi nhu cầu của sản xuất, của tiêu thụ được tự do trên thị trường
Sự lựa chọn phương thức mua bán hàng hoá rất quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường là khâu thăm dò các khả năng cung ứng hàng hoá phong phú của thị trường để tìm được nơi cung cấp hàng hoá đúng chủng loại, đúng chất lượng, giá cả chấp nhận được trong sự cạnh tranh lành mạnh
Cần tạo ra yếu tố cạnh tranh trong mua sắm vật tư , người mua mới mua
được hàng tốt và giá hợp lý Đấu thầu, mua đấu giá là hình thức thích hợp Hoạt động mua bán trong kinh tế thị trường đòi hỏi trình độ của bộ phận cung ứng có nghiệp vụ cao Trong các phương thức mua bán hàng hoá phải nhập khẩu có những phương thức chủ yếu :
Bán hàng FOB là phương thức bán hàng mà người mua phải nhận hàng tại cảng bên bán Người mua phải tổ chức vận chuyển hàng từ cảng nước người bán về nước mình và về nơi sử dụng tại nước mình
Mua hàng theo phương thức FOB bên mua phải tổ chức việc thuê vận chuyển từ cảng nước bên bán về nước mình Việc giao nhận hàng cùng với các thủ tục hải quan xuất cảnh cần được tiến hành cẩn thận vì từ khi hàng xuống tàu, người mua sẽ phải chịu trách nhiệm về bảo quản hàng hoá cho đến khi đưa hàng về công trường
Bán hàng CIF là phương thức người bán giao hàng tại cảng đến của nước chủ mua sắm Việc tổ chức vận chuyển từ cảng nhập hàng về công trường tuỳ thoả thuận trong hợp đồng, có thể do người bán phải tổ chức vận chuyển để giao hàng cho nơi nhận, có thể do người mua phải chịu trách nhiệm Thông thường hàng cần được kiểm tra đồng thời với việc kiểm tra hải quan nhập cảnh Nếu chất lượng hàng không đúng theo vận
đơn và hợp đồng, có thể từ chối để hàng xuất trả ngay Nếu chỉ là thiếu khối lượng cũng phải xác nhận và có hướng giải quyết trước khi cho hàng nhập cảnh
3.3.5 Hệ thống kho, b∙i các loại phục vụ việc cất chứa vật tư và bảo quản
Trang 32Hệ thống kho bãi cần được xây dựng theo đúng yêu cầu kỹ thuật cất chứa
Có ba dạng kho bãi chính là:
*Kho có mái, có tường bảo vệ được gọi là kho kín
Kho này chứa hàng cần bảo quản để duy trì chất lượng và bảo quản về số lượng Kho phải thông thoáng, có giá, kệ cất chứa hàng Hàng phải xếp cho có thứ tự để dễ tìm dễ thấy khi cần lấy hàng Có phiếu theo dõi số lượng ghi rõ nhãn hàng, loại hàng và số lượng để theo dõi nhập, xuất hàng Trong kho có đủ lối đi lại , đủ ánh sáng để dễ kiểm tra, kiểm soát
và bảo quản hàng đang cất chứa Hàng hoá cất chứa không gây hại lẫn nhau , thí dụ không để hoá chất gần những chất khác mẫn cảm với hoá chất như vải, sợi, kim loại
Kho kín chứa xi măng phải tổ chức cất chứa trên kho có sàn chống ẩm, dưới sàn có lỗ thông gió, cần bố trí sắp xếp hàng hoá trong kho sao cho hàng nhập trước được sử dụng trước, hàng nhập sau sử dụng sau Các loại
xi măng có nhãn mác khác nhau phải cất chứa riêng biệt để tránh nhầm lẫn khi cần thiết sử dụng
Hàng hoá cất chứa phải theo đúng chế độ kiểm tra, ghi chép xuất nhập và kiểm kê định kỳ cũng như đột xuất
* Kho có mái, có nền sạch và cứng nhưng không nhất thiết có tường , gọi
là kho hở:
Kho hở thường cất chứa vật liệu cồng kềnh, kích thước khá lớn mà việc sử dụng tuỳ tiện khó thực hiện Thí dụ như kho chứa sắt, theo, chứa đà giáo chưa sử dụng đến, kho gỗ xẻ, gỗ thanh, chứa dàn, vì kèo chờ lắp dựng Mục đích phải chứa hàng tại kho hở vì điều kiện cất chứa cần rất thoáng, cần hong khô sản phẩm như hong gỗ, nhưng không được để nước mưa trực tiếp làm ướt, ẩm hàng hoá
Hàng hoá cất trong kho hở phải được kê đệm trên giá, kệ đỡ, trên tấm kê, viên kê, không để nằm trực tiếp trên nền Khoảng cách từ mép mái đến biên xếp hàng hoá phải đảm bảo cho khi mưa, nước mưa không làm ướt hàng
* Bãi ngoài trời :
Bãi ngoài trời để cất chứa vật liệu rời như cát, đá, sỏi, cấu kiện lớn Bãi ngoài trời nên làm nền cứng như bê tông lót và nên láng mặt bằng vữa xi măng Bãi ngoài trời nên làm cao hơn mặt đất chung quanh tối thiểu 10
cm để khi mưa, bãi khó ngập Nên có tường thấp , khoảng 30 cm, vây quanh, chỉ trừ lối ra vào, để khi mưa, vật liệu chứa không bị trôi
Trang 33
3.4 Các hình thức tổ chức quản lý xe máy thi công
3.4.1 Nhiệm vụ của xe máy thi công
Xe máy thi công là thuật ngữ để chỉ máy móc xây dựng, sử dụng trong quá trình xây lắp Xe máy thi công là công cụ sản xuất và cũng là tài sản của doanh nghiệp xây dựng Số lượng , chất lượng, loại dạng của xe máy phản ánh năng lực của doanh nghiệp Tuỳ theo tính chất công việc sản xuất của doanh nghiệp mà doanh nghiệp mua sắm những loại máy xây dựng khác nhau Doanh nghiệp chuyên thi công đất đá thì phần lớn máy của doanh nghiệp là máy làm đất, máy gia công đá Đơn vị xây lắp phần thân thì máy xây dựng lại là cần trục các loại, máy trộn bê tông, máy trộn vữa, thăng tải Máy thi công góp phần quan trọng vào việc tạo ra sản phẩm xây dựng Cần có chế độ sử dụng hợp lý, chế độ bảo quản thích hợp
và phải chăm lo để máy luôn phục vụ tốt cho sản xuất
3.4.2 Mua sắm máy móc thiết bị thi công
Mua sắm máy móc, thiết bị thi công là đầu tư, làm tăng tài sản cố định cho đơn vị thi công Việc mua sắm thiết bị thi công cần nghiên cứu như dạng đề án mở rộng sản xuất Phải xác định được sự cần thiết phải mua sắm Phải xác định được mức hiện đại của thiết bị, loại, dạng thiết bị với những tính năng kỹ thuật và thực tế Cần thấy rõ được chi phí thực tế cho mua sắm và khả năng chi trả nợ vay nếu phải vay để mua Phải phân tích kinh tế, thời gian hoàn trả vốn để có kế hoạch sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất
Cần có phương án thu mua sao cho đạt hiệu quả kinh tế nhưng đảm bảo chắc chắn chất lượng máy móc Giá máy móc xây dựng thường đắt nên phương thức thu mua theo kiểu đấu thầu mua sắm trang thiết bị là hình thức thích hợp Sau khi mua sắm, cần có người được giao trách nhiệm chính trong khai thác và người này phải được đào tạo và được cấp chứng chỉ được phép sử dụng, vận hành máy Trong hợp đồng mua sắm, cần chú
ý đến điều khoản hướng dẫn, đào tạo thợ vận hành cũng như các điều khoản bảo hành
Nên yêu cầu máy phải do nhà sản xuất bán hoặc đại diện hợp pháp của nhà sản xuất bán Không mua qua trung gian hay nhà cung cấp không chuyên Mua qua nhà cung cấp không chuyên, khi máy có sự cố ít khi
được giải quyết thấu đáo Đã có nhiều trường hợp mua hàng không đúng phẩm chất như catalogue đến nỗi tiền mất tật mang
Trang 343.4.3 Thuê bao máy móc thiết bị thi công
Hình thức này thích hợp khi máy móc chỉ sử dụng với tần suất thấp, thời gian sử dụng không quá dài Cần cân nhắc giữa chi phí sử dụng máy trong thành phần đơn giá sản phẩm xây dựng đ−ợc thu về với việc cần thiết thu mua máy mới cho đơn vị mình Dựa vào kế hoạch phát triển nguồn hàng
sẽ thi công với chi phí cho mua sắm thiết bị để quyết định mua sắm hay chỉ cần thuê
*Phân tán:
Máy đ−ợc huy động từng chiếc đơn lẻ, hoạt động trên mặt bằng không tập trung Thí dụ nh− từng chiếc máy thăng tải, máy trộn vữa, máy trộn bê tông
* Máy sử dụng chuyên môn hoá :
Có những máy sử dụng đặc thù nh− máy nghiền sàng đá, máy uốn thép
* Máy sử dụng phục vụ nhiều công tác :
Loại máy này dùng cho nhiều công chủng hoặc nhiều việc có thể sử dụng loại máy này Thí dụ nh− máy ủi, các dạng máy vận chuyển cao, vận chuyển ngang, máy hàn, máy đào
* Lựa chọn tổ hợp máy thi công nhằm nâng cao hiệu quả công tác:
Trang 35Khi sử máy cần chú ý đến sự làm việc đồng bộ của các máy cùng phục vụ chung cho một hay một vài dạng công tác Thí dụ để thi công đất, phải sử dụng máy đào, xe vận chuyển, xe lu lèn Lựa chọn máy đào sao cho dung tích gầu đào thích ứng với thùng chứa của xe vận chuyển, sao cho thời gian chờ đợi của loại xe này hay loại máy khác là ít nhất Các thông số để dựa vào khi tuyển chọn loại máy, số lượng máy được đưa vào trong tổ máy để phối hợp thi công sao cho tối ưu là dung tích gàu, loại đất hay là
độ khó dễ khi thi công đào đất, dung tích chứa của thùng xe, tính cơ động của xe, cự ly phải vận chuyển đất Lựa chọn số máy , loại máy trong một tổ công tác là sự phối hợp các thao tác nghề nghiệp, phối hợp các thông số kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tổng thể năng suất chung của cả tổ máy
3.4.5 Các hình thức bảo quản, chăm sóc xe máy thi công:
Phân cấp các hình thức bảo quản, chăm sóc như sau :
• Bảo dưỡng : Chế độ chăm sóc thường xuyên, định kỳ hàng tuần lễ nhằm kiểm tra các bộ phận máy móc, chỉnh sửa , bổ sung dầu, mỡ ,
để máy luôn vận hành trong chế độ phù hợp và có năng suất Công tác bảo dưỡng do chính công nhân vận hành, có bổ sung thêm vài
ba người thợ chuyên ngành Công việc được tiến hành ngay tại hiện trường
• Sửa chữa nhỏ : Chế độ kiểm tra định kỳ, thay thế một số bộ phận hao mòn qua sử dụng , hàn vá vặt Bổ sung dầu , mỡ Không phải sửa chữa những bộ phận chủ chốt như máy phát động, bộ phận truyền động chính, bộ phận công tác chính Chăm sóc để xe máy vận hành được theo chế độ hoạt động có năng suất cao nhất Tổ chức sửa chữa nhỏ cũng như ở mục bảo dưỡng
• Sửa chữa vừa : Chế độ kiểm tra định kỳ, thay một số bộ phận đáng
kể mà những bộ phận này bị hao mòn qua quá trình sử dụng Có thể phải thay thế một số nhưng không nhiều trong các bộ phận của
hệ truyền động, bộ phận công tác chính Hàn, vá một số bộ phận thuộc vỏ máy Sau khi sửa chữa vừa, máy hoạt động được như chế
độ máy mới Công tác sửa chữa vừa do công nhân chuyên trách đến
từ các đơn vị chuyên trách sửa chữa máy xây dựng và các đơn vị sửa chữa cơ khí
• Sửa chữa lớn : Phải thay thế một số bộ phận trong các hệ chủ chốt như hệ phát động lực , hệ truyền động hoặc hệ công tác Tu tạo lại
vỏ máy, thay những bộ phận quan trọng như cửa xe hoặc máy, một
số bộ phận thuộc khung xe, khung máy Sau khi sửa chữa lớn, máy
Trang 36được phục hồi như máy mới hoàn toàn Công tác do đơn vị chuyên trách tiến hành
Xe, máy sau khi sửa chữa lớn đưa vào sản xuất được hạch toán như
Mạng lưới đường phải dựa vào sơ đồ luồng vận chuyển hợp lý nhất
Đường công trường phải phục vụ được việc vận chuyển tốt nhất Phải làm sao cho việc bốc xếp là ít nhất
Cần tận dụng lưới đường hiện có Cần tính toán để gia cố cho những
đường hiện có đủ phục vụ được việc vận chuyển cho công trường nhưng cũng phục vụ được việc vận chuyển trước đây Lưu ý rằng việc vận chuyển cho công trường thường sử dụng xe có trọng tải lớn nên đường thi công phải đáp ứng nhiệm vụ vận chuyển cho thi công
Nếu có thể kết hợp với đường vĩnh cửu phải xây dựng phục vụ công trình lâu dài, giai đoạn thi công làm trước phần nền đường để phục vụ thi công Khi thi công xong sẽ hoàn chỉnh nốt đường vĩnh cửu phục vụ công trình lâu dài
Bình đồ tuyến đường thi công phải thể hiện trên bản đồ có tỷ lệ 1:1000 ~ 1:2000 với địa hình có cao trình phức tạp Cao trình bằng phẳng, tỷ lệ bản
đồ có thể lấy 1:2000 ~ 1:5000 Mặt cắt dọc lấy tỷ lệ lớn gấp khoảng 10 lần so với mặt bằng Mặt cắt ngang nên vẽ với tỷ lệ 1:100
Trước khi thiết kế mạng lưới đường, cần khảo sát để lập hệ thống số liệu phục vụ thiết kế đường :
+ Khoanh vùng có việc vận chuyển phục vụ thi công