Có thể nói rằng BHTN là một trong những chính sách cơ bản và rất thiết thực đối với mỗi quốc gia. Đặc biệt đối với nước ta, một nước đang phát triển thì mối tương quan giữa BHTN thị trường việc làm và sự phát triển kinh tế là vô cùng chặt chẽ. Điều đó thể hiện không chỉ trong hoạt động thu, chi trả BHTN mà còn thể hiện thông qua các chính sách hỗ trợ khác như là ngăn ngừa tình trạng thất nghiệp, đào tạo, tư vấn, hỗ trợ việc làm giúp NLĐ trở lại thị trường lao động.
Trang 1LỜI CẢM ƠNTrong quá trình thực hiện báo cáo thực tập tốt nghiệp, em đã được sự giúp
đỡ, hướng dẫn, hỗ trợ và động viên từ gia đình, từ quý thầy cô, quý công ty, cùng các bạn Xin cho phép em được gửi lời cám ơn sâu sắc và chân thành đến:
Ban giám hiệu nhà trường cùng toàn thể các thầy cô giáo của Trường Đại học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi và trang bị cho em những kiến thức bổ ích trong suốt 4 năm học vừa qua Đặc biệt là các thầy cô giáo khoa Kinh tế và Luật của Trường đã trang bị cho em những kiến thức chuyên môn quý báu về ngành Luật kinh tế, làm hành trang cho em bước vào đời Em xin chân thành cảm ơn Thầy, người đã tận tâm hướng dẫn em qua từng phần của bài báo cáo thực tập Nếu không có những lời hướng dẫn, nhận xét, dạy bảo của thầy thì em nghĩ bài báo cáo thực tập tốt nghiệp này của em khó có thể hoàn thiện được Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn thầy
Ban lãnh đạo Công ty Luật TNHH MTV Không Gian Luật đã tạo điều kiện cho em thực tập, học hỏi tại công ty Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn LS Nguyễn Hồng Sơn và LS Phan Thị Xuân Uyên cùng toàn thể các anh chị, bạn thực tập trong công ty đã quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ em rất nhiệt tình trong suốt hơn hai tháng thực tập vừa qua, tạo điều kiện thuận lợi để cho em không chỉ được học hỏi về rất nhiều điều bổ ích từ kiến thức chuyên nghành đến kỹ năng mềm trong cuộc sống mà còn hướng dẫn, cung cấp số liệu giúp em hoàn thành bài báo cáo thực tập này đúng thời gian quy định
Do hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức và điều kiện làm bài nên chắc chắn bài viết của em sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đọc để em được tốt hơn
Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô của Trường sức khỏe, chúc Ban lãnh đạo công ty cùng toàn thể các anh chị của Công ty Luật TNHH MTV Không Gian Luật ngày càng thành đạt và phát triển hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Nhận xét:
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT,N
Chữ cái viết tắt/ ký
hiệu
Cụm từ đầy đủ
Trang 3NLĐ Người lao động
TTGTVL Trung tâm giới thiệu việc làm
MỤC LỤC
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vi
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1
1.3 Phạm vi nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
Trang 41.5 Kết cấu chuyên đề 2
2.1 Cơ sở lý luận về thất nghiệp .3
2.1.1 Khái niệm về thất nghiệp 3
2.1.2 Phân loại thất nghiệp 4
2.1.3 Nguyên nhân thất nghiệp 5
2.1.4 Ảnh hưởng của thất nghiệp 6
2.2 Cơ sở lý luận về bảo hiểm thất nghiệp 7
2.2.1 Khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp 7
2.2.2 Chủ thể áp dụng bảo hiểm thất nghiệp 8
2.2.3 Lợi ích, vai trò của bảo hiểm thất nghiệp 9
PHẦN 3: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM .11 3.1 Quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống pháp luật Việt Nam 11
3.1.1 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp 11
3.1.2 Quyền được hưởng bảo hiểm thất nghiệp 12
3.1.3 Thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp: 16
3.2 Tình hình áp dụng của bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành 17
3.2.1 Thực tiễn áp dụng những điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp 17
3.2.2 Thực tiễn thủ tục thực hiện bảo hiểm thất nghiệp 19
3.2.3 Thực tiễn áp dụng những quy định bổ trợ cho người lao động trong bảo hiểm thất nghiêp 20
c.Thực tiễn áp dụng những quy định khác của bảo hiểm thất nghiệp 23
3.3 Nhận định, đánh giá những quy định của pháp luật và thực trạng về bảo hiểm thất nghiệp 25
PHẦN 4 : GIẢI PHÁP VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 27
4 1 Giải pháp và kiến nghị đối với những quy định về BHTN trong quy định pháp luật 27
4 2 Giải pháp và kiến nghị đối với những quy định về BHTN đối với việc giải quyết tại cơ quan bảo hiểm 29
PHẦN 5: KẾT LUẬN 30 PHẦN PHỤ LỤC (PHỤ LỤC A VÀ B)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang 6và cơ quan bảo hiểm Vậy pháp luật quy định như thế nào về BHTN ? Những bất cập trong luật cũng như thực tiễn giải quyết BHTN và biện pháp khắc phục là gì?Với tính thiết thực và cần thiết đó, là lý do tôi chọn đề tài “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, thực trạng và đề xuất pháp lý”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu.
Khi nghiên cứu đề tài nhằm những mục tiêu sau:
- Làm rõ những vấn đề về mặt lý luận liên quan đến BHTN: Thất nghiệp, trợ cấp thất nghiệp và BHTN
- Thực trạng giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam Từ đó đánh giá nhu cầu, khả năng tham gia BHTN và cũng như công tác về BHTN ở nước ta Đăc biệt là phân tích những bất cập giữa thực tiễn và quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật
- Đưa ra những kiến nghị, giải pháp trong việc hoàn thiện những quy định pháp luật về BHTN ở Việt Nam
Đề tài “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, thực trạng và đề xuất pháp lý” thuộc phạm vi điều chỉnh của luật bảo hiểm xã hội và luật lao
Trang 7động Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là các quy định về bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống pháp luật Việt Nam (Luật và các văn bản dưới luật) cũng như thực trạng, thủ tục giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam
Xuất phát từ yêu cầu, mục đích, đặc điểm của đề tài “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, thực trạng và đề xuất pháp lý” sẽ tập trung vào những phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tập trung nghiên cứu những quy định
về bảo hiểm thất nghiệp trong Luật, các văn bản dưới Luật Đồng thời tham khảo những tài liệu liên quan đến thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp từ nhiều nguồn khác nhau như: Internet, báo, đài các kênh thông tin khác
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Khảo sát thực tế và điều tra những vấn đề về BHTN tại công ty TNHH MTV Không gian luật bằng việc tìm hiểu những hồ sơ và tổng hợp ý kiến của khách hàng qua tổng đài 1069
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Từ những việc nghiên cứu tài liệu chia
đề tài nghiên cứu thành những bộ phận, những phần để nghiên cứu Sau đó khái quát, tổng hợp lại tất cả những vấn đề về bảo hiểm thất nghiệp một cách cô đọng nhất
Kết cấu chuyên đề gồm những nội dung sau:
- Phần 1: mở đầu
- Phần 2: Lý thuyết về thất nghiệp và bảo hiểm thất nghiệp
- Phần 3: Thực trạng( áp dụng) pháp luật về BHTN ở Việt Nam
- Phần 4: Giải pháp và những kiến nghị
- Phần 5: kết luận
PHẦN 2: LÝ THUYẾT VỀ THẤT NGHIỆP VÀ BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP.
Trang 82.1 Cơ sở lý luận về thất nghiệp
2.1.1 Khái niệm về thất nghiệp.
Thất nghiệp là một hiện tượng không còn xa lạ, có thể nói rằng thất nghiệp là vấn đề xã hội mà bất cứ quốc gia nào, tại bất cứ thời điểm nào cũng phải trải qua và nó gây ra rất nhiều thiệt hại cho đời sống kinh tế - xã hội của một quốc gia Theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế( ILO) thì Thất nghiệp
là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành Đây là khái niệm được tán thành và sử dụng nhiều hơn cả Tuy nhiên khi nói về khái niệm người thất nghiệp thì tùy vào mục đích và hoàn cảnh của mỗi nước mà có những quan điểm khác nhau, điển hình như 1:
- Ở Mỹ: Người thất nghiệp là những người không có việc làm trong tuần điều tra, mặc dù có khả năng làm việc, mong muốn tìm được việc làm trong vòng 4 tuần đã qua, có liên hệ với các trung tâm dịch vụ việc làm hoặc trực tiếp với người thuê lao động
- Ở Anh người ta cho rằng: Người thất nghiệp là những người không làm việc 1 giờ nào trong vòng 2 tuần điều tra
- Thái Lan lại quan niệm: Người thất nghiệp là người lao động không có việc làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc
- Ở Việt nam (Bộ LĐTB&XH) cho rằng : Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội : Người thất nghiệp được hiểu là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng việc làm nhưng chưa tìm được việc làm
- Như vậy, dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng dù sao thì người thất nghiệp là khái niệm nói về người lao động có nhu cầu viềc việc làm nhưng đang không có việc làm và cố gắng tìm kiếm việc làm Điều đó có nghĩa người ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không lao động, không có nhu cầu việc làm thì không được coi là thất nghiệp
1 Nguyễn Văn Định(2008) “chương 3: Bảo hiểm thất nghiệp”, giáo trình bảo hiểm, Nhà xuất bản đại học Kinh Tế Quốc Dân.
Trang 9Nhìn chung thì một người lao động được coi là thất nghiệp khi có những đặc trưng đó là:
- Là người lao động
- Có khả năng lao động
- Đang không có việc làm
- Đang đi tìm việc làm
Vậy thất nghiệp là người lao động thể hiện rõ bốn đặc trưng trên Nếu một người lao động có khả năng lao động mà không muốn tìm việc làm hoặc có việc làm không muốn tìm việc thì sẽ không gọi là thất nghiệp
2.1.2 Phân loại thất nghiệp.
Có nhiều cách phân loại thất nghiệp, nó phụ thuộc vào mục đích và yêu cầu nghiên cứu Tuy nhiên có thể chia thành 3 cách phân loại điển hình sau 2:
a Căn cứ vào tính chất thất nghiệp thì chia thất nghiệp thành 6 loại sau:
- Thất nghiệp tự nhiên: Đây là loại thất nghiệp xảy ra do quy luật cung cầu của thị trường sức lao động tác động Ở mỗi nước khác nhau thì có tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên khác nhau nhưng có cùng xu hướng tăng lên
- Thất nghiệp cơ cấu: Loại này xảy ra khi mất cân đối giữa cung và cầu về các loại lao động Xuất phát từ tính tất yếu của nền kinh tế thị trường sẽ có những ngành kinh tế phát triền thì mức cầu của lao động tăng lên và ngược lại sẽ giảm mức cầu của loại lao động khác
- Thất nghiệp tạm thời: Là tình trạng không có việc làm ngắn hạn do không
có đầy đủ thông tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập không thực tế hoặc liên quan đến sự di chuyển của người lao động giữa các doanh nghiệp, giữa các vùng và lĩnh vực kinh tế
- Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp được tạo ra khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái khi mức cầu về lao động giảm xuống Loại này diễn ra theo chu kỳ, vì vậy mang tính quy luật
- Thất nghiệp thời vụ: Là loại thất nghiệp phát sinh theo chu kỳ sản xuất kinh doanh
2 Nguyễn Văn Định(2008) “chương 3: Bảo hiểm thất nghiệp”, giáo trình bảo hiểm, Nhà xuất bản đại học Kinh Tế Quốc Dân
Trang 10- Thất nghiệp công nghệ: Là loại thất nghiệp do sự áp dụng của tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất làm cho những người lao động trong day chuyền sản xuất bị dôi ra trở thành thất nghiệp.
b Phân loại theo ý chí người lao động.
- Thất nghiệp tự nguyện: Là việc người lao động từ chối một công việc nào
đó do mức lương hoặc trình độ không phù hợp mặc dù họ cần việc làm
- Thất nghiệp không tự nguyện: Là hiện tượng người lao động có khả năng lao động, trong độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc và chấp nhận mức lương đương trả, nhưng người sử dụng lao động không chấp nhận hoặc không có người
sử dụng nên trở thành thất nghiệp
c Căn cứ vào mức độ thất nghiệp.
- Thất nghiệp toàn phần: Là người lao động không có việc làm hoặc thời gian làm việc thực tế mỗi tuần dưới 8 giờ mà vẫn có nhu cầu làm thêm
- Thất nghiệp bán phần: Là người lao động vẫn có việc làm, nhưng khối lượng công việc ít không đủ cho người lao động làm so với khả năng của họ
2.1.3 Nguyên nhân thất nghiệp.
a Sự biến động của chu kỳ kinh doanh 3 :
Theo lý thuyết kinh tế học có thể hiểu chu kỳ kinh doanh là các biến động tái diễn nhưng không phải định kỳ trong công việc kinh doanh chung và trong các hoạt động kinh tế của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhiều năm Như vậy chu kỳ kinh doanh có thể mở rộng hay thu hẹp là do sự điều tiết của thị trường Khi mở rộng thì thu hút thêm lao động, ngược lại khi thu hẹp lại sẽ cắt giảm lao động, vì vậy dư thừa lao động từ sự co dãn thị trường sức lao động này dẫn đến thất nghiệp Hiện nay thì vấn đề khủng hoảng kinh tế đang kéo theo làm tăng tỷ lệ thất nghiệp là một minh chứng
b Sự áp dụng khoa học kỹ thuật:
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã giúp cho con người rất nhiều đặc biệt
là trong việc tự động hóa quá trình sản xuất Từ việc lao động thủ công thì máy móc đã thay thế sức lao động của con người Trong xu thế thị trường mở thì việc
áp lực, cạnh tranh tối đa hóa lợi nhuận là việc mà các nhà sản xuất buộc phải mở
3 Trần Thừa( 2007), “chương 7: Các chu kỳ kinh doanh- thất nghiệp và lạm phát”, Kinh tế học vĩ mô, Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Tp Hồ Chí Minh.
Trang 11rộng sản xuất, thay đổi công nghệ, áp dụng những dây chuyền máy móc hiện đại vào để giảm thiểu chi phí tăng năng suất là điều cần thiết Vì vậy lượng lao động dôi ra từ việc các dây chuyên máy móc thay thế ngày càng lớn, đó là lượng lao động thất nghiêp.
c Sự tương tác giữa dân số và việc làm.
Sự gia tăng dân số và nguồn lực là áp lực đối với việc giải quyết việc làm Điều này thường xảy ra đối với các nước có nền kinh tế kém phát triển hoặc đang phát triển Ở đây, nguồn lực dồi dào nhưng do kinh tế hạn chế nên không có điều kiện đào tạo và sử dụng hết nguồn lao động hiện có
d Nguyên nhân từ phía người lao động.
Thất nghiệp cũng xuất phát từ phía người lao động Không chỉ do người lao động không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm làm việc, họ phải đi tìm công việc mới, địa điểm làm việc mới mà còn do trình độ của người lao động không đáp ứng được yêu cầu của công việc, không đủ khả năng làm việc
2.1.4 Ảnh hưởng của thất nghiệp.
Có thể nói thất nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến không chỉ nền kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia nói chung mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân, gia đình người lao động
a Đối với nền kinh tế, xã hội.
Thất nghiệp là một trong những sự lãng phí về nguồn lực xã hội, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến nền kinh tế trì trệ, đình đốn, chậm phát triển, làm cho khả năng sản xuất thực tế kém hơn tiềm năng Nếu tình trạng thất nghiệp gia tăng sẽ kéo theo tình trạng lạm phát tăng theo từ đó làm cho nền kinh tế suy thoái, chậm phục hồi
Đối với xã hội: thất nghiệp là một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng tiêu cực đẩy người thất nghiệp bất chấp kỷ cương, pháp luật để tìm kế sinh nhai như: trộm cắp, mại dâm, ma túy…làm gia tăng tệ nạn xã hội, vì vậy Chính Phủ phải gia tăng chi phí cho việc chống các tệ nạn xã hội và tội phạm
Trang 12b Đối với cá nhân, gia đình người lao động.
Thất nghiệp sẽ làm làm cho thu nhập của người lao động không ổn định Thất nghiệp đã cắt đứt nguồn thu nhập chủ yếu hoặc duy nhất của người lao động (nhất là ở các nước thị trường phát triển), đồng thời cắt đứt phương tiện sinh sống của người lao động và gia đình họ, đẩy những người này vào cảnh túng quẫn không có khả năng thanh toán cho các chi phí thường ngày như tiền nhà, tiền điện, tiền nước… Do thất nghiệp mà có khi bỗng chốc có người trở thành vô gia cư (vì bị đuổi ra khỏi nhà đang thuê) Ngoài ra thất nghiệp còn gây ra những tổn hại về mặt tinh thần và sức khỏe cho người lao động Nhiều người thất nghiệp Đây cũng là nguyên nhân làm cho cuộc sống gia đình trở nên bất hòa, không hạnh phúc
2.2 Cơ sở lý luận về bảo hiểm thất nghiệp.
2.2.1 Khái niệm về bảo hiểm thất nghiệp.
Để hiểu rõ khái niệm bảo hiểm thất nghiệp trước tiên cần hiểu thế nào là bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội Từ khái niệm bảo hiểm xã hội có thể hiểu Bảo hiểm thất nghiệp là khoản bồi thường, hỗ trợ tài chính tạm thời dành cho những người bị mất việc làm mà đáp ứng đủ yêu cầu theo Luật định Tuy nhiên dưới góc độ kinh tế xã hội thì có thể hiểu bảo hiểm thất nghiệp là việc trợ giúp người lao động tạm thời đảm bảo được cuộc sống và tìm kiếm việc làm Nói chung cho dù nhìn nhận ở khía cạnh nào thì BHTN thể hiện bản chất đó là việc trợ giúp cho người lao động khi bị mất việc làm Như vậy BHTN có những đặc điểm sau, đó là:
- Là khoản tài chính từ quỷ bảo hiểm thất nghiệp
- Chi trả, bù đắp, bồi thường một phần thu nhập
- Cho người lao động thất nghiệp
Trang 132.2.2 Chủ thể áp dụng bảo hiểm thất nghiệp.
Đầu tiên cần hiểu rõ khái niệm chủ thể là đối tượng bao gồm cá nhân hoặc nhóm người hướng tới một thể (thể có thể là vật, là một thứ tồn tại dưới dạng trừu tượng) nào đó Vậy có thể hiểu chủ thể áp dụng của BHTN là những đối tượng tham gia cũng như được được hưởng BHTN Vì vậy chủ thể áp dụng của bảo hiểm thất nghiệp còn gọi là đối tượng của BHTN Nhiều nước trên thế giới
đã xuất hiện BHTN từ lâu, nhưng ở Việt Nam hình thức này mới đi vào hoạt động được gần 05 năm Một trong những nước sớm nhất phải kể đến Đan Mạch- 1907; Canada- 1940; Pháp- 1958… Trong pháp luật các nước này thì chủ thể áp dụng của BHTN cũng có quy định khác nhau, đó là:
- Ở Đan Mạch: Đan Mạch đã có BHTN theo chế độ tự nguyện Đối tượng tham gia BHTN người tự tạo việc làm, viên chức làm việc trong khu vực vụ công, các đại biểu dân cử đều có thể tham gia BHTN tự nguyện Đối tượng tham gia BHTN còn có thêm sinh viên mới tốt nghiệp đang tìm kiếm việc làm hoặc Bahrain( là những người lần đầu đi tìm việc) Đặc biệt ở Đan Mạch thì người lao động nước ngoài được phép tham gia BHTN cũng là đối tượng của bảo hiểm thất nghiệp
- Ở Canada : Đối tượng tham gia là mọi lao động, bao gồm: Người lao động tự tạo việc làm được tham gia BHTN, công chức (nhưng không bao gồm đại biểu dân cử), quân nhân Áp dụng cho mọi trường hợp cho dù phí bảo hiểm
đã thu hay chưa
- Ở Thụy Điển: Đối tượng của BHTN là khá rộng Ngoài những đối tượng
lao động bị thất nghiệp thì Hệ thống BHTN của đất nước này đảm bảo những
người có thu nhập trung bình vẫn có khả năng chi trả cho cuôc sống bình thường của mình trong suốt thời gian nhận trợ cấp thất nghiệp và tìm kiếm công việc mới Người lao động không nhất thiết phải là công dân Thụy điển –
người lao động chỉ cần có giấy phép nhập cư và có thẻ cư trú là đủ điều kiện để tham gia BHTN
Như vậy, đối tượng tham gia BHTN cũng là người lao động và người sử dụng lao động, song đối tượng này rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy định của từng nước Nhìn chung các nước đều quy định đối tượng
Trang 14tham gia BHTN là những người lao động trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động Bao gồm: Những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có sử dụng một số lượng lao động nhất định và những người làm việc theo hợp đồng lao động với một thời gian nhất định (thường là một năm trở lên) trong các doanh nghiệp, các cơ quan đoàn thể, các đơn vị hành chính sự nghiệp (nhưng không phải là viên chức và công chức).
Vậy tại sao giữa các nước lại cho những đối tượng trên là chủ thể áp dụng bảo hiểm thất nghiệp? Bởi vì hai nguyên nhân chính, đó là: Thứ nhất vì mục đích của BHTN là trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống cá nhân và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện cho họ tham gia vào thị trường lao động để có những cơ hội mới về việc làm Vì vậy việc quy định những người lao động là đối tượng của BHTN là điều đương nhiên và cần thiết vừa tạo quỹ BHTN lại vừa trợ giúp được người lao động Mặt khác Những công chức, viên chức Nhà nước; những người lao động độc lập không có chủ ; những người làm thuê theo mùa vụ thường không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp Bởi vì , họ được Nhà nước tuyển dụng,
bổ nhiệm lâu dài nên khả năng thất nghiệp thấp, hoặc là những người khó xác định thu nhập để xác định phí bảo hiểm, thời gian làm việc ngắn, công việc không ổn định , thời gian đóng phí bảo hiểm không đủ
2.2.3 Lợi ích, vai trò của bảo hiểm thất nghiệp.
Bảo hiểm thất nghiệp ra đời góp phần ổn định đời sống và hỗ trợ cho người lao động được học nghề và tìm việc làm, sớm đưa họ trở lại làm việc Có thể khẳng định, BHTN là một biện pháp hỗ trợ người lao động trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh việc hỗ trợ một khoản tài chính đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động trong thời gian mất việc thì mục đích chính của BHTN là thông qua các hoạt động đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, sớm đưa những lao động thất nghiệp tìm được một việc làm mới thích hợp và ổn định
Bảo hiểm thất nghiệp còn có vai trò to lớn với mỗi quốc gia vì là một chính sách xã hội rất quan trọng và phù hợp Đây là một trong những biện pháp được nhiều nước quan tâm vì nó không chỉ đảm bảo cuộc sống cho cá nhân
Trang 15người bị thất nghiệp mà còn góp phần ổn định xã hội BHTN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính (cụ thể là quỹ BHTN) thông qua việc đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà nước, nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho người lao động trong thời kỳ họ bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động Đặc biệt khi có trợ cấp thất nghiệp, vấn đề bức bối trong xã hội sẽ giảm thiểu, nhà nước không phải chi nhiều ngân sách để giải quyết các tệ nạn xã hội, tội phạm do nguyên nhân thất nghiệp gây nên Việc chi trả BHTN khi người lao động mất việc làm vô hình chung đã tạo tâm lý yên tâm ổn định hơn với người lao động Bởi khi người lao động hàng tháng phải trích ra một khoản nhỏ tiền lương để chi trả cho BHTN nhưng biết chắc rằng việc chi trả đó sẽ giúp ích cho mình khi gặp rủi ro( cụ thể là thất nghiệp) thì họ cũng bằng lòng, thỏa mãn với việc đóng góp đó.
Nói chung BHTN có vai trò rất lớn không chỉ đối với cá nhân người lao động, với mỗi doanh nghiệp mà còn góp phần điều tiết trong nền kinh tế nói chung Đây thực sự là một trong những công cụ để thực hiện chính sách an sinh
xã hội của mỗi quốc gia BHTN là phương pháp tối ưu giúp giảm những bức bối trong xã hội do tình trạng thất nghiệp gây ra
Trang 16PHẦN 3: ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1 Quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
3.1.1 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
Người thất nghiệp được hưởng BHTN khi có đủ các điều kiện quy định tại tại điều 81 của luật BHXH năm 2006 và nghị định 127/2008/NĐ-CP được hướng dẫn bởi Thông tư số 32/2010/TT-BLĐTBX sửa đổi bổ sung bởi thông tư 04/2013/TT-BLĐTBXH, cụ thể như sau:
- Đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi
bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo đúng quy định của pháp luật
- Đã đăng ký thất nghiệp với Trung tâm Giới thiệu việc làm thuộc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ( TTGTVL) khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật Trong thời hạn 03 tháng kể từ khi mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐ làm việc, nếu đăng ký chậm sau thời gian trên
sẽ không được giải quyết quyền lợi về BHTN
- Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày tính theo ngày làm việc kể từ ngày đăng ký thất nghiệp với TTGTVL, ngày thứ nhất trong 15 ngày nêu trên là ngày ngay sau ngày người lao động đăng ký thất nghiệp, tính theo ngày làm việc.Đặc biệt là trong thời gian hưởng trợ cấp BHTN, hàng tháng người thất nghiệp phải đến thông báo với TTGTVL về việc tìm kiếm việc làm NLĐ đủ điều kiện hưởng các chế độ BHTN tính từ ngày thứ 16 – kể từ ngày đăng ký thất nghiệp
Như vậy, người thất nghiệp được hưởng BHTN khi đã đủ các điều kiện trên, nếu chỉ đáp ứng một trong số 3 điều kiện trên thì cũng không được hưởng BHTN Tuy nhiên cũng có một số trường hợp người lao động đăng ký thất nghiệp quá thời hạn 03 tháng nhưng nhiều nhất không quá 07 ngày tính theo
Trang 17ngày dương lịch kể từ ngày hết hạn đăng ký thất nghiệp sẽ được xem xét giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu thuộc các trường hợp sau:
- Ốm đau, thai sản có giấy xác nhận của Bệnh viện cấp huyện hoặc cấp tương đương trở lên;
- Bị tai nạn có giấy xác nhận của Bệnh viện cấp huyện hoặc cấp tương đương trở lên hoặc xác nhận của cảnh sát giao thông đối với trường hợp bị tai nạn giao thông;
- Do thiên tai, dịch họa có xác nhận của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn theo đơn đề nghị của NLĐ
3.1.2 Quyền được hưởng bảo hiểm thất nghiệp
a Mức trợ cấp thất nghiệp.
Mức trợ cấp BHTN được hưởng theo quy định tại điều 82 của luật BHXH năm 2006 và điều 16 nghị định 127/2008/NĐ-CP thì : Mức trợ cấp BHTN hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
Như vậy, mức trợ cấp BHTN tuy đã quy định cụ thể là 60% mức bình quân tiền lương, tiền công nhưng mức này còn phụ thuộc vào tiền bình quân tiền lương của 06 tháng đóng BHTN trước khi thất nghiệp Điều này phản ánh rằng mức hưởng bảo hiểm có sự chênh lệch giữa những người cùng nhận BHTN vì địa vị, thời điểm thất nghiệp, mức đóng khác nhau giữa những người thất nghiệp
b Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiêp.
Thời gian hưởng trợ cấp BHTN hằng tháng phụ thuộc vào thời gian làm việc có đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động và tổng thời gian được hưởng trợ cấp BHTN hàng tháng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
82 của Luật BHXH Thời gian hưởng BHTN được quy định cụ thể như sau:
- 03 tháng, nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng BHTN
- 06 tháng, nếu có từ đủ 36 đến dưới 72 tháng đóng BHTN
- 09 tháng, nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng BHTN
- 12 tháng, nếu có từ đủ 144 tháng đóng BHTN trở lên
Trang 18 Như vậy, có sự chênh lệch khá lớn giữa những người có thời gian tham gia BHTN.
c Những quy định bổ trợ cho người lao động.
Ngoài việc được hưởng mức trợ cấp BHTN bằng việc hưởng tiền lương hàng tháng thì NLĐ thất nghiệp còn được hưởng các quyền lợi khác quy định tại điều 83, 84, 85 luật bảo hiểm xã hội năm 2006, đó là:
• Hỗ trợ học nghề: Người đang hưởng trợ cấp BHTN được hỗ trợ học nghề
với thời gian không quá 06 tháng Mức hỗ trợ bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề Cụ thể là:
- Mức hỗ trợ học nghề quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung tại thông tư 04/2013/TT-BLĐTBXH: Mức hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp BHTN tùy theo mức chi phí học nghề của từng nghề và thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ Trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp BHTN có nhu cầu học nghề với mức chi phí cao hơn mức hỗ trợ chi phí học nghề theo quy định thì phần vượt quá mức chi phí này do người lao động chi trả Cụ thể quy định theo quyết định số 55/2013/QĐ-TTg tại điều 3 như sau:
1 Mức hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp BHTN:a) Đối với người tham gia các khóa học nghề đến 03 tháng: Mức hỗ trợ tối
đa 03 triệu đồng/người/khóa học; mức hỗ trợ cụ thể được tính theo tháng, tùy theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế
b) Đối với người tham gia các khóa học nghề trên 03 tháng: Mức hỗ trợ tối đa 600.000 đồng/người/tháng; mức hỗ trợ cụ thể được tính theo tháng, tùy theo từng nghề và thời gian học nghề thực tế
2 Đối với người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tham gia học nghề có mức chi phí học nghề cao hơn mức hỗ trợ học nghề theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì phần vượt quá mức hỗ trợ học nghề do người lao động tự chi trả
3 Thời gian được hỗ trợ học nghề phụ thuộc vào thời gian đào tạo nghề của từng nghề và nhu cầu của từng người lao động, nhưng không quá 06 tháng