Trước năm 2015 chính sách BHTN theo qui định tại Luật Bảo hiểm xã hội thì cũng quy định tương tự là “Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này không đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế ILO : Tổ chức lao động Quốc tế TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thất nghiệp là hiện tượng khách quan phát sinh và tồn tại trong nền kinh tế thị trường Sau 30 năm đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường, theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, an sinh xã hội được cải thiện, và đang dần dần hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới Do đó, tình hình biến động cũng như tình hình khó khăn về kinh tế của thế giới ít nhiều cũng ảnh hưởng đến tình hình kinh tế trong nước Sự khủng hoảng kinh tế thế giới
đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình kinh tế trong nước những năm gần đây dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng và trở thành một vấn đề nan giải
Trong quý 4/2015, cả nước có 53,50 triệu người có việc làm, trong đó: khu vực thành thị có 16,93 triệu người chiếm 31,65 ; nữ có 26 triệu người chiếm 48,60%); cả nước có 1.051.600 người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, trong
đó nữ có 461.200 người chiếm 43,9 ; khu vực thành thị có 502.900 người chiếm 47,8%); nhóm thanh niên (15-24 tuổi có 559.400 người chiếm 53,2 Trong số những người bị thất nghiệp, có 417,3 nghìn người có chuyên môn kỹ thuật chiếm 39,7 , bao gồm: 155.500 đại học trở lên; 115.000 đẳng chuyên nghiệp; 6.100 cao đẳng nghề; 63.800 trung cấp chuyên nghiệp; 15.000 trung cấp nghề; 26,9 nghìn sơ cấp nghề và 35.200 có chứng chỉ nghề dưới 3 tháng Đáng chú ý, trong số những người bị thất nghiệp, trong quý 4/2015, tỷ lệ thất nghiệp giảm nhẹ so với quý 3 song vẫn tăng so với cùng kỳ 2014 Nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp đứng ở vị trí cao nhất là 8,16 , tiếp theo là cao đẳng nghề 3,44 Tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm tuổi thanh niên là 7,21 , gấp 3,3 lần tỷ lệ chung Trong đó, thanh niên thành thị là 12,21 Đáng lưu ý, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên độ tuổi 20-24 có trình độ chuyên môn kỹ thuật ở mức rất cao: cao đẳng chuyên nghiệp là 19,58 và đại học trở lên 20,79 Tình trạng thất nghiệp dài hạn đã được cải thiện: tỷ lệ người bị thất nghiệp trên 12 tháng của quý4/2015 giảm còn 23,1 so với 25 của quý 3/2015 1
1Website Bộ Lao động Thương binh và Xã hội 2016 , Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam, số 8,
quý 4/2015, tại địa chỉ http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=24449, truy cập ngày
03/5/2016
Trang 8Nhằm đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết thất nghiệp là một trong những nhiệm vụ hàng đầu và chỉ tiêu về thất nghiệp đã được quan tâm, đã là một trong những chỉ tiêu quan trọng mà cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất đưa ra thảo luận Ngày 12 tháng 4 năm 2016, ngày họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13 đã thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020 với tỷ
lệ thất nghiệp tại khu vực thành thị năm 2020 dưới 4 2
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2009, tại nước ta, lần đầu tiên việc tham gia Bảo hiểm thất nghiệp là bắt buộc, đây là một trong những nỗ lực của Nhà nước trong việc đảm bảo các chính sách về an sinh xã hội thay vì trước đây có những chính sách mang tính tạm thời, không giải quyết được vấn đề cơ bản của tình trạng thất nghiệp như trợ cấp thôi việc
Sau 7 năm thực hiện, chính sách Bảo hiểm thất nghiệp đã mang lại nhiều thành công, được khẳng định là một chính sách đúng đắn, có tác dụng tích cực góp phần quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội nói chung và chính sách đã tác dụng tích cực, thiết thực, trực tiếp tới người lao động, người sử dụng lao động, do
đó chính sách đã được đón nhận và đi vào cuộc sống Năm 2015, số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 10,3 triệu người, thu bảo hiểm thất nghiệp là 9.939,5 tỷ đồng Năm 2016 ngành Bảo hiểm xã hội xác định chỉ tiêu: số tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 10.485.992 người, tổng thu bảo hiểm thất nghiệp là 10.363 tỷ đồng và tổng chi bảo hiểm thất nghiệp là 7.371 tỷ đồng3
Việc thực hiện những quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trong thực tế nói chung hay tại thành phố Hồ Chí Minh nói riêng chắc chắn còn phát sinh những vấn đề cần thiết phải điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp nhằm phát huy cao nhất những ưu việt của chính sách bảo hiểm thất nghiệp nên việc nghiên cứu những quy định pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp thông qua thực tiễn thi hành
2 Luân Dũng 2016 , Đặt chỉ tiêu GDP bình quân đầu người lên 3.200–3.500 USD, Website Cafef.vn,tại địa
chỉhttp://cafef.vn/dat-chi-tieu-tang-gdp-binh-quan-dau-nguoi-len-3200-3500-usd-20160412141451507.chn, truy cập ngày 03/5/2016
3 Quang Lê (2016), Số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp năm 2015 tăng 11,6% so với năm 2014,
Cổng thông tin điện tử việc làm – Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, tại địa chỉ
http://vieclamvietnam.gov.vn/TinTuc/tabid/447/catid/3553/itemid/56051/Default.aspx?Tieude=So_nguoi_t ham_gia_Bao_hiem_that_nghiep_nam_2015_tang_11_6 so_voi_2014, truy cập ngày 03/5/2016
Trang 9tại thành phố Hồ Chí Minh để tìm ra những bất cập là rào cản, khó khăn trong thực tiễn từ đó có những kiến nghị giải pháp hoàn thiện là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng nhằm hoàn thiện một chính sách mới được ban hành với vai trò đảm bảo an sinh xã hội Đây cũng là lý do để em chọn đề tài luận văn Thạc sĩ luật học cho mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Tác giả Nguyễn Văn Phần có bài “Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu trí” trong sách “Một số vấn đề về chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay” do Nhà xuất bản Lao động xuất bản năm 1993
Tiến sĩ Nguyễn Văn Định và cộng sự 2000 , “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp
ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường”, Đề tài khoa học cấp Bộ, mã số B2000-38-62, Bộ môn Kinh tế Bảo hiểm, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
PGS.TS Nguyễn Văn Kỷ, “Luật bảo hiểm xã hội và vấn đề bảo hiểm thất nghiệp”, trong sách “ Bảo hiểm xã hội - những điều cần biết ”, Nhà xuất bản Thống
Ngoài ra có các công trình: Nguyễn Thị Mộng Trầm 2010 , “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam, vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng”, Luận văn cao học, Đại học Luật TP Hồ Chí Minh; Huỳnh Thị Lệ Kha 2014 , “Bảo hiểm thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Các công trình khác có liên quan là các bài tiểu luận của sinh viên ngành luật tại các cơ sở đào tạo, các bài báo trên Tạp chí, tham luận tại hội thảo, hội nghị,…
Trang 10Nhìn chung các công trình nêu và giải quyết những vấn đề như: sự cần thiết phải có chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam và điều kiện về mặt tài chính để xây dựng và thực hiện chế độ này; Khi xây dựng Luật Bảo hiểm xã hội ở nước ta có nên hay không nên đề cập đến vấn đề bảo hiểm thất nghiệp; Sự cần thiết khách quan phải triển khai Bảo hiểm thất nghiệp, phân tích thực trạng thất nghiệp và nêu lên một số quan điểm chung khi tổ chức triển khai Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta; Phản ánh thực trạng thất nghiệp, nguyên nhân và hậu quả thất nghiệp trong một giai đoạn nào đó, ở những nước và những khu vực nào đó; Các công trình khác trình bày thực trạng việc thực hiện Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội,…
Hiện nay pháp luật về Bảo hiểm thất nghiệp đã được sửa đổi bổ sung nên những công trình khoa học trên mang giá trị lịch sử và đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quy định pháp luật bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật Việc làm áp dụng từ năm 2015 và quan trọng là đánh giá thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh từ đó có những kiến nghị, bổ sung, sửa đổi hoàn thiện pháp luật mới ban hành
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Đánh giá chung tình hình thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh, những quy định pháp luật bảo hiểm thất nghiệp còn thiếu khả thi trong thực tiễn và đưa ra kiến nghị để tham khảo hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp
- Nhiệm vụ: nghiên cứu pháp luật có liên quan về bảo hiểm thất nghiệp; thực tiễn thi hành tại thành phố Chí Minh qua đánh giá tác động những bất cập nhằm kiến nghị hoàn thiện pháp luật nói chung và nâng cao hiệu quả thực thi tại địa phương nói riêng
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: các quy định của pháp luật liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp từ khi có chính sách bảo hiểm thất nghiệp 2009 đến nay
Trang 11- Phạm vi nghiên cứu: tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực trạng quy định, đánh giá những bất cập của pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thi hành tại thành phố Hồ Chí Minh đến hết năm 2015 nhằm đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và hiệu quả thực thi pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu thông qua việc hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật là Luật, Nghị định, Thông
tư và các văn bản, quy định khác có liên quan
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: tổng hợp, phân tích từ các Báo cáo tổng kết của các cơ quan hành chính nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh, số liệu thống
kê, kết hợp với nguồn thông tin từ cơ quan thông tin đại chúng, nguồn thông tin hợp pháp và đáng tin cậy khác nhằm đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại tại địa phương
- Sử dụng phương pháp chuyên gia nhằm khảo nghiệm, xin ý kiến đánh giá tính khả thi đối với các đề xuất, giải pháp trình bày trong Bản luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Nghiên cứu có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn quy định pháp luật bảo hiểm thất nghiệp hiện hành để đánh giá vướng mắc, hạn chế tác động và thực tiễn thi hành của đối tượng áp dụng, từ đó có kiến nghị sửa đổi, bổ sung khắc phục bất cập nhằm hoàn thiện pháp luật mới ban hành và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật tại một một địa phương cụ thể
Kết quả nghiên cứu và những phân tích, kiến nghị của Bản luận văn có giá trị tham khảo đối với cơ quan quản lý nhà nước về Bảo hiểm thất nghiệp nhằm hoàn chỉnh pháp luật nói chung và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật tại địa phương nói riêng
Bản Luận văn cũng có thể là tài liệu học tập, tham khảo cho sinh viên và những người quan tâm đến pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp
Trang 127 Bố cục của luận văn
Bố cục của Bản luận văn bao gồm 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Trong đó phần nội dung bao gồm 03 chương:
Chương 1: Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
Chương 2: Các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh và kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
Trang 13CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ PHÁP
LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP QUỐC TẾ
1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1 Khái niệm thất nghiệp
Xem xét một cách khái quát là khi có một số người muốn làm việc nhưng không thể có được việc làm thì được hiểu là thất nghiệp
Nhà kinh tế học M.Keynes, Samuelson có quan điềm:“Thất nghiệp là vấn đề trung tâm trong các xã hội hiện đại Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động xã hội, bị tách khỏi tư liệu sản xuất Và trong nền kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại một bộ phận người lao động bị thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào khả năng giải quyết việc làm của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ đối với giới chủ”, Ông đã cho rằng khả
năng quản lý nhà nước dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp
Tổ chức Lao động Quốc tế ILO định nghĩa: “Thất nghiệp là sự ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”4 ILO cho rằng điều kiện để xác định thất nghiệp đó là có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc, sau này bổ sung thêm nội dung “tích cực tìm kiếm việc làm”5 ILO lý giải thất nghiệp trên góc
độ tình trạng việc làm, không đề cập vấn đề xã hội
Tại nước ta, có nhiều quan điểm về thất nghiệp song có thể khẳng định thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm nhưng không có việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc
Người ta sử dụng phổ biến chỉ tiêu “tỷ lệ thất nghiệp” để đo lường tình hình thất nghiệp tại một quốc gia đó là tỷ số giữa tổng số người lao động không có việc làm và tổng số lực lượng lao động xã hội
Chúng ta có thể phân loại thất nghiệp thành những dạng sau đây: (1) Thất nghiệp cổ điển là dạng thất nghiệp liên quan tới loại việc làm mà tiền công thực tế trả cho người làm việc đó cao hơn mức tiền công thực tế bình quân của thị trường
4 Điều 20, Công ước Quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội số 102 (1952),
5 Điều 10, Công ước Xúc tiến bảo vệ và phòng chống thất nghiệp C168 1988
Trang 14lao động chung, khiến cho lượng cung cầu về lao động đối với công việc này cao hơn lượng cầu Dạng thất nghiệp này còn được gọi là thất nghiệp tiền công thực tế (2) Thất nghiệp cơ cấu là dạng thất nghiệp tạm thời do người lao động đang chờ để tìm được việc làm mà họ kỳ vọng chứ không phải không thể tìm được việc làm (3) Thất nghiệp chu kỳ là dạng thất nghiệp liên quan đến chu kỳ kinh tế tại pha mà tổng cầu thấp hơn tổng cung dẫn tới doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất và phải giảm thuê mướn lao động (4) Thất nghiệp ma sát là dạng thất nghiệp do người lao động
và người thuê mướn lao động không tìm được nhau vì những lý do khác biệt về địa
lý, thiếu thông tin việc làm… 5 Thất nghiệp trá hình là dạng thất nghiệp của những người lao động không được sử dụng hoặc không được sử dụng hết kỷ năng (6) Thất nghiệp ẩn là dạng thất nghiệp không được báo cáo
1.1.2 Khái niệm người thất nghiệp
ILO quan điểm người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, hiện tại không có việc làm, muốn làm việc và hiện rất sẵn sàng
để làm việc, đang tích cực tìm kiếm việc làm6 Quan điểm này cho rằng chỉ những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động không có việc làm và đang đi tìm việc làm thì mới gọi là người thất nghiệp ILO cũng cho rằng việc “tiến hành những bước đi cụ thể nhằm tìm kiếm việc làm được trả công hoặc tự tạo việc làm”
đó là đang tìm việc làm
Những người ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không lao động, không có nhu cầu việc làm thì không được coi là người thất nghiệp
Khái niệm người thất nghiệp đã được luật hóa theo khoản 4 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 hiện đã hết hiệu lực quy định người thất nghiệp là “người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm” Quy định này so với tiêu
6Nguồn Bộ LĐ TB & XH, Tienpham51 26/3/13 trong thời sự Vấn đề thất nghiệp và khái niệm người thất
nghiệp tại địa chỉ website
http://diendan.vfpress.vn/threads/van-de-that-nghiep-va-khai-niem-%E2%80%9Cnguoi-that-nghiep%E2%80%9D.21364/ truy cập ngày 03/05/2016
Trang 15chí phổ biến ILO thì tỏ ra hạn chế vì phạm vi xác định người thất nghiệp của khái niệm này quá hẹp, Bảo hiểm thất nghiệp chỉ là một trong những chính sách phát triển kinh tế theo cơ chế bảo hiểm, do đó không thể xem việc tham gia là một tiêu chuẩn đề xem xét tình trạng việc làm của tất cả lao động trong xã hội Quy định này
đã tạo ra một giới hạn chỉ những người thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp mà không có việc làm mới được coi là người thất nghiệp đồng nghĩa những trường hợp không thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp, lao động tự do thì không xác định người thất nghiệp, tiêu chí tiếp theo
là bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc và chưa tìm được việc làm khác, chưa tìm được việc làm thì xác định là người thất nghiệp không cần biết người đó có thu nhập từ những nguồn khác hay không
1.1.3 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp (BHTN)
Trong các chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp nhằm hỗ trợ người thất nghiệp để thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị mất thu nhập do thất nghiệp BHTN là quá trình tổ chức và sử dụng một quỹ được hình thành từ sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động,
và sự hỗ trợ của nhà nước nhằm đảm bảo ổn định cuộc sống cho người thất nghiệp khi gặp rủi ro về việc làm Về mặt kinh tế, các đối tượng tham gia BHTN đã huy động và hình thành một quỹ tiền tệ chung nhằm hỗ trợ cho những người lao động bị mất việc làm, giúp đỡ họ giải quyết khó khăn tạm thời để sớm tìm được việc làm mới từ đó góp phần gia tăng năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế, giảm các nguồn chi từ ngân sách nhà nước hoặc các quỹ tiền tệ khác đối với các chương trình hỗ trợ liên quan đến người thất nghiệp.Về mặt pháp lý, BHTN là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các bên tham gia vào quá trình thực hiện các chế độ về bảo hiểm thất nghiệp.Về mặt xã hội, BHTN giúp hạn chế những rủi ro có thể mang đến cho con người từ việc mất việc làm và thu nhập Nhà nước đã sử dụng công cụ này như là một trong những biện pháp đảm bảo an sinh xã hội, góp phần đảm bảo an ninh trật tự, giải quyết những bất ổn về tâm lý của những người thất nghiệp Những người tham gia BHTN họ cũng yên tâm trong quá
Trang 16trình làm việc, kích thích tăng năng suất lao động, thu hẹp khoảng cách mâu thuẫn quyền lợi giữa người lao động và người sử dụng lao động Có thể hiểu BHTN là một trong những chế độ thuộc hệ thống các chế độ về an sinh xã hội của một quốc gia, được hình thành nhằm khắc phục những biến cố xẩy ra đối với việc làm của người lao động bằng các biện pháp trợ cấp kinh tế và hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới
Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp7
Phân biệt bảo hiểm thất nghiệp với các loại hình bảo hiểm khác
BHTN cũng giống các loại hình bảo hiểm khác là nhằm bù đắp, chia sẻ những tổn thất do rủi ro không mong muốn mang tới BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người, nhưng nó khác nhau ở chỗ là không có hợp đồng bảo hiểm trước, người tham gia và người thu hưởng là một
BHTN không có con số dự báo chính xác về số lượng cũng như là mức độ thiệt hại về kinh tế có thể là rất lớn trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế
So sánh với bảo hiểm xã hội thì BHTN cũng bù đắp những rủi ro cho người lao động trong quan hệ lao động nhưng BHTN có các nội dung khác về đối tượng, mục đích và cách thức triển khai Những khác biệt đó là:
- Đối tượng tham gia BHTN bao gồm cả người sử dụng lao động và người lao động nhưng đối tượng hưởng bảo hiểm thất nghiệp thì chỉ là người lao động chấm dứt Hợp đồng lao động hoặc viên chức chấm dứt Hợp đồng làm việc
- Mục đích: ngoài mục đích trợ cấp tài chính thì BHTN còn thực hiện các chính sách khác là hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; hỗ trợ học nghề và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động
- Pháp luật liên quan đến BHTN có nhiều ngành luật như lao động, doanh nghiệp, phá sản, việc làm
1.2 Đặc điểm, bản chất và vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
7 Khoản 4, Điều 3, Luật Việc làm 2013
Trang 171.2.1 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp
- BHTN là một chế độ nằm trong hệ thống các chế độ về bảo hiểm xã hội, thất nghiệp là loại rủi ro không chỉ có tác động rất lớn đến đời sống của người lao động và gia đình họ, thất nghiệp còn tác động đến an sinh xã hội của mỗi quốc gia
do đó chế độ về BHTN có vai trò rất quan trọng trong hệ thống chế độ về bảo hiểm
xã hội
- BHTN là một biện pháp mang tính chủ động nhằm bù đắp, đối phó với rủi
ro khi người lao động mất việc làm Quỹ BHTN được hình thành từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động có sự hỗ trợ của Nhà nước và hoạt động trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro, có tham gia thì được hỗ trợ, bên cạnh chính sách trợ cấp về kinh tế thì người thất nghiệp còn được hỗ trợ học nghề, tìm kiếm việc làm với mong muốn người lao động nhanh chóng tìm kiếm được việc làm mới
- Người lao động phải có quá trình nhất định trực tiếp tham gia đóng BHTN thì mới được hưởng chế độ trợ cấp về BHTN Đây là đặc điểm khác biệt với các trợ cấp khác như trợ cấp của Chính phủ, trợ cấp thôi việc,…là những trợ cấp mà người lao động không phải trực tiếp tham gia đóng góp Cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ chi trả trợ cấp cho người tham gia BHTN với mức chi thấp hơn nhiều so với thu nhập của họ khi đang có việc làm và thời gian trợ cấp phụ thuộc vào thời gian tham gia BHTN của họ Tùy thuộc vào thời gian tham gia BHTN của người lao động mà thời gian trợ cấp BHTN có giới hạn nhất định vì BHTN luôn mong muốn người lao động sớm có việc làm
1.2.2 Bản chất của bảo hiểm thất nghiệp
Mục đích lớn nhất của BHTN là đảm bảo cho người lao động mất việc làm
có một khoản thu nhập, bảo hiểm y tế trong một khoảng thời gian nhất định và có các biện pháp hỗ trợ khác như tư vấn học nghề, dạy nghề, giới thiệu việc làm nhằm giúp cho họ nhanh chóng trở lại thị trường lao động Ngoài ra BHTN còn giảm một phần gánh nặng cho ngân sách Nhà nước đối với các khoản chi cho an sinh xã hội
đó cũng là xu hướng chung của cộng đồng quốc tế đối với vấn đề an sinh xã hội
Trang 18Thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, ngoài các nghiệp vụ thu chi thì BHTN còn khảo sát, nghiên cứu, điều tra thông tin về thị trường lao động, hướng nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp để tạo các điều kiện thuận lợi nhất cho người lao động tìm kiếm việc làm Như vậy xuất phát từ quan hệ lao động giống bảo hiểm xã hội nhưng BHTN gắn liền với tình trạng việc làm
Việc làm và BHTN là hai mặt của sự thống nhất, có quan hệ chặt chẽ và biện chứng với nhau đều với mục tiêu chung là hướng về người lao động, đảm bảo an sinh xã hội từ việc đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động Giải quyết việc làm là quá trình tiếp nối của BHTN, giải quyết tốt vấn đề việc làm thì thất nghiệp sẽ giảm Các đối tượng tích cực tham gia BHTN thì giúp cho quan hệ lao động lành mạnh
Bởi vậy không thể quan điểm là BHTN chỉ là chi trả trợ cấp cho người thất nghiệp trong một thời gian nhất định giải quyết hậu quả mà BHTN còn có chức năng hướng nghiệp, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành nghề hợp lý, bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp cho người lao động, bảo vệ việc làm, tìm kiếm việc làm, làm cầu nối cho cung cầu của thị trường lao động Việc thực hiện tốt các chính sách
và giải pháp đồng bộ sẽ phát huy vai trò của BHTN trong hàng loạt những biện pháp nhằm đảm bảo an sinh xã hội
1.2.3 Mối quan hệ giữa bảo hiểm thất nghiệp với các trợ cấp cho người lao động khi thôi việc
Khi người lao động thôi việc, có 2 loại trợ cấp doanh nghiệp chi trả đó là trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm Hai loại trợ cấp này đều được chi trả khi người lao động chấm dứt quan hệ lao động với người sử dụng lao động trong các trường hợp chủ động hoặc rủi ro do khách quan nhằm mục đích hỗ trợ cho người lao động có điều kiện ổn định cuộc sống để tìm kiếm việc làm mới
Trợ cấp thôi việc được người sử dụng lao động chi trả cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian
Trang 19người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc
là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc8
Trường hợp người lao động bị mất việc làm do doanh nghiệp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc lý do kinh tế hoặc khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động
đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm9
Từ khi triển khai thực hiện chế độ BHTN, thời gian người lao động đóng BHTN không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật lao động, pháp luật về viên chức10 Trước năm 2015 chính sách BHTN theo qui định tại Luật Bảo hiểm xã hội thì cũng quy định tương tự là
“Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật này không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về cán bộ, công chức” 11 Như vậy từ sau ngày 01/01/2009, người lao động bị mất việc làm thì được hưởng các chế độ BHTN đối với thời gian có tham gia BHTN và được hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm đối với khoản thời gian chưa hưởng từ 2009 trở về trước
1.2.4 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
- Trước tiên BHTN giúp cho duy trì, ổn định trật tự xã hội: khi người lao động
bị mất việc làm, thu nhập của họ cũng bị giảm, nó ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ
8 Điều 48, Bộ luật Lao động năm 2012
9 Điều 49, Bộ luật Lao động năm 2012
10 Khoản 3, Điều 45, Luật Việc làm
11 Khoản 6, Điều 139, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006
Trang 20chức đời sống sinh hoạt gia đình, mặt khác, thất nghiệp cũng có thể là mầm mống của các tệ nạn xã hội Khi người thất nghiệp nhận được một khoản trợ cấp trong tình thế khó khăn nhất thời, như là một cứu cánh giúp cho họ duy trì và ổn định cuộc sống không bị xáo trộn nhiều trong một thời gian nhất định Các chế độ BHTN kèm theo như bảo hiểm y tế, hỗ trợ dạy nghề, giới thiệu việc làm,…tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người lao động sớm tìm được việc làm trở lại Có thể nói BHTN
đã tạo và là chỗ dựa về vật chất và tinh thần cho người lao động khi lâm vào tình trạng mất việc làm BHTN góp phần không nhỏ vào việc duy trì, ổn định xã hội
- Ngoài ra BHTN còn đẩy mạnh tái tạo việc làm, phát triển kinh tế: Với chức năng, nhiệm vụ của mình, BHTN là cầu nối về cung cầu thị trường lao động, định hướng nghề nghiệp, tái cơ cấu ngành nghề đã giúp thúc đẩy tái tạo việc làm Bên cạnh đó, BHTN có thể tập trung nguồn quỹ tài chính nhàn rỗi đầu tư lại cho nền kinh tế thông qua các chương trình dự án góp phần phát triển kinh tế đất nước
- Cuối cùng BHTN giúp cho ngân sách Nhà nước giảm chi phí khi nạn thất nghiệp gia tăng và đối với doanh nghiệp thì giảm bớt gánh nặng tài chính vì không phải sử dụng khoản chi lớn để giải quyết chế độ cho người lao động mà thông thường là nhiều người trong cùng 1 lúc trong những thời điểm khủng hoảng kinh tế, doanh nghiệp buộc phải thu hẹp sản xuất mà dẫn đến nhiều người lao động mất việc làm
1.3 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp của Tổ chức Lao động Quốc tế
Việt Nam đã phê chuẩn 21 công ước của ILO, bao gồm năm công ước chính: C29-Công ước về lao động cưỡng bức, 1930 Số 29 ; C100-Công ước về trả công bình đẳng,1951 Số 100 ; C111-Công ước về chống phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp , 1958 Số 111 ; C138-Công ước về tuổi lao động tối thiểu,
1973 Số 138 ; C182-Công ước về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất,
Trang 21Vấn đề đảm bảo cuộc sống cho người thất nghiệp đã được ILO đề cập trong các Công ước và Khuyến nghị sau đây: Công ước số 44 “Bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp” năm 1934; Công ước số 102 “Quy phạm tối thiểu về ansinh xã hội” năm 1952; Công ước số 168 “Xúc tiến bảo vệ và phòng chống thất nghiệp” năm 1988
1.3.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế
Công ước số 44:
Công ước số 44 được Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1934 Theo Công ước này, đối tượng áp dụng BHTN được quy định tại Điều 2, Công ước, chỉ những người làm công ăn lương làm công cho chủ mới được hưởng BHTN; còn những người lao động độc lập thì không thuộc đối tượng BHTN Tại Điều 2 cũng ghi: Tuy nhiên, tùy hoàn cảnh mỗi nước có thể đặt thêm các trường hợp ngoại lệ đối với một số đối tượng thuộc các dạng sau: Người giúp việc nhà; Người lao động làm việc tại nhà; Công chức Nhà nước có việc làm ổn định; Người lao động có thu nhập cao có thể tự mình phòng chống rủi
ro thất nghiệp; Những người lao động làm việc theo mùa vụ; Những lao động trẻ, sát cận tuổi lao động theo quy định; Những lao động đã vượt quá tuổi quy định, nghỉ hưu, đang được hưởng trợ cấp hưu trí; Người lao động làm việc tùy dịp hoặc phụ trợ; Thành viên trong gia đình của chủ nhân Công ước không áp dụng thủy thủ, thủy thủ đánh cá và lao động nông nghiệp
Trường hợp được bảo vệ: Công ước 102 quy định: “Trường hợp bảo vệ phải bao gồm tình trạng gián đoạn thu nhập như pháp luật hoặc các quy định của quốc
Trang 22gia quy định, và xảy ra do không thể có được một công việc thích hợp, trong tình hình người được bảo vệ có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc.” Điều 20 Điều 21 quy định những người được bảo vệ bao gồm: “những người làm công ăn lương được quy định, tổng số ít nhất chiếm 50 toàn bộ những người làm công ăn lương; hoặc mọi người thường trú mà phương tiện sinh sống khi trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định; hoặc bao gồm những người làm công ăn lương mà tổng số ít nhất chiếm 50 toàn bộ những người làm công ăn lương làm việc trong các cơ sở công nghiệp đang sử dụng từ 20 người trở lên”
Công ước số 168
Công ước này được hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động Quốc tế thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1988 đã đặt ra mục tiêu tăng cường mức độ bảo vệ của hệ thống bồi thườngđối với các nước phát triển vì những nước đó đang ở thời điểm thiết lập một hệ thống bồi thường thất nghiệp tại Điều 2, Phần I - Những quy định chung – như sau: “Mọi nước thành viên sẽ thực hiện từng bước phù hợp để phối hợp với hệ thống bảo vệ chống thất nghiệp và chính sách việc làm Cuối cùng, điều này đảm bảo rằng hệ thống bảo vệ chống thất nghiệp và những biện pháp đặc biệt bảo đảm trợ cấp thất nghiệp, góp phần khuyến khích đầy đủ việc tự do lựa chọn việc làm có hiệu quả và không ngăn cản người sử dụng lao động được yêu cầu và người lao động được tìm kiếm việc làm hiệu quả”
Trường hợp được bảo vệ được quy định tại Điều 10 bao gồm: “Những người
có khả năng lao động nhưng bị thất nghiệp toàn phần do không có việc làm phù hợp, dẫn đến mất nguồn sống” Ngoài ra Điều 10 của Công ước cũng quy định:
“Mỗi nước thành viên sẽ cố gắng mở rộng sự bảo vệ đối với những trường hợp: Mất tiền lương vì thất nghiệp từng phần do tạm thời giảm bớt công việc bình thường tại nhà hoặc do pháp luật quy định;Sự đình chỉ hoặc giảm bớt thu nhập do đình chỉ tạm thời công việc mà không có bất cứ sự gián đoạn nào trong mối quan hệ việc làm bởi những lý do, đặc biệt là kinh tế, công nghệ, cơ cấu hoặc nhu cầu tự nhiên tương tự” Đồng thời, mỗi nước thành viên sẽ cố gắng trả thêm trợ cấp làm việc không trọn giờ cho những người lao động đang tìm kiếm việc làm tòan bộ thời gian Toàn bộ số trợ
Trang 23cấp và tiền lương từ việc làm không trọn giờ của họ có thể duy trì sự khuyến khích đạt tới việc làm toàn bộ thời gian
Những người được bảo vệ được quy định tại Điều 11: “Những người làm công ăn lương theo quy định, không ít hơn 85 tòan bộ những người làm công ăn lương, kể cả những người làm công ăn lương khu vực công cộng và những người học nghề.” hoặc “những người làm công ăn lương theo quy định không ít hơn 50 toàn bộ những người làm công ăn lương; hoặc nơi được quy định đặc biệt theo trình
độ phát triển, những người làm công ăn lương không ít hơn 50 tòan bộ những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp có sử dụng từ 20 người trở lên”
1.3.2 Điều kiện hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp
Công ước số 44
Theo Công ước số 44, để được hưởng bảo hiểm thất nghiệp, người thất nghiệp phải có đủ các điều kiện sau: (1) Có năng lực làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng hiện tại không có việc làm; (2) Có đăng ký tìm việc tại một phòng tìm việc
do cơ quan có thẩm quyền xác nhận hay tại một trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm do Nhà nước quản lý; (3) Có sổ bảo hiểm thất nghiệp để chứng nhận có tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời hạn quy định của thời kỳ dự bị; (4) Trước đó không tự ý nghỉ việc vô cớ hoặc không phải bị nghỉ việc vì kỷ luật hay tranh chấp nghề nghiệp; (5) Có giấy chứng nhận mức lương hay thu nhập trước khi bị thất nghiệp trường hợp trả trợ cấp theo mức lương
Điều 6, Công ước số 44 hướng dẫn: “Thời kỳ dự bị thường không vượt quá
26 tuần lễ làm việc tức là tối thiểu phải có 26 lần đóng góp hàng tuần trong thời gian 12 tháng trước khi xin hưởng trợ cấp BHTN” Thời gian hoãn hưởng trợ cấp: Công ước số 44 quy định thời gian này không được vượt quá 8 ngày cho mỗi thời
kỳ thất nghiệp Thời gian hưởng trợ cấp: Theo Công ước số 44, thời gian trả trợ cấp dài hay ngắn là tùy thuộc vào khả năng tài chính của quỹ BHTN Thời gian này càng dài càng tốt nếu quỹ còn đủ khả năng chi trả và người lao động còn có yêu cầu giúp đỡ khi nào còn ở trong tình trạng thất nghiệp thì người lao động còn cần được nhận trợ cấp BHTN
Trang 24do các cơ quan có thẩm quyền quyết định theo những quy tắc nhất định
Thời gian hưởng trợ cấp được xác định tại Điều 24: “Trợ cấp phải được trả trong suốt thời gian trường hợp bảo vệ xảy ra, với một ngoại trừ là thời gian được trợ cấp có thể giới hạn: a Ở 13 tuần trong thời kỳ 12 tháng, nếu người được bảo vệ
là người làm công ăn lương; b Ở 26 tuần trong trong thời kỳ 12 tháng nếu người được bảo vệ là người thường trú mà các phương tiện sinh sống trong trường hợp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định.”
Thời gian hoãn hưởng trợ cấp được quy định như sau: “Trợ cấp có thể không được trả trong một thời gian tạm chờ là 7 ngày đầu tiên trong từng trường hợp gián đoạn thu nhập, và những ngày thất nghiệp trước và sau một công việc tạm thời không quá một thời hạn đã định sẽ được tính như một bộ phận của trường hợp gián đoạn thu nhập đó Nếu là người lao động làm theo mùa vụ thì thời gian được hưởng trợ cấp và thời gian tạm chờ có thể được quy định thích hợp với điều kiện làm việc của họ”
Công ước số 168
Điều 12 quy định phương pháp bảo vệ: “Mỗi nước thành viên có thể lựa chọn quy định một hoặc nhiều phương pháp bảo vệ, có hoặc không có hệ thống đóng góp, hoặc bằng sự kết hợp giữa các hệ thống đó”
Mức trợ cấp được xác định dựa vào nguyên tắc chung Điều 14 : “Trong trường hợp thất nghiệp hoàn toàn, khoản trợ cấp được chi trả định kỳ sẽ được tính toán trên cơ sở cung cấp cho người được hưởng một khoản thay thế một phần tiền
Trang 25công và chuyển tiếp, đồng thời tránh tạo ra việc không khuyến khích làm việc hoặc tạo ra việc làm”
Mức trợ cấp được quy định cụ thể tại Điều 15: “ a Nếu trợ cấp đó căn cứ vào mức đóng góp của chính người được bảo vệ hoặc của đại diện của họ hoặc căn cứ vào thu nhập trước đó, thì sẽ được ấn định không ít hơn 50 mức thu nhập trước
đó, được phép ấn định mức trợ cấp tối đa hoặc mức thu nhập được xem xét có liên quan, ví dụ tiền lương của công nhân lành nghề hoặc tiền lương trung bình của công nhân trong vùng có liên quan b Nếu trợ cấp đó không căn cứ vào mức đóng góp hoặc thu nhập trước đó, thì có thể được ấn định không ít hơn 50 tiền lương tối thiểu đã được ấn định hoặc mức tiền lương của người lao động bình thường, hoặc theo mức bảo đảm mức sống cơ bản tối thiểu ở mức cao nhất.”
Công ước chỉ đưa ra những chỉ dẫn về thời gian đóng góp trước khi thất nghiệp tại Điều 17 như sau: “1 Nếu luật pháp của nước thành viên quy định quyền nhận trợ cấp thất nghiệp với điều kiện hoàn thành một thời gian làm việc, thời gian này không được vượt quá mức cần thiết 2 Mỗi nước thành viên phải cố gắng tính toán khoảng thời gian làm việc cần thiết đối với từng nghề nghiệp của những người lao động theo thời vụ”
Thời gian trợ cấp được xác định tại Điều 19: “Trong trường hợp thất nghiệp hoàn toàn, giai đoạn đầu của việc trả trợ cấp có thể được giới hạn tới 26 tuần cho mỗi kỳ thất nghiệp hoặc tới 39 tuần trong mỗi giai đoạn 24 tháng”
Các trường hợp không được hưởng hoặc bị cắt giảm trợ cấp được nêu tại Điều 20: “Tiền trợ cấp mà người được bảo vệ có quyền nhận trong trường hợp thất nghiệp hoàn toàn hoặc tạm thời bị gián đoạn trong thu nhập do ngừng việc tạm thời
mà không có bất cứ sự gián đoạn nào trong quan hệ làm việc, có thể bị từ chối, hủy
bỏ, gián đoạn hoặc bị giảm trong những trường hợp sau: (1) Chừng nào đương sự không có mặt trên lãnh thổ của nước thành viên; (2) Bị cơ quan có thẩm quyền xác nhận rằng đương sự bị sa thải do lỗi cố ý; (3) Có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền rằng đương sự tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng; (4) Trong thời gian có tranh chấp về lao động, khi đương sự bỏ việc để tham gia vào tranh chấp lao động
Trang 26hoặc khi đương sự bị ngăn cản làm việc do hậu quả trực tiếp của sự ngừng việc do tranh chấp lao động đó (5) Khi đương sự có ý định nhận hoặc đã nhận trợ cấp một cách gian lận; (6) Khi đương sự không có lý do xác đáng, không thể sử dụng những phương tiện có sẵn tại chỗ, hướng dẫn nghề, đào tạo, đào tại lại hoặc tuyển dụng lại vào những công việc thích hợp; (7) Chừng nào đương sự được nhận những khoản thu nhập khác do pháp luật của nước thành viên quy định, trừ trợ cấp gia đình, với điều kiện phần trợ cấp bị trì hoãn không vượt quá khoản trợ cấp kia (8) Trợ cấp sẽ
bị cắt giảm khi từ chối công việc làm thích hợp theo Điều 21: “Trợ cấp mà người được bảo vệ được quyền hưởng khi thất nghiệp sẽ bị từ chối, hủy bỏ, trì hoãn hoặc cắt giảm tùy mức độ khi đương sự từ chối không nhận việc làm thích hợp”
Điều 22 quy định: Nếu người thất nghiệp được hưởng các khoản trợ cấp khác như khoản bồi thường thu nhập từ người sử dụng lao động thì sẽ bị cắt hoặc giảm trợ cấp thất nghiệp: “Khi người lao động được bảo vệ đã nhận được tiền trực tiếp từ người sử dụng lao động hoặc bất cứ từ nguồn nào mà pháp luật hoặc quy định của quốc gia đã quy định hay bằng thỏa ước tập thể, mục đích chính của khoản tiền này là góp phần bồi thường những thiệt hại về thu nhập do việc thất nghiệp hoàn toàn gây ra Trợ cấp thất nghiệp mà đương sự nhận có thể tạm ngừng trong thời gian có khoản tiền đền bù thiệt hại mà đương sự phải chịu Khoản tiền này có thể bị cắt giảm tùy theo mức tương ứng với giá trị quy ra tiền của trợ cấp thất nghiệp mà đương sự có quyền hưởng trong thời gian chịu khoản tiền đền bù thiệt hại, tùy theo quy định của mỗi nước thành viên”
Vấn đề chăm sóc y tế cho người thất nghiệp: Công ước 168 cũng hướng dẫn các nước thành viên cần đảm bảo chăm sóc y tế cho những người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp và những người phụ thuộc vào người thất nghiệp
Những quy định đặc biệt cho người mới xin việc được Công ước 168 khẳng định tại Điều 26: “Các nước thành viên phải tính đến một thực tế là có nhiều trường hợp người tìm việc chưa bao giờ hoặc không được xem là thất nghiệp, hoặc chưa bao giờ, hoặc không được tham gia chương trình bảo vệ người thất nghiệp Vì vậy,
ít nhất 3 trong số 10 trường hợp người đang tìm việc làm sau đây phải được nhận
Trang 27trợ cấp xã hội theo thời hạn và những điều kiện đã được xác định: a Các thiếu niên
đã hoàn thành chương trình dạy nghề; b Những thiếu niên đã hoàn thành chương trình học; c Thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc; d Người mới nghỉ nuôi con nhỏ, chăm sóc người: ốm, tàn tật, già; e Người có vợ hoặc chồng chết, khi họ không được hưởng trợ cấp để sống; f Người đã ly dị hoặc ly thân; g Người mãn hạn tù; h Người đã trưởng thành, gồm cả người tàn tật tốt nghiệp khóa đào tạo; i Người di trú ra nước ngoài nay trở về nước, trừ trường hợp họ đã được hưởng quyền lợi theo luật pháp của nước mà họ đã làm việc trước đó; j Người trước kia là lao động tự do”
Quyền khiếu nại: Công ước 168 cũng quy định về quyền của người được hưởng trợ cấp trong việc khiếu nại, kháng nghị khi bị từ chối, thu hồi, hoãn trả hoặc cắt giảm trợ cấp thất nghiệp Điều 27 : “Trong trường hợp từ chối, thu hồi, hoãn hoặc cắt giảm trợ cấp hoặc có sự tranh chấp về số tiền trợ cấp, người khiếu nại có quyền khiếu nại lên cơ quan quản lý hệ thống trợ cấp và sau đó có quyền kháng nghị lên một cơ quan độc lập Người khiếu nại phải được thông báo bằng văn bản
về thủ tục có sẵn thật đơn giản và nhanh chóng”
Việc quản lý phải có đại diện các bên theo quy định tại Điều 29 như sau: “1 Khi việc quản lý được giao phó trực tiếp cho một cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, các đại diện của người được bảo vệ, và của những người sử dụng lao động sẽ được liên kết lại trong một tổ chức tư vấn theo những điều kiện đã được xác định 2 Khi việc quản lý không được giao phó cho một cơ quan của Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, thì: a Đại biểu của những người được bảo vệ sẽ tham gia vào tổ chức quản lý hoặc được liên kết lại trong tổ chức có khả năng tư vấn theo những điều kiện đã được xác định; b Pháp luật hoặc quy định cũng cho phép sự tham gia của các đại diện của người sử dụng lao động; c Pháp luật hoặc quy định có thể cho phép có sự tham gia của đại diện cơ quan có thẩm quyền.”
Theo các công ước này, người lao động cần được bảo vệ trước rủi ro thất nghiệp Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của mỗi quốc gia mà đối tượng thuộc diện
Trang 28bảo vệ có thể chỉ bao gồm bộ phận người lao động làm công ăn lương hoặc được
mở rộng cho tất cả những người lao động bị thất nghiệp toàn phần
Về điều kiện hưởng trợ cấp: Muốn được hưởng trợ cấp BHTN, người thất
nghiệp phải có đủ các điều kiện như: Có năng lực làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng hiện tại không có việc làm; Có đăng ký tìm việc tại một phòng tìm việc do cơ quan có thẩm quyền xác nhận hay tại một trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm
do Nhà nước quản lý; Có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời hạn quy định của thời kỳ dự bị; Trước đó không tự ý nghỉ việc vô cớ hoặc không phải bị nghỉ việc vì kỷ luật hay tranh chấp nghề nghiệp
Về thời gian hưởng trợ cấp BHTN: Người lao động chỉ được hưởng trợ cấp
BHTN sau thời gian chờ nhất định Thời gian hưởng trợ cấp phụ thuộc vào khả năng chi trả của quỹ BHTN, thời gian hưởng càng dài càng tốt nhưng cũng cần có giới hạn nhằm khuyến khích người lao động nhanh chóng tìm việc làm, quay trở lại thị trường lao động Mức trợ cấp BHTN cần được quy định là tỷ lệ nhất định của tiền lương, tiền công trước khi thất nghiệp và cũng cần xét đến hoàn cảnh gia đình, các nguồn thu nhập khác của người thất nghiệp
Với những người thất nghiệp mà chưa từng có việc làm bao giờ hoặc không được tham gia chương trình BHTN thì cần phải được nhận trợ cấp xã hội theo thời hạn và những điều kiện đã được xác định
Trang 29CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
2.1 Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp
2.1.1 Người lao động
Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau13: (1) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; (2) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; (3) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng
Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định nêu trên thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp Người lao động theo quy định nêu trên đang hưởng lương hưu, giúp việc gia đình thì không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp Như vậy không phải tất cả các đối tượng người lao động đều bắt buộc tham gia BNTN
Những quy định trên áp dụng từ năm 2015, so với quy định cũ14 thì mở rộng thêm đối tượng là người lao động làm việc với Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, quy định này tiến bộ hơn vì nhóm những đối tượng này có tính chất công việc không ổn định, rất dễ mất việc làm và họ cần được quan tâm bảo vệ nhiều hơn
2.1.2 Người sử dụng lao động
Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng
13 Khoản 1,2, Điều 43, Luật Việc làm
14 Khoản 3, Điều 2, Luật Bảo hiểm xã hội
Trang 30làm việc hoặc hợp đồng lao động quy định nêu trên15 Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn; hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn; Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng
Quy định hiện hành bổ sung thêm đối tượng là hộ gia đình, mở rộng phạm vi người sử dụng lao động là đối tượng tham gia BHTN so với quy định trước
201516thì chỉ trường hợp người sử dụng lao động có sử dụng từ 10 lao động trở lên mới phải tham gia BHTN Những quy định này đã mở rộng đối tượng bắt buộc tham gia BHTN và phù hợp với lộ trình cải cách, hoàn thiện chính sách BHTN phù hợp với thông lệ quốc tế
2.2 Hình thành, sử dụng và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
- Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội Trường hợp mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cao hơn hai mươi tháng lương cơ sở thì mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng hai mươi tháng lương cơ sở tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp
- Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người
sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội Trường hợp mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng hai mươi tháng lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp
2.2.2 Mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp
15 Khoản 3, Điều 43, Luật Việc làm
16 Khoản 4, Điều 2, Luật Bảo hiểm xã hội
17 Điều 58, Luật Việc làm
Trang 31Mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau18: (1) Người lao động đóng bằng 1 tiền lương tháng; (2) Người sử dụng lao động đóng bằng 1 quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp; (3) Nhà nước hỗ trợ tối đa 1 quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và
do ngân sách trung ương bảo đảm
2.2.3 Sử dụng và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Sử dụng Quỹ BHTN 19 :
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp được sử dụng như sau: a Chi trả trợ cấp thất nghiệp; b Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động; c Hỗ trợ học nghề; d Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; đ Đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp; e) Chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội20; g Đầu tư
để bảo toàn và tăng trưởng Quỹ
So với quy định cũ thì bổ sung thêm khoản chi “hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động” do chế độ này mới được bổ sung
do Nhà nước sở hữu trên 50 vốn điều lệ; b Đầu tư vào các dự án quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; c Cho ngân sách nhà nước, Ngân hàng phát
18 Khoản 1, Điều 57, Luật Việc làm
19 Khoản 3, Điều 57, Luật Việc làm
20 Quyết định số 15/2016/QĐ-TTg ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về mức chi phí quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế giai đoạn 2016-2018 quy định mức chi phí quản lý BHTN bằng 2,3 dự toán thu, chi bảo hiểm thất nghiệp trừ số chi đóng bảo hiểm y tế cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp , được trích từ quỹ BHTN
Trang 32triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, ngân hàng thương mại do Nhà nước
sở hữu trên 50 vốn điều lệ vay.21
Nguồn hình thành của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp gồm các khoản đóng và hỗ trợ theo quy định tại Khoản 1 Điều 57 Luật Việc làm tiểu mục 2.2.2 ; Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; Nguồn thu hợp pháp khác, bao gồm: Tiền lãi chậm đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định; Các khoản thu hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
Người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp và trích tiền lương của từng người lao động để đóng cùng một lúc vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp Người sử dụng lao động là cơ quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm toàn
bộ kinh phí hoạt động thường xuyên thì ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hàng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Người sử dụng lao động là cơ quan, đơn vị, tổ chức được ngân sách nhà nước bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên thì ngân sách nhà nước bảo đảm nguồn đóng bảo hiểm thất nghiệp cho số người hưởng lương từ ngân sách nhà nước và được bố trí trong dự toán chi thường xuyên hằng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thì khoản đóng bảo hiểm thất nghiệp được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong kỳ
Ngân sách nhà nước hỗ trợ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo nguyên tắc bảo đảm duy trì số dư quỹ hằng năm bằng 02 lần tổng các khoản chi các chế độ bảo hiểm thất nghiệp và chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp của năm trước liền kề nhưng mức hỗ trợ tối đa bằng 1 quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp Vào quý IV hằng năm, Bảo hiểm xã hội Việt Nam căn cứ dự toán thu, chi bảo hiểm thất nghiệp được cấp có thẩm quyền giao trong năm để xác định số kinh phí hỗ trợ Quỹ bảo hiểm thất
21 Điều 59, Luật Việc làm
Trang 33nghiệp của năm trước theo mức quy định, gửi Bộ Tài chính để chuyển một lần vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo quyết toán thu, chi Quỹ bảo hiểm thất nghiệp năm trước của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã được Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông qua, Bộ Tài chính thực hiện thẩm định, xác định số kinh phí hỗ trợ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp năm trước Trường hợp số kinh phí Bộ Tài chính đã cấp theo quy định tại Điểm a Khoản này lớn hơn số phải hỗ trợ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm nộp trả ngân sách nhà nước phần chênh lệch; trường hợp số đã cấp nhỏ hơn
số phải hỗ trợ, Bộ Tài chính báo cáo cấp có thẩm quyền phê duyệt cấp hỗ trợ bổ sung vào năm sau Nguồn kinh phí hỗ trợ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định
do ngân sách trung ương bảo đảm từ nguồn chi đảm bảo xã hội đã được Quốc hội quyết định
Chi phí quản lý bảo hiểm thất nghiệp hằng năm được phân bổ và giao dự toán như sau: Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện các nhiệm vụ thu, chi, quản lý
và sử dụng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp, giải quyết các chế độ bảo hiểm thất nghiệp và các nhiệm vụ liên quan đến bảo hiểm thất nghiệp; Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân thực hiện nhiệm vụ thu bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm xã hội Việt Nam có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo toàn
và tăng trưởng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp từ số tiền tạm thời nhàn rỗi Hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết Hội đồng Quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định việc đầu tư theo các hình thức quy định tại Khoản 2 Điều 59 Luật Việc làm Tiền sinh lời từ đầu
tư, tăng trưởng Quỹ bảo hiểm thất nghiệp hằng năm được bổ sung vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.22
2.3 Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp
22 Điều 5,6,7,8,9, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp
Trang 34Luật Việc làm năm 2013 đã không quy định chung về điều kiện hưởng BHTN đối với các chế độ Đối với chế độ trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ học nghề bao gồm 03 điều kiện chung đó là điều kiện về chấm dứt hợp đồng đúng luật, nộp
hồ sơ trong vòng 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng và chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ Tuy nhiên để được hưởng chế độ hỗ trợ học nghề thì điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp chỉ cần đủ 09 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng23 Còn để hưởng trợ cấp thất nghiệp thì thời gian phải dài hơn như trình bày ở phần sau
Đối với chế độ hỗ trợ, tư vấn giới thiệu việc làm thì người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp bị chấm dứt hợp đồng mà có nhu cầu tìm kiếm việc làm thì được tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí24, không cần điều kiện gì khác
Đối với chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động, người sử dụng lao động sẽ được hưởng khi có
đủ các điều kiện sau đây25: a Đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp liên tục từ đủ 12 tháng trở lên tính đến thời điểm đề nghị hỗ trợ; b Gặp khó khăn do suy giảm kinh tế hoặc vì lý do bất khả kháng khác buộc phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ sản xuất, kinh doanh; c) Không đủ kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động; d Có phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và duy trì việc làm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
2.3.1 Điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp
Người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp loại hợp đồng là xác định thời hạn và không xác định thời hạn; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt
23 Khoản 1, Điều 55, Luật Việc làm
24 Điều 54, Luật Việc làm
25 Khoản 1, Điều 47, Luật Việc làm
Trang 35hợp đồng lao động đối với trường hợp Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không được hưởng trợ cấp thất nghiệp là: người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.26
2.3.2 Điều kiện đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội
Để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp có điều kiện là đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập trong thời hạn
03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc27
Trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động chưa có việc làm và có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp phải trực tiếp nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo đúng quy định cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương nơi người lao động muốn nhận trợ cấp thất nghiệp Người lao động được ủy quyền cho người khác nộp hồ sơ hoặc gửi hồ sơ theo đường bưu điện nếu thuộc một trong các trường hợp sau: a Ốm đau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; b Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền; c Hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
Ngày nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp trong các trường hợp nêu trên là ngày người được ủy quyền trực tiếp nộp hồ sơ hoặc ngày ghi trên dấu bưu điện đối với trường hợp gửi theo đường bưu điện28 Ngoài ra trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng người lao động phải trực tiếp thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp về việc tìm kiếm việc làm, trừ các trường hợp sau đây: a Người lao động ốm đau, thai sản, tai nạn có giấy xác
26 Khoản 1,2, Điều 49, Luật Việc làm
27 Khoản 3 Điều 49, Luật Việc làm
28 Điều 17, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015
Trang 36nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
về khám bệnh, chữa bệnh; b Trường hợp bất khả kháng29
Người lao động muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì có điều kiện nữa là chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp sau đây: a Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; b Đi học tập
có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; c Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; d Bị tạm giam; chấp hành hình phạt tù; đ Ra nước ngoài định cư; đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; e Chết
Người lao động chưa tìm được việc làm nhưng thuộc các trường hợp nêu trên thì cũng không được hưởng trợ cấp thất nghiệp với quan điểm hỗ trợ đúng đối tượng cần thiết
2.4 Các chế độ của bảo hiểm thất nghiệp
2.4.1 Trợ cấp thất nghiệp 31
- Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60 mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc
- Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng
29 Khoản 1 Điều 52, Luật Việc làm
30 Khoản 4 Điều 49, Luật Việc làm
31 Điều 50, Luật Việc làm
Trang 37- Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp đủ hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này
2.4.2 Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm 32
- Người lao động quy định tại Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm đang đóng bảo hiểm thất nghiệp bị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc được
tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí thông qua trung tâm dịch vụ việc làm Kinh phí thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm của trung tâm dịch vụ việc làm được giao khoán theo số lượng người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp của năm liền trước và thực hiện thanh quyết toán theo quy định trên cơ sở thực tế số lượng người nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp Phí tư vấn, giới thiệu việc làm thực hiện theo quy định của pháp luật về phí
- Trung tâm dịch vụ việc làm thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm trên cơ sở nhu cầu, khả năng của người lao động và nhu cầu của thị trường lao động.Trung tâm dịch vụ việc làm bố trí nhân sự và cơ sở vật chất để tổ chức thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm
2.4.3 Hỗ trợ học nghề 33
- Người lao động đáp ứng đủ điều kiện theo quy định có nhu cầu học nghề được hỗ trợ 01 lần để học 01 nghề tại cơ sở đào tạo theo quy định của pháp luật về dạy nghề Phương thức hỗ trợ kinh phí học nghề được thực hiện thông qua cơ sở dạy nghề không hỗ trợ bằng tiền trực tiếp cho người lao động để tự học nghề Thời gian hỗ trợ học nghề theo thời gian học nghề thực tế nhưng không quá 06 tháng Mức hỗ trợ học nghề theo quy định của Thủ tướng Chính phủ34
- Trường hợp người lao động đã hưởng hết thời gian được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định mà vẫn tiếp tục học nghề hoặc chuẩn bị tham gia học nghề theo quyết định của Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thì vẫn được
hỗ trợ học nghề cho đến hết thời gian học nghề
32 Điều 14, 15, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015
33 Điều 56, Luật Việc làm; Khoản 1,4 Điều 25, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015
34 Quyết định số 77/2014/QĐ-TTg ngày 24 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định mức hỗ trợ học nghề đối với người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Trang 382.4.4 Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề 35
- Thời gian hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo phương án được phê duyệt và không quá 06 tháng
- Người sử dụng lao động tổ chức đào tạo hoặc phối hợp với cơ sở dạy nghề, trung tâm dịch vụ việc làm để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề của người lao động theo quyết định hỗ trợ của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và đảm bảo duy trì việc làm cho người lao động
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện hoặc phối hợp với cơ sở dạy nghề thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và đảm bảo duy trì việc làm cho người lao động theo phương án đã được phê duyệt
- Mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề tối
đa 01 triệu đồng/người/tháng Mức hỗ trợ cụ thể được tính theo tháng, thời gian học thực tế của từng nghề hoặc từng khóa học nhưng không quá 06 tháng
Trường hợp khóa học nghề có những ngày lẻ không đủ tháng thì được tính theo nguyên tắc: Dưới 15 ngày tính là 1/2 tháng, từ đủ 15 ngày trở lên tính là 01 tháng để xác định mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động
Đối với khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề có mức chi phí cao hơn mức hỗ trợ theo quy định trên thì phần vượt quá mức hỗ trợ do người
sử dụng lao động tự chi trả
2.5 Hồ sơ và thủ tục hưởng bào hiểm thất nghiệp
2.5.1 Hồ sơ
Đối với chế độ trợ cấp thất nghiệp 36
1 Đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định
Trang 392 Bản chính hoặc bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau đây xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc: a Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đã hết hạn hoặc đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động; b Quyết định thôi việc; c Quyết định sa thải; d Quyết định kỷ luật buộc thôi việc; đ Thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc Trường hợp người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 43 Luật Việc làm thì giấy tờ xác nhận về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng là bản chính hoặc bản sao có chứng thực của hợp đồng đó
3 Sổ bảo hiểm xã hội: Tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị của người sử dụng lao động Đối với người sử dụng lao động là các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an thì trong thời hạn 30 ngày, Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng, Bảo hiểm xã hội Công an nhân dân thực hiện xác nhận về việc đóng bảo hiểm thất nghiệp và trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động kể từ ngày nhận được đề nghị của người sử dụng lao động
Đối với chế độ hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm 37
Người lao động ghi đầy đủ các thông tin vào phiếu tư vấn, giới thiệu việc làm theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định và nộp
trực tiếp cho trung tâm dịch vụ việc làm
Đối với chế độ hỗ trợ học nghề 38
1 Hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề đối với người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp: Đề nghị hỗ trợ học nghề theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định
2 Hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề đối với người thất nghiệp có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 09 tháng trở lên nhưng không thuộc diện hưởng trợ cấp
37 Khoản 1 Điều 15, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015
38 Điều 24, Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015