BHTN đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, khởi đầu là nguồn tài chính của quỹ công đoàn, dần dần một số chủ doanh nghiệp vì lợi ích của chính mình để ổn định đội ngũ của công nhân lành nghề
Trang 1LUÀN VÃN THẠC
Trang 3môn Luật Lao động - Khoa pháp luật kinh tế, Đại học Luật Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp này Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô giáo tại Khoa pháp luật kinh tế, Đại học Luật Hà Nội về những sự giúp đỡ quý báu trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nghệ An, tháng 4 năm 2012
Học viên
Ngô Thị Thu Hoài
Trang 4LỜI NÓI Đ Ầ U 1
Chương l.MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 5
1.1 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT B H T N 5
1.1.1 Khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp 5
1.1.2 Khái niệm BHTN 7
1.1.3 Khái niệm pháp luật B H TN 8
1.2 CÁC NGUYÊN TẮC CỦA PHÁP LUẬT B H TN 13
1.2.1 BHTN kết hợp chế độ trợ cấp tạm thời với chế độ giải quyết việc làm cho người thất nghiệp 13
1.2.2 BHTN phải vừa bù đắp thu nhập, vừa tạo động lực tích cực cho người thất nghiệp chủ động trở lại làm việc 14
1.2.3 Quỹ BHTN được hình thành theo nguyên tắc ba bên cùng có trách nhiệm 15
1.3 NỘI DUNG C ơ BẢN CỦA PHÁP LUẬT B H T N 16
1.3.1 Đối tượng tham gia B H T N 16
1.3.2 Các chế độ BHTN 19
1.3.3 Quỹ BHTN 22
1.3.4 Tổ chức thực hiện B H T N 25
Chương 2 PHÁP LUẬT BHTN VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ TH ựC TIỄN T H ựC HIỆN Ở NGHỆ A N 27
2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BHTN 27 2.1.1 Đối tượng tham gia B H T N 27
2.1.2 Các chế độ BHTN 29
2.1.3 Q uỹB H T N 33
2.1.4 Tổ chức thực hiện B H T N 35
2.2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN BHTN Ở NGHỆ A N 39 2.2.1 Tình hình lao động, việc làm, thất nghiệp và nhu cầu tham gia BHTN ở Nshệ An 39
Trang 5nguyên n h ân 48Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNGCAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN BHTN Ở NGHỆ A N 573.1 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ c ụ THẺ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT B H TN 573.1.1 Từng bước mở rộng đối tượng tham gia B H TN 573.1.2 Hoàn thiện các chế độ B H TN 573.1.3 Hoàn thiện quy định về quỹ B H T N 593.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM TỔ CHỨC T H ự C HIỆN BHTN HIỆU QUẢ 623.2.1 Một số kiến nghị c h u n g 623.2.3 Một sổ kiến nghị cụ thể với Nghệ A n 63KẾT LUẬN 70
Trang 6Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Sở Lao động - Thương binh và Xã hộiHợp đồng lao động
Hợp đồng làm việcNgười lao độngNgười sử dụng lao động
Tổ chức lao động quốc tế
Trang 7STT TÊN BẢNG, HÌNH VẼ, s ơ ĐỒ TRANG
Trang 81 Tính cấp thiết của viêc nghiên cửu đề tài:
Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng: thất nghiệp là con đẻ của nền kinh tế thị trường, là hệ quả tất yếu của quá trình phát triển công nghiệp Hầu hết các nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển và những nước đang phát triển đều phải đương đầu với vấn đề này
Nhận thức rõ vấn đề đó, ngày 29/06/2006 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật BHXH trong đó có nội dung về BHTN và bắt đầu từ ngày 01/01/2009 pháp luật về BHTN chính thức có hiệu lực thi hành ở Việt Nam
Như vậy, BHTN là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ, chưa có tiền lệ ở nước ta
và trong ba năm đầu triển khai thực hiện đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc cần phải nghiên cứu giải quyết Trong ba năm qua, việc nghiên cứu về BHTN, đặc biệt là nghiên cứu công tác tổ chức thực hiện BHTN ở các địa phương (nơi trực tiếp phải đối mặt với các khó khăn, vướng mắc) không nhiều Chính vì những lý do đó,
tác giả luận văn chọn đề tài “Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực
hiện ở N ghệ A n ” với mong muốn góp phần nghiên cứu sâu về mặt lý luận và tìm
hiểu thực tiễn thực hiện, đặc biệt là các vướng mắc phát sinh, giúp cho các cơ quan xây dựng pháp luật, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực hiện BHTN nâng cao hơn hiệu quả điều chỉnh và áp dụng pháp luật BHTN ở nước ta nói chung và ở Nghệ An nói riêng
2 Tình hình nghiên cửu:
Ngay sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, vấn đề thất nghiệp đã bắt đầu được nhận diện và tình trạng thất nghiệp có xu hướng ngày càng gia tăng trong thời gian dài, kể cả ở khu vực nông thôn và thành thị Chính vì vậy, BHTN và trợ cấp thất nghiệp đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và nhiều nhà quản lý
Năm 1993, trong cuốn “M ột số vấn đề về chính sách BHXH ở nước ta hiện
n a y ” do NXB lao động phát hành, tác giả Nguyễn Văn Phần đã có một bài viết với
tiêu đề: “Một sổ ỷ kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu tr í” Nội dung bài viết
mới chỉ đề cập đến khái niệm, sự cần thiết của trợ cấp thất nghiệp cho NLĐ trong
cơ chế thị trường
Năm 2000, tác giả Đỗ Năng Khánh trong luận văn thạc sĩ luật học “Thất
nghiệp và việc xây dựng chế độ BHTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam ” đã
Trang 9bước đầu nghiên cứu một sổ nội dung quan trọng của chính sách này như đối tượng tham gia, mức đóng, mức hưởng, thời gian đóng Tuy nhiên, ở thời điểm Luật BHXH chưa được ban hành, nội dung của đề tài này chỉ dừng lại ở những vấn đề mang tính định hướng.
Đến năm 2004, trong luận án tiến sĩ luật học “Chế độ BHTN trong nền kinh
tế thị trường ở Việt Nam ”, tác giả Lê Thị Hoài Thu đã đi sâu nghiên cứu những nội
dung thiết yếu nhất của chế độ BHTN cần được ữiển khai ở Việt Nam trong cái nhìn đối sánh với những quy định của Tổ chức lao động quốc tế và một sổ nước khác trên thế giới
Năm 2006, Trường Đại học Luật Hà Nội đã nghiên cửu đề tài khoa học
“Hoàn thiện pháp luật về BHXH ở Việt Nam ” do TS Nguyễn Thị Kim Phụng làm
chủ nhiệm, trong đó có đề cập đến BHTN như một nội dung cần có để hoàn thiện hệ thống pháp luật về BHXH nói chung
Năm 2008, khi Luật BHXH đã được ban hành, tác giả Nguyễn Hiền Phương
trong luận án tiến sĩ luật học “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam ” cũng đã luận giải về nội dung cũng như
cách thức thực hiện chế độ BHTN trong thực tiễn để đạt được hiệu quả cao nhất
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học đã nghiên
cứu BHTN ở một số khía cạnh như: “Mấy ỷ kiến về BHTN trong dự thảo Luật
B H XH ” của TS Trần Thúy Lâm đăng trên Tạp chí lao động và xã hội số 350/2005;
“Điều kiện, thời gian và mức hưởng chế độ BHTN ở Việt Nam ” của TS Lê Thị Hoài
Thu đăng trên báo Dân chủ và pháp luật số 04/2005; “BHTN - chỉ nên quy định về
nguyên tắc và định hướng” của TS Nguyễn Thị Kim Phụng đăng trên tạp chí
Nghiên cứu lập pháp số tháng 3 năm 2006; “ Fa« đề BH TN cho NLĐ hiện n a y” của
PGS.TS Nguyễn Văn Định đăng trên Tạp chí lao động và xã hội số 343 + 344/2008
Như vậy, trong phạm vi quan sát của tác giả, cho đến nay, hầu như chưa có công trình nào đánh giá các quy định BHTN hiện hành trong quá trình thực hiện và
nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật BHTN ở Nghệ An Vì vậy, đề tài “Pháp
luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện ở Nghệ A n ” không trùng với các
công trình khoa học khác đã được công bố
Trang 103 Muc đích và nhiêm vu nghiên cửu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu để tìm ra những bất cập trong hệ thống pháp luật BHTN và những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện ở Nghệ An ba năm qua; trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện BHTN ở Nghệ An nói riêng và ở Việt Nam hiện nay nói chung
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận như: khái niệm, các nguyên tắc, nội dung cơ bản của pháp luật BHTN làm cơ sở để đánh giá hệ thống pháp luật BHTN hiện hành ở nước ta
- Nghiên cứu các quy định hiên hành như đối tượng tham gia, các chế độ hưởng, quỹ và tổ chức thực hiện BHTN để tìm ra những bất cập, góp phần hoàn thiện pháp luật về BHTN ở nước ta trong thời gian tới
- Nghiên cứu thực tiễn tổ chức thực hiện BHTN ở Nghệ An, tìm ra những vướng mắc, tồn tại và nguyên nhân
- Trên cơ sở các nghiên cứu trên, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả quá trình tổ chức thực hiện BHTN ở Nghệ An nói riêng
và trên bình diện cả nước nói chung
4 Pham vi nghiên cửu
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về BHTN và thực tiễn áp dụng ở Nghệ An từ ngày 01/01/2009 (thời điểm bắt đầu triển khai BHTN) đến nay Bên cạnh đó, để luận văn có độ sâu cần thiết, những chuẩn mực quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài về BHTN cũng được luận văn đề cập đến ở mức độ nhất định
5 Phưong pháp nghiên cửu
Luận văn chủ yếu dựa trên phương pháp luận của triết học Mác-Lênin về duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; các quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường, đảm bảo quyền lợi cho NLĐ trong xu thế hội nhập quốc tế
Bên cạnh đó, trong tất cả các chương của luận văn còn sử dụng các phương pháp logic, phân tích, tổng hợp, so sánh để thức hiện các mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra
Trang 116 Đóng góp của luân văn
Luận văn góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận về pháp luật BHTN và đánh giá hệ thống các quy định hiện hành về BHTN ở Việt Nam sau ba năm thực hiện
Luận văn đã nêu rõ kết quả đạt được trong quá trình thực hiện BHTN ở Nghệ
An, tổng họp những số liệu cụ thể, xác đáng làm minh chứng cho việc đánh giá kết quả, những vướng mắc, tồn tại và nguyên nhân trong quá trình thực hiện BHTN ở Nghệ An
Luận văn không những chỉ rõ được những bất cập trong các quy định của pháp luật mà còn tìm ra được những hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật BHTN, từ đó đưa ra những kiến nghị cho việc hoàn thiện hệ thống pháp ỉuật về BHTN và nâng cao hiệu quả quá trình thực hiện BHTN trong thực tế
7 Kết cấu của luân văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Một sổ vấn đề lý luận về pháp luật BHTN
Chương 2: Pháp luật BHTN Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện ở Nghệ An Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện BHTN ở Nghệ An
Trang 12Chương 1
1.1.1 Khái niệm thất nghiệp và ngưòi thất nghiệp
Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội tồn tại trong nền kinh tế thị trường Ở hầu hết các quổc gia có chế độ chính trị, trình độ phát triển khác nhau đều
có một tỷ lệ thất nghiệp nhất định
Công ước số 102 (1952) của tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái
niệm thất nghiệp tại Điều 20: “Thất nghiệp là hiện tượng NLĐ bị ngừng thu nhập
do không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc” Định nghĩa này của ILO dựa trên một tiêu
chí quan trọng “sự ngừng thu nhập” của NLĐ để xác định hiện tượng thất nghiệp
Quan điểm này xuất phát từ căn cứ chỉ có việc làm mới mang lại thu nhập cho NLĐ
và việc bị ngừng thu nhập đồng nghĩa với việc bị mất việc làm Định nghĩa này còn
chỉ ra điều kiện NLĐ bị “ngừng thu nhập”, bị coi ỉà thất nghiệp là NLĐ không có
khả năng tìm việc làm thích hợp trong khi có khả năng và sẵn sàng làm việc để tạo
Ở nước ta, dưới góc độ pháp lý thì thuật ngữ “thất nghiệp” cũng đã từng
được đề cập ở hai văn bản, đó là: sắ c lệnh số 29/SL ngày 12/03/1947 (Điều 76) và
Nghị định số 233/HĐBT ngày 22/6/1990 của Hội đồng bộ trưởng ban hành quy chế
lao động đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (khoản 1 Điều 46) Trong hai văn bản này mới chỉ đề cập thuật ngữ thất nghiệp mà không đưa ra một định nghĩa về thất nghiệp
Trên cơ sở quan điểm nêu trên về thất nghiệp của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Văn phòng lao động quốc tế (BIT) đã đưa ra khái niệm về người thất nghiệp
như sau: Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động
nhưng không có việc làm Họ có thê là người chưa có việc làm hoặc có việc làm nhưng đã thôi việc và đang cần tìm việc làm có thu nhập [56, tr.198].
Trang 13Định nghĩa này cho thấy, không phải người nào không có việc làm cũng được xếp vào nhóm “người thất nghiệp”, mà phải có những điều kiện nhất định thì
họ mới được coi là người thất nghiệp Sở dĩ người thất nghiệp phải là người “trong
độ tuổi lao động, cỏ khả năng lao động ” là vì, về mặt tự nhiên, con người chỉ có thể
lao động khi cơ thể đạt đến một sự phát triển về thể lực và trí lực- tức là phải đạt đến một độ tuổi nào đó để có thể bằng chính hành vi của mình thực hiện các công việc phù hợp - và chưa bị suy giảm khả năng lao động do tuổi già Và có một thực
tế là không phải tất cả những người trong độ tuổi lao động đều có thể tham gia lao động, mà một bộ phận do những nguyên nhân nào đó (tàn tật, tai nạn ) dẫn đến không có khả năng lao động
Bên cạnh các đặc trưng kể trên, người thất nghiệp còn phải là người “đang
không có việc làm, đang đi tìm việc làm Tình trạng không có việc làm của những người thất nghiệp được hiểu là họ không có các nguồn thu nhập dưới dạng tiền lương do không tham gia quan hệ lao động Những người không có việc làm nhưng phải đang tích cực tìm kiểm việc làm và sẵn sàng đi làm khi được giới thiệu của cơ quan lao động mới được coi là “người thất nghiệp” Đây là điều kiện quan trọng để phân biệt người thất nghiệp và người không có việc làm nói chung
Xuất phát từ khái niệm thất nghiệp của ILO, pháp luật của các nước đã đưa
ra khái niệm về người thất nghiệp Khoản 4 Điều 3 Luật BHXH 2006 của Việt Nam
quy định: “Người thất nghiệp là người đang đóng BHTN mà bị mất việc làm hoặc
chẩm dứt HĐLĐ, HĐLVnhưng chưa tìm được việc làm”.
Việc xác định khái niệm “người thất nghiệp” là vấn đề quan trọng, liên quan đến nhiều vấn đề, trong đó quan trọng nhất là vấn đề xác định phạm vi, đối tượng điều chỉnh của chế độ BHTN Do đặc điểm xã hội và chính sách kinh tế của từng quốc gia, khái niệm “người thất nghiệp” có thể được mở rộng hoặc thu hẹp Khái niệm “người thất nghiệp” theo quy định của pháp luật Việt Nam đã được thu hẹp lại
so với quan điểm của ILO Điều này cũng hoàn toàn phù họp với cơ chế quản lý nguồn lao động của Việt Nam và cũng là phù họp khi chúng ta lần đầu triển khai thực hiện chế độ bảo hiểm được đánh giá là khó thực hiện nhất trong các chế độ BHXH này
Như vậy, trên thế giới tuy có những quan niệm rộng, hẹp khác nhau về người thất nghiệp nhưng tựu trung ở ba tiêu chí cơ bản để xác định người thất nghiệp như sau: (1) có khả năng lao động; (2) đang không có việc làm; (3) đang tìm việc làm
Trang 141.1.2 Khái niệm BHTN
Đe giải quyết tình trạng thất nghiệp, nhiều biện pháp đã được thực hiện nhẳm trợ giúp kịp thời cho những người thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được việc làm và tạo cơ hội cho họ học nghề, tìm kiếm công việc mới Một trong số các biện pháp đó là xây dựng và thực hiện ché độ BHTN
BHTN đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, khởi đầu là nguồn tài chính của quỹ công đoàn, dần dần một số chủ doanh nghiệp vì lợi ích của chính mình để ổn định đội ngũ của công nhân lành nghề đã thành lập quỹ trợ cấp thôi việc, nghỉ việc tạm thời, thất nghiệp một phần trong doanh nghiệp, v ề sau, một số thành phố, chính quyền đứng ra thành lập quỹ BHTN với phương thức tự nguyện và đến những năm đầu của thế kỷ XX, BHTN được tiến hành theo phương thức bắt buộc có sự tham gia của Nhà nước, NLĐ và NSDLĐ BHTN được ban hành để bù đắp thu nhập cho người bị thất nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thất nghiệp có cơ hội quay trở lại thị trường lao động, kích thích họ tích cực tìm việc làm và sẵn sàng đi làm việc theo sự giới thiệu của cơ quan lao động Trợ cấp thất nghiệp được chi trả cho những cá nhân bị thất nghiệp nhưng bản thân họ không có lỗi và họ đã mất đi nguồn sinh sổng của bản thân và gia đình Việc chi trả trợ cấp thất nghiệp nhằm hỗ trợ một phần thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và giúp họ có điều kiện học nghề, tạo cơ hội tiếp tục tham gia thị trường lao động Nguồn chi trả được lấy từ một quỹ tài chính tập trung được tồn tích dần bởi sự đóng góp của NSDLĐ, NLĐ có hỗ trợ thêm của Nhà nước Từ những phân tích trên đây có thể hiểu khái niệm BHTN theo
hướng: BHTN là sự bảo đảm hoặc bù đắp một phần thu nhập từ lao động của NLĐ
bị mất việc làm do thất nghiệp, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính được đóng góp từ các bên tham gia BHTN, nhằm góp phần đảm bảo an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
Theo Công ước số 102 của ILO, BHTN là một trong chín nhánh của BHXH Cùng với các chế độ BHXH khác, chế độ BHTN đã góp phần hoàn thiện và nâng cao khả năng bảo vệ NLĐ của hệ thống pháp luật về BHXH
Giống như các chế độ BHXH khác, BHTN cũng xuất phát từ quan hệ lao động, có mục đích bù đắp thu nhập của NLĐ Bên cạnh đó, BHTN cũng có một số đặc trưng riêng:
Thứ nhất, BHTN xuất phát từ quan hệ lao động nhưng khi thực hiện lại liên
quan nhiều đến lĩnh vực việc làm Việc thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp luôn được gắn với vấn đề giải quyết việc làm cho NLĐ
Trang 15Thứ hai, BHTN không chỉ thu và chi trả trợ cấp thất nghiệp mà còn thực hiện
các biện pháp để đưa NLĐ trở lại thị trường lao động Do đó, cơ quan BHTN vừa
có trách nhiệm đăng ký thất nghiệp, kiểm tra các điều kiện của NLĐ trước khi trả trợ cấp thất nghiệp vừa phải kịp thời nắm bắt các thông tin về thị trường lao động để giới thiệu việc làm, đào tạo nghề phù hợp cho người thất nghiệp Đây là điểm khác biệt của hoạt động quản lý BHTN so với việc quản lý các chế độ BHXH khác
Thứ ba, đối tượng áp dụng chế độ BHTN là những người trong độ tuổi lao
động, có sức lao động nhưng bị mất việc làm, tạm thời không có thu nhập và sẵn sàng trở lại làm việc Như vậy, đối tượng hưởng BHTN là những NLĐ bị chấm dứt quan hệ lao động một cách không tự nguyện trong khi họ vẫn có khả năng lao động Còn đối tượng của các chế độ BHXH khác là những NLĐ vẫn đang tồn tại quan hệ lao động (chế độ trợ cấp ốm đau; thai sản) hoặc chấm dứt quan hệ lao động do không có khả năng tiếp tục làm việc (hưu trí; tử tuất)
Thứ tư, việc thực hiện chế độ BHTN rất phức tạp và khó quản lý Quy mô và
tỷ lệ thất nghiệp không thể dự đoán chính xác, gây khó khăn rất lớn trong việc hạch toán và cân đối thu - chi của quỹ BHTN Hoạt động của BHTN lại có mối liên quan mật thiết với hệ thống đào tạo nghề, các trung tâm giới thiệu việc làm và chương trình quốc gia về việc làm nên phải có sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý BHTN vớị các cơ quan quản lý chức năng khác trong lĩnh vực lao động việc làm BHTN không chỉ bó hẹp trong việc thực hiện các nghiệp vụ BHXH thuần tuý mà còn phải giúp NLĐ tìm kiếm và tạo việc làm Đây là hai chức năng cơ bản của BHTN và cũng là điểm khác biệt cơ bản của BHTN so với các chế độ BHXH khác
Thứ năm, việc xác định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp khó khăn hơn so
với các chế độ BHXH khác Sở dĩ như vậy vì ranh giới để phân định giữa có việc làm và không có việc làm, giữa có thu nhập và không có thu nhập không rõ ràng, khó xác định và kiểm tra trong thực tế
1.1.3 Khái niệm pháp luật BHTN
Pháp luật BHTN là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định việc đóng góp
và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp để bù đắp thu nhập cho NLĐ bị mất việc làm và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc
Nội dung của pháp luật BHTN thường gồm các quy định về: đối tượng áp dụng; các chế độ BHTN; điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng BHTN; quản lý, sử dụng quỹ BHTN Các quy định mang tính toàn diện đó đã tạo cơ sở
Trang 16pháp lý quan trọng cho việc nâng cao hiệu lực hiệu lực thực thi các chế độ BHTN, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo NLĐ và góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
Cùng với các chế độ BHXH khác, BHTN đã góp phần tạo “lưới an toàn” chung giúp đỡ và bảo vệ NLĐ khi gặp khó khăn trong quan hệ lao động Vai trò của BHTN không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo cuộc sống cho người thất nghiệp, tạo cơ hội cho họ quay lại làm việc mà còn góp phần tạo sự ổn định chung cho xã hội, giúp cho kinh tế phát triển bền vững Đặc biệt, đối với những nước phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường, chế độ BHTN thực sự đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế những tác động tiêu cực được coi là “mặt trái” của kinh tế thị trường Dưới tác động của các quy luật khách quan, do sự dịch chuyển và biến động không ngừng của thị trường lao động, thất nghiệp đã trở thành tình trạng phổ biến của mọi quốc gia theo
mô hình kinh tế thị trường Vì vậy, thực hiện chế độ BHTN chính là biện pháp hiệu quả để giải quyết nạn thất nghiệp, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Hệ thống BHTN với các quy định về trợ cấp thất nghiệp và hỗ trợ tìm kiếm việc làm là đảm bảo cần thiết cho NLĐ có cuộc sống bình thường khi bị mất việc làm, tránh những tác động xấu của kinh tế thị trường và bảo vệ những giá trị tiến bộ
xã hội
1.1.3.1 Hệ thống pháp luật BHTN quốc tế
Trong Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hiệp quốc thông qua năm 1948,
có đoạn: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền được
hưởng BHXH Quyền đó được đặt trên cơ sở thỏa mãn các quyền về kỉnh tế, xã hội
và văn hóa cần cho nhăn cách và sự tự do phát triển của con người . Đi ều 25 có
ghi: “Mỗỉ người có quyền có một mức sổng cần thiết cho việc giữ gìn sức khỏe bản
thân và gia đình, có quyền được bảo đảm trong trường hợp thất n g h i ệ p Nấu nhìn
nhận BHTN là một chế độ trong hệ thống BHXH thì sự ra đời của chế độ này làm cho quyền được bảo hiểm của con người được nâng lên một bước Quyền được hưởng BHXH cũng là một trong những quyền cơ bản của công dân được quy định ở hầu hết trong Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới Nhìn vào hệ thống pháp luật BHXH, và thông qua các chế độ trợ cấp, có thể đánh giá phần nào tính ưu việt của một chế độ xã hội
Vấn đề đảm bảo cuộc sống cho người thất nghiệp cũng đã được ILO đề cập trong các Công ước và Khuyến nghị:
- Công ước số 44 về Phòng chống thất nghiệp năm 1934
Trang 17- Công ước số 102 “Công ước về Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội, năm1952”;
- Công ước số 168 “Công ước về Xúc tiến việc làm và bảo vệ chống lại thất nghiệp, năm 1988”
a Công ước số 44
Công ước số 44 được Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế thông qua ngày 23/6/1934 Công ước chỉ rõ các đối tượng áp dụng BHTN (Điều 2) nhưng tùy hoàn cảnh mồi nước có thể đặt thêm các trường họp ngoại lệ đối với một sổ đối tượng khác Bên cạnh đó Công ước số 44 cũng đưa ra các điều kiện, thời gian để đổi tượng được hưởng trợ cấp thất nghiệp Thời gian này càng dài càng tốt nếu quỹ còn đủ khả năng chi trả và NLĐ còn có yêu cầu giúp đỡ (khi nào còn ở trong tình trạng thất nghiệp thì NLĐ còn cần được nhận trợ cấp BHTN)
b Công ước số 102
Công ước số 102 (gọi tắt là “Công ước về An toàn xã hội (quy phạm tối thiểu), 1952”) được Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế thông qua
ngày 28/6/1952, tại “phần IV - Trợ cấp thất nghiệp” quy định: “Mọi nước thành
viên chịu hiệu lực của Phần này trong Công ước phải đảm bảo cho những người được bảo vệ được nhận trợ cấp khi thất nghiệp” (Điều 19) Công ước quy định rõ
về các trường họp được bảo vệ (Điều 20); Những người được bảo vệ (Điều 21) cũng như đưa ra các khuyến nghị về mức chi trả cho các đối tượng Theo đó: nếu người được bảo vệ là người làm công ăn lương, trợ cấp là chế độ chi trả định kỳ một khoản ít nhất bằng 45% so với tổng số tiền lương của NLĐ nam giới thành niên; nếu người được bảo vệ là người thường trú mà các phương tiện sinh sống khi trường họp bảo vệ xảy ra không vượt quá giới hạn quy định, thì trợ cấp là chế độ chi trả định kỳ một khoản được ấn định theo một bảng tính quy định hoặc theo bảng tính do các cơ quan có thẩm quyền quyết định theo những quy tắc nhất định
c Công ước sổ 168
Công ước này được Hội nghị toàn thể của Tổ chức lao động quốc tế thông qua ngày 21/6/1988, trên cơ sở:
- Nhấn mạnh vai trò quan trọng của nghề nghiệp và việc làm, sản xuất trong
xã hội không chỉ là nguồn tạo ra của cải cho xã hội mà còn đem lại thu nhập cho NLĐ, vai trò xã hội được củng cố và lòng tự trọng của NLĐ cũng được nâng cao;
- Xét thấy tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm phổ biến đang ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới ở tất cả thời kỳ phát triển;
Trang 18- Ghi nhận những quy định vê trợ câp thât nghiệp trong Công ước vê An toàn
xã hội (những tiêu chuẩn tối thiểu), 1952, đã giảm mức độ bảo vệ của hầu hết các hệ
thống bồi thường hiện có tại các nước công nghiệp, và những tiêu chuẩn đang được
thảo luận có thể vẫn tạo thành mục tiêu đối với các nước phát triển vì những nước
đỏ đang ở thời điểm thiết lập một hệ thống bồi thường thất nghiệp
Tại Phần I Công ước đặt ra những quy định chung đối với các nước thành
viên: “Mọi nước thành viên sẽ thực hiện từng bước phù hợp để phổi hợp với hệ
thống bảo vệ chổng thất nghiệp và chính sách việc làm Cuối cùng, điều này đảm
bảo rằng hệ thống bảo vệ chống thất nghiệp và những biện pháp đặc biệt bảo đảm
trợ cấp thất nghiệp, góp phần khuyến khích đầy đủ việc tự do lựa chọn việc làm có
hiệu quả và không ngăn cản NSDLĐ được yêu cầu và NLĐ được tìm kiếm việc làm
hiệu quả ” (Điều 2 Phần I).
Công ước cũng đã đưa ra những chỉ dẫn cụ thể đối với các nước thành viên
để thưc hiện các nội dung về xúc tiến việc làm và chống lại thất nghiệp: Trường họp
được bảo vệ (Điều 10); Những người được bảo vệ (Điều 11); Phương pháp bảo vệ
(Điều 12); Mức trợ cấp (Điều 14, 15); Điều kiện hưởng trợ cấp (Điều 17); Thời gian
trợ cấp (Điều 19); Các trường hợp không được hưởng hoặc bị cắt giảm trợ cấp
(Điều 20, 21, 22); v ấ n đề chăm sóc y tế cho người thất nghiệp; Những quy định đặc
biệt cho người mới xin việc (Điều 26); Quyền khiếu nại (Điều 27)
Như vậy, quyền được hưởng BHXH, quyền được làm việc là một trong
những quyền cơ bản của con người đã được ghi nhận và đề cao trong pháp luật
BHTN quốc tế Sự ra đời của chế độ BHTN là một biện pháp hữu hiệu góp phần tạo
điều kiện cho các quyền cơ bản của con người, quyền công dân trở thành hiện thực
1.1.3.2 Pháp luật BHTN của các quốc gia
Hiện đã có rất nhiều quốc gia có hệ thống BHXH đã ban hành và thực hiện
chế độ BHTN (69/153 quốc gia) Tuy nhiên, quan điểm của các nước về vị trí của
chế độ BHTN trong hệ thống pháp luật quốc gia không hoàn toàn giống nhau Đa số
các nước cho rằng BHTN là một bộ phận của hệ thống BHXH và được quy định
trong Luật BHXH của quốc gia (Anh, Mỹ, Thuỷ Điển ) Một số ít các quốc gia (Ba
lan, Nhật Bản, Hàn Quốc ) [56, tr.204] xuất phát từ quan điểm không coi BHTN là
biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một cách bị động, nhấn mạnh vai trò chủ
động của BHTN trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm thất
nehiệp, tìm và tạo việc làm cho NLĐ đã ban hành luật về việc làm, trong đó có
quy định về trợ cấp thất nghiệp Tại các nước này, các quy định về BHTN không
Trang 19thuộc hệ thống pháp luật về BHXH mà là một chế định trong hệ thống pháp luật về việc làm.
Một sổ nước sau khi tham gia các Công ước quốc tế đặc biệt là phê chuẩn các Công ước quốc tế của ILO nhằm đảm bảo cuộc sống cho người thất nghiệp thì
áp dụng trực tiếp các quy định trong Công ước đó đồng thời với các quy định của luật quốc gia về BHTN Trong trường họp này, các Công ước quốc tế có giá trị pháp lý cao hơn các văn bản pháp luật do quốc gia ban hành (trừ những điều khoản bảo lưu) Một số nhà nước trong đó có Việt Nam của chúng ta không áp dụng trực tiếp các văn bản quốc tế mà chuyển hóa các nội dung vào pháp luật trong nước trước khi tham gia Công ước Việt Nam hiện nay tuy chưa phê chuẩn Công ước số
102 của ILO nhưng trong pháp luật nước mình hầu hết các dạng trợ cấp quan trọng ghi trong công ước (trong đó có trợ cấp thất nghiệp), ở những mức độ khác nhau, đã được áp dụng Điều này chứng tỏ rằng an sinh xã hội của Việt Nam đã bước đầu tiếp cận được các tiêu chuẩn về an toàn xã hội hiện đại và tiến bộ của thể giới
Để phù hợp với các công ước của ILO, đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật lao động, phù hợp với mục đích của BHTN, trong định hướng xây dựng chế độ BHTN ở Việt Nam, BHTN được coi là một chế độ của BHXH
Đáp ứng những yêu cầu khách quan về việc phải có một chính sách quốc gia mang tính tổng thể để huy động sức mạnh của NLĐ và Nhà nước trong vấn đề giải quyết thất nghiệp, ngày 29/7/2006, Quốc hội của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật BHXH, trong đó điều 2, điều 80 đến Điều 87 và các điều 102 đến 105 quy định về những vấn đề như đối tượng bắt buộc tham gia BHTN, điều kiện hưởng BHTN, các chế độ BHTN Cũng theo quy định tại Luật BHXH từ ngày 01/01/2009 pháp luật về BHTN đã chính thức có hiệu lực thi hành ở Việt Nam
Cùng với Luật BHXH, để triển khai thực hiện BHTN, các văn bản hướng dẫn và các văn bản có liên quan đã được ban hành và đưa vào thực hiện, như: Nghị định của Chính phủ số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHTN; Thông tư số 32/2010/TT - BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP; Quyết định số 30/2009/QĐ-TTg về việc hỗ trợ đối với NLĐ mất việc làm trong doanh nghiệp eặp khó khăn do suy giảm kinh tế; Quyết định số 101/2007/QĐ-TTg ngày 6/7/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Trang 20chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2010, Luật dạy nghề năm
2006
Như vậy, với những quy định trong Hiến pháp, Luật BHXH và các văn bản
hướng dẫn, văn bản có liên quan nêu trên, có thể khẳng định rằng cơ sở pháp lý cho
việc tổ chức, thực hiện BHTN ở nước ta đã được định hình tương đối rõ nét, bảo
đảm cho việc thực hiện chế độ bảo hiểm này trên thực tế, bảo vệ quyền lợi của NLĐ
bị thất nghiệp và củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống an sinh xã hội ở nước ta
BHTN là một chế độ trong hệ thống BHXH Đây là một trong những chính
sách xã hội cơ bản thể hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta hướng
vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công bằng và tiến bộ, nâng cao chất
lượng cuộc sống của nhân dân, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước
Việc xây dựng, ban hành và triển khai tổ chức thực hiện BHTN ở nước ta là cần
thiết, tuy nhiên đây là công việc khó khăn và phức tạp đòi hỏi chúng ta phải có
những bước đi thận trọng và phù hợp với thực tiễn khách quan, góp phần giải quyết
có hiệu quả các vấn đề kinh tế - xã hội của đất nước
1.2 CÁC NGUYÊN TẮC CỦA PHÁP LUẬT BHTN
Để làm tốt vai trò và đạt được các mục đích về kinh tế, chính trị, xã hội đã
đặt ra, trong quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật BHTN, càn chú ý tuân thủ
những nguyên tắc chung của BHXH, bên cạnh đó, cũng cần lưu ý những nguyên tắc
riêng sau đây:
làm cho người thất nghiệp.
BHTN có hai chức năng cơ bản là trả trợ cấp thất nghiệp và xúc tiến việc làm
cho NLĐ Kết họp hài hoà và đảm bảo thực hiện hai chức năng này được coi là
nguyên tắc cơ bản chỉ đạo hệ thống các quy định và quá trình tổ chức thực hiện
BHTN
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc này, bên cạnh việc quy định các mức trợ
cấp thất nghiệp, điều kiện và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp nhằm hỗ trợ thu
nhập cho NLĐ bị mất việc làm, BHTN còn phải thực hiện các biện pháp nhằm tạo
cơ hội cho NLĐ tiếp tục tham gia quan hệ lao động Cung cấp thông tin về thị
trường lao động, đào tạo lại nghề, môi giới việc làm, hỗ trợ doanh nghiệp nhận
người thất nghiệp là những biện pháp được BHTN hỗ trợ kinh phí hoặc trực tiếp
triển khai trong thực tế nhằm tạo cơ hội làm việc cho NLĐ, hạn chế tỉ lệ thất nghiệp
trong xã hội
Trang 21Với mục đích đảm bảo quyền cho người thất nghiệp, việc giúp họ tiếp tục
tham gia thị trường lao động thông qua các hoạt động xúc tiến và tạo việc làm nhiều
khi còn có ý nghĩa hơn việc trợ cấp thất nghiệp Do đó, chế độ BHTN phải tạo hành
lang pháp lý thông thoáng, giúp đỡ các doanh nghiệp tạo việc ỉàm cho người thất
nghiệp, hỗ trợ NLĐ tự tìm việc làm hoặc học nghề Trong thời gian chưa tìm được
việc làm, NLĐ có thể được hỗ trợ thu nhập thông qua khoản trợ cấp thất nghiệp
dài, giải pháp quan trọng vẫn là vấn đề tìm và giải quyết việc làm gắn với ổn định
thu nhập cho họ
ngưòi thất nghiệp chủ động trở lại làm việc
Một trong các vai trò quan trọng của BHTN là hỗ trợ cuộc sống cho NLĐ khi
bị mất thu nhập do thất nghiệp Giống như các chế độ BHXH khác, quỹ BHTN phải
chi trả cho người đủ điều kiện thụ hưởng một khoản tiền trợ cấp thay lương khi họ
thuộc trường hợp được hưởng BHTN Để đảm bảo ý nghĩa này, mức trợ cấp thất
nghiệp không nên quy định quá thấp, ít nhất cũng phải đảm bảo sinh hoạt tối thiểu
cho NLĐ trong thời gian chưa tìm được việc làm Thông thường, mức BHTN được
tính theo tỷ lệ % lương và được trả hàng tháng cho người thất nghiệp trong một thời
hạn nhất định Mức trợ cấp thất nghiệp hàng tháng không thấp hơn mức lương tối
thiểu (được xác định trên cơ sở nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của NLĐ) và được cân
đối với mức đóng góp BHTN trước đó của NLĐ
Khi xác định mức trợ cấp thất nghiệp, ngoài việc căn cứ vào khả năng chi trả
của quỹ BHTN, còn phải khuyến khích NLĐ chủ động tìm kiếm việc làm để thoát
khỏi tình trạng thất nghiệp Đây là điểm khác trong việc xác định mức trợ cấp thất
nghiệp so với các loại trợ cấp BHXH thông thường Nếu quy định mức trợ cấp thất
nghiệp cao, thời hạn hưởng trợ cấp kéo dài sẽ gây tâm lý trông chờ vào sự trợ giúp
của BHTN, chấp nhận tình trạng thất nghiệp để hưởng trợ cấp xã hội của người thất
nghiệp Đây là thực tế đã xẩy ra ở một số nước phát triển Nhằm hạn chế tình trạng
này, thời hạn trợ cấp thất nghiệp phải được quy định hợp lý, vừa đủ thời gian để
NLĐ tìm việc làm hoặc học nghề, nâng cao tay nghề, mức trợ cấp hàng tháng vừa
đủ đảm bảo cuộc sống tạm thời cho NLĐ nhưng vẫn buộc họ phải tích cực tìm việc
làm, sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu để có thu nhập ở mức cao hơn, ổn định
hơn so với khoản tiền trợ giúp của BHTN
Trang 221.2.3 Quỹ BHTN được hình thành theo nguyên tắc ba bên cùng có trách nhiệm
Đối với NLĐ và NSDLĐ, việc đóng góp BHTN là nghĩa vụ bắt buộc, xuất phát từ mối liên quan của BHTN với quan hệ lao động, tầm quan trọng và những ý nghĩa to lớn mà BHTN đem lại cho các bên NLĐ thất nghiệp kéo theo một loạt hệ
quả tác động đến cả bản thân NLĐ lẫn NSDLĐ và an ninh xã hội:Vềphía NLĐ thất
nghiệp, vì không có nguồn sống nên họ thấy rằng cần phải liên kết sự đóng góp lại,
từ đó hình thành một quỹ chung để chia sẻ rủi ro trong cộng đồng Quỹ này sẽ được
sử dụng cho những người đã đóng quỹ, không có việc làm ngoài ý muốn trong thời
phá sản họ không thể gánh nổi việc tự mình phải chi trả cho nhiều NLĐ mất việc làm Từ đó, họ thấy cần phải hợp lực với nhau vừa là để phòng tình huống xấu có thể xảy ra, vừa để chia sẻ gánh nặng rủi ro đó Họ tự nguyện nộp một khoản tiền nhất định vào một quỹ tập trung và khi bất trắc xẩy ra thì sẽ có nguồn để giải quyết
Đây là sự cụ thể hoá của nguyên tắc cùng nhau chia sẻ rủi ro khi thực hiện chế độ BHTN Do thất nghiệp là hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường, các bên của quan hệ lao động và các quốc gia đều phải đối mặt cho nên hình thức tham gia BHTN là bắt buộc Với các ưu thế của loại hình bảo hiểm bắt buộc, quỹ BHTN sẽ có nguồn thu đều đặn và ổn định tính theo tỷ lệ % lương của NLĐ trích từ lương hàng tháng và doanh thu của các doanh nghiệp để chi trả cho các trường hợp thụ hưởng và thực hiện các chức năng khác nhau của BHTN Đây là nguồn thu cơ bản tạo thành quỹ BHTN, là nguồn tài chính mà quỹ BHTN có thể chủ động nhằm hỗ trợ những NLĐ khi bị mất việc làm theo phương châm “lấy số đông bù số ít”
Bên cạnh nghĩa vụ đóng góp bắt buộc của các bên trong quan hệ lao động, nhà nước cũng cần có sự hỗ trợ cần thiết cho hoạt động của BHTN Đối với Nhà nước, chính sách BHTN là một trong những công cụ quản lí Nhà nước sử dụng để bảo vệ, che chắn cho NLĐ trước rủi ro mất việc làm Thông qua chính sách này, tình trạng thất nghiệp và hậu quả của chúng không những được hạn chế, mà còn góp phần thực hiện công bằng xã hội và giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách Nhà nước Chính phủ các nước ban hành và tổ chức triển khai chính sách BHTN đều nhằm mục đích chung là đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ và gia đình họ khi NLĐ lâm vào tình cảnh thất nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm việc iàm, đào tạo nghề cho NLĐ để
họ sớm quay lại thị trường lao động, từ đó góp phần đảm bảo an sinh xã hội
Trang 23Ở nước ta, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân mà nền tảng là giai cấp công nhân, nông dân và trí thức xã hội chủ nghĩa Vì vậy, Nhà nước luôn có trách nhiệm trong việc hình thành quỳ BHTN để đảm bảo đời sống cho NLĐ và giải quyết các vấn đề chung của xã hội như lập dữ liệu thông tin, giải quyết việc làm, phát triến thị trường lao động và giảm thiểu các rủi ro xã hội khác.
1.3 NỘI DUNG C ơ BẢN CỦA PHÁP LUẬT BHTN
1.3.1 Đối tượng tham gia BHTN
Xác định đối tượng áp dụng BHTN (những người có trách nhiệm tham gia BHTN và cần được bảo vệ khi thất nghiệp) là một trong những vấn đề có tính nguyên tắc được đặt ra khi thiết kế nội dung của BHTN Để ấn định ranh giới của
sự bảo vệ xã hội chống thất nghiệp, người ta thường xem xét các yểu tố: Nhu cầu bảo vệ, khả năng tài chính của người tham gia và khả năng quản lý của nhà nước thông qua tổ chức BHTN
Điều 2, Công ước 44 quy định: Chỉ những người làm công ăn lương mới được hưởng BHTN; còn những NLĐ độc lập thì không thuộc đối tượng BHTN Tại Điều 2 cũng chỉ rõ: Tuy nhiên, tùy hoàn cảnh mỗi nước có thể đặt thêm các trường hợp ngoại lệ đối với một số đối tượng Sở dĩ có các trường hợp ngoại lệ này là vì nguyên tắc chung xác định đối tượng cần được bảo vệ là tìm cách đạt được sự cân bằng giữa các yếu tổ kể trên mà các yếu tố này lại không được quan tâm giống nhau
ở các quốc gia khác nhau nên mỗi quốc gia có thể xác định những quy định riêng phù hợp
Thứ nhất, đối với những người giúp việc nhà: Đây là loại lao động mà sự
tham gia bảo hiểm đặt ra nhiều vấn đề nan giải nhất về mặt quản lý cũng như về mặt tài chính Việc quản lý đối tượng này rất khó khăn, tốn kém chi phí và khó xác định thời điểm bắt đầu thất nghiệp thực sự của họ Hơn nữa những người giúp việc nhà thường hưởng phần lớn thù lao dưới dạng hiện vật, do đó không thuận tiện cho việc tính số đóng góp như trường hợp thù lao bằng tiền Nhưng những người giúp việc nhà lại có nhu cầu bảo vệ chống lại thất nghiệp khẩn thiết hơn những loại lao động khác vì so với các nghề nghiệp khác, việc làm của những người này không ổn định bằng, họ lại thường bị thôi việc một cách đột ngột và đồng lương của họ cũng rất khiêm tốn nên không có khả năng dành dụm cho những ngày không may bị thất nghiệp Như vậy, trên khía cạnh nhu cầu bảo vệ, người giúp việc nhà cần được đưa vào là đối tượne áp dụng của BHTN Nhưng trên khía cạnh quản lý của các nước mới thiết lập BHTN thì việc mở rộne đối tượng áp dụng BHTN cho những người
Trang 24PHÒNG ĐỌC —5 1 6 3 _ _ _ _ _
giúp việc nhà có thể tạm hoãn cho đến khi hệ thống BHTN được hoàn thiện và điều kiện cho phép
Thứ hai là đổi với những lao động làm việc tại nhà: Những lao động làm việc
tại nhà là những người nhận của người ủy nhiệm các nguyên vật liệu, dụng cụ để hoàn thành công việc được giao tại nhà mình hoặc một nơi nào khác mà họ không chịu sự đôn đốc, kiểm soát trực tiếp của người ủy nhiệm Như thế, họ được gần như
tự do làm việc cho chính mình, nhưng cũng đặt dưới sự kiểm tra của người ủy nhiệm nên họ ờ vào thế vừa là người làm công ăn lương, vừa là NLĐ độc lập Họ cũng đứng trước nguy cơ mất việc làm, do đó mất thu nhập và có nhu cầu được bảo
vệ chống thất nghiệp
Thứ ba, công chức Nhà nước có việc làm thường xuyên hoặc theo hợp đồng
dài hạn do đó công việc khá ổn định và không có nhu cầu khẩn thiết tham gia BHTN
Thứ tư, đối với NLĐ làm công CQ thu nhập cao có thể tự mình phòng chống
rủi ro thất nghiệp Nhưng người ta cũng cho rằng việc làm có thu nhập cao thường không ổn định bằng các việc làm khác Hơn nữa, không phải toàn bộ những người
có thu nhập cao đều có khả năng dành dụm để tự bảo vệ khi mất việc làm Xét trên khía cạnh quản lý thì nếu loại trừ không cho những người có thu nhập cao tham gia BHTN thì chi phí quản lý không được cắt giảm nhiều Xét trên khía cạnh tài chính,
số đóng góp của những người có thu nhập cao thường giúp cho BHTN tăng thu và thuận lợi cho sự cân đối tài chính của quỹ Do đó cần cân nhắc xem có nên loại trừ những người làm công có thu nhập cao khỏi phạm vi áp dụng của BHTN hay không
Thứ năm, đối với lao động làm việc theo mùa vụ: Việc làm theo mùa là
những công việc thực hiện mỗi năm vào một thời kỳ hầu như nhất định, kéo dài từ vài tuần đến vài tháng Như vậy, họ chỉ bị coi là thất nghiệp và được BHTN nếu vào lúc đang mùa mà không được thuê mướn làm việc BHTN không chấp nhận bảo hiêm cho lao động mùa vụ không có việc làm trong những thời kỳ khác không thuộc mùa vụ đó và khi thực hiện BHTN, nhiều nước trên thế giới không áp dụng với NLĐ theo mùa vụ
Thứ sáu, đối với những lao động trẻ sát cận tuổi lao động theo quy định: Đa
số những người trẻ tuổi khi chưa đạt tới một độ tuổi nào đó thường chưa bắt đầu lao động hoặc không có đều đặn một việc làm đầy đủ thời gian Những người này lại thưòng sống với gia đình và chưa phải là người trụ cột Do vậy, việc xác định một
Trang 25thiếu niên không có việc làm có phải bị thất nghiệp hay không là điều khá khó khăn
Vả lại những lao động này cũng chưa có nhu cầu khẩn thiết được bảo vệ chống thất nghiệp Thêm vào đó, những lao động trẻ chỉ được trả thù lao một cách khá khiêm tốn, do đó đóng góp BHTN đối với những đối tượng này có thể là một gánh nặng tài chính Với các lý do này, các quốc gia cần nghiên cứu kỹ trước khi chấp nhận hay loại trừ khỏi đối tượng áp dụng của BHTN những lao động trẻ chưa đạt đến một độ tuổi nhất định
Thứ bảy, đối với những lao động đã vượt quá tuổi quy định, nghỉ hưu; năng
lực làm việc thường giảm đi và nguy cơ bị thất nghiệp tăng Do đó, nếu không thận trọng quỹ BHTN sẽ phải chi một phần lớn trong tổng số trợ cấp cho những người già mà do thể trạng, họ khó có thể kiếm và giữ được việc làm Vì vậy nên loại trừ khỏi BHTN những người đã vượt trên một hạn tuổi nhất định
Thứ tám, đối với lao động làm việc tùy dịp và phụ trợ: Công việc tùy dịp và
phụ trợ (ngoài hoạt động nghề nghiệp bình thường) là những công việc làm không thường xuyên, đầy đủ thời gian do đó thường bị loại trừ khỏi BHTN vì việc mất thu nhập sẽ không gây ảnh hưởng lắm (do họ đã có thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp chính), vả lại nhu cầu bảo vệ cũng không khẩn thiết
Thứ chín, đối với người làm công là thành viên trong gia đình của chủ nhân:
Những người này có liên hệ thân thuộc, gần gũi với chủ nhân nên sẽ khó khăn trong việc kiểm tra tình trạng thất nghiệp, và cũng dễ xảy ra lạm dụng Thêm vào đó, việc mất thu nhập cũng không gây khó khăn trầm trọng cho họ; do đó hầu hểt các nước trên thế giới đều loại trừ những người này ra khỏi đối tượng áp dụng của BHTN
Lao động nông, lâm, ngư nghiệp, thủy thủ cũng bị loại trừ khỏi đối tượng áp dụng BHTN do gây khó khăn cho việc quản lý và tài chính của quỹ BHTN Sản xuất phân tán nên việc đăng ký tham gia, thu tiền đóng gó p .là khó; Việc làm mang tính mùa vụ không thường xuyên, do đó để xác định xem họ có bị thất nghiệp thực
sự hay không là điều không hề dễ
Theo kinh nghiệm của các nước, đối tượng áp dụng BHTN là những NLĐ đã
có thời gian lao động nhất định, ở lĩnh vực ngành nghề nào đó và làm trong cơ sở có quy mô lao động theo quy định Ở Cộng hòa Liên bang Đức, về nguyên tắc tất cả những NLĐ làm việc theo hợp đồng như: công nhân, nhân viên hoặc những người đang đi học cũng như chủ của họ, không phụ thuộc vào mức thu nhập đều là đối tượng bắt buộc tham gia BHTN Ở Trung Quốc, Điều lệ BHTN áp dụng đối với tất
cả lao động ở thành thị, lao động trong các doanh nghiệp nhà nưóc, doanh nghiệp tư
Trang 26nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và những nông dân làm hợp đồng trong các doanh nghiệp này [37] Nhìn chung BHTN của các nước chỉ áp dụng đối với những NLĐ trong các doanh nghiệp, NLĐ làm việc theo chế độ HĐLĐ trong các cơ quan Nhà nước.
1.3.2 Các chế độ BHTN
1.3.2 ỉ Điều kiện hưởng BHTN
Theo Công ước số 44 của ILO, để được hưởng trợ cấp BHTN, người thất nghiệp phải có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, “có năng lực làm việc và sẵn sậng làm việc nhưng hiện tại không
có việc làm”: BHTN nhằm bảo vệ NLĐ bị mất việc làm do những nguyên nhân ngoài ý muốn của họ Theo đó, nếu NLĐ không có việc làm do không có khả năng lao động thì sẽ không thuộc trách nhiệm của BHTN Vì vậy, muốn được nhận trợ cấp thất nghiệp, người thất nghiệp phải là người không có việc làm nhưng có “năng lực làm việc” Đây là điều kiện chủ yếu mà pháp luật BHTN các nước đều đặt lên hàng đầu
Cùng với việc “có khả năng lao động”, muốn được hưởng trợ cấp BHTN, người thất nghiệp phải “sẵn sàng làm việc” Đây là điều kiện quan trọng để phân biệt “người thất nghiệp” và những người không có việc làm nhưng không muốn làm việc và do đó không tích cực tìm kiếm việc làm
Thứ hai, “có đăng ký tìm việc tại một phòng tìm việc”: Việc đăng ký thất
nghiệp không những giúp các cơ quan chức năng chủ động tìm kiếm và giới thiệu việc làm cho người thất nghiệp mà còn giúp Nhà nước thống kê số lượng người thất nghiệp để có sự điều chỉnh kịp thời đối với chính sách thất nghiệp
Thứ ba, “có sổ BHTN để chứng nhận có tham gia đóng BHTN đủ thời hạn
quy định của thời kỳ dự bị”: Để tránh sự lạm dụng của người thất nghiệp, pháp ỉuật BHTN của các nước đều qui định về thời gian dự bị - đó là khoảng thời gian NLĐ
có tham gia đóng góp cho quỹ BHTN trước khi thất nghiệp
Quy định về thời kỳ dự bị có hai tác dụng: Thứ nhất, thời kỳ dự bị đảm bảo ràng chỉ có những người thực sự và thường xuyên thuộc dân số hoạt động kinh tế thì mới có thể xem như mất thu nhập thực sự khi lâm vào tình trạng thất nghiệp, do
đó cần một khoản trợ cấp thay thế Thứ hai, nhờ thời gian dự bị mà cơ quan BHTN
có thể đảm bảo số đóng góp của mỗi người tham gia BHTN sẽ đạt tới mức tối thiểu khi xảy ra thất nghiệp, điều này góp phần cân đối tài chính quỹ BHTN Tùy thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước và tình hình tài chính của quỹ BHTN
Trang 27mà độ dài của thời kỳ dự bị được các nước quy định rất khác nhau Điều 6, Khuyến
cáo số 44 có hướng dẫn: “Thời kỳ dự bị thường không vượt quá 26 tuần lễ làm
việc trong thời gian 12 thảng trước khi xin hưởng trợ cấp B H TN ” Luật BHTN
của Ba Lan quy định là 180 ngày trong 12 tháng cuối cùng trong quan hệ lao động
Cộng hoà Pháp quy định là có 3 tháng đóng góp BHTN trong 12 tháng cuối cùng
trước khi thất nghiệp Ngoài ra nhiều quốc gia cũng quy định thêm về điều kiện
không có thu nhập trong thời gian hưởng trợ cấp nhằm đảm bảo ý nghĩa của trợ cấp
[27, tr.32]
ỉ.3.2.2 Các chế độ BHTN
Một trong những nguyên tắc quan trọng của BHTN là BHTN phải vừa bù
đắp thu nhập, vừa tác động tích cực cho người thất nghiệp trở lại việc làm Bởi vậy,
bên cạnh việc chi trả cho người đủ điều kiện hưởng một khoản tiền trợ cấp thay
lương khi họ ở trong trường hợp được hưởng BHTN thì pháp luật BHTN các nước
còn quy định về việc hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc và đảm bảo chăm sóc y tể cho
người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp:
thành viên chịu hiệu lực của Phần này trong Công ước phải đảm bảo cho những
người được bảo vệ được nhận trợ cấp khỉ thất nghiệp” (Điều 19).
+ Quan điểm chung về mức trợ cấp BHTN
Khi mất việc làm, NLĐ mất phương tiện mưu sinh do nguồn thu nhập không
còn Để giúp đỡ họ giảm bớt khó khăn trong cuộc sống trong thời gian chờ tìm được
việc làm mới, BHTN sẽ cung cấp cho họ khoản trợ cấp tạm thời để ổn định cuộc
sống Công ước số 102 của Tổ chức lao động quốc tế quy định mức trợ cấp thất
nghiệp tối thiểu là 45% tổng thu nhập trước đó của người thụ hưởng, trong thời hạn
ít nhất là 13 tuần (Điều 24) Trên cơ sở pháp luật quốc tế và điều kiện của từng quốc
gia, mức và thời gian hưởng được quy định không giống nhau
Khi xác định mức trợ cấp phải lưu ý nếu mức trợ cấp quá thấp sẽ không đủ
giải quyết nhu cầu tối thiểu, kết quả là cuộc sống của NLĐ sẽ gặp khó khăn Còn
nếu mức trợ cấp BHTN cao ngang bằng tiền lương trước khi thất nghiệp sẽ khuyến
khích NLĐ không làm việc, kéo dài thời gian hưởng trợ cấp, gây thiệt hại cho quỹ
BHTN và có ảnh hưởng xấu đến tình hình sản xuất Do đó, mức trợ cấp BHTN hợp
lý là mức vừa đảm bảo mức sống tối thiểu nhưng phải thấp hơn mức lương đang
hưởng khi còn làm việc của NLĐ
+ Thời gian hoãn hưởng trợ cấp BHTN
Trang 28Thời gian hoãn hưởng là thời gian kể từ khi người thất nghiệp nộp đơn xin
hưởng trợ cấp đến khi họ thực sự nhận được trợ cấp Mục đích của thời gian hoãn
hưởng là để giảm bớt gánh nặng tài chính cho quỹ BHTN đối với các trường hợp
tạm ngừng việc ngắn hạn Theo Khuyến cáo số 44 của ILO, thời gian này không
được vượt quá 8 ngày cho mỗi thời kỳ thất nghiệp
+ Thời gian hưởng trợ cấp BHTN
Theo Khuyến cáo số 44 của ILO, thời gian trả trợ cấp dài hay ngắn là tùy
thuộc vào khả năng tài chính của quỹ BHTN Thời gian này càng dài càng tốt nếu
quỹ còn đủ khả năng chi trả và NLĐ còn có yêu cầu giúp đỡ Kinh nghiệm thực tế ở
các nước cũng chỉ ra rằng việc chi trả trợ cấp khó có thể đáp ứng đầy đủ tình trạng
khó khăn của người thất nghiệp và thời gian chi trợ cấp cũng cần có giới hạn cần
thiết
Điều 24, Công ước số 102 hướng dẫn: “Trợ cấp thất nghiệp cỏ thể trả suốt
thời gian NLĐ bị mất việc làm ngoài ỷ muốn, và đôi khi trợ cấp này cũng có thể hạn
chế trong nhiều trường hợp đối với các loại đổi tượng hưởng trợ cấp Riêng đối với
đối tượng hưởng trợ cấp là người làm công ăn lương, thời gian hưởng trợ cấp có
thể bị hạn chế trong khoảng 13 tuần trong từng thời kỳ 12 tháng ”
Ở một số nước phát triển, thời gian hưởng trợ cấp BHTN có thể lên đến 3
năm hoặc hơn Nhưng đối với các nước đang phát triển, sổ người thất nghiệp là khá
lớn thì thời gian trả trợ cấp tối đa thường chỉ là 1 năm [35, tr.50]
quyết việc làm cho NLĐ Tại Điều 2, “Phần I Công ước 168 quy định: “Mọi nước
thành viên sẽ thực hiện từng bước phù hợp để phối hợp với hệ thống bảo vệ chổng
thất nghiệp và chính sách việc làm Cuối cùng, điều này đảm bảo rằng hệ thống bảo
vệ chổng thất nghiệp và những biện pháp đặc biệt bảo đảm trợ cấp thất nghiệp, góp
phần khuyến khích đầy đủ 1>iệc tự do lựa chọn việc làm có hiệu quả và không ngăn
cản NSDLĐ được yêu cầu và NLĐ được tìm kiếm việc làm hiệu quả
Đe thực hiện tốt chính sách BHTN, ngoài việc thu đóng góp bảo hiểm và chi
trợ cấp cho người thất nghiệp thì một chức năng rất quan trọng khác của chương
trình BHTN là cung cấp việc làm, đào tạo nghề, phát triển kỹ năng, tạo điều kiện
cho NLĐ để giúp họ có thể tái hòa nhập vào thị trường lao động, nhanh chóng có
được việc làm mới phù hợp Vì vậy, chính phủ Thái Lan đã giao nhiệm vụ cho các
cơ quan chức năng liên quan tới chương trình BHTN, bao gồm: Tổ chức BHXH
chịu trách nhiệm thu đóng góp bảo hiểm, xét duyệt và tiến hành chi chế độ, giải
Trang 29quyết các thắc mắc của đối tượng; Vụ Lao động việc làm có trách nhiệm đăng ký
đối tượng BHTN trong chương trình tìm việc làm, cộng tác với các tổ chức đào tạo
trong trường hợp người thất nghiệp cần đào tạo hoặc đào tạo lại kỹ năng và tiếp
nhận người thất nghiệp đang hưởng chế độ hàng tháng để báo cáo về kết quả tìm
việc làm; Vụ phát triển kỹ năng có trách nhiệm thực hiện các khóa đào tạo nâng cao
kỹ năng nghiệp vụ cho người thất nghiệp [35, tr 134]
y tế cho những người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp và những người phụ thuộc
vào người thất nghiệp (khoản 1 Điều 23)
Hệ thống BHTN với các quy định về trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm
việc làm, chăm sóc y tế là sự đảm bảo cần thiết cho NLĐ có cuộc sống bình
thường khi bị mất việc làm, tránh những tác động xấu của kinh tế thị trường và bảo
vệ những giá trị tiến bộ xã hội
1.3.3 Quỹ BHTN
1.3.3.1 Người có trách nhiệm đóng quỹ
Cho dù cách thức tổ chức BHTN là khác nhau, nhưng quỹ BHXH nói chung,
quỹ BHTN nói riêng thường được hình thành từ 3 nguồn đóng góp: NLĐ, NSDLĐ
và Nhà nước
Đối với NLĐ: muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp, NLĐ phải tham gia
đóng góp vào quỹ như một khoản tiết kiệm để khắc phục rủi ro khi mất việc làm,
duy trì cuộc sống của mình ở một mức độ nhất định Sự đóng góp của NLĐ còn để
thực hiện nghĩa vụ san sẻ rủi ro, lấy của số đông NLĐ đang làm việc bù đắp cho số
ít những người thất nghiệp
Đối với NSDLĐ, trong quá trình sử dụng lao động, họ đã sử dụng một lực
lượng lao động do xã hội tạo ra và giá trị thặng dư mà họ thu được cũng sinh ra từ
quá trình sử dụng sức lao động Do đó, NSDLĐ phải có trách nhiệm đóng góp để
bảo hiểm cho những NLĐ mà mình thuê mướn, đặc biệt trong việc đóng góp BHTN
để khắc phục rủi ro mất việc làm của NLĐ Sự đóng góp của NSDLĐ vào quỹ
BHTN còn góp phần giảm bớt gánh nặng cho chính họ khi phải chi phí cho NLĐ bị
mất việc làm, nhất là khi doanh nghiệp khó khăn, NLĐ bị thất nghiệp hàng loạt
Đối với Nhà nước, việc tham gia đóng góp vào quỹ BHTN nhằm hỗ trợ cho
việc hình thành quỹ BHTN và thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với các vấn
đề có tính xã hội như giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp Với vai trò chủ đạo
trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội và giải quyết tình trạng thất nghiệp, Nhà
Trang 30nước không chỉ đưa ra các chính sách, chế độ mà còn thực hiện các giải pháp cụ thể
và tham gia đóng góp vào quỹ BHTN
1.3.3.2 Căn cứ xác định mức đóng và tỷ lệ đóng quỹ BHTN
a về căn cứ xác định mức đóng quỹ BHTN
Đóng góp của NLĐ và NSDLĐ vào quỹ BHTN có thể được thực hiện dưới 2 hình thức:
- Đóng theo một khoản cố định và hưởng theo một khoản cổ định:
Hình thức đóng góp này không có liên quan gì đến mức lương của NLĐ Khoản cố định ở đây có thể hiểu là “mức thu nhập được bảo hiểm” Mức này do cơ quan BHTN lựa chọn sao cho phù họp với mức sống, với tình hình kinh tế - xã hội nói chung và phù hợp với nhu cầu của đa sổ người hưởng chế độ
Đóng theo hình thức này, mức đóng và hưởng sẽ như nhau đối với mọi NLĐ Điều này thể hiện được sự bình đẳng về nhu cầu được bảo hiểm đối với những NLĐ
có vị trí khác nhau trong xã hội Hình thức này có thể áp dụng ở các nước đang phát triển, khi mà tiền công (tiền lương) của NLĐ biến động theo sự thay đổi chỗ làm việc và Nhà nước chưa quản lý được mức lương và thu nhập của NLĐ
Khi áp dụng hình thức này, khoản thu nhập được bảo hiểm phải luôn được Nhà nước quan tâm, điểu chỉnh kịp thời sao cho phù hợp với mức sinh hoạt chung, nhất là theo kịp sự biến động của chỉ số giá để đảm bảo được nhu cầu bảo hiểm đặt
ra lúc ban đầu Thông thường, mức hưởng này sẽ được điều chỉnh định kỳ như điều chỉnh lương tối thiểu; nếu cần có thể điều chỉnh đột xuất
Hình thức này có thể không nhận được sự ủng hộ của những người có mức lương cao có nhu cầu bảo hiểm ở mức cao, do tính bình quân của hình thức này không giải quyết thỏa đáng quyền lợi của họ Nhược điểm này có thể được khắc phục bằng cách quy định NLĐ có thể tự nguyện tham gia đóng góp ở mức cao hơn
để được hưởng quyền lợi cao hơn
- Đỏng theo mức lương và hưởng theo mức lương:
Hình thức này được ILO khuyến nghị và được NLĐ ủng hộ hơn, do đảm bảo công bằng trong đóng và hưởng BHTN - người lương cao đóng nhiều sẽ được hưởng nhiều; người lương thấp đóng ít sẽ được hưởng ít Tuy nhiên, xác định mức đóng và hưởng theo cách này điều quan trọng là phải kiểm soát được mức lương hay thu nhập của NLĐ Nếu không thì sẽ không có cơ sở tính toán, cân bằng thu - chi quỹ, dễ dẫn đến bội chi Nếu quỹ BHTN cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước, đóng theo cách này sẽ dẫn đến việc nhà nước (lấy từ thuế của toàn dân) hỗ trợ cho
Trang 31người giàu (thu nhập cao) nhiều hơn hỗ trợ cho người nghèo (thu nhập thấp), dẫn đến không công bằng trong phạm vi toàn xã hội Nhược điểm này có thể khắc phục bằng cách giới hạn mức lương làm căn cứ đóng BHTN ở một mức độ phù hợp.
b về tỷ lệ đóng quỹ BHTN
Tùy tình hình kinh tế - xã hội từng nước mà quỹ BHTN được thành lập dựa trên tỷ lệ đóng góp của các bên có trách nhiệm đóng quỹ là hoàn toàn khác nhau NSDLĐ có thể đóng đúng bằng NLĐ (phương thức đồng đều), ví dụ ở Đức quy định NSDLĐ đóng 3,25% bằng mức đóng của NLĐ Phương thức này tạo tư tưởng
2 bên cùng chia sẻ gánh nặng BHTN NSDLĐ cũng có thể đóng nhiều hơn so với NLĐ (ở Pháp, NLĐ đóng 2,42%, NSDLĐ đóng 4,18%; Trung Quốc quy định tỷ lệ đóng góp của NSDLĐ là 2% tổng quỹ lương, NLĐ không phải đóng góp ) Phương thức này thể hiện sự quan tâm tốt hơn của NSDLĐ đối với NLĐ [56, tr.229]
Việc tham gia đóng góp của Nhà nước có thể dưới hình thức hỗ trợ khi quỹ
có sự thiếu hụt, bảo toàn giá trị của quỹ hoặc đóng góp theo định kỳ vào quỹ Việc Nhà nước tham gia đóng góp BHTN ở các quốc gia cũng không giống nhau Tại Đức, Nhà nước chỉ hỗ trợ khi cần thiết Tại Thuỷ Điển, Nhà nước đóng 85% trong tổng thu của quỹ BHTN Tại Ba Lan, quỹ BHTN chủ yếu do ngân sách nhà nước đóng góp, có khi chiếm tới 61,4 % tổng quỹ [56, tr.230]
1.3.3.3 Quản lý và sử dụng quỹ
Quỹ BHTN được sử dụng vào mục đích:
Thứ nhất, trả trợ cấp thất nghiệp cho người thất nghiệp, số tiền trợ cấp thất
nghiệp trả cho mỗi cá nhân sẽ phụ thuộc vào mức hưởng trợ cấp thất nghiệp và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp
Thứ hai, chi cho các hoạt động hỗ trợ học nghề cho người thất nghiệp
Thứ ba, chi cho các hoạt động tìm và tạo việc làm cho người thất nghiệp
Dù xét ở góc độ nào đều thấy giữa chế độ BHTN và giải quyết việc làm có mối quan hệ rất chặt chẽ Đó là hai giai đoạn của một quá trình, hai mặt của sự thống nhất BHTN không chỉ nhàm đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ mà còn có tính tích cực trong việc khuyến khích NLĐ tự tìm việc làm, phát triển nền kinh tế cá nhân đồng thời là cơ sở phát triển kinh tế quốc gia Đây chính là đặc điểm của pháp luật BHTN hiện nay trên thế giới Nếu trước đây, pháp luật BHTN chủ yếu là chú trọng đến mục tiêu ổn định thu nhập cho NLĐ, ổn định kinh tế-xã hội quốc gia, thì đến nay, mục tiêu chính của việc điều chỉnh pháp luật BHTN mà Tổ chức Lao động
Trang 32quốc tế khuyến cáo các nước là: tập trung vào các nội dung phòng và chống lại tình trạng thất nghiệp, ưu tiên thực hiện các chế độ xúc tiến việc làm, hồ trợ học nghề cho người thất nghiệp.
1.3.4 Tổ chức thực hiện BHTN
Mặc dù tổ chức BHTN ở các nước trên thế giới là rất khác nhau, song nếu tổng họp lại thì thường có 2 mô hình tổ chức BHTN như sau:
Mô hình 1: BHTN được tổ chức thành một hệ thống độc lập Mô hình này đã
và đang áp dụng ở hầu hết các nước kinh tế phát triển như Mỹ, Anh, Canada, Italia
BHTN ở Mỹ được tổ chức thành hệ thống độc lập, tách khỏi BHXH Cụ thể,
Bộ Lao động thực hiện việc quản lí ở cấp quốc gia thông qua cơ quan quản lí đào tạo việc làm và cơ quan đảm bảo lực lượng lao động Cơ quan Đảm bảo lực lượng lao động ở từng bang chịu trách nhiệm quản lí chương trình riêng của từng bang Các cơ quan này có nhiệm vụ triển khai BHTN theo đúng pháp luật Cụ thể, tổ chức quản lí quỹ BHTN, chi trả trợ cấp BHTN, đăng kí thất nghiệp và trực tiếp đứng ra giới thiệu việc làm cho những NLĐ bị thất nghiệp Nhìn chung tòng bang đứng ra
tổ chức, còn cơ quản quản lí đào tạo việc làm và cơ quan đảm bảo lực lượng lao động thuộc Bộ lao động chỉ quản lí chung và giám sát quá trình tổ chức của các bang theo đúng pháp luật [35, tr 126]
Những nước áp dụng mô hình này thường có điều kiện cả về kinh tế lẫn xã hội, có thị trường lao động rất phát triển Đặc biệt là nhận thức của NLĐ và NSDLĐ
ở những nước này về BHTN rất cao Nhưng nếu áp dụng mô hình này thì đối tượng được bảo vệ của BHTN thường chỉ giới hạn ở những NLĐ làm công hưởng lương trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Bởi vì, lao động làm việc ở khu vực này dễ thị thất nghiệp, còn những NLĐ là công chức, viên chức Nhà nước không thuộc diện bảo vệ của BHTN vì họ được nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm lâu dài nên khả năng bị thất nghiệp rất thấp Nếu áp dụng mô hình này thì BHTN thường
do Bộ lao động, việc làm trực tiếp đứng ra tổ chức triển khai
Mô hình 2: BHTN được coi là 1 nhánh (1 chế độ) của BHXH, cho nên ngành BHXH trực tiếp đứng ra tổ chức triển khai Mô hình này đã và đang được áp dụng ở khá nhiều nước như Cộng hoà liên bang Đức, Trung quốc, Thái lan
ở Trung Quốc, BHTN là 1 trong 5 chế độ BHXH (bên cạnh chế độ hưu trí,
quyền trung ương và địa phương cùng chia sẻ trách nhiệm quản lí BHXH Trong đó
Trang 33chính quyền trung ương có nhiệm vụ đưa ra các quy định, chính sách và mức chuẩn tại địa phương phù họp với quy định của trung ương; tổ chức thu các khoản đóng góp và chi trả trợ cấp về BHXH Nhiệm vụ chính của cơ quan BHXH là: Tiếp nhận đăng kí thám gia; tổ chức thu BHXH; hạch toán các khoản đóng góp; quản lí tài khoản cá nhân của người tham gia; kiểm tra tính phù hợp của các yêu càu; chi trả các khoản trợ cấp; quản lí quỹ BHXH Như vậy, ở Trung quốc, việc tổ chức BHTN cũng nằm trong hệ thống tổ chức BHXH Tuy nhiên, Bộ lao động và bảo đảm xã hội cũng tham gia quản lí [35, tr 131].
Những nước áp dụng mô hình này thường có đối tượng tham gia BHXH cũng chính là đối tượng tham gia BHTN Vì thế, điện bảo vệ sẽ rộng hơn do đối tượng tham gia BHXH bắt buộc về cơ bản là tất cả mọi NLĐ làm công hưởng lương trong các doanh nghiệp, trong các tổ chức đoàn thể, trong khu vực hành chính sự nghiệp Khi có đối tượng tham gia đông đảo, trong lúc thị trường lao động chưa thực sự phát triển, sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong việc hình thành quỹ BHTN và chi trả trợ cấp BHTN cho NLĐ Đặc biệt là quy luật số đông bù số ít trong bảo hiểm sẽ phát huy tác dụng nhanh chóng
Cho dù mô hình và cách thức tổ chức có khác nhau, song BHTN đều có liên quan chặt chẽ đến các chương trình việc làm, đến việc đào tạo và đào tạo lại tay nghề cho NLĐ nhằm giúp họ sớm có cơ hội tìm việc làm mới Có thể nói, đây là vấn đề khó khăn nhất đối với những nước lần đầu tiên triển khai BHTN Khó khăn
cả về việc lựa chọn mô hình tổ chức, khó khăn cả trong công tác triển khai và quản
lí BHTN
Trang 34Chương 2 PHÁP LUẬT BHTN VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ TH ựC TIỀN
THỰC HIỆN Ở NGHỆ AN
2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BHTN
2.1.1 Đối tượng tham gia BHTN
2.1.1.1 NLĐ tham gia BHTN
Luật BHXH năm 2006 (khoản 3 Điều 2) và Nghị định 127/2008/NĐ-CP (Điều 2) quy định chỉ những NLĐ làm việc theo HĐLĐ hoặc HĐLV (sau đây gọi chung là NLĐ) mà các họp đồng này không xác định thời hạn hoặc xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng mới được tham gia đóng góp và hưởng BHTN Trong đó, nếu NLĐ đang hưởng lương hưu hằng tháng, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng có giao kết HĐLĐ, HĐLV với NSDLĐ cũng không thuộc đối tượng tham gia BHTN
Từ quy định trên có thể thấy đối tượng áp dụng BHTN chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với tổng số người thất nghiệp Sự lựa chọn xác định đối tượng áp dụng như trên là hoàn toàn có cơ sở khoa học, phù hợp với thực tiễn và có khả năng thực thi
Vì ràng, chúng ta mới bước vào kinh tế thị trường, nền kinh tế chưa phát triển, do
đó chưa đủ tiềm lực kinh tế mở rộng diện đối tượng áp dụng BHTN đối với người mới bước vào tuổi lao động, chưa từng tham gia BHTN Mặt khác, chúng ta cũng chưa đủ năng lực kiểm soát lực lượng lao đông tự tạo việc làm Do vậy, việc xác định đối tượng áp dụng BHTN ở phạm vi hẹp trong giai đoạn đầu tổ chức thực hiện này là hết sức cần thiết, nó thỏa mãn hai điều kiện cơ bản: kiểm soát được đối tượng hưởng BHTN và cơ bản đáp ứng được nguyên tắc tài chính của BHTN “lấy thu bù chi”
là chủ yếu, sự hỗ trợ của nhà nước chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ
So sánh với phạm vi áp dụng các chế độ BHXH khác ở nước ta cho thấy phạm vi áp dụng BHTN hẹp hơn, đặc biệt có căn cứ vào quy mô sử dụng lao động của NSDLĐ Điều này xuất phát từ thực tiễn lần đầu tổ chức thực hiện, không thể ngay lập tức quy định phạm vi áp dụng rộng như các chế độ BHXH khác Chúng ta chưa thể trù liệu hết những khó khăn trong quản lý, thực hiện nên cần có những bước đi thích hợp nhằm đảm bảo tính khả thi của chế độ này Mặt khác, tính chất xã hội của BHTN phải được kết hợp hài hoà với tính chất kinh tế - đảm bảo an toàn và
hiểu theo nghĩa thông thường đều là đối tượng áp dụng BHTN Đối tượng được quy
Trang 35định tại khoản 3 Điều 2 Luật BHXH 2006 tuy không chiếm tỷ lệ lớn trong số những người thất nghiệp nhưng họ có nhu cầu và điều kiện tham gia BHTN, có thể đóng góp một phần nhất định trong việc hình thành quỹ BHTN Do tính chất công việc không ổn định, chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường nên họ dễ bị mất việc làm hơn so với cán bộ, công chức nhà nước Xuất phát từ lý do này, chế độ BHTN trước hết, được thực hiện đối với NLĐ bị mất việc làm từ quá trình thực hiện HĐLĐ hoặc HĐLV Khi điều kiện kinh tế xã hội và khả năng chi trả của quỹ BHTN cho phép, đổi tượng áp dụng BHTN sẽ được mở rộng cho những đối tượng khác.
Bên cạnh việc chỉ ra cụ thể đối tượng tham gia BHTN, pháp luật cũng nêu rõ đối với trường họp người đang hưởng lương hưu hằng tháng, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng có giao kết HĐLĐ, HĐLV với NSDLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHTN Quy định này cũng phù hợp với sự giới hạn của tổ chức lao động quốc tế về
“người thất nghiệp” Định nghĩa của ILO cho thấy, không phải người nào không có
việc làm cũng được xếp vào nhóm “người thất nghiệp”, mà chỉ những người “trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang không có việc làm, đang đi tìm việc làm” thì mới được coi là người thất nghiệp.
Cũng trên cơ sở lập luận đó chúng ta cũng thấy cần phải bổ sung các trường hợp: NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hoặc ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng trợ cấp BHXH; NLĐ tạm hoãn thực hiện giao kết HĐLĐ hoặc HĐLV theo quy định của pháp luật thì trong thời gian này, NLĐ cũng không thuộc đối tượng hưởng BHTN
Đáng nói, do chưa có văn bản hướng dẫn Luật Viên chức, trong khi việc phân biệt giữa cán bộ, công chức, viên chức lại khó, nên vấn đề xác định đối tượng tham gia BHTN tại các đơn vị sự nghiệp nhà nước gặp khó khăn Đối với công chức nhà nước, người làm việc ở các Cơ quan Đảng, Đoàn thể theo ngạch công chức, lực lượng vũ trang là những đối tượng không áp dụng chế độ BHTN Công chức nhà nước là người được các cơ quan nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên nên đối tượng này có việc làm ổn định lâu dài Có thể nói, công chức nhà nước là người được Nhà nước tuyển dụng vào làm việc suốt đời, không phải giao kết HĐLĐ nên khả năng thất nghiệp thấp (trừ trường hợp cơ quan giảm biên chế và thôi việc)
Trang 362.1.1.2 NSDLĐ tham gia BHTN
BHTN được ví như bà đỡ đối với NLĐ bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, bên cạnh đó, chế độ này cũng mang lại lợi ích cho chính NSDLĐ Nhờ có chế độ BHTN nên khi những NLĐ tại doanh nghiệp bị mất việc làm, họ không phải bỏ ra một khoản chi phí lớn để giải quyết chế độ cho NLĐ Nhờ vậy, gánh nặng tài chính của doanh nghiệp được san sẻ, đặc biệt trong những thời kỳ khó khăn, buộc phải thu hẹp sản xuất, có nhiều NLĐ thất nghiệp Hơn nữa, khi đã tham gia BHTN và biết rõ quyền được trợ cấp thất nghiệp, NLĐ sẽ yên tâm làm việc, tạo ra năng suất và chất lượng cao trong quá trình sản xuất Điều này góp phần tăng lợi nhuận và hiệu quả
sử dụng lao động Chính vì những lẽ đó mà các nước đều quy định về việc NSDLĐ tham gia BHTN
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, NSDLĐ có sử dụng từ mười (10) NLĐ trở lên tại các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp được quy định tại khoản
4 Điều 2 Luật BHXH thuộc đối tượng tham gia BHTN
Như vậy, rõ ràng việc tham gia BHTN mang lại nhiều ý nghĩa với NSDLĐ nhưng không phải mọi NSDLĐ đều thuộc đối tượng tham gia của chế độ này Đối với doanh nghiệp, về nguyên tắc doanh nghiệp sử dụng lao động từ 01 lao động trở lên là phải tham gia đóng BHTN cho NLĐ, nhưng trong thời kỳ đầu chúng ta chưa
có điều kiện để kiểm soát và quản lý các doanh nghiệp dưới 10 lao động nên chỉ bắt buộc các doanh nghiệp sử dụng từ 10 lao động Sau này, khi có điều kiện chúng ta
sẽ mở rộng tới các đối tượng này
2.1.2 Các chế độ BHTN
2.1.2.1 Điều kiện hưởng BHTN
Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước, kết họp với điều kiện thực tế
của Việt Nam, pháp luật BHTN của chúng ta quy định: Người thất nghiệp được h-
ưởng BHTN, khi có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định sổ 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính Phủ.
Xuất phát từ đặc thù của BHTN, điều kiện để được hưởng chế độ này phức tạp hon các chế độ bảo hiểm khác nhằm giúp cơ quan quản lý BHTN thực hiện nghiệp vụ chính xác, kịp thời, hỗ trợ đúng đối tượng và góp phần đảm bảo công bằng xã hội Theo đó, để được hưởng các chế độ BHTN, người thất nghiệp phải thoả mãn 3 điều kiện:
Điều kiện thứ nhất, để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, NLĐ phải tham gia
đóng góp vào quỹ BHTN một khoảng thời gian nhất định trước khi bị mất việc làm
Trang 37Quy định này nhằm buộc NLĐ thực hiện nghĩa vụ của mình theo nguyên tắc có đóng góp mới được hưởng thụ, để quỹ BHTN có nguồn thu đủ chi Theo quy định của pháp luật Việt Nam, NLĐ phải có thời gian đóng góp BHTN đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi bị thất nghiệp nhằm mục đích vừa đảm bảo tính chất kinh tế vừa đảm bảo tính chất xã hội của BHTN.
Điều kiện thứ hai, người được hưởng BHTN đã đăng ký thất nghiệp với tổ
chức BHXH Điều kiện này nhằm đảm bảo việc theo dõi, quản lý, kiểm soát số người thất nghiệp để chi trả chính xác chế độ trợ cấp thất nghiệp Người thất nghiệp phải trình cơ quan quản lý BHTN các giấy tờ tài liệu chứng minh tình trạng thất nghiệp kèm theo đơn xin hưởng trợ cấp thất nghiệp
Điều kiện thứ ba, người được hưởng BHTN phải chưa tìm được việc làm sau
15 ngày kể từ ngàý đăng ký thất nghiệp Quy định này của pháp luật Việt Nam phù họp với quy định chung của các nước có triển khai chế độ BHTN Quy định này nhằm tiết kiệm tài chính đối với các trường hợp thất nghiệp ngắn ngày tái diễn gần nhau hoặc trường họp chuyển tiếp giữa hai quan hệ lao động Đây cũng là khoảng thời gian NLĐ tích cực tìm kiếm việc làm mới hoặc thông qua sự giúp đỡ của cơ quan môi giới để tìm việc làm
Ngoài ra nhiều quốc gia cũng quy định thêm về điều kiện không có thu nhập trong thời gian hưởng trợ cấp nhằm đảm bảo ý nghĩa của trợ cấp Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay Việt Nam chưa thể quy định được điều kiện này vì vấp phải những khó khăn trong việc kiểm soát thu nhập của NLĐ Nhưng về nguyên tắc, những người thất nghiệp đã có thu nhập thì không được hưởng trợ cấp thất nghiệp Điều kiện này dù khó xác định trong thực tế nhưng vẫn nên quy định trong tương lai nhằm đảm bảo ý nghĩa của BHTN
Như vậy, so với các chế độ BHXH khác, điều kiện để hưởng trợ cấp BHTN phức tạp hon nhiều Nếu không có những quy định chặt chẽ về điều kiện được hưởng trợ cấp BHTN thì sẽ dễ bị lợi dụng dẫn đến những hậu quả tiêu cực trong xã hội
Khi được xác định là đối tượng đủ điều kiện để được hưởng BHTN, NLĐ sẽ được hưởng một khoản tiền trợ cấp thất nghiệp, được hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm và hưởng chế độ BHYT Quy định này của pháp luật Việt Nam về chế độ BHTN là phù họp với Công ước quốc tế và quy định của một số quốc gia (đã được
đê cập ở Chương 1 của luận văn)
Trang 38- Trợ cấp thất nghiệp:
Dưới góc độ kinh tế, đây chính là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất nghiệp, giúp người thất nghiệp tạm thời đảm bảo cuộc sống và tìm kiếm việc làm Pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về mức trợ cấp và thời gian được hưởng trợ cấp tại Điều 16 Nghị định 127/2008/NĐ-CP
+ v ề mức hưởng trợ cấp:
Quy định về mức hưởng trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam (khoản 2 Điều 16
Nghị định 127/2008/NĐ-CP) là tương đối phù hợp với khuyến nghị của ILO và
pháp luật các quốc gia trên thế giới, v ề vấn đề này, Công ước số 168 của ILO quy
định: “Mức trợ cấp không ít hơn 45-50% mức thu nhập trước đó, hoặc tiền lương
tối thiểu đã được ấn định, hoặc theo mức bảo đảm mức sổng cơ bản tối thiểu ở mức cao nhất” (Điều 15).
Trong trợ cấp thất nghiệp, nếu quy định mức hưởng quá thấp sẽ không đảm bảo được giá trị của trợ cấp và mục đích của bảo hiểm, tuy nhiên nếu quy định quá cao sẽ gây khó khăn trong thời kỳ đầu hình thành Việc xác định mức 60% theo Luật BHXH hiện hành là tương đối phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay
+ Thời gian hưởng trợ cấp:
Công ước số 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quy định mức trợ cấp
thất nghiệp tối thiểu 45% tổng thu nhập trước đó của người thụ hưởng, trong thời
hạn ít nhất là 13 tuần (Điều 24) Trên cơ sở pháp luật quốc tế và điều kiện của từng
quốc gia, thời gian hưởng được quy định không giống nhau
Thời gian hưởng trợ cấp được các quốc gia quy định khá linh hoạt phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và thực trạng việc làm, đảm bảo mục đích của bảo hiểm Đa phần các quốc gia đều quy đinh thời gian hưởng tùy thuộc vào thời gian đóng bảo hiểm, lũy tiến theo thời gian đóng Việc quy định thời gian hưởng trợ cấp
BHTN ở nước ta cần phải đạt được hai mục tiêu: thứ nhất, đảm bảo trợ cấp BHTN trong thời gian thất nghiệp; thứ hai, phải đảm bảo kích thích NLĐ tích cực tìm kiếm
việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp BHTN
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 16 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP, được hướng dẫn thực hiện tại khoản 2 Điều 3 Thông tư 32/2010/TT-BLĐTBXH như sau:
• 3 tháng, nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóna BHTN
Trang 39- Hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm:
NLĐ thất nghiệp ngoài trợ cấp được hưởng hàng tháng để sinh sống còn được hỗ trợ học nghề và hỗ trợ tìm việc làm nhằm tạo điều kiện cho NLĐ có thể sớm quay trở lại thị trường lao động:
+ H ỗ trợ học nghề theo Điều 83 Luật BHXH được cụ thể hoá tại Điều 17
Nghị định 127/2008/NĐ-CP:
Thời gian được hỗ trợ học nghề phụ thuộc vào thời gian đào tạo của từng nghề và từng NLĐ, nhưng không quá 6 tháng Thời gian bắt đầu để được hỗ trợ học nghề tính từ ngày NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng
Theo quy định hiện hành, mức hỗ trợ học nghề cho NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề Quy định này cần được sửa đổi theo hướng - Mức hỗ trợ học nghề cho NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tuỳ theo mức chi phí học nghề của từng nghề, mức
hỗ trợ học nghề được tính theo tháng trên cơ sở mức chi phí đào tạo của từng nghề Mức hỗ trợ học nghề cụ thể theo quy định của Thủ tướng Chính phủ- nhằm đảm bảo tính khả thi hơn của chính sách
+ H ỗ trợ tìm việc làm theo Điều 84 Luật BHXH được cụ thể hoá tại Điều 18
Nghị định 127/2008/NĐ-CP:
NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng được tổ chức BHTN hỗ trợ tìm việc làm - tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí Việc tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm do Bộ LĐ-TBXH hướng dẫn thực hiện Thời gian được hồ trợ tìm việc làm được tính từ ngày NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và không quá tổng thời gian NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định
- NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp còn được hưởng BHYT theo quy định tại khoản 2 Điều 19 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP
Như vậy, những nội dung về chế độ BHTN được quy định trong pháp luật Việt Nam là tương đối toàn diện và phù họp với quy định chung của ILO và pháp
Trang 40luật của các quốc gia trên thế giới Với những nội dung đó, BHTN thực sự trở thành chính sách mang tính khả thi cao để bảo vệ NLĐ thất nghiệp trong bối cảnh hiện nay.
2.1.3 QuỹBHTN
2.1.3.1 Trách nhiệm đóng quỹ, mức đóng và phương thức đóng
Ở Việt Nam, nhìn chung thống nhất quan điểm là Nhà nước, NLĐ và
NSDLĐ cùng có trách nhiệm đóng góp để hình thành và duy trì quỹ BHTN (Điều
25 Nghị định 127/2008/NĐ-CP) Quy định này phù hợp với một trong các nguyên
tắc cơ bản của BHTN - quỹ BHTN phải được hình thành theo nguyên tắc ba bên cùng có trách nhiệm Kinh nghiệm của các quốc gia cũng cho thấy sự đóng góp của
ba bên trong việc hình thành quỹ BHTN là hợp lý, vừa đảm bảo sự cân đối trong thu chi tài chính vừa tạo ra sự ràng buộc về trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên
Như vậy, quỹ BHTN được hình thành chủ yếu từ các nguồn:
+ NLĐ đóng 1 % tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN
+ NSDLĐ đóng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những NLĐ tham gia BHTN
+ Hàng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những NLĐ tham gia đóng BHTN
Ngoài ra, cũng theo quy định tại Luật BHXH năm 2006 (Điều 102), để hình thành quỹ BHXH còn có thể có thêm một số nguồn thu khác như tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ, các nguồn thu hợp pháp khác
Quy định về mức đóng như trên là hợp lý bởi lẽ trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nếu quy định mức đóng của NLĐ và NSDLĐ quá cao sẽ không đảm bảo tính khả thi, không thu hút được sự tham gia Đối với NLĐ mức đóng góp 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN có thể thấp hơn rất nhiều so với quy đinh của các nước có nền kinh tế phát triền (ở Cộng hoà liên bang Đức, NLĐ đóng 3,25% lương; ở Pháp NLĐ đóng 2,42% ) [56, tr.228] tuy nhiên nó phù hợp bởi mức lương thực tế của NLĐ ở Việt Nam vốn đã thấp, nay lại tăng thêm mức đóng bảo hiểm sẽ gây khó khăn cho họ trong cuộc sống Đối với NSDLĐ, pháp luật quy định mức đóng là 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những NLĐ tham gia BHTN Đây cũng là mức đóng thấp so với hầu hết các nước (ở Đức: 3,25%, ở Pháp: 4,18% ) [56, tr.229] tuy nhiên là mức quy định hợp lý trong những năm đầu triên khai bởi nó vừa đảm bảo cân đối quỹ nhưng đồng thời cũng không quá ảnh