1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh lạng sơn

94 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng 2.1 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo thành phần kinh tế tại Lạng Sơn 46 2.2 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc t

Trang 1

HOÀNG THỊ HẢI

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

HOÀNG THỊ HẢI

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật kinh tế

Mã số : 8 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hiền Phương

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Thị Hải

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 6

1.3 Sơ lược quá trình phát triển pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ

BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

2.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp 25 2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh

CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP TẠI TỈNH LẠNG SƠN 63 3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 64 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp 65 3.3 Các biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÀO

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BHXH : Bảo hiểm xã hội BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp NLĐ : Người lao động NSDLĐ : Người sử dụng lao động

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

bảng

2.1 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm

phân theo thành phần kinh tế tại Lạng Sơn 46 2.2 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền

kinh tế đã qua đào tạo phân theo giới tính và theo thành

2.3 Tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi

theo giới tính và theo thành thị, nông thôn tại Lạng Sơn 47 2.4 Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi phân

theo giới tính và theo thành thị, nông thôn tại Lạng Sơn 48 2.5 Tỷ lệ thiếu việc làm và tỷ lệ thất nghiệp trong tuổi lao

2.6 Tình hình tham gia BHTN giai đoạn 2013-2018 50 2.7 Tình hình thực hiện bảo hiểm y tế cho người hưởng BHTN 53

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Số hiệu

biểu đồ

2.1 Số lượng người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất

nghiệp và số người có quyết định hưởng trợ cấp thất

2.2 Số lượng người được tư vấn, giới thiệu việc làm giai đoạn

2.4 Số chi trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề giai đoạn

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thất nghiệp là một hiện tượng luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường

và là hiện tượng kinh tế - xã hội nan giải, có ảnh hưởng và tác động đến nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội của quốc gia Trong rất nhiều các chính sách

và biện pháp để khắc phục tình trạng thất nghiệp thì bảo hiểm thất nghiệp có

vị trí quan trọng Đến nay, trên thế giới đã có khoảng 80 nước triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp, độ bao phủ bảo hiểm thất nghiệp ở khu vực Châu Á là 7% và trên thế giới là 12% so với lực lượng lao động Càng ngày bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) càng thể hiện vai trò tích cực, là chính sách an sinh xã hội quan trọng, không chỉ giải quyết vấn đề thất nghiệp trong

xã hội mà còn giúp ổn định xã hội một cách hiệu quả

Việt Nam là quốc gia có lực lượng lao động đông đảo, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo quy luật chung, không thể tránh được hiện tượng thất nghiệp và những tác động của nó đối với đời sống kinh

tế xã hội là vấn đề đặt ra đòi hỏi Đảng và Nhà nước luôn phải quan tâm, giải quyết BHTN ở nước ta được chính thực thực hiện từ ngày 01/01/2009, khi Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2008 có hiệu lực và cho đến nay chính sách BHTN đã ngày càng hoàn thiện hơn, đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, những tác động tích cực của các quy định pháp luật về BHTN trên thực tế, vẫn còn những bất cập, trở ngại nhất định trong thực hiện cần phải được nghiên cứu, hoàn thiện

Là một tỉnh ở miền núi phía Bắc nước ta, Lạng Sơn tuy có nhiều khó khăn nhưng với lợi thế về khu kinh tế cửa khẩu, hệ thống giao thông thuận lợi, áp dụng nhiều cơ chế, chính sách thúc đẩy thương mại - dịch vụ phát triển nên nền kinh tế đã có những thay đổi mạnh mẽ, mức sống của nhân dân được nâng lên Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các hoạt động sản xuất, kinh doanh thương mại, sự đa dạng của lao động trên địa bàn tỉnh, tình trạng thất

Trang 9

nghiệp giải quyết việc làm cho lao động cũng ngày càng gay gắt hơn Pháp luật về BHTN khi đi vào thực tiễn thực hiện ở địa bàn tỉnh đã cho thấy những kết quả tích cực, giúp ổn định tình hình việc làm và đời sống người dân hơn nhưng còn những khó khăn, bất cập Chính vì vậy tác giả lựa chọn đề tài

"Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh

Lạng Sơn" làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Theo tìm hiểu của tác giả, cho đến nay đã có các công trình nghiên cứu về BHTN ở nước ta có thể kể đến:

* Các đề tài khoa học:

- "Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường" (2000), TS Nguyễn Văn Định và các cộng sự của bộ môn Kinh tế

Bảo hiểm - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

- "Nghiên cứu xây dựng chế độ bảo hiểm thất nghiệp theo Luật Lao động sửa đổi, bổ sung" (2002), Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội;

- "Nghiên cứu những nội dung cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện đại- vấn đề lựa chọn hình thức trợ cấp thất nghiệp ở Việt Nam" (2004), TS Nguyễn

Huy Ban và các cộng sự ở BHXH Việt Nam;

- "Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam" (2008), PGS.TS Nguyễn

Văn Định, Trường Đại học Kinh tế quốc dân;

- "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Luật việc làm" (2009), Cục

Việc làm, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

Trang 10

* Các luận văn thạc sĩ luật học:

- "Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn áp dụng ở Nghệ An"

(2012), Ngô Thị Thu Hoài, Trường Đại học Luật Hà Nội

- "Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp sau 04 năm thực hiện - Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện" (2013), Trần Vân Khánh, Trường Đại

học Luật Hà Nội

- "Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay"

(2013), Ngô Thị Thủy, Trường Đại học Luật Hà Nội

- "Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Thái Bình" (2016), Lương Thị Hòa, Viện Đại học Mở Hà Nội

Các công trình nghiên cứu đã đề cập khá toàn diện các vấn đề liên quan đến thất nghiệp và pháp luật về BHTN, trong đó có một công trình nghiên cứu về thực tiễn thực hiện tại địa phương Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu pháp luật về BHTN và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tiếp tục làm rõ một số vấn đề chung về BHTN, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN và thực tiễn thực hiện BHTN tại tỉnh Lạng Sơn Qua đó chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn nói riêng, cả nước nói chung Trên cơ sở đó, luận văn

đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về BHTN, nâng cao hiệu quả thực hiện BHTN tại tỉnh Lạng Sơn

Những nhiệm vụ nghiên cứu chính của luận văn:

- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận chung về BHTN, pháp luật BHTN

- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về BHTN ở nước ta Tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về BHTN tại tỉnh Lạng Sơn, chỉ ra những hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về về BHTN tại tỉnh Lạng Sơn

Trang 11

- Đề xuất các giải pháp để hoàn thiện một số quy định pháp luật về BHTN của nước ta giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHTN tại tỉnh Lạng Sơn

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật về BHTN; nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn Những đề xuất, kiến nghị được trình bày trong luận văn được đưa ra trên cơ sở sự nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, có giá trị tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong quá trình xây dựng chính sách, hoàn thiện pháp luật về BHTN tại Việt Nam Đồng thời luận văn còn có thể là tài liệu hữu ích cho các cán bộ, nhân viên các cơ quan hữu quan

về quản lý lao động, BHTN

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về BHTN, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN, chủ yếu là quy định tại Luật Việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luận văn nghiên cứu về việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về BHTN tại tỉnh Lạng Sơn

Trên cơ sở các nội dung nghiên cứu thực trạng pháp luật BHTN Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn, luận văn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về BHTN và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật về BHTN tại tỉnh Lạng Sơn

6 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển nền kinh tế Trong quá trình thực hiện luận văn,

có sự kết hợp sử dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê

Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp duy vật lịch sử Các vấn đề về BHTN được

Trang 12

nghiên cứu ở trạng thái vận động và phát triển trong mối quan hệ với các yếu

tố kinh tế, xã hội ở Việt Nam Đồng thời, dựa trên cơ sở quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách việc làm, giả quyết thất nghiệp hiện nay Phương pháp phân tích, tổng hợp phân chia cái tổng thể, phức tạp thành những yếu tố giản đơn hơn, nhằm luận giải nguyên nhân, cơ sở của những quy định, những thay đổi, đánh giá sự tiến bộ, phù hợp của các quy định với thực tế, từ đó có sự nhận thức cụ thể, sâu sắc vấn đề

Tại Chương 1 của luận văn, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận chung về BHTN, pháp luật BHTN Tại Chương 2 của luận văn, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu và cả khảo cứu thực tế nhằm làm rõ các quy định pháp luật BHTN Việt Nam hiện hành, nhận diện tổng quát, đánh giá tình hình thực hiện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Tại Chương 3, tác giả sử dụng các phương pháp giả định, suy đoán và so sánh nhằm đưa ra những đề xuất, kiến nghị phù hợp với cơ sở thực tiễn, xu hướng tình hình lao động, việc làm nước

ta nói chung và tình hình, điều kiện thực tế của tỉnh Lạng Sơn

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật

bảo hiểm thất nghiệp

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất

nghiệp và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu

quả thực hiện pháp luật bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Lạng Sơn

Trang 13

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

VÀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

1.1 Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp

1.1.1 Định nghĩa bảo hiểm thất nghiệp

Mỗi người muốn sống, tồn tại thì phải lao động hay nói cách khác là phải có việc làm và lao động đã trở thành nhu cầu cơ bản, chính đáng của con người Tuy nhiên, không phải lúc nào nhu cầu làm việc của mỗi người đều được đáp ứng Có những người dễ dàng tìm kiếm được việc làm và làm việc gắn bó, ổn định tại một số nơi trong suốt thời gian tham gia quan hệ lao động trong cuộc đời mình Tuy nhiên cũng có những người có khả năng lao động

và mong muốn được làm việc nhưng lại khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, thậm chí họ không thể tìm được việc làm cho mình Khi tổng cung về lao động của những người lao động (NLĐ) muốn làm việc với mức tiền lương danh nghĩa tại một thời điểm lớn hơn khối lượng việc làm hiện có thì xảy ra tình trạng thất nghiệp1 Tổ chức Lao động Quốc tế đưa ra định nghĩa thất nghiệp tại Công ước số 102 năm 1952: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động, muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức lương phổ biến trong thị trường lao động

Theo Tổ chức lao động quốc tế, người thất nghiệp là NLĐ không có việc làm, không làm việc dù chỉ là một giờ trong tuần lễ điều tra, đang đi tìm việc làm và có điều kiện là họ đi làm ngay Ở mỗi quốc gia lại có quan điểm khác nhau về người thất nghiệp Ở Cộng hòa liên bang Đức, người thất nghiệp được quy định trong Luật BHXH là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện những công việc ngắn hạn Ở Thái Lan, người thất nghiệp là NLĐ có năng lực làm việc, muốn làm việc nhưng không có việc làm Như vậy, ở Thái Lan, NLĐ thực hiện những công việc ngắn hạn

1 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội

Trang 14

không bị coi là người thất nghiệp Còn ở Nhật Bản, người thất nghiệp là người không có việc làm trong tuần lễ điều tra, có khả năng làm việc, đang tích cực tìm việc làm hoặc chờ kết quả xin việc làm2 Tựu chung lại, có những quan niệm không hoàn toàn giống nhau nhưng có thể thấy người thất nghiệp

có đầy đủ các đặc điểm: i) là NLĐ, có khả năng lao động; ii) NLĐ đó đang không có việc làm; iii) NLĐ đó đang đi tìm việc làm Người thất nghiệp trước hết phải là NLĐ, tức là người trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật, có khả năng lao động và đang không có việc làm, thực sự mong muốn có việc làm, sẵn sàng làm việc Sự sẵn sàng làm việc thể hiện ở việc NLĐ đi tìm việc làm, họ tìm kiếm các công việc phù hợp với khả năng lao động và nhu cầu làm việc của mình Những người không còn trong độ tuổi lao động, người

có khả năng lao động nhưng không muốn lao động, không đi tìm việc làm thì không được coi là người thất nghiệp Những người đang có việc làm nhưng tạm thời không đi làm vì lý do nào đó như nghỉ phép, nghỉ ốm, nghỉ tạm thời

vì tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người trong độ tuổi lao động nhưng là học sinh, sinh viên chưa tốt nghiệp, những người ở nhà làm công việc nội trợ… thì không được coi là người thất nghiệp

Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội xuất hiện do nhiều nguyên nhân như khi các doanh nghiệp bước vào giai đoạn làm ăn kém hiệu quả, phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc trình độ khoa học kỹ thuật phát triển dẫn đến công nghệ sản xuất được đổi mới dẫn đến dư thừa lao động, dân

số tăng nhanh bổ sung lượng lớn người trong độ tuổi lao động cho thị trường vượt quá nhu cầu thị trường về lao động… Thất nghiệp tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia, tình trạng NLĐ thất nghiệp làm gia tăng áp lực giải quyết việc làm ở các quốc gia, vốn là một vấn

đề lớn Chính phủ các nước đều phải quan tâm giải quyết Đối với nền kinh tế, thất nghiệp là sự lãng phí nguồn lực xã hội vì sản xuất thực tế chưa phát huy

2 "Kinh nghiệm trợ cấp thất nghiệp ở các nước Châu Á", that-nghiep-o-cac-nuoc-chau-a, truy cập ngày 20/3/2018

Trang 15

http://www.dankinhte.vn/kinh-nghiem-tro-cap-được hết các tiềm năng của nó, trong đó tiềm năng quan trọng là sức lao động của con người Đối với NLĐ, khi rơi vào tình trạng thất nghiệp, họ bị mất thu nhập dẫn đến đời sống khó khăn, khoảng thời gian không có việc làm khiến tinh thần đi xuống, các mối quan hệ xã hội thay đổi và có thể sa vào các tệ nạn xã hội Ngoài ra, đời sống của những người thân sống phụ thuộc vào NLĐ, cả những người phụ thuộc về kinh tế và những người có mối quan hệ tình cảm gắn bó cũng bị ảnh hưởng do NLĐ bị thất nghiệp Một trong các biện pháp, chính sách để khắc phục những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của thất nghiệp mà các quốc gia thực hiện là BHTN BHTN trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống của mình và gia đình trong một chừng mực nhất định, tạo điều kiện để họ quay trở lại, tham gia vào thị trường lao động

Với ý nghĩa an sinh xã hội to lớn của mình, khi mới được triển khai thực hiện, BHTN là một bộ phận của BHXH nhưng sau đó nó được tách ra khỏi BHXH, được coi là một trong những chính sách có vai trò, ý nghĩa to lớn khắc phục tình trạng thất nghiệp BHTN nhằm trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống của mình và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện để họ tham gia vào thị trường lao

động, có những cơ hội mới về việc làm Có thể hiểu: Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập cho người thất nghiệp và hỗ trợ người thất nghiệp tìm việc làm trên cơ sở sự đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp

1.1.2 Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp

Ngoài những đặc điểm chung của bảo hiểm như bản chất đó là sự phân phối lại tổng sản phẩm xã hội trong nước một cách không đều, hoạt động trên nguyên tắc số đông bù số ít, vừa mang tính bồi hoàn lại vừa không bồi hoàn3, BHTN còn có những đặc điểm riêng như sau:

Một là, BHTN không nhằm mục đích lợi nhuận BHTN là một nội

dung thuộc chính sách an sinh xã hội, nó không phải là một loại hình bảo

3 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình Bảo hiểm, Nxb Thống kê, Hà Nội, tr 13

Trang 16

hiểm kinh doanh thương mại, vì thế BHTN không nhằm mục đích lợi nhuận Theo thông lệ quốc tế, chính sách BHTN nhằm mục tiêu cung cấp thu nhập thay thế, giúp bù đắp một phần thu nhập, ổn định đời sống cho những người thất nghiệp thông qua chi trả trợ cấp thất nghiệp và triển khai các giải pháp nhằm nhanh chóng đưa người thất nghiệp quay trở lại thị trường lao động thông qua đào tạo chuyển đổi nghề, tư vấn giới thiệu việc làm hoặc hỗ trợ duy trì việc làm, tránh sa thải lao động BHTN cũng là công cụ quản trị thị trường lao động, giúp thị trường lao động vận hành hiệu quả hơn BHTN cũng giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và doanh nghiệp Khi NLĐ rơi vào tình trạng thất nghiệp, nhờ có các khoản trợ cấp thất nghiệp được chi trả từ quỹ BHTN đã góp phần bảo đảm an sinh cho NLĐ và gia đình họ Do đó Nhà nước và doanh nghiệp giảm được chi phí hỗ trợ cho NLĐ ổn định cuộc sống

Hai là, BHTN có đối tượng áp dụng là người thất nghiệp, trợ cấp mang tính ngắn hạn Người được hưởng trợ cấp thất nghiệp là NLĐ bị thất

nghiệp, tức là họ đã kết thúc một quan hệ lao động và đang chờ để tiếp tục tham gia vào một quan hệ lao động mới BHTN nằm ngoài quan hệ lao động nhưng đó chỉ là tạm thời, ngắn hạn và có chừng mực nhất định Nó khác hoàn toàn so với bảo hiểm hưu trí là chế độ bảo hiểm dài hạn, áp dụng cho người nghỉ hưu, tức là người đã kết thúc quá trình làm việc, không tham gia quan hệ lao động nữa

Là một chính sách an sinh xã hội quan trọng nhưng BHTN luôn là một chế độ ngắn hạn, hỗ trợ cho NLĐ bị thất nghiệp trong thời gian tạm thời chưa tìm được việc làm khác Do tính chất tạm thời này, NLĐ chỉ được hưởng trợ cấp trong một khoảng thời gian giới hạn sau khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc

Ba là, BHTN không chỉ hỗ trợ vật chất để NLĐ ổn định cuộc sống mà còn hỗ trợ để NLĐ tìm kiếm được việc làm Bên cạnh việc trợ cấp bằng tiền,

BHTN còn bao gồm các biện pháp tạo điều kiện, tìm kiếm cơ hội để NLĐ tìm được việc làm phù hợp, tiếp tục tham gia quan hệ lao động Các biện pháp

Trang 17

này vừa giúp NLĐ có khả năng nhanh chóng trở lại tham gia quan hệ lao động vừa giúp giảm chi phí quỹ bảo hiểm y tế chi trả trợ cấp BHTN Các biện pháp đào tạo nghề cho NLĐ thất nghiệp cũng có ý nghĩa giúp phòng ngừa thất nghiệp cho NLĐ khi họ đã tham gia quan hệ lao động Nhờ được đào tạo nghề nghiệp theo chính sách của BHTN, NLĐ có khả năng duy trì việc làm tốt hơn, thậm chí có thể tìm kiếm được việc làm với thu nhập cao hơn Như vậy, BHTN vừa bù đắp thu nhập, vừa tạo động lực tích cực cho người thất nghiệp chủ động tìm cơ hội trở lại làm việc

1.1.3 Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp

* Đối với người lao động

Nhờ có khoản trợ cấp thất nghiệp bù đắp vào phần thu nhập bị mất của NLĐ, NLĐ và gia đình họ tạm thời ổn định cuộc sống Ngoài ra, BHTN không chỉ bù đắp thu nhập để duy trì cuộc sống hàng ngày cho NLĐ mà BHTN còn giúp họ có cơ hội quay trở lại thị trường lao động, tham gia vào một quan hệ lao động mới thông qua các hoạt động hỗ trợ như tìm kiếm việc làm, đào tạo nghề, nâng cao tay nghề Nhờ việc tham gia BHTN, NLĐ đã

có tâm lý được an toàn phần nào cho bản thân và gia đình, giúp NLĐ yên tâm làm việc, đây là yếu tố quan trọng giúp NLĐ ổn định tâm lý trong quá trình làm việc và cuộc sống hàng ngày NLĐ sẽ yên tâm hơn với các khoản trợ cấp BHTN và các hoạt động hỗ trợ NLĐ tìm kiếm việc làm mới, giúp họ hạn chế sốc tâm lý khi bị mất việc làm, ổn định tinh thần và đời sống gia đình

* Đối với người sử dụng lao động

Bảo hiểm thất nghiệp thực sự hỗ trợ doanh nghiệp Việc thực hiện chế

độ BHTN đã giúp san sẻ gánh nặng tài chính của doanh nghiệp, thay vì phải chi trả các khoản trợ cấp thôi việc cho NLĐ, BHTN sẽ chi trả khoản trợ cấp cho NLĐ trong thời gian họ chưa tìm được việc làm mới Nhờ có BHTN, NLĐ sẽ yên tâm làm việc do đó người sử dụng lao động (NSDLĐ) ổn định được lực lượng nhân công, phát triển được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, quan hệ lao động giữa NLĐ và NSDLĐ cũng trở nên gắn bó hơn qua

sự thể hiện trách nhiệm với nhau

Trang 18

* Đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

BHTN là một loại hình "tự động ổn định" hỗ trợ tiêu dùng trong tình trạng kinh tế suy thoái Ngay cả khi rơi vào tình trạng mất việc làm, thất nghiệp, nhờ có khoản trợ cấp thất nghiệp mà NLĐ và gia đình họ vẫn được đảm bảo một phần thu nhập cho cuộc sống hàng ngày Các chế độ BHTN do

đó góp phần duy trì sức tiêu dùng ở cả góc độ cá thể và kinh tế vĩ mô Với ý nghĩa thể hiện sự san sẻ cộng đồng sâu sắc, BHTN còn góp phần quan trọng vào xây dựng, tạo dựng sự gắn kết xã hội Việc tham gia vào BHTN là sự chia

sẻ lần nhau giữa NSDLĐ và NLĐ, giữa những NLĐ với nhau và giữa những NSDLĐ đã tạo nên mối quan hệ gắn kết ấy

Bảo hiểm thất nghiệp phát huy vai trò là công cụ quản trị thị trường lao động thông qua chi trả trợ cấp thất nghiệp được coi là chính sách thị trường lao động chủ động (passive labour maket policies) và chính sách đào tạo chuyển đổi nghề, nâng cao tay nghề, tư vấn hỗ trợ việc làm tránh sa thải lao động được coi là chính sách thị trường lao động tích cực (active labour maker policies) có tác dụng rút ngắn thời gian thất nghiệp của NLĐ, giảm thiệt hại cho xã hội do việc làm trống không có người đảm nhận hoặc lao động không được sử dụng vì không có việc làm BHTN nhờ đó tác động vào cân bằng cung -cầu thị trường lao động

1.2 Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp

1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

Có thể hiểu pháp luật về BHTN là hệ thống các quy tắc xử sự chung

do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện về việc đóng góp

và sử dụng quỹ BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp và thực hiện các biện pháp đưa người thất nghiệp trở lại làm việc BHTN là một chính sách thuộc hệ thống các chính sách về an sinh xã hội, do đó pháp luật về BHTN cũng là một

bộ phận của hệ thống pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tham gia và thụ hưởng BHTN

Trang 19

1.2.2 Các nguyên tắc của bảo hiểm thất nghiệp

Bảo hiểm thất nghiệp là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng do đó các nguyên tắc của BHTN vừa thể hiện những nét chung của các nguyên tắc an sinh xã hội vừa có những nét đặc thù riêng có của BHTN

Đó là những tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt và chi phối việc xây dựng chính sách BHTN, toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật về BHTN Các nguyên tắc của BHTN bao gồm:

Thứ nhất, bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp dựa trên sự tương trợ giữa các cá nhân trong xã hội, số đông bù số ít Đối tượng của BHTN là thu nhập bị mất do NLĐ bị mất việc làm, chưa tìm được việc làm mới, trợ cấp thất nghiệp được chi trả khi NLĐ rơi vào tình trạng thất nghiệp và đáp ứng các điều kiện luật định Tuy nhiên không phải NLĐ nào tham gia BHTN cũng sẽ rơi vào tình trạng thất nghiệp, đáp ứng các điều kiện luật định và được hưởng các chế độ trợ cấp của BHTN Có thể có những NLĐ không bao giờ bị rơi vào tình trạng thất nghiệp nhưng cũng có những NLĐ bị rơi vào tình trạng thất nghiệp không chỉ một lần, nguy cơ mất việc làm của mỗi NLĐ cũng khác nhau Nguy cơ mất việc làm của mỗi NLĐ là khác nhau trong khi NLĐ có trình độ cao, mức lương cao lại ít khi phải hưởng trợ cấp thất nghiệp còn NLĐ có trình độ thấp, mức lương thấp lại có khả năng hưởng trợ cấp thất nghiệp nhiều hơn Đối với NSDLĐ cũng vậy, doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ cũng có nguy cơ rủi ro khác nhau nhưng lại cùng chung một mức đóng BHTN Do đó mức đóng BHTN, mức hưởng BHTN phải được tính toán quy định hợp lý và bảo đảm mọi NLĐ tham gia BHTN khi rơi vào tình trạng thất nghiệp, đáp ứng các điều kiện luật định cần thiết thì được hưởng trợ cấp BHTN Ngoài ra, việc đóng góp kinh phí vào quỹ BHTN không chỉ có NLĐ

mà còn có cả NSDLĐ, họ cũng tham gia đóng góp vào quỹ BHTN Việc tham gia BHTN cũng chính là sự hỗ trợ lẫn nhau giữa những doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ

Trang 20

Thứ hai, mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương của NLĐ

Việc tham gia BHTN có ý nghĩa quan trọng đối với NLĐ nhưng quy định pháp luật về mức tham gia phải phù hợp để không được ảnh hưởng quá nhiều đến thu nhập hiện tại của NLĐ Đảm bảo sự công bằng và bình đẳng giữa những người tham gia BHTN, kể cả NLĐ và NSDLĐ thì mức đóng BHTN phải được tính toán trên cơ sở tiền lương của NLĐ Thị trường lao động có nhiều phân khúc với NLĐ ở nhiều trình độ với mức tiền lương khác nhau do đó số tiền đóng góp vào quỹ BHTN tính trên cơ sở tiền lương cũng sẽ khác nhau Điều này còn có ý nghĩa quan trọng khi kết hợp với nguyên tắc mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng BHTN

Thứ ba, mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHTN

Nếu mức trợ cấp thất nghiệp quá cao, NLĐ sẽ không tích cực tìm việc làm mới mà chấp nhận tình trạng thất nghiệp để hưởng trợ cấp trong khi không phải làm việc hoặc kén chọn công việc mà họ cho rằng có lợi hơn là hưởng trợ cấp thất nghiệp Mức trợ cấp thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng quyết tâm tìm việc làm của NLĐ mà nó còn có thể ảnh hưởng đến mức lương

mà NLĐ yêu cầu khi tìm kiếm công việc mới Do đó, mức hưởng BHTN cần được tính toán phù hợp, về nguyên tắc, mức trợ cấp thất nghiệp không được cao hơn mức thu nhập của NLĐ trước khi thất nghiệp nhưng vẫn phải đảm bảo đời sổng tối thiểu cho người thất nghiệp4 Nếu mức hưởng BHTN quá thấp thì không đảm bảo được mục đích, ý nghĩa an sinh xã hội tốt đẹp của BHTN Đồng thời, mức hưởng BHTN quá thấp sẽ không đáp ứng được mục đích, nhu cầu của NLĐ khi tham gia BHTN dẫn đến họ không tha thiết tham gia, đóng góp vào quỹ BHTN

Thứ tư, BHTN phải được thực hiện đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia

Bảo hiểm thất nghiệp có đối tượng tham gia là NLĐ thuộc nhiều loại hình lao động khác nhau, để mọi NLĐ có thể tham gia mà không gặp trở ngại

4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội

Trang 21

vì những thủ tục quá rắc rối, phức tạp thì việc thực hiện BHTN phải đơn giản,

dễ dàng, thuận tiện Về phía NSDLĐ cũng vậy, tham gia BHTN còn là trách nhiệm của NSDLĐ đối với NLĐ, do đó với nhiều NSDLĐ vì những lý do như điều kiện kinh tế, nhận thức về ý nghĩa của BHTN đối với NSDLĐ chưa thực

sự đầy đủ, cho rằng đây hoàn toàn là quyền lợi,lợi ích của NLĐ nên không thực sự tự nguyện tham gia BHTN Trường hợp các thủ tục BHTN không thực dự thuận tiện cũng là lý do để họ từ chối, trì hoãn thực hiện tham gia BHTN cho NLĐ

Đối với NLĐ khi bị rơi vào tình trạng thất nghiệp, họ không còn thu nhập từ tiền lương, đặc biệt là đối với những NLĐ không có tài chính tích lũy

dự phòng thì trợ cấp thất nghiệp ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của họ

và gia đình Do đó việc xem xét giải quyết và chi trả các chế độ BHTN phải đảm bảo kịp thời, đầy đủ quyền lợi của người tham gia để đảm bảo ổn định cuộc sống gia đình họ và hơn nữa là góp phần ổn định đời sống xã hội

Thứ năm, quỹ BHTN được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ

Quỹ BHTN có ý nghĩa quan trọng, yếu tố quyết định đối với việc duy trì thực hiện chính sách BHTN Quỹ BHTN được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và để đảm bảo duy trì quỹ, đảm bảo niềm tin đối với người tham gia đóng góp vào quỹ BHTN thì nó phải được quản lý thống nhất và hạch toán theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo phản ánh đúng và đầy đủ các khoản thu, chi của quỹ Việc thu chi, quản lý quỹ phải được thực hiện công khai và minh bạch để đảm bảo sự giám sát quản lý và đảm bảo quyền lợi của những người tham gia BHTN

Với ý nghĩa là sự chia sẻ giữa những NLĐ, NSDLĐ, nguồn chủ yếu

để hình thành quỹ BHTN trước hết phải từ sự đóng góp của những NLĐ, NSDLĐ tham gia BHTN Mặc dù nguyên tắc mức đóng phải được tính toán trên cơ sở mức tiền lương và mức hưởng phải được tính toán trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng nhưng không phải lúc nào sự tính toán này cũng có

Trang 22

thể đảm bảo duy trì quỹ BHTN Để đảm bảo an toàn cho quỹ BHTN, Nhà nước có chính sách bảo hộ cho quỹ bằng các phương thức, cơ chế khác nhau như bù đắp cho quỹ khi quỹ có khả năng thâm hụt, mất cân đối, hỗ trợ phí BHTN cho NLĐ, tạo cơ chế huy động nguồn khác ngoài khoản đóng góp của người tham gia BHTN cho quỹ BHTN một cách thuận lợi và có những ưu đãi, đảm bảo cho cơ chế huy động đó được thực hiện

1.2.3 Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp

* Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Đối tượng tham gia BHTN là các bên có nghĩa vụ đóng phí vào quỹ BHTN cho NLĐ hưởng chế độ, quyền lợi BHTN khi bị thất nghiệp Đối tượng tham gia BHTN bao gồm NLĐ và NSDLĐ song đối tượng này rộng hay hẹp còn tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và quy định của từng nước.Với ý nghĩa là chính sách an sinh xã hội, đối tượng tham gia BHTN càng mở rộng càng đảm bảo an sinh xã hội cho nhiều đối tượng hơn tuy nhiên phạm vi đối tượng tham gia BHTN được cân nhắc dựa trên nhiều yếu tố như xác định nhu cầu được bảo vệ của các đối tượng trên cơ sở quan niệm của mỗi quốc gia, điều kiện triển khai thực hiện ở mỗi quốc gia Đối với NLĐ, có thể giới hạn phạm vi đối tượng tham gia BHTN ở những điều kiện về ngành nghề, tính chất công việc, thời hạn tham gia quan hệ lao động vì nó ảnh hưởng đến nhu cầu được bảo vệ của NLĐ bởi chính sách BHTN, thời gian có thể tham gia đóng phí BHTN và tính ổn định của việc tham gia BHTN

Điều 2 Công ước số 44 được thông qua ngày 23/4/1934 của Tổ chức lao động quốc tế quy định đối tượng áp dụng BHTN là chỉ có những người làm công ăn lương cho chủ mới được hưởng BHTN còn những NLĐ độc lập thì không thuộc BHTN Tuy nhiên tùy hoàn cảnh mỗi nước có thể đặt thêm các trường hợp ngoại lệ là các gia nhân giúp việc nhà, những người làm việc

ở nhà, công chức nhà nước, NLĐ có thu nhập cao có thể tự mình phòng chống rủi ro thất nghiệp, NLĐ theo mùa vụ, NLĐ trẻ sát cận tuổi lao động, NLĐ quá tuổi quy định,… Do đó mỗi quốc gia lại có những quy định khác

Trang 23

nhau về đối tượng tham gia BHTN, ở Đan Mạch, đối tượng tham gia BHTN còn có thêm sinh viên mới tốt nghiệp đang tìm kiếm việc làm hoặc Bahrain là những người lần đầu đi tìm việc5 Ở Mỹ, đối tượng tham gia BHTN gồm NLĐ trong các doanh nghiệp công nghiệp và thương mại, NLĐ trong các tổ chức phi lợi nhuận có từ 4 lao động trở lên, thời gian làm việc 20 tuần/1năm trở lên, các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên, thời gian làm việc 20 tuần/1 năm, quỹ lương 20.000USD/quý, ở một

số bang cán bộ công chức Nhà nước cũng được tham gia chế độ BHTN Các đối tượng không thuộc diện áp dụng chế độ BHTN là lao động tự do, lao động khoán việc, người giúp việc gia đình, lao động thuộc các tổ chức tôn giáo6

* Chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Chế độ BHTN là tổng hợp các quy định về đối tượng hưởng, điều kiện hưởng, mức hưởng và thời gian hưởng BHTN Tùy vào điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn mà các quốc gia quy định khác nhau về chế độ BHTN bởi nó ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của NLĐ, tình hình an toàn của quỹ BHTN, có tác động đến vấn đề việc làm và tình trạng thất nghiệp của quốc gia

Đối tượng hưởng BHTN là NLĐ đã tham gia BHTN và đáp ứng đầy

đủ các điều kiện luật định Căn cứ chính sách kinh tế xã hội và nguồn quỹ BHTN, tình trạng NLĐ mất việc làm trong thời gian bảo đảm trợ cấp, hỗ trợ

mà quy định về đối tượng hưởng BHTN có thể khác nhau, được điều chỉnh để đảm bảo an toàn quỹ và thực tế nhu cầu hỗ trợ của NLĐ

Các quy định về điều kiện hưởng BHTN được đặt ra nhằm "sàng lọc" những đối tượng thực sự phù hợp với mục đích, ý nghĩa của BHTN, là cơ sở pháp lý để đối tượng tham gia BHTN đòi hỏi quyền lợi của mình Các điều kiện này cũng có ý nghĩa đảm bảo việc thực hiện BHTN một cách công bằng, bình đẳng giữa những người tham gia BHTN, giữa những NLĐ tham gia

5 "So sánh bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam với các nước trên thế giới" http://www.molisa.gov.vn/vi/ Pages/chitiettin.aspx?IDNews=16368, truy cập ngày 11/4/2018

6 http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=16068

Trang 24

BHTN Đối với NLĐ, các điều kiện hưởng BHTN thường gồm có điều kiện

về thời gian đóng BHTN; điều kiện về sự kiện bảo hiểm, đó là việc NLĐ bị thất nghiệp và sự sẵn sàng, nỗ lực tìm kiếm công việc mới, nguyên nhân thất nghiệp Theo Công ước số 44 được Tổ chức lao động quốc tế thông qua ngày 23/4/1934, muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp, NLĐ phải đáp ứng các điều kiện: có năng lực làm việc và sẵn sàng làm việc nhưng hiện tại không có việc làm; có đăng ký tìm việc tại một phòng đăng ký tìm việc làm do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm

do Nhà nước quản lý; có sổ BHTN để chứng minh thời gian tham gia BHTN; trước đó, không nghỉ việc vô cớ hoặc nghỉ việc vì bị kỷ luật hay tranh chấp nghề nghiệp; có giấy chứng nhận mức lương trước khi nghỉ việc nếu trợ cấp thất nghiệp được trả theo mức lương BHTN nhằm bảo vệ NLĐ bị mất việc làm do những nguyên nhân nằm ngoài ý muốn chủ quan của họ BHTN là một chế độ ngắn hạn, trợ cấp mang tính tạm thời, nếu NLĐ không có việc làm

do không có khả năng lao động thì họ không có khả năng quay trở lại tham gia quan hệ lao động Điều kiện chủ yếu mà pháp luật BHTN các nước đều đặt lên hàng đầu là người thất nghiệp phải có "năng lực làm việc" (khả năng lao động), ngoài ra họ còn phải sẵn sàng làm việc để thoát ra khỏi tình trạng thất nghiệp càng sớm càng tốt, có như vậy mới đảm bảo được ý nghĩa, mục đích của BHTN

Mức hưởng BHTN bao gồm trợ cấp BHTN được chi trả từ quỹ BHTN hoặc dịch vụ mà NLĐ tham gia BHTN nhận được Mức trợ cấp thất được xác định đảm bảo nguyên tắc được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHTN Mức hưởng BHTN và thời gian hưởng dài hay ngắn là tùy thuộc vào khả năng chi trả của quỹ BHTN, thời gian này càng dài càng tốt nếu quỹ còn khả năng chi trả và NLĐ còn nhu cầu được trợ giúp Ngoài ra, mức hưởng BHTN còn phải được tính toán phù hợp với nguyên tắc tương ứng mức và với thời gian tham gia BHTN Thời gian được hưởng trợ cấp BHTN có thể được chia thành nhiều bậc theo thời gian tham gia đóng dài hay ngắn Ở các quốc

Trang 25

gia phát triển, thời gian hưởng trợ cấp BHTN thường dài hơn còn ở các nước đang phát triển thời gian hưởng BHTN sẽ ngắn hơn do khả năng chi trả hạn chế hơn trong khi số lượng NLĐ thất nghiệp thường nhiều hơn Công ước số

102 năm 1952 của Tổ chức lao động quốc tế yêu cầu mức hưởng trợ cấp thất nghiệp không thấp hơn 45% mức thu nhập trước khi mất việc Công ước này qui định thêm rằng giới hạn chuẩn của mức thu nhập tối đa để làm căn cứ đóng bảo hiểm phải được ấn định cao đến mức sao cho có thể đảm bảo rằng mức tối thiểu 45% sẽ được áp dụng đối với tất cả NLĐ Đến năm 1988, Công ước số 168 của Tổ chức lao động quốc tế về thúc đẩy việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp còn đưa ra một tỷ lệ cao hơn là 50% mức thu nhập trước đó

* Thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Thủ tục hưởng BHTN là các công việc, trình tự công việc mà NLĐ và

cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải tuân theo theo quy định của pháp luật

để được hưởng BHTN Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, NLĐ hoàn chỉnh các giấy tờ, tài liệu cần thiết theo quy định để đề nghị cơ quan bảo hiểm thực hiện các chế độ chi trả trợ cấp thất nghiệp và các chế độ hỗ trợ đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm theo quy định về quyền lợi của NLĐ tham gia BHTN Thông thường hồ sơ gồm các tài liệu chứng minh sự kiện bảo hiểm, chứng minh NLĐ đáp ứng các điều kiện hưởng BHTN và nhu cầu, đề nghị của NLĐ đối với cơ quan bảo hiểm để được hỗ trợ Căn cứ hồ sơ yêu cầu của NLĐ, cơ quan bảo hiểm sẽ quyết định thực hiện chi trả quyền lợi bảo hiểm cho NLĐ Xét về phía NLĐ, thủ tục hưởng BHTN cũng là cơ sở pháp lý để NLĐ đáp ứng các điều kiện được hưởng chế độ BHTN Khi không thực hiện đúng các thủ tục hưởng BHTN, NLĐ có thể không được hưởng các chế độ BHTN

* Quỹ bảo hiểm thất nghiệp

Quỹ BHTN là một quỹ tài chính tập trung được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau dùng để chi trả các chế độ cho NLĐ khi có đủ điều kiện hưởng BHTN theo quy định pháp luật Một trong những nguồn cơ bản hình thành nên quỹ BHTN là đóng góp của các bên tham gia BHTN, gồm NLĐ,

Trang 26

NSDLĐ và Nhà nước Đồng thời, đây cũng là một quỹ tiêu dùng, là một bộ phận cấu thành của hệ thống phân phối theo thu nhập quốc dân, làm nhiệm vụ phân phối lại thu nhập cho NLĐ Tham gia đóng góp vào quỹ BHTN có những NSDLĐ có tiềm lực tài chính, lợi nhuận cao và những NSDLĐ nhỏ hơn, có tiềm lực tài chính, lợi nhuận thấp; có NLĐ có tiền lương, thu nhập cao và có NLĐ có tiền lương, thu nhập thấp nhưng chỉ những NLĐ bị rủi ro thất nghiệp đáp ứng các điều kiện luật định mới được hưởng BHTN Số tiền đóng vào quỹ BHTN của các bên tham gia và từ các nguồn thu hợp pháp khác

sẽ được dùng để chi trả cho việc thực hiện các chế độ của BHTN nhằm phục

vụ nhu cầu tiêu dùng của những người được hưởng BHTN Để đảm bảo an toàn về tài chính, khả năng cân đối thu- chi của quỹ BHTN, pháp luật quy định các nguyên tắc, chế độ quản lý và thu, chi quỹ BHTN đảm bảo chặt chẽ, minh bạch

* Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp bảo hiểm thất nghiệp

Để đảm bảo pháp luật BHTN được thực hiện, tuân thủ đúng quy định, pháp luật quy định về vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật BHTN

Vi phạm pháp luật về BHTN thể hiện ở việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật BHTN, thực hiện những hành vi mà pháp luật BHTN cấm Tùy thuộc hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra mà có thể phải chịu xử phạt bằng các chế tài chính chình hoặc chế tài hình sự tùy thuộc quy định ở mỗi quốc gia Có những quốc gia chỉ quy định chế tài hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHTN nhưng cũng có những quốc gia quy định cả chế tài hình sự đối với một số hành vi vi phạm pháp luật BHTN nghiêm trọng, để lại hậu quả ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của NLĐ và việc thực hiện chính sách BHTN của nhà nước

Đối tượng tham gia BHTN không chỉ có NLĐ mà còn có NSDLĐ, họ

có các quyền và nghĩa vụ liên quan đến việc đóng BHTN, thực hiện các thủ tục để hưởng chế độ BHTN Trong quá trình ấy có thể xảy ra các tranh chấp, tranh chấp BHTN rất đa dạng và mỗi quốc gia có thể có quy định khác nhau

Trang 27

về tranh chấp BHTN và thủ tục giải quyết tranh chấp BHTN Tranh chấp BHTN giữa NLĐ và NSDLĐ về việc đóng phí BHTN là tranh chấp lao động

cá nhân, nếu tranh chấp được giải quyết tại tòa án thì thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự Tranh chấp BHTN giữa các cơ quan, đơn vị của nhà nước với NSDLĐ, NLĐ về các thủ tục thực hiện BHTN lại là tranh chấp hành chính và nếu được giải quyết tại tòa án thì thực hiện theo thủ tục tố tụng hành chính

1.3 Sơ lược quá trình phát triển pháp luật bảo hiểm thất nghiệp Việt Nam

* Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985

Ngay từ những ngày đầu mới giành độc lập, Nhà nước ta đã quan tâm thực hiện chính sách thôi việc cho NLĐ, ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật về trợ cấp cho NLĐ bị mất việc làm Những quy định đó là cơ sở để Nhà nước ban hành chế độ BHTN sau này Ngày 01/10/1945, Chính phủ ban hành Nghị định số 2-NĐ quy định về tiền phụ cấp tối thiểu cho NLĐ Việt Nam làm việc được ít nhất là một năm mà chấm dứt công việc, trừ trường hợp

họ có lỗi Sau đó, theo Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ tịch nước, công chức khi thôi việc được hưởng trợ cấp tính theo số năm làm việc, mỗi năm được một tháng lương và phụ cấp gia đình, mức hưởng tối đa là 06 tháng lương Thông tư số 37-NV-TT ngày 20/10/1957 của bộ Nội vụ quy định cán bộ, nhân viên thôi việc không phân biệt vì lý do gì (trừ trường hợp bị kỉ luật nặng phải đưa ra khỏi cơ quan như cách chức, bãi chức) đều được xét theo năm làm việc

từ ngày được tuyển dụng vào biên chế Nhà nước, từ cấp huyện trở lên, mỗi năm trợ cấp một tháng lương và phụ cấp gia đình nhưng không quá 6 tháng

Chế độ trợ cấp thôi việc theo quy định tại các văn bản nêu trên nhằm giải quyết yêu cầu của các cuộc vận động kiện toàn tổ chức, giảm nhẹ biên chế hoặc đưa công nhân, viên chức về tham gia sản xuất nông nghiệp trong từng thời gian nhất định Để phù hợp với chính sách mới về lao động tiền lương cũng như đối với tình hình phát triển mới của đội ngũ công nhân, viên chức, ngày 01/10/1964 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 88-TTg về

Trang 28

trợ cấp thôi việc, trong đó quy định cụ thể, đầy đủ hơn về các trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc, mức trợ cấp thôi việc áp dụng chủ yếu cho các trường hợp công nhân, viên chức thôi việc do cơ quan, xí nghiệp kiện toàn tổ chức, giảm nhẹ biên chế hoặc hết việc phải giải thể Mức trợ cấp của mỗi người ít nhất bằng 50% của một tháng lương, nhiều nhất là 05 tháng lương kể

cả phụ cấp thường xuyên và trợ cấp con tùy theo thời gian công tác liên tục và cấp bậc lương của người đó, có chiếu cố đến những người đã công tác liên tục

từ trước ngày hòa bình lập lại 20/7/1954, nếu sức khỏe suy yếu thì không kể

đã làm việc từ trước hay sau ngày 20/7/1954, được trợ cấp cấp thêm một khoản tiền bằng từ nửa tháng đến ba tháng lương (kể cả phụ cấp thường xuyên và trợ cấp con, nếu có) nhưng số tiền trợ cấp thêm này không vượt quá

số tiền trợ cấp tính theo thời gian công tác của người đó

* Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1994

Từ năm 1986, nước ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Nhà nước ban hành một số văn bản nhằm sắp xếp lại

tổ chức, tinh giản biên chế các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp như Quyết định số 227/HĐBT ngày 29/12/1987 về việc sắp xếp lại tổ chức, tinh giản biên chế các cơ quan hành chính sự nghiệp,Quyết định số 176/HĐBT ngày 9/10/1989 về sắp xếp lại lao động trong các đơn vị kinh tế quốc doanh

và Quyết định số 315/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về việc chấn chỉnh lại sản xuất và kinh doanh trong khu vực kinh tế quốc doanh NLĐ khi thôi việc theo chế độ tinh giản biên chế quy định tại các văn bản nêu trên,cứ mỗi năm công tác liên tục được trợ cấp một tháng lương cơ bản cộng phụ cấp (nếu có), tối thiểu là 3 tháng do đơn vị trả, Nhà nước trợ giúp một phần đối với đơn vị

có nhiều khó khăn nhưng tối đa không quá 1/2 số trợ cấp, phần trợ giúp này căn cứ vào từng trường hợp cụ thể

Đến năm 1992, tại Nghị định số 165/HĐBT ngày 12/5/1992 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh hợp đồng lao động và Thông tư số 04/LĐTBXH-TT

Trang 29

ngày 18/3/1993 đã quy định việc thực hiện chế độ hỗ trợ đối với NLĐ bị mất việc làm Trong đó quy định chế độ trợ cấp một lần cho công nhân, viên chức đang trong biên chế nhà nước mà thôi việc và một số quyền lợi khác nhưng có

sự phân biệt đối với người chưa chuyển sang ký hợp đồng lao động hoặc đã chuyển sang ký hợp đồng lao động Trong giai đoạn này ngoài trợ cấp thôi việc, NLĐ bị mất việc làm còn được hưởng những ưu tiên trong bố trí việc làm hay đào tạo, đào tạo lại nghề nghiệp

* Giai đoạn từ năm 1994 đến năm 2006

Bộ luật Lao động năm 1994 ra đời đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, tại Điều 17 của Bộ luật quy định về trợ cấp mất việc làm cho NLĐ khi NSDLĐ thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ với mức trợ cấp mỗi năm làm việc bằng một tháng lương, thấp nhất là 02 tháng lương và các doanh nghiệp phải lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm Điều 42 của BLLĐ quy định NSDLĐ có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho NLĐ làm việc thường xuyên tại doanh nghiệp mà chấm dứt hợp đồng lao động, cứ mỗi năm làm việc bằng nửa tháng lương cộng với phụ cấp lương

Ngoài ra, khi thực hiện các biện pháp sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, số lao động dôi dư được nhà nước giải quyết quyền lợi quy định tại các văn bản như Nghị định số 41/CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước Sau đó là Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 8/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế áp dụng đối với cán bộ công chức, viên chức dôi dư do sắp xếp lại tổ chức theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Theo các văn bản này, cán bộ công chức, viên chức thuộc đối tượng tinh giản biên chế thôi việc ngay được hưởng trợ cấp 3 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm, được hưởng trợ cấp 1,5 tháng tiền lương cho mỗi năm công tác có đóng BHXH và quy định chế độ học nghề để thôi việc, tự tìm việc làm mới đối với

số cán bộ dưới 45 tuổi nếu họ có nguyện vọng

Trang 30

* Giai đoạn từ năm 2006 đến nay:

Theo quy định tại Luật BHXH năm 2006, BHTN được quy định là chế

độ bảo hiểm bắt buộc, các chế độ hưởng bao gồm trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm miễn phí Ngoài ra, người hưởng BHTN cũng được hưởng chế độ bảo hiểm y tế Tiếp theo đó, nhằm đưa các quy định

về BHTN tại Luật BHXH năm 2006 đi vào cuộc sống, một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật BHXH về BHTN là Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008, Thông tư số 32/2010/TT- BLĐTBXH ngày 25/10/2010 Đến năm

2013, Quốc hội ban hành Luật Việc làm, trong đó chế định BHTN được quy định tại các Điều từ Điều 41 đến Điều 59 Để hướng dẫn cụ thể các quy định của Luật Việc làm về BHTN, Nhà nước đã ban hành một số văn bản Nghị định, Thông tư được thực hiện cho đến nay Đó là Nghị định số 28/2015/NĐ-

CP ngày 12/3/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm

về BHTN và Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH ngày 31/7/2015 hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015

Kết luận Chương 1

Bảo hiểm thất nghiệp là hiện tượng gắn liền với nền kinh tế thị trường

mà các quốc gia đều phải quan tâm giải quyết để hạn chế các ảnh hưởng, tác động bất lợi của nó, đảm bảo an sinh xã hội cho NLĐ BHTN được thực hiện nhằm trợ giúp về mặt tài chính cho người thất nghiệp để họ ổn định cuộc sống của mình và gia đình trong một chừng mực nhất định, từ đó tạo điều kiện để

họ tham gia vào thị trường lao động để có những cơ hội mới về việc làm Do

đó nó có ý nghĩa rất lớn đối với NLĐ và ngay cả đối với NSDLĐ và sự phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia

Pháp luật BHTN là một bộ phận của hệ thống pháp luật an sinh xã hội, bao gồm các quy định về đối tượng tham gia BHTN, các quy định về chế độ BHTN, các thủ tục BHTN và quỹ BHTN Đây là các quy định cơ bản cần

Trang 31

thiết để triển khai chính sách BHTN, tạo nên chế độ BHTN của mỗi quốc gia Các quy định này được xây dựng trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội, quan niệm của mỗi quốc gia về sự cần thiết và yêu cầu hỗ trợ của đối tượng hưởng BHTN, khả năng quản lý, tổ chức thực hiện và khả năng tài chính của quỹ BHTN, sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước… Pháp luật BHTN ở mỗi quốc gia

có thể có sự khác biệt về các quy định cụ thể tuy nhiên đều phải đảm bảo các nguyên tắc của BHTN Đó là bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHTN, quy định mức đóng BHTN được tính trên cơ sở tiền lương của NLĐ, mức hưởng BHTN được tính trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng BHTN, các nguyên tắc về thủ tục thực hiện bảo đảm quyền lợi đầy đủ, kịp thời cho người hưởng BHTN và các nguyên tắc về quỹ BHTN để đảm bảo duy trì quỹ, điều kiện cần thiết để thực hiện BHTN

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

TẠI TỈNH LẠNG SƠN

2.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về bảo hiểm thất nghiệp

2.1.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Đối tượng tham gia BHTN theo quy định của pháp luật nước ta hiện nay bao gồm NLĐ và NSDLĐ Điều 43 Luật Việc làm năm 2013 quy định cụ thể về đối tượng tham gia BHTN như sau:

* Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người lao động

Chế độ BHTN ở nước ta hiện nay được quy định là chế độ bảo hiểm bắt buộc, NLĐ bắt buộc tham gia BHTN gồm có:

- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng7

- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng8

- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng

Dự liệu các trường hợp có thể phát sinh trong thực tiễn, nhằm đảm bảo quyền tự do lao động, tự do giao kết hợp đồng lao động của NLĐ, pháp luật không quy định cấm NLĐ được giao kết, thực hiện nhiều hợp đồng lao động cùng một lúc Do đó để có căn cứ đầy đủ cho việc thực hiện, pháp luật

7 Điểm a khoản 1 Điều 22 Bộ luật lao động năm 2012

8 Điểm b khoản 1 Điều 22 Bộ luật lao động năm 2012

Trang 33

cũng quy định trong trường hợp NLĐ giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động nêu trên thì NLĐ và NSDLĐ của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia BHTN Quy định NLĐ và NSDLĐ của hợp đồng lao động đầu tiên có trách nhiệm tham gia BHTN có ý nghĩa bảo đảm quyền lợi cho NLĐ về BHTN ngay khi họ tham gia quan hệ lao động Điều này càng được thể hiện rõ hơn khi đối chiếu với một trong những điều kiện để NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp, đó là điều kiện về thời gian tham gia và đóng BHTN của NLĐ

Theo quy định hiện hành, NLĐ làm việc theo các hợp đồng lao động nêu trên nhưng đang hưởng lương hưu, NLĐ là lao động giúp việc gia đình thì không phải tham gia BHTN Quy định NLĐ đang hưởng lương hưu không phải là đối tượng tham gia BHTN bởi đây là chế độ bảo hiểm nhằm hỗ trợ cho NLĐ đang trong thời gian chờ đợi để tham gia vào quan hệ lao động khác, sau khi đã chấm dứt một quan hệ lao động Do đó tình trạng không làm việc của NLĐ chỉ mang tính chất tạm thời, ngắn hạn Còn đối với người đang hưởng lương hưu, họ đã kết thúc quan hệ lao động và không tham gia qua hệ lao động khác, do đó họ đã có lương hưu để bảo đảm chi trả sinh hoạt tối thiểu cho mình khi mà không còn thu nhập từ tiền lương Ngoài ra, người đang hưởng lương hưu không cần được sự hỗ trợ từ chế độ BHTN để tìm kiếm việc làm mới Do đó quy định đối tượng này không phải tham gia BHTN là xuất phát từ bản chất ý nghĩa, mục đích của chế độ BHTN

Dưới góc độ BHTN là chế độ bảo hiểm bắt buộc, là trách nhiệm của NLĐ thì việc loại trừ đối tượng là người giúp việc gia đình được xem là giảm bớt nghĩa vụ cho họ tuy nhiên nếu xem xét đến các lợi ích, ý nghĩa của BHTN đối với NLĐ thì đây lại là thiệt thòi cho lao động giúp việc gia đình Trong khi đó, đây lại là nhóm đối tượng ít có tích lũy tài chính, việc gián đoạn thu nhập trong thời gian chờ đợi tìm kiếm việc làm mới có ảnh hưởng lớn đến đời sống của bản thân và gia đình họ Tuy nhiên việc áp dụng chế độ BHTN đối với đối tượng này cũng có thể gặp phải nhiều khó khăn vì những người làm

Trang 34

công việc giúp việc gia đình thường thay đổi nơi làm việc, họ có thể làm việc theo giờ hoặc toàn thời gian do đó khó quản lý, kiểm soát

* Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp là người sử dụng lao động

Chế độ BHTN không chỉ mang lại lợi ích cho NLĐ mà còn mang lại lợi ích cho chính NSDLĐ NSDLĐ cũng là bên cần được hỗ trợ để ổn định lực lượng lao động, đảm bảo duy trì sản xuất kinh doanh NSDLĐ cũng là bên có trách nhiệm góp phần đảm bảo cuộc sống cho NLĐ khi họ rơi vào hoàn cảnh khó khăn do mất việc làm, thất nghiệp Do đó, cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, pháp luật nước ta quy định đối tượng tham gia BHTN bao gồm cả NSDLĐ Theo quy định tại Luật Việc làm, NSDLĐ tham gia BHTN bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình, hộ kinh doanh, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động mà NLĐ phải tham gia BHTN

Pháp luật nước ta quy định về NSDLĐ theo các loại hình tổ chức và

cả cá nhân, bao phủ hết các đối tượng NSDLĐ và gắn liền với đối tượng NLĐ làm việc theo các loại hợp đồng lao động phải tham gia BHTN mà không căn

cứ vào quy mô sử dụng lao động của NSDLĐ Quy định như hiện nay đảm bảo được tính công bằng, quyền tham gia BHTN cho những NLĐ làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, kể cả NLĐ làm việc cho các cá nhân thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng Như vậy, những NLĐ có nguy cơ mất việc làm khác nhau đều được tham gia BHTN, được bảo vệ bởi chế độ BHTN như nhau Luật Việc làm được ban hành năm 2013 cũng đã mở rộng đối tượng tham gia BHTN so với các quy định pháp luật trước đó tại Điều 4 Luật BHXH năm 2006, theo đó đối tượng tham gia BHTN còn bao gồm cả NLĐ và NSDLĐ ký kết hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc có thời hạn từ đủ 03 tháng trở lên

Trang 35

Đối với chế độ BHTN thì người nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc đối tượng tham gia Theo quy định hiện nay, đối tượng bắt buộc phải tham gia BHTN là NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, NLĐ là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động

và có nhu cầu làm việc9 Như vậy, NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc đối tượng tham gia BHTN, khác với chế độ BHXH và bảo hiểm

y tế của nước ta hiện nay, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam được tham gia BHXH, bảo hiểm y tế10 Điều này có thể xuất phát từ nguyên nhân cho rằng chế độ BHTN đóng vai trò quan trọng vào chính sách việc làm và an sinh xã hội của quốc gia, trước hết phải được ưu tiên cho công dân nước mình, do đó hầu hết các quốc gia không quy định đối tượng tham gia BHTN

là người nước ngoài

2.1.2 Các chế độ hưởng bảo hiểm thất nghiệp

Điều 42 Luật Việc làm năm 2013 quy định các chế độ hưởng BHTN gồm có: Trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm, hỗ trợ học nghề và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ Khi đáp ứng các điều kiện được hưởng BHTN, NLĐ được hưởng các chế độ trợ cấp với điều kiện và mức hưởng cụ thể:

* Chế độ trợ cấp thất nghiệp

Về điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp phải là NLĐ đang đóng BHTN và đáp ứng đầy đủ các điều kiện:

Một là, thể hiện yêu cầu tuân thủ pháp luật, hạn chế việc NLĐ tùy tiện

chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc để hưởng BHTN, bảo đảm công bằng cho NSDLĐ, pháp luật quy định điều kiện đầu tiên để NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp là NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao

9 Khoản 1 Điều 3 Luật Việc làm 2013

10 Khoản 1 Điều 24 Luật Bảo hiểm xã hội, khoản 2 Điều 1 Luật Bảo hiểm y tế

Trang 36

động hằng tháng Như vậy, NLĐ được hưởng trợ cấp thất nghiệp trước hết phải là NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc một cách hợp pháp, kể cả trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng thì việc thực hiện cũng phải tuân thủ quy định của pháp luật lao động Trường hợp NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật thì không được hưởng trợ cấp thất nghiệp

Hai là, điều kiện về thời gian đóng BHTN, đảm bảo nguyên tắc có đóng- có hưởng, pháp luật quy định NLĐ phải đáp ứng điều kiện đã đóng

BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; đã đóng BHTN từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ 3 tháng đến dưới 12 tháng

Để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, NLĐ phải có một quá trình làm việc nhất định và tham gia đóng BHTN trong một thời gian tối thiểu Đây cũng là điều kiện mà chế độ BHTN của nhiều nước trên thế giới quy định Chế độ BHTN của Đức quy định điều kiện đóng BHTN tối thiểu là 12 tháng trong 03 năm cuối trước khi đăng ký thất nghiệp

và 06 tháng đối với hợp đồng lao động mùa vụ Pháp luật BHTN Nhật Bản quy định NLĐ phải có 6 tháng đóng góp trong vòng 12 tháng qua (hoặc 1 năm đóng góp trong vòng 2 năm qua đối với những người làm việc không trọn thời gian) Tại Bỉ, điều kiện đóng BHTN được quy định theo độ tuổi của NLĐ, tổng số ngày đóng BHTN tối thiểu là 312 ngày/18 tháng đối với NLĐ dưới 36 tuổi, 468 ngày/72 tháng đối với NLĐ từ 36 đến dưới 50 tuổi, 624 ngày/36 tháng đối với lao động trên 50 tuổi11

Luật Việc làm của nước ta hiện nay quy định đối tượng là NLĐ gắn với các loại hợp đồng lao động, hợp đồng

11 Nguyễn Vinh Quang, "Hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở Đức", nghip-c.html, truy cập ngày 11/5/2018

Trang 37

http://webbaohiem.net/h-thng-bo-him-tht-làm việc theo thời hạn của hợp đồng và điều kiện về thời gian tham gia, đóng BHTN cũng được quy định phân biệt cho từng loại hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc theo thời hạn

Ba là, điều kiện về thủ tục, NLĐ đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất

nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, ở nước

ta, việc thực hiện thủ tục trợ cấp thất nghiệp được giao cho một cơ quan dịch

vụ việc làm công đảm nhiệm12, đó là Trung tâm Dịch vụ việc làm thuộc Sở Lao động- Thương binh xã hội Điều kiện về việc nộp hồ sơ có tính chất thủ tục thực hiện, có ý nghĩa chứng minh NLĐ có khả năng lao động và luôn sẵn sàng nhận công việc khi được giới thiệu việc làm nhằm tránh việcNLĐ ỷ lại, hưởng trợ cấp và không nhận việc làm mới thích hợp khi có điều kiện Giới hạn thời hạn nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc vừa đủ để NLĐ tập hợp các tài liệu cần thiết, giải quyết các vấn đề liên quan đến việc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với NSDLĐ Việc giới hạn thời hạn thực hiện như vậy cũng để đảm bảo chắc chắn rằng NLĐ không thể tham gia ngay vào một quan hệ lao động khác, cần được trợ cấp trong thời gian chưa thể tìm được một công việc mới

Bốn là, NLĐ chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ

sơ hưởng BHTN, trừ các trường hợp mà NLĐ không thể tiến hành tìm kiếm việc làm, tham gia vào một quan hệ lao động khác hoặc đã chấm dứt tình trạng thất nghiệp Quy định điều kiện này là cần thiết về cả lý luận và thực tiễn bởi NLĐ cần có khoảng thời gian xác định được định hướng, khả năng tìm kiếm cơ hội việc làm của mình và khoảng thời gian 15 ngày cũng là vừa

đủ để NLĐ phải có hoạt động tìm kiếm việc làm mới Đồng thời đối với các

12 Tài liệu nghiên cứu các văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Ban Tuyên giáo trung ương, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, tr 312

Trang 38

trường hợp NLĐ nộp hồ sơ đề nghị hưởng BHTN xong lại có được việc làm mới ngay sau đó, quy định này sẽ giúp giảm bớt lượng công việc hành chính không cần thiết cho cơ quan thực hiện BHTN

Các trường hợp NLĐ không thể tiến hành tìm kiếm việc làm, tham gia vào một quan hệ lao động khác hoặc đã chấm dứt tình trạng thất nghiệp bao gồm:

- Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

- Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;

- Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù;

- Ra nước ngoài định cư;

- Đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng;

- Chết

Về mức trợ cấp thất nghiệp: Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng

tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương hàng tháng đóng BHTN của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương

cơ sở đối với NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của

Bộ luật lao động đối với NLĐ đóng BHTN theo chế độ tiền lương do NSDLĐ quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc13 Ngoài ra, người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế

Quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHTN, thời gian hưởng tối thiểu là 3 tháng (180%) như hiện nay của nước ta là tương đối phù hợp với thông lệ quốc tế và các mức trợ cấp mà NLĐ nhận được khi mất việc làm Đa số các quốc gia đều áp dụng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tối thiểu là 90 ngày (3 tháng) Theo quy

13 Khoản 1 Điều 50 Luật Việc làm năm 2013 và Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN,

Trang 39

định tại Điều 15 Công ước số 168 của Tổ chức Lao động Quốc tế về xúc tiến việc làm và bảo vệ chống thất nghiệp thì mức trợ cấp thất nghiệp không ít hơn 45% của thu nhập trước đó hoặc không ít hơn 45% của tiền lương tối thiểu theo quy định hoặc tiền lương của NLĐ bình thường nhưng không ít hơn mức

có thể bảo đảm mức đóng cơ bản tối thiểu14

Thời gian đóng BHTN để xét hưởng BHTN là tổng các khoảng thời gian đã đóng BHTN liên tục hoặc không liên tục được cộng dồn từ khi bắt đầu đóng BHTN cho đến khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng BHTN trước đó của NLĐ không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần tiếp theo Thời gian đóng BHTN cho lần hưởng BHTN tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do NLĐ tìm được việc làm; thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; học tập có thời hạn từ

đủ 12 tháng trở lên; bị tòa án tuyên bố mất tích; bị tạm giam; chấp hành hình

14 "Chính sách bảo hiểm thất nghiệp vẫn còn kẽ hở", tro-cap-that-nghiep-van-con-ke-ho/331453.vgp, truy cập ngày 14/3/2018

http://baochinhphu.vn/Tra-loi-cong-dan/Chinh-sach-15 khoản 2 khoản 3 Điều 50 Luật Việc làm

16 "Chính sách bảo hiểm thất nghiệp vẫn còn kẽ hở", tro-cap-that-nghiep-van-con-ke-ho/331453.vgp, ngày 14/3/2018

Trang 40

http://baochinhphu.vn/Tra-loi-cong-dan/Chinh-sach-phạt tù Thời gian bảo lưu được tính bằng tổng thời gian đóng BHTN trừ đi thời gian đóng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp, theo nguyên tắc mỗi tháng đã hưởng trợ cấp thất nghiệp tương ứng 12 tháng đã đóng BHTN17

Quy định lũy tiến thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian đóng BHTN như hiện nay là hợp lý, đảm bảo sự công bằng giữa những NLĐ tham gia BHTN

và nguyên tắc mức hưởng được tính trên số tiền và thời gian đóng BHTN

Thực tế quy định NLĐ có đủ 12 tháng đến 36 tháng đóng BHTN sẽ được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó cứ đóng thêm 12 tháng được hưởng thêm 1 tháng, tối đa không quá 12 tháng có thể xảy ra tình trạng NLĐ chỉ là việc và và đóng BHTN đủ 12 tháng là nghỉ việc và hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp Điều này vừa gây ảnh hưởng đến quỹ BHTN và làm cho các doanh nghiệp sử dụng lao động phải tốn thêm chi phí cho việc tuyển dụng, đào tạo lao động mới Tuy nhiên phải thấy rằng pháp luật cũng đã quy định giới hạn tối đa cho các lần kể cả lũy tiến là 12 tháng và điều này cũng tương đồng với quy định tại Điều 48, Điều 49 Bộ luật lao động về chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm Theo quy định tại Bộ luật lao động, NLĐ làm việc thường xuyên tử đủ 12 tháng trở lên mà chấm dứt hợp đồng lao động thì NSDLĐ cũng đã phải thanh toán trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu thuộc các trường hợp luật định

Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp: Để đảm bảo NLĐ tích cực tìm

kiếm việc làm, chấm dứt tình trạng thất nghiệp đồng thời thực hiện tốt công tác quản lý lao động, theo quy định pháp luật hiện nay, NLĐ đang hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng bị tạm dừng hưởng trợ cấp khi không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định NLĐ bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu vẫn còn thời gian được hưởng theo quyết định thì tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp khi thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định NLĐ bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu vẫn còn thời gian được hưởng theo quyết định thì tiếp tục hưởng trợ cấp

17 Điều 45, khoản 4 Điều 53 Luật Việc làm

Ngày đăng: 16/02/2021, 15:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w