1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chương 2: các lý thuyết về phát triển kinh tế pps

14 700 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 501,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GIỚI THIỆU VỀ CÁC LÝ THUYẾT CỦA KINH TẾ PHÁT TRIỂN: BỐN CÁCH TIẾP CẬN Các lý luận về kinh tế phát triển sau Chiến Tranh Thế Giới II đã bị thống trị bởi bốn trường phái chính: 1 mô hình t

Trang 1

Ch−¬ng II

C¸c lý thuyÕt vÒ ph¸t triÓn kinh tÕ

Nó sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu chúng ta có những thông tin về phát triển nếu chúng ta lại không hiểu ý nghĩa thực sự của nó

-DENIS GOULET, Sự lựa chọn nghiệt ngã Phát triển phải được định nghĩa lại như là sự tấn công vào những vấn đề đen tối của thế giới ngày nay: sự thiếu dinh dưỡng, bệnh tật, mù chữ, các khu ổ chuột, thất nghiệp

và bất công Đo lường sự phát triển bằng sự tăng trưởng kinh tế chung, thì thế giới đã đạt được những thành công lớn Nhưng nếu đo lường sự phát triển thông qua việc làm,

sự công bằng và sự xoá đói nghèo, thì thế giới đã không đạt được sự phát triển hay chỉ

là sự phát triển cục bộ

-PAUL P STREETEN, nguyên giám đốc Viện Phát triển Thế giới

Sự tiếp cận mới của chúng ta về những chiến lược và những chương trình phát triển là

sự tiếp cận tổng hợp làm nổi bật sự liên quan của tất cả các khía cạnh của những chiến lược phát triển – xã hội, cấu trúc, con người, thể chế, môi trường, kinh tế và tài chính

-JAMES D WOLFENSOHN, Chủ tịch, Ngân Hàng Thế Giới

Mọi quốc gia đều nỗ lực phát triển Sự tiến bộ kinh tế là một thành phần rất quan trọng của phát triển nhưng nó không phải là thành phần duy nhất Như chúng ta đã thấy ở chương 1, phát triển không phải là một hiện tượng kinh tế thuần tuý Trong nghĩa cơ bản, phát triển phải bao gồm nhiều khía cạnh hơn là các mặt vật chất và tài chính trong đời sống của con người Thêm vào đó, sự cải thiện về thu nhập và đầu ra có liên quan đến những sự thay đổi cơ bản về thể chế, xã hội, cơ cấu tổ chức cũng như những quan điểm phổ thông, và trong nhiều trường hợp là những sự thay đổi trong tập quán và niềm tin Cuối cùng, mặc dù phát triển thường được định nghĩa trong bổi cảnh một quốc gia, sự phổ biến nhận thức của nó có thể cũng cần đòi hỏi những điều chỉnh cơ bản về hệ thống kinh tế, xã hội toàn cầu

Trong chương này chúng ta khám phá sự phát triển của lịch sử và tri thức

về những tư tưởng có tính học thuật về cách nào và tại sao phát triển diễn ra hoặc không diễn ra Chúng ta thực hiện điều này bằng cách xem xét bốn lý thuyết phát triển cơ bản Thêm vào đó để diễn giải sự khác nhau trong các tiếp cận này, chúng ta sẽ khám phá mỗi cách tiếp cận khác nhau mang đến những kiến thức và cách nhìn hữu ích về quá trình phát triển như thể nào

Trang 2

2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÁC LÝ THUYẾT CỦA KINH TẾ PHÁT TRIỂN:

BỐN CÁCH TIẾP CẬN

Các lý luận về kinh tế phát triển sau Chiến Tranh Thế Giới II đã bị thống trị bởi bốn trường phái chính: (1) mô hình tăng trưởng theo giai đoạn (the linear-stages-of-growth model), (2) lý thuyết và khuôn mẫu của thay đổi cấu trúc (theories and patterns of structure change, (3) cách mạng phụ thuộc quốc tế (the international-dependence revolution), và (4) tân cổ điển (the neoclassical), thị trường tự do

Những nhà lý luận của những năm 1950 và đầu những năm 1960 nhìn nhận quá trình phát triển là một chuỗi những giai đoạn thành công của sự tăng trưởng kinh tế mà tất cả các nước đều phải trải qua Đây chính là lý thuyết kinh

tế về phát triển đầu tiên trong đó sản lượng thực tế và hỗn hợp của tiết kiệm, đầu

tư, và tài trợ nước ngoài là tất cả những thứ cần thiết làm cho các nước đang phát triển bắt đầu bước vào con đường tăng trưởng kinh tế mà các nước phát triển hơn đã trải qua trong lịch sử Như vậy, phát triển trở nên đồng nghĩa với sự tăng trưởng kinh tế nhanh

Cách tiếp cận theo các giai đoạn tăng trưởng này đã bị thay thế vào những

năm 1970 bởi hai trường phái đối nghịch nhau và song song tồn tại Trường phái

thứ nhất tập trung vào các lý thuyết và khuôn mẫu thay đổi cấu trúc Trường

phái này sử dụng lý thuyết kinh tế hiện đại và phân tích thống kê nhằm miêu tả

quá trình thay đổi cấu trúc từ bên trong mà các nước đang phát triển phải trải

qua nếu muốn thành công trong việc tạo ra và duy trì một quá trình tăng trưởng

kinh tế nhanh Trường phái thứ hai, cách mạng phụ thuộc quốc tế, có xu hướng

cấp tiến và chính trị Nó nhìn nhận sự kém phát triển dưới góc độ quan hệ quyền lực giữa các quốc gia và bên trong một quốc gia, sự cứng nhắc của thể chế và cấu trúc kinh tế, và là kết quả của sự gia tăng của các nền kinh tế nhị nguyên và các xã hội nhị nguyên bên trong một quốc gia và giữa các quốc gia trên thế giới

Lý thuyết về sự phụ thuộc có khuynh hướng nhấn mạnh vào các trở ngại về thể

chế, chính trị bên trong và bên ngoài đối với phát triển kinh tế Sự tập trung

được đặt vào sự cần thiết của những chính sách mới nhằm vào xoá bỏ tình trạng nghèo đói, tạo ra cơ hội việc làm đa dạng, và giảm bất bình đẳng Những mục tiêu này và những mục tiêu bình đẳng khác đạt được trong bối cảnh của một nền kinh tế có tăng trưởng, nhưng thực chất tăng trưởng kinh tế không được đặt ở vị trí quan trọng như trong các mô hình tăng trưởng theo giai đoạn và thay đổi cấu trúc

Xuyên suốt thập kỷ 80 và đầu những năm 1990, trường phái thứ tư nổi lên

và chiếm ưu thế Trường phái tân cổ điển (còn được gọi là trường phái tự do mới) trong tư duy kinh tế nhấn mạnh vào những vai trò tích cực của thị trường

tự do, của các nền kinh tế mở, và sự tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả Theo trường phái này, sự thất bại trong phát triển không phải là

Trang 3

sự bóc lột của các thế lực bên trong và bên ngoài như sự trình bầy của các nhà lý

luận của trường phái phụ thuộc Mà chính sự can thiệp quá mức của chính phủ

vào nền kinh tế là nguyên nhân của sự kém phát triển Ngày nay cách tiếp cận không bị gò bó vào một trường phái duy nhất, và chúng ta sẽ nêu bật lên những điểm yếu, điểm mạnh của từng cách tiếp cận

ĐOẠN TUYẾN TÍNH

Khi sự quan tâm đến các nước nghèo của thế giới bắt đầu được hiện thực hoá sau Chiến Tranh Thế Giới thứ II, các nhà kinh tế học ở các nước công nghiệp hoá đã bị bất ngờ Họ không có sẵn những hệ thống khái niệm để phân tích quá trình tăng trưởng kinh tế của các xã hội nông nghiệp rộng lớn được đặc trưng bởi sự thiếu vắng của cấu trúc kinh tế hiện đại Nhưng họ lại có kinh

nghiệm mới mẻ của Kế Hoạch Marshall, những lượng tài chính khổng lồ và sự

trợ giúp kỹ thuật của Mỹ đã làm cho các nước bị chiến tranh tàn phá ở Châu Âu

có thể tái thiết và hiện đại hoá nền kinh tế của họ trong vòng có một vài năm Hơn nữa, câu hỏi đặt ra là có phải tất cả các nước công nghiệp phát triển đã từng

là những xã hội nông nghiệp không phát triển? Những kinh nghiệm lịch sử trong

sự chuyển đổi những nền kinh tế từ những xã hội nông nghiệp nghèo nàn tự cung tự cấp thành những nước công nghiệp hiện đại có chắc chắn là những bài học quan trọng cho những nước “lạc hậu” của Châu Á, Châu Phi, và Châu Mỹ

La Tinh trong quá trình phát triển? Cái Logic và sự đơn giản của hai tư tưởng này-sự hữu dụng của sự “tiêm” lượng vốn khổng lồ và lịch sự phát triển của các nước phát triển-đã quá hấp dẫn để bác bẻ lại đối với các học giả, các chính trị gia, và các nhà quản lí ở các nước giàu; với họ con người và cuộc sống ở những nước đang phát triển không khác gì những con số thống kế của Liên Hợp Quốc hay những chương sách nhân học lẻ tẻ Bởi vì sự nhấn mạnh của nó đến vai trò trung tâm của sự gia tăng tích luỹ vốn, cách tiếp cận này còn được gọi là “trào lưu tư bản chính thống-capital fundamentalism"

2.2.1 Các Giai Đoạn Tăng Trưởng của Rostow

Vượt ra khỏi môi trường trí tuệ khô cằn, được khuyến khích bởi chiến tranh lạnh trong những năm 1950 và những năm 1960 và là kết quả của sự cạnh tranh về lòng trung thành của các nước công nghiệp mới (NICs), là sự ra đời của

Mô hình phát triển các giai đoạn tăng trưởng Người có ảnh hưởng và tiếng

nói trong mô hình này là nhà Kinh tế lịch sử Mỹ Walt W Rostow Theo học

thuyết của Rostow, sự chuyển tiếp từ không phát triển sang phát triển có thể mô

tả bằng chuỗi những bước hay giai đoạn mà qua đó tất cả các nước đều phải trải qua Như Rostow viết trong chương mở đầu của Các giai đoạn của tăng trưởng kinh tế:

Cuốn sách này trình bầy cách thức của các nhà kinh tế lịch sử khái quát hoá sự lướt đi của lịch sử hiện đại… Có thể nhận dạng tất cả các xã hội, trong các mặt kinh tế của

Trang 4

chúng, nằm trong một trong năm loại sau: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh đến

sự tự tăng trưởng bền vững, cất cánh, chạy đua đến trưởng thành, và thời kì tiêu dùng cao và phổ quát… Những giai đoạn này không đơn thuần là sự mô tả Chúng không

đơn thuần là con đường để khái quát hoá những quan sát hiện thực về kết quả của phát triển của những xã hội hiện đại Chúng có logic và sự liên tục ở bên trong… Cuối cùng, chúng cấu thành cả học thuyết về tăng trưởng kinh tế và chung hơn, nếu vẫn còn phân tán, là học thuyết về lịch sử hiện đạii

Nó cho rằng, các nước phát triển đã trải qua giai đoạn “cất cánh đến tăng trưởng bền vững”, và các nước chậm phát triển mà vẫn còn đang ở trong giai đoạn xã hội truyền thống hoặc là “giai đoạn chuẩn bị cất cánh” chỉ còn cách đi theo những quy luật nhất định của phát triển để cất cánh đến sự tự tăng trưởng kinh tế bền vững

Một nguyên lý của các chiến lược phát triển cần thiết cho bất kỳ sự cất cánh nào là sự vận động của tiết kiệm trong nước và ngoài nước để tạo ra đủ vốn đầu tư cho sự gia tăng tăng trưởng kinh tế Cơ chế kinh tế mà càng đầu tư nhiều

thì càng tăng trưởng có thể mô tả bằng Mô hình tăng trưởng Harrod-Domar,

ngày này thường gọi là Mô hình AK Trong hình thức này hay hình thức khác,

nó đã thường được áp dụng cho các vấn đề chính sách mà các nước đang phát triển đang đối mặt với

2.2.1.1 Néi dung lý thuyÕt cña Rostow

1 Giai ®o¹n x· héi truyÒn thèng

2 Giai ®o¹n chuÈn bÞ cÊt c¸nh

3 Giai ®o¹n cÊt c¸nh

4 Giai ®o¹n tr−ëng thµnh

5 Giai ®o¹n tiªu dïng cao vµ réng kh¾p

Thu nhËp

1 2 3 4 5 Thêi gian

H×nh 2.1 N¨m giai ®o¹n ph¸t triÓn cña Rostow

Trang 5

Giai đoạn x∙ hội truyền thống

Giai đoạn truyền thống thì sản xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu trong nền kinh tế với các đặc tưng sau:

- Năng suất lao động thấp do sản xuất chủ yếu bằng các công cụ thủ công, phương thức canh tác truyền thống

- Hoạt động kinh tế nói chung là trì trệ kém linh hoạt vì sản xuất mang tính tự cung tự cấp là chính, sản xuất hàng hoá kém phát triển

- Tuy nhiên, cũng có một số tiến bộ: Giống cây con mới có năng suất cao hơn, các biện pháp thuỷ lợi được ứng dụng vào sản xuất, diện tích canh tác, diện tích gieo trồng được cải tạo Do đó, năng suất, sản lượng trong nông nghiệp tăng dần

Giai đoạn chuẩn bị cất cánh

Giai đoạn quá độ chuyển biến giữa một nền kinh tế truyền thống (nông nghiệp) sang nền kinh tế công nghiệp, những điều kiện để nền kinh tế cất cánh đã bắt đầu xuất hiện:

- Giáo dục được quan tâm, cải tiến, mở rộng;

- KHKT được tăng cường đẩy mạnh nghiên cứu và những kết quả đã được áp dụng cho cả công nghiệp và nông nghiệp;

- Nhu cầu đầu tư của xã hội tăng lên: như đầu tư cho giao thông vận tải, thông tin liên lạc, vốn đầu tư được huy động từ nhiều nguồn đã thúc đẩy sự hoạt động của hệ thống ngân hàng;

- Giao lưu hàng hoá trong nước và quốc tế được phát triển mở rộng do sự tác động qua lại với sự phát triển của hệ thống giao thông vận tải (tĩnh và động) và hệ thống thông tin liên lạc

- Mở rộng nhập khẩu, đặc biệt là nhập khẩu công nghệ, khả năng chi trả được đáp ứng nhờ xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và hàng nông sản

Tuy nhiên, hoạt động của nền kinh tế nói chung chưa vượt qúa giai đoạn truyền thống,

đây là thời kỳ quá độ có sự đan xen giữa cái những cũ của xã hội ở giai đoạn truyền thống vẫn tồn tại song song với không khí sôi động của một số nhân tố mới xuất hiện

Giai đoạn cất cánh

Giai đoạn lịch sử trung tâm của Rostow là giai đoạn cất cánh, một sự mở rộng quyết

định diễn ra từ 20 – 30 năm, làm thay đổi căn bản nền kinh tế và xã hội của một đất nước Cất cánh tức là biểu hiện của các lực cản từ cơ chế của xã hội truyền thống đã bị đẩy lùi, nhường chỗ cho sự phát triển của một nền kinh tế mới (nền kinh tế công nghiệp) Lực lượng tạo ra sự tiến bộ của nền kinh tế đang lớn mạnh và trở thành lực lượng trọng yếu của nền kinh tế

Rostow chỉ ra rằng để cất cánh cần phải thoả mãn các điều kiện:

- Đầu tư thuần tuý tính theo tỷ lệ phần trăm của sản phẩm quốc dân thuần tuý (NNP) tăng lên thực sự – từ khoảng dưới 5% tới 10%, để đáp ứng nhu cầu cao về vốn đầu tư của nền kinh tế Nếu mức đầu tư 3,5% của NNP dẫn tới sự tăng trưởng là 1% mỗi năm,

thì 10,5% của NNP là cần thiết cho sự tăng trưởng 3% (hoặc mức tăng 2% theo đầu

Trang 6

người nếu dân số tăng 1%) Vốn đầu tư không chỉ từ nguồn trong nước mà còn thu hút

từ nước ngoài, với nhiều hình thức thu hút khác nhau

- khoa học kỹ thuật đã phát triển mạnh, được tăng cường đầu tư nghiên cứu, tiến bộ KHKT trở thành lực lượng thúc đẩy cho sự phát triển của các ngành kinh tế

- Bộ mặt của nền kinh tế đã đổi khác:

ắ Công nghiệp trở thành đầu tầu của nền kinh tế quốc dân (ít nhất có một ngành giữ

vị trí đầu tầu)

ắ Công nghiệp có tỷ lệ đầu tư cao

ắ Tốc độ phát triển công nghiệp cao

ắ Tạo nguồn lợi nhuận cao, lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư phát triển

ắ Nông nghiệp phát triển mạnh mẽ:

9 Tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp làm cho: Năng suất lao động, chất lượng sản phẩm tăng; quy mô khối lượng sản phẩm tăng; tốc độ tăng trưởng tăng

9 Thương mại hoá nền sản xuất nông nghiệp

- Bộ mặt của xã hội cũng đổi khác:

ắ Sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp, đô thị mới

ắ Các ngành kinh tế mới hình thành và phát triển

Giai đoạn trưởng thành

Sau sự cất cánh là sự chuyển tới giai đoạn trưởng thành, một thời kỳ tăng trưởng đều

đặn, có hy vọng, và tự đứng vững, với các đặc trưng sau:

- Tỷ lệ đầu tư từ 10% – 20% trong NNP;

- Khoa học - Kỹ thuật đã được áp dụng trên hầu hết các ngành kinh tế , nhiều ngành công nghiệp mới được phát triển;

- Nông nghiệp được cơ giới hoá, năng suất cao, lao động trong nông nghiệp chiếm tỷ

lệ nhỏ;

- Hoạt động xuất nhập khẩu gia tăng, nền kinh tế trong nước hoà nhập vào nền kinh

tế thế giới;

Giai đoạn tiêu dùng cao

Đặc trưng của giai đoạn này là:

- Do kết quả đạt được của nền kinh tế trong giai đoạn trưởng thành, kết quả này được phân phối tới hầu hết cư dân quốc gia

Trang 7

- Thu nhập bình quân theo đầu người của các nhóm cư dân tăng nhanh, dẫn đến sự biến đổi nhanh về cơ cấu tiêu dùng, phần trăm thu nhập cho hàng hoá thiết yếu giảm xuống, phần trăm thu nhập dành cho các hàng hoá tiêu dùng lâu bền tăng lên

- Sự thay đổi cơ cấu về dân cư theo hướng dân số thành thị tăng lên và cơ cấu lao

động theo hướng lao động có trình độ tăng lên

- Những chính sách xã hội của Nhà nước hướng vào phúc lợi xã hội nhằm tạo ra nhu cầu cao về hàng tiêu dùng lâu bền và các dịch vụ xã hội: giáo dục - đào tạo, việc làm, y tế… của các nhóm dân cư Con người được coi là trung tâm của sự phát triển

2.2.1.2 Hạn chế của lý thuyết các giai đoạn phát triển của Rostow

Lý thuyết của W Rostow được nhiều quan chức chính phủ Mỹ ưa chuộng vào những năm 1960, đặc biệt là ở các cơ quan viện trợ quốc tế, do nó đã hứa hẹn đem lại hy vọng cho sự tăng trưởng bền vững ở các nước đang phát triển sau

sự tiếp sức ban đầu đáng kể của viện trợ nước ngoài Nhưng nhiều nhà kinh tế cho rằng Rostow đã có quá nhiều tham vọng

Trên thực tế, những giai đoạn của W Rostow được xác định một cách thiếu chính xác, khó có thể kiểm định được về mặt khoa học:

- Các nền kinh tế trước đây - nguyên thuỷ, cổ đại, trung kỷ và các nền kinh

tế cách đây một hoặc một vài thế kỷ của các nước hiện đã phát triển hiện tại trong một phạm trù duy nhất, đó là xã hội truyền thống Với việc phác hoạ các xã hội truyền thống như các xã hội trước Newton, đã bỏ qua tính nhị nguyên của nhiều nước kém phát triển hiện nay

- Phần lớn luận đề của Rostow về các điều kiện để cất cánh là mâu thuẫn với các số liêu thực nghiệm những gia tăng về các tỷ lệ đầu tư và sự tăng trưởng không xảy ra trong phạm vi 20 – 30 năm như Rostow đã phác hoạ cho sự cất cánh

- Những đặc trưng của một trong các giai đoạn thường không nhất quán với

nó Tại sao cuộc cách mạng trong nông nghiệp, những lượng nhập khẩu vốn, và sự đầu tư xã hội lớn của giai đoạn tiền điều kiện lại không phù hợp với sự tăng lên đột ngột của các tỷ lệ đầu tư trong giai đoạn cất cánh?

- Tiền đề của Rostow rằng sự hiện đại hóa kinh tế có nghĩa là sự thay đổi

từ một nền kinh tế kém phát triển sang một nền kinh tế tương tự với nền kinh tế ở Bắc Mỹ và Tây Âu ngày nay đã bỏ qua mối liên hệ của các nước kém phát triển đương thời với các nước đã phát triển cũng như lịch sử riêng lẻ cao độ và những điều kiện riêng của mỗi nước kém phát triển

Trang 8

2.2.2.1 Mô hình tăng trưởng Harrod-Domar

2.2.2.2 Nội dung của mô hình

Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng phải tiết kiệm một tỷ lệ nhất định trong thu nhập của nó, ít nhất là để thay thế những vốn tài sản hư hỏng (nhà cửa, thiết

bị, và nguyên liệu) Tuy nhiên, để tăng trưởng, sự đầu tư mới để bổ sung vào khối lượng vốn là cần thiết Nếu chúng ta giả định rằng có một mối quan hệ kinh

tế trực tiếp giữa kích thước của tổng lượng vốn, K, và tổng sản phẩm quốc dân GNP, Y-ví dụ, nếu 3 đơn vị vốn là luôn luôn cần thiết để sản xuất dòng 1 đơn vị GNP-tiếp theo là bất kỳ một sự gia tăng nào trong tổng lượng vốn thông qua đầu

tư mới sẽ mang đến sự tăng lên tương ứng trong dòng đầu ra quốc dân, GNP

Giả định rằng mối quan hệ này, được biết trong kinh tế là tỷ số vốn-đầu ra,

là xấp xỉ 3:1 Nếu chúng ta định nghĩa tỷ số vốn-đầu ra là k và giả định tiếp theo

rằng tỷ số tiết kiệm quốc gia, s, là một tỷ lệ cố định của đầu ra quốc gia (ví dụ

6%) và rằng tổ đầu tư mới được quyết định bởi mức độ của tổng tiết kiệm

Chúng ta có thể xây dựng một mô hình tăng trưởng kinh tế đơn giản như sau:

1 Tiết kiệm (S) là một tỷ lệ s của thu nhập quốc gia (Y), như vậy chúng ta có phương

trình đơn giản

S = sY (4.1)

2 Đầu tư ròng (I) được định nghĩa là sự thay đổi trong lượng vốn, K, và có thể viết là

∆K, như vậy

Nhưng vì tổng lượng vốn, K, có mối quan hệ trực tiếp với tổng thu nhập quốc dân hay đầu ra, ra, Y, được thể hiện bởi tỷ số vốn-đầu ra, k, cho nên

K

—— = k

Y

hay

∆K

—— = k

∆Y hay

3 Cuối cùng bởi vì tiết kiệm quốc dân ròng, S, phải bằng đầu tư ròng, I, chúng ta có thể

viết phương trình này là

Nhưng từ phương trình 4.1 chúng ta biết rằng S = sY và từ phương trình 4.2 và 4.3

chúng ta biết rằng

I = ∆K = k∆Y

Trang 9

Do vậy tiếp theo chỳng ta cú thể viết lại phương trỡnh 4.4 như sau

S = sY = k∆Y = ∆K = I (4.5) hay đơn giản là

Chia cả hai vế của phương trỡnh 4.6 cho Y và k chỳng ta cú phương trỡnh sau:

∆Y s

Y k Nhớ rằng vế trỏi của phương trỡnh 4.7, ∆Y/Y, thể hiện tốc độ thay đổi hay tốc độ tăng

trưởng của GNP (nú chớnh là phần trăm thay đổi của GNP).

Phương trỡnh 4.7 chớnh là phương trỡnh đơn giản hoỏ của phương trỡnh nổi tiếng trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế Harrod-Domar, ii phỏt biểu đơn giản

rằng tốc độ tăng trưởng của GNP (∆Y/Y) được chi phối bởi tỷ số tiết kiệm quốc gia, s, và tỷ số vốn-đầu ra, k Cụ thể hơn, nú cho rằng với sự khụng can thiệp của

chớnh phủ, tốc độ tăng trưởng của thu nhập quốc dõn sẽ liờn quan trực tiếp hay

tỷ lệ thuận với tỷ số tiết kiệm (nghĩa là nền kinh tế càng cú khả năng tiết

kiệm-và đầu tư-từ GNP cho trước, thỡ sự tăng trưởng của GNP đú càng cao) kiệm-và tỷ lệ

nghịch với tỷ số vốn-đầu ra của nền kinh tế (nghĩa là tỷ số k càng cao thỡ tỷ lệ

tăng trưởng GNP càng thấp)

Logic kinh tế của phương trỡnh 4.7 rất đơn giản Để tăng trưởng, cỏc nền kinh tế phải tiết kiệm và đầu tư một tỷ lệ nhất định trong GNP của nú Cỏc nền kinh tế càng tiết kiệm và đầu tư nhiều thỡ càng cú khả năng tăng trưởng nhanh Nhưng tốc độ tăng thực tế mà tại đú nú cú thể tăng tăng ở bất cứ mức độ tiết kiệm và đầu tư nào-bao nhiờu đơn vị đầu ra tăng thờm cú được từ một đơn vị

đầu tư tăng thờm-cú thể được đo lường bằng đảo nghịch tỷ số vốn-đầu ra, k, bởi

vỡ 1/k đơn giản là tỷ số đầu ra-vốn hay tỷ số đầu ra-đầu tư Tiếp theo là nhõn tỷ

lệ tiết kiệm mới, s = I/Y, với năng suất, 1/k, sẽ cho tốc độ tăng trưởng GNP

2.2.2 Những hạn chế của mô hình Harrod – Domar

Trung tâm của cách phân tích này là giả thiết cho rằng tỷ số gia tăng tư bản - đầu ra (k) là một số cố định Giả định này gắn liền với một hàm sản xuất

mà nó sử dụng các tỷ lệ cố định các yếu tố đầu vào tư bản và lao động, đường

đồng lượng có hình chữ L Nói cách khác, với mỗi sự tăng lên về vốn sản xuất

đều có sự tăng lên tương ứng của lao động

Trang 10

Tư bản

Y

20 Y2

10 Y1

100 200 Lao động

Hình 2.2 Hàm sản xuất với các tỷ lệ cố định

Nhưng phần lớn các nhà kinh tế tin rằng hàm sản xuất của nhiều ngành công nghiệp và của nền kinh tế trong đó các yếu tố sản xuất (tư bản và lao động)

có sự đánh đổi cho nhau, đường đồng lượng là những đường cong

+ A (L1,K1), mức sản lượng Y1

+ Y1 > Y2 có nhiều cách kết

hợp:

1 A > B(L2,K2); L2=2L1

K2=2K1

2 A > C ít vốn hơn

nhiều lao động hơn

3 A > D nhiều vốn hơn

ít lao động hơn

K

Y

D

K2 B

C Y2

K1

Y1

L1 L2 L

Hình 2.3 Các yếu tố sản xuất (K&L) có thể đánh đổi cho nhau

Như vậy tỷ số gia tăng tư bản – đầu ra (k) trở thành một biến số mà theo một nghĩa nào đó nó có thể được điều tiết bởi các chính sách của Chính phủ

Tỷ số gia tăng tư bản - đầu ra thích hợp này sẽ khác nhau giữa các nước ngay cả với riêng một nước theo theo thời gian

Các nước nghèo có tỷ lệ tiết kiệm thấp và lao động dư thừa (không có việc làm hoặc làm việc một phần) có thể đạt mức tăng trưởng cao hơn bằng cách tiết kiệm tư bản và sử dụng nhiều lao động nếu có thể Khi nền kinh tế phát triển và thu nhập theo đầu người tăng lên, tỷ lệ tiết kiệm có xu hướng tăng lên và lao

động dư thừa giảm đi Hệ số k có thể dịch chuyển thông qua cơ chế của thị trường bởi vì giá cả của lao động và tư bản thay đổi do sự thay đổi mức cung

Ngày đăng: 24/07/2014, 01:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Năm giai đoạn phát triển của Rostow - Chương 2: các lý thuyết về phát triển kinh tế pps
Hình 2.1. Năm giai đoạn phát triển của Rostow (Trang 4)
Hình 2.3. Các yếu tố sản xuất (K&L) có thể đánh đổi cho nhau - Chương 2: các lý thuyết về phát triển kinh tế pps
Hình 2.3. Các yếu tố sản xuất (K&L) có thể đánh đổi cho nhau (Trang 10)
Hình 2.2. Hàm sản xuất với các tỷ lệ cố định. - Chương 2: các lý thuyết về phát triển kinh tế pps
Hình 2.2. Hàm sản xuất với các tỷ lệ cố định (Trang 10)
Hình 2.4. Sự thay đổi cấu trúc nền kinh tế - Chương 2: các lý thuyết về phát triển kinh tế pps
Hình 2.4. Sự thay đổi cấu trúc nền kinh tế (Trang 12)
Hình 2.5. Mối quan hệ AS – AD trong nền kinh tế - Chương 2: các lý thuyết về phát triển kinh tế pps
Hình 2.5. Mối quan hệ AS – AD trong nền kinh tế (Trang 13)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w