Đó là tập hợp các môn học nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của môi trường, lý giả những vấn đề môi trường ở những góc độ khác nhau như: sinh thái học, kỹ thuật học, kinh tế học, pháp
Trang 1Bμi mở đầu
Sự sống của con người luôn tồn tại trong hai thế giới, đó là: Thế giới tự nhiên bao
gồm thực vật động vật, đất, không khí và nước đã xuất hiện trước con người hàng tỷ năm
và con người cùng là thành phần trong thế giới này Thế giới nhân tạo là các tổ chức xã
hội và các vật thể nhân tạo do con người tạo ra bằng các thành tựu khoa học, công nghệ,
chính trị Cả hai thế giới đều cần thiết cho con người, sự tương hợp của chúng tạo nên sự bền vững lâu dài
Trước kia, khả năng thay đổi môi trường xung quanh của con người bị hạn chế Ngày nay, trước sự phát triển của khoa học và Kỹ thuật, con người có khả năng
khai thác, tiêu thụ tài nguyên, tạo chất thải và thay đổi thế giới bằng nhiều cách trong đó
có đe doạ tới điều kiện tồn tại của con người và các sinh vật
Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững trong hiện tại và tương lai, chúng ta cần hiểu thế giới xung quanh đang hoạt động như thế nào, và có thể làm gì để bảo vệ và cải thiên chúng
Môi trường ngày nay là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa học, gọi chung
là khoa học môi trường (Environmental sciences) Đó là tập hợp các môn học nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của môi trường, lý giả những vấn đề môi trường ở những góc
độ khác nhau như: sinh thái học, kỹ thuật học, kinh tế học, pháp luật, địa lý, kinh tế - xã hội học v.v Dù tiếp cận cách nào thì khoa học về môi trường đều nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống con người, giải quyết các mối quan hệ giữa con người và môi trường trong đó con người là vị trí trung tâm
1 Sơ lược về quá trình hình thành các khoa học về môi trường
a) Quá trình hình thành
+ Những vấn đề về môi trường bặt đầu được quan tâm vào cuối thế kỷ XVIII, khi
quá trình khai thác tài nguyên, côngnghiệp hoá, đô thị hoá ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ phát triển rầm rộ gây tác động to lớn đến tài nguyên, môi trường ở nhiều nước, nhiều vùng Một số nghiên cứu về sự phá huỷ môi trường đã được thực hiện Các nhà bảo tồn đã hiểu được mối quan hệ giữa sự phá rừng, suy thoái đất và sự tay đổi khí hậu Nhà sinh lý
thực vật người Anh Stephen Hales đã đề nghị trồng cây để bảo vệ đất
+ Đến thế kỷ thứ XIX mới xuất hiện các tác gải nghiên cứu về môi trường Một trong những tác giả đầu tiên nghiên cứu về môi trường là George Perkins Marsh
(1801-1882) là nhà địa chất học, luật sư, nhà chính trị ngoại giao với tác phẩm "Con người và
thiên nhiên" (Man end Nature - 1864) trong đó ông đã nêu những vấn đề khai thác và sử
dụng các tài nguyên ở Mỹ sao cho hợp lý không phá huỷ môi trường và ông đã đề ra được những nguyên tắc cơ bản còn đượcc áp dụng cho đến ngày nay
+ Đầu thế kỷ XX mới chỉ giới hạn trong phạm vi một số quốc gia đã phát triển
mạnh công nghiệp hoá và đô thị hoá
Sau thế chiến thứ II, vấn đề môi trường bắt đầu trở thành mối đe dọa lớn trên quy mô toàn cầu bởi các lý do sau:
- Sự tàn phá khốc liệt của hai cuộc chiến tranh thế giới đầu thế kỷ XX mà kết thúc là thảm hoạ nguyên tử ở Nhật Bản
- Các quốc gia đua nhau tái thiết và phát triển mạnh mẽ công thương nghiệp và đô thị hoá sau chiến tranh
Trang 2- Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) hình thành và phát triển mạnh mẽ nền đại công nghiệp, đặc biệt là ở Liên xô và Đông Âu
- Hàng loạt các quốc gia giành độc lập, thoát khỏi ách đô hộ của thực dân phong kiến, nô nức tiến lên con đường công nghiệp hoá
- Bùng nổ dân số ở các nước đang phát triển (năm 1850 dân số khoảng 1 tỷ, 1945 dân số
là 2 tỷ, 1970 dân số là 4 tỷ và dân số đạt 6 tỷ năm 1999.
+ Qua thập niên 60-70, những vấn đề về con người và môi trường ngày càng trở nên bức xúc Nhiều tác giả và tác phẩm nghiên cứu về qua hệ tương tác giữa con người
với môi trường đã xuất hiện ở nhiều nước Đáng chú ý là cuốn "Môi trường và con
người" (Environmental and Man, New York, 1971) Cuốn sách này đã đặt nền tảng cho
môn học "Môi trường và con người" trong chương trình giảng dạy bậc đại học ở nhiều quốc gia Nôi dung sách đề cập đến nhiều khía cạnh của môi trường như tài nguyên năng lượng và môi trường; thực phẩm, nông nghiệp và môi trường, sức khoẻ và môi trường; khai thác; môi trường biển; môi trường hoá học; đánh giá và kiểm định môi trường; môi trường xây dựng; môi trường sinh học; kinh tế môi trường
Hội nghị quốc tế về môi trường lần đầu tiên được tổ chức ở Stokholm năm 1972 Năm 1973 E.F Schumacher cho ấn hành cuốn sách "Nhỏ và đẹp" (Smal and beatiful) lên
án mạnh mẽ công nghiệp hoá rầm rộ với mức tập trung cao theo lãnh thổ, nhiều xí nghiệp
to lớn và các khu công nghiệp khổng lồ, ca ngợi các xí nghiệp, doanh nghiệp nhỏ - Nhỏ
và đẹp
+ Từ thập niên 80 trở đi, vấn đề môi trường đã trở thành đã trở thành vấn đề chung của toàn cầu và ngày càng trở nên cấp bách Khoa học về môi trường phát triển với những nhóm ngành khác nhau có liên quan với nhau Có thể tạm thời phân nhóm như sau:
- Khoa học cơ bản về môi trường: Nghiên chung về môi trường và mối quan hệ
tương tác giữa con người và môi trường Trong đó con người vừa là một thự thể sinh học vừa là một con người xã hội học
- Kỹ thuật môi trường: Nghiên cứu đánh giá các tác động môi trường, các biện
pháp kỹ thuật xử lý và kiểm soát môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường
- Kinh tế môi trường: Nghiên cứu việc khai thác, sử dụng hợp lý các tài nguyên và
môi trường thiên nhiên, thiết lập các chính sách, định chế pháp luật, quản trị môi trường bằng các biện pháp kinh tế - hành chính
Sự bùng nổ khoa học kỹ thuật và sức sản xuất trên quy mô toàn cầu vào những thập niên cuối thế kỷ XX, môi trường ngày càng được nghiên cứu sâu hơn về các khía cạnh kỹ thuật học và kinh tế học Nhiều nhà kinh tế học, kỹ thuật học đã nhận ra rằng không thể giải quyết các vấn đề môi trường tách khỏi khía cạnh sinh thái học và xã hội học của con người và môi trường: Giữa kinh tế - kỹ thuật và sinh thái - xã hội có mối liên quan với nhau trong nghiên cứu hệ môi trường Đó là lý do tồn tại và phát triển một môn chung về môi trường, là cầu nối cho các môn khoa học khác về môi trường, đó là môn học "Môi trường và Con người"
b) Khoa học môi trường
Khoa học môi trường tìm những cái mới, cái đúng về thế giới tự nhiên và tác động của con người lên môi trường nhằm nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và giải quyết mối quan hệ giữa con người và môi trường trong đó con người là vị trí trung tâm
Trang 3Khoa học môi trường là môn học đa ngành, nghiên cứu các hệ thống về môi trường sống, cũng như vị trí chính xác của con người trong môi trường
Giữa khoa học môi trường và các ngành khoa học khác có môi quan hệ mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau ở các mặt để hiểu rõ hơn những đối tượng cần nghiên cứu Khoa học môi trường liên quan đến các lĩnh vực tự nhiên (toán, vật lý, sinh vật, hoá học,
kỹ thuật), xã hội - văn hoá (luật, xã hội học, chính trị, lịch sử, văn học, nghệ thuật, tôn giáo)
Các phân môn của khoa học môi trường như sinh thái học (sinh thái học môi trường; sinh thái học quần thể; thuỷ sinh học ), kinh tế học môi trường, kỹ thuật môi trường, khoa học môi trường cơ bản
2 Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ của môn học
a) Đối tượng nghiên cứu
Môi trường và con người là môn học mới ở nước ta, nằm trong trong nhóm các khoa học về môi trường như kinh tế môi trường và kỹ thuật môi trường
Nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với môi trường chính là nghiên cứu các hệ môi trường có chứa đựng các yếu tố tác động qua lại với con người (sinh học và xã hội học) Các nghiên cứu về tác động của con người đến môi trường phải được đặt trong mô hình thống nhất không thể tách rời tinh thần và thể xác, không tách rời giữa sinh thể và nhân cách Đó là công việc của nhiều ngành khoa học khác nhau, tiến hành riêng rẽ nhưng tất cả đều hướng về một mục tiêu thống nhất với mục tiêu cốt lõi là lấy con người làm trung tâm
ở Việt Nam, trong chiến lược "ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000" và văn kiện Đại hội 8 có ghi rõ "Đất nước ta đang trong thời kỳ mới, đấy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH) là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá
độ tiến lên CNXH trong đó con người ở vị trí trung tâm, vì mục tiêu và động lực chung của sự phát triển là vì con người, do con người" Mọi chương trình của Nhà nước, mọi hoạt động nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đều nhằm mục đích cuối cùng là cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp cả về vật chất lẫn tinh thần, bởi chính con người làm nên tất cả Con người làm thay đổi xã hội, phát triển xã hội Do đó con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế -xã hội
Con người là một thực thể sinh học tồn tại trong tổng thể các mối quan hệ hài hoà với nhau Về bản chất con người, con người được cấu tạo nên từ những đơn vị nhỏ nhất các tế bào sống Các tổ chức, cơ quan, bộ máy của cơ thể đảm nhiệm những chức năng nhất định đảm bảo sự sống của con người Từ khi sinh ra, tăng trưởng, phát triển, già đi, con người luôn tồn tại trong môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, chịu tác động từ nhiều phía, trong các mối quan hệ chằng chịt luôn tác động lẫn nhau
Môi trường xã hội là môi trường giữa con người và con người, trong đó con người
có thể với tư cách là cá thể (khi đại diện cho loài người, là cá thể của một loài sinh học) hoặc tư cách là cá nhân (khi là thành viên xã hội, là cá nhân trong một công đồng, một tổ chức) hoặc nhân cách (khi đóng vai trò chủ thể của xã hội)
Các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, cộng đồng với cộng đồng theo huyết thống, sắc tộc, tôn giáo, xã hội, các vấn đề truyền thống, bản sắc
Trang 4dân tộc, đạo đức, lối sống đều là những yếu tố xã hội Yếu tố xã hội luôn tác động phức hợp lên con người
Với bản chất di truyền nhất định, con người phát triển và tồn tại với tư cách cá nhân hay cộng đồng trong mối liên hệ chặt chẽ với môi trường bằng những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực khác nhau Mức độ ảnh hưởng đó đến con người ngày nay khác hẳn với sinh vật, phụ thuộc và nhận thức và hành động của con người đối với môi trường
Thành phần môi trường sống của con người bao gồm:
- Các yếu tố vật chất tự nhiên: có sẵn trên bề mặt trái đất bao gồm sinh vật và con
người, cảnh quan thiên nhiện các hiện tượng và quá trình chuyển hoá trong thiên nhiên: Bão tố, phong hoá, động đất, quang hợp
- Các yếu tố vật chất nhân tạo: các sản phẩm vật chất, của cải vật chất, công trình
xây dựng do con người làm ra, kể cả các cảnh quan nhân tạo
- Các hình thái xã hội: với các mối quan hệ trong cộng đồng người, sức lao đông
sáng tạo với những giá trị tinh thần, tư tưởng, trí tuệ có tác động tới môi trường
Môi trường tự nhiên là cơ sở cho sự sinh tồn và phát triển của loài người Môi trường không những là nơi cư trú, mà còn là nơi cung cấp cho con người toàn bộ vật chất
để sinh sống và phát triển xã hội, trong lúc tác động của con người ngày càng tăng Khi xem thế giới như là một sinh quyển mà tất cả sự sống đều phụ thuộc vào nó thì ta phải xem xét các dạng tác động mà con người gây lên các chức năng khác nhau của sinh quyển Chính sách phân bố dân cư và sử dụng đất đai của loài người đã làm biến đổi sinh quyển trong nhiều mặt và đã gây nên những thay đổi lâu dài về chất lượng môi trường, một thay đổi theo hướng có lợi, số khác lại gây hại cho chính con người
Do vậy đối tượng nghiên cứu của khoa học môi trường bao gồm: Các yếu tố tự nhiên và yếu tố nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống, sự sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên; cũng như nghiên cứu các tác động của con người đến môi trường
b) Nhiệm vụ của môn học
Môn học "Môi trường và con người" là môn học nghiên cứu các điều kiện ngoại
cảnh trong đó sinh vật đang sinh trưởng và phát triển nhằm: Cung cấp các kiến thức cơ bản về sinh thái học và khoa học môi trường; những tri thức khoa học cần thiết để có thái
độ đúng đắn về trong nhận thức các mối quan hệ hữu cơ giữa nhu cầu của con người với việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Ngoài ra môn học còn nhằm mục tiêu giáo dục con người có ý thức trong việc bảo
vệ môi trường, chống lại nạn gây ô nhiễm, góp phần cùng với chiến lược bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở nước ta, cụ thể:
- Đánh giá thực trạng môi trường toàn cầu và Việt Nam trong giai đoạn hiện nay với những giải pháp đã, đang và sẽ được áp dụng để bảo vệ môi trường, quản lý môi trường, cải thiện mối quan hệ hữu cơ giữa con người và môi trường
- Cung cấp kiến thức cơ bản trong việc nhận thức các mối quan hệ hữu cơ giữa nhu cầu phát triển của loài người với việc khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Trang bị kiến thức cơ bản nhằm định hướng nghiên cứu cho sinh viên nghiên cứu các môn học khác về môi trường ở những giai đoạn sau
- Nâng cao nhận thức cho sinh viên về các vấn đề môi trường trong nước và trên thế giới, trang bị cho sinh viên những kỹ năng và khả năng hành động cụ thể về môi trường