Tuy nhiên, sau 10 năm xây dựng và phát triển các KCN trên địa bàn Hà Nội, bên cạnh những thành tựu cũng đã bộc lộ cả những mặt hạn chế về: môi trường đầu tư trong các KCN, công tác quy h
Trang 1Chương 5 Tính hấp dẫn trong thu hút đầu tư của các khu công nghiệp Hà Nội
tỷ USD (chiếm 36% tổng FDI của cả nước) và 2.314 dự án đầu tư trong nước, với tổng số vốn đăng ký 137 nghìn tỷ đồng (Trần Ngọc Hưng, 2006), chưa kể 1.059 triệu USD và 31.300 tỷ đồng vốn đầu tư vào cơ sở hạ tầng các KCN Trong năm 2005, giá trị sản xuất trong các KCN đạt 14 tỷ USD, chiếm 28% sản xuất công nghiệp cả nước; 6 tỷ USD giá trị xuất khẩu, chiếm 18,6% giá trị xuất khẩu cả nước và tạo việc làm cho 740.000 lao động (Lê Xuân Trinh, 2006) Tốc độ tăng trưởng về giá trị sản xuất công nghiệp tại các KCN rất nhanh, bình quân giai đoạn 1995-2000 là 33,2% và giai đoạn 2001-2005
là 32%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng tổng sản lượng công nghiệp Với các kết quả đạt được, các KCN đã có đóng góp to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việt Nam, đưa đất nước hội nhập nhanh và có hiệu quả với nền kinh tế khu vực và thế giới Hiện nay, việc thành lập và phát triển các KCN đang là mục tiêu của hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước
Đến cuối năm 2005, trên địa bàn thành phố Hà Nội có 6 KCN với tổng diện tích 974,64 ha Trong đó có 3 KCN đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng và đi vào hoạt động Tại thời điểm này, các KCN Hà Nội đã thu hút được 105 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 1,254 tỷ USD và trên 120 tỷ VND và đã cho thuê trên 400 ha đất công nghiệp Bên cạnh đó, Hà Nội còn có 18 cụm công nghiệp (một dạng KCN có qui mô nhỏ được đặt dưới sự quản lý của chính quyền địa phương) được thành lập, nhưng mới có 9 CCN đi vào hoạt động
Trang 2với tổng diện tích gần 90 ha Tuy nhiên, sau 10 năm xây dựng và phát triển các KCN trên địa bàn Hà Nội, bên cạnh những thành tựu cũng đã bộc lộ cả những mặt hạn chế về: môi trường đầu tư trong các KCN, công tác quy hoạch phát triển KCN, CNN; địa điểm, quy mô KCN; mô hình quản lý; vấn đề quản
lý sau đầu tư, và đặc biệt là vấn đề tạo quĩ đất cho việc mở rộng và phát triển các KCN
Phần trình bày tiếp ngay sau đây sẽ đi vào xem xét thực trạng các KCN và CCN của Hà Nội Phần 2 sẽ đánh giá tính hấp dẫn các KCN Hà Nội so với các địa phương khác của Việt Nam Và cuối cùng, phần 3 sẽ đưa ra một số khuyến nghị chính sách Tất cả các thông tin và số liệu đều được tính đến thời điểm hết năm 2005, trừ một số trường hợp cá biệt sẽ có chú thích đi kèm
1 Thực trạng các khu, cụm công nghiệp Hà Nội
Các khu công nghiệp
Trên địa bàn thành phố có 6 KCN được cấp giấy phép hoạt động theo qui chế KCN, KCX, KCNC ban hành kèm theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ, bao gồm: KCN Sài Đồng B, KCN Nội Bài, KCN Thăng Long, KCN Hà Nội – Đài Tư, KCN Sài Đồng A (Daewoo – Hanel) và KCN Nam Thăng Long Các KCN này được mô tả vắn tắt như sau:
a KCN Sài Đồng B:
Chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật là công ty Điện tử Hanel, bằng nguồn vốn trong nước KCN có vị trí nằm trên trục đường QL 5, thuộc địa bàn quận Long Biên, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km, tổng diện tích 97 ha, trong đó đất xây dựng KCN là 79 ha Hiện nay, trong KCN có 24 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký là 397,5 triệu USD và 121,5 tỷ đồng, đạt tỷ lệ lấp đầy là 100% giai đoạn 1 Hiện chủ đầu tư đang đẩy nhanh việc chuẩn bị các thủ tục cần thiết để thực hiện phần diện tích còn lại khoảng 18 ha (giai đoạn 2) Chúng ta xem Bảng 1 dưới đây để rõ hơn thực trạng này:
Trang 3c KCN Thăng Long
Là liên doanh giữa tập đoàn Sumitomo (Nhật Bản) và công ty Cơ khí Đông Anh KCN có tổng diện tích là 121 ha, nằm trên tuyến đường cao tốc từ trung tâm Hà Nội đi Sân Bay Nội Bài thuộc địa bàn huyện Đông Anh, cách trung tâm thành phố khoảng 15 km Đến 31 tháng 12 năm 2005, KCN có 51 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký là 728,4 triệu USD, đạt tỷ lệ lấy đầy là 100% giai đoạn 1 và 80% giai đoạn 2 Hiện chủ đầu tư đang lên kế hoạch để triển khai thực hiện giai đoạn 3 của KCN và xin thành lập thêm 1 KCN nữa tại Hà Nội
Trang 4Bản đồ 1: Phân bố các KCN Hà Nội
Nguồn: Tác giả
Trang 5d KCN Hà Nội - Đài Tư
KCN được thành lập theo giấy phép đầu tư số 1385/GP ngày 13/8/1995 của
Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (nay thuộc Bộ KHĐT), với tổng diện tích là 40 ha tại quận Long Biên, cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km, chủ đầu tư cơ sở hạ tầng KCN này là Công ty Cổ phần hữu hạn phát triển Hà Nội
- Đài Tư (100% vốn Đài Loan) với số vốn đăng ký là 12 triệu USD Do vậy, mục tiêu ban đầu của KCN Hà Nội - Đài Tư là thu hút các nhà đầu tư Đài Loan Tuy nhiên, đến nay chỉ thu hút được bốn doanh nghiệp Đài Loan nhưng chưa có dự án nào được triển khai Sau nhiều năm không hoạt động và nhiều lần bị UBND thành phố và Bộ KHĐT đề nghị Thủ tướng Chính phủ rút giấy phép đầu tư do không chịu đi vào sản xuất, đến nay chủ đầu tư đã ký hợp đồng thuê công ty Nam Đức (Việt Nam) giúp đỡ trong việc xúc tiến đầu
tư và triển khai thực hiện dự án Theo báo cáo, Công ty đang hoàn thiện các thủ tục pháp lý và lên kế hoạch để kêu gọi các nhà đầu tư vào thuê đất trong KCN
e KCN Nam Thăng Long
Với diện tích 119.53 ha, có vị trí khá thuận lợi, gần trung tâm thành phố Hiện nay, KCN đang trong giai đoạn hoàn thiện cơ sở hạ tầng và mới chỉ thu hút 4 dự án đầu tư đang trong giai đoạn triển khai với diện tích 3 ha và chiếm gần 10% diện tích của giai đoạn 1 Do hiện tại vẫn còn nhiều vướng mắc và chưa thống nhất giữa các cơ quan Trung ương và thành phố về chủ trương thu hút đầu tư vào KCN
f KCN Sài Đồng A
Dự án xây dựng tổng hợp Công nghiệp – Đô thị Sài Đồng A được nhà nước Việt Nam cấp giấy phép đầu tư số 1595/GP ngày 17 tháng 6 năm 1996 với chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là liên doanh giữa tập đoàn Daewoo Hàn Quốc và công ty Điện tử Hà Nội (Hanel) Tổng diện tích KCN là 407 ha được qui hoạch làm 3 chức năng: KCN 197 ha; khu nhà ở 100 ha và 110 ha làm công viên, vườn hoa Tuy nhiên, sau 9 năm chủ đầu tư mới cắm mốc giới trên thực địa, đất sản xuất bị bỏ hoang gây bức xúc lớn trong các doanh nghiệp và người dân Thủ đô Cuối cùng, ngày 20/6/2006, Bộ KHĐT đã ra quyết định số 608/QĐ-BKH chấm dứt hoạt động của Công ty liên doanh
Trang 6Daewoo-Hanel tại dự án KCN Sài Đồng A và rất có thể khu đất này sẽ được chuyển mục đích sang xây dựng khu đô thị
Như vậy có thể thấy, trong số 6 KCN Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì chỉ có 3 KCN đầu tiên (theo thứ tự a, b, c) đã đi vào hoạt động
và hầu hết đều đã lấp đầy hoặc gần lấp đầy, và đang xem xét mở rộng Hai KCN tiếp theo đang trong giai đoạn chuẩn bị thu hút đầu tư và KCN cuối cùng đã bị rút giấy phép và chuyển mục đích sử dụng sang lĩnh vực khác
Bảng 1: Các khu công nghiệp Hà Nội
TT Khu công
nghiệp
Diện tích (ha)
Số
dự án đầu tư
Vốn đầu tư
Tỷ lệ lấp đầy
1 Sài Đồng B 97,11 24 397,5 tr USD
120,5 tỷ VND
100% g/đoạn 1
2 Nội Bài 100,00 23 122,0 tr USD 100% g/đoạn 1
3 Thăng Long 198,00 51 728,4 tr USD 100% g/đoạn 1
Nguồn: BQL KCN và Chế xuất Hà Nội (2006)
Hình 1 dưới đây cũng cho thấy, đến cuối năm 2005, tỷ lệ lấp đầy của các KCN Hà Nội chỉ đạt 40%, thấp hơn rất nhiều các địa phương khác trong cả nước, như: Tp HCM (80%), Bắc Ninh (60%), Đà Nẵng (56%), Bình Dương (50%), và BR-VT (45%) Kết quả này là do ở thời điểm nghiên cứu có đến 3/6 KCN chưa thực sự đi vào hoạt động, như đã nêu ở trên Trong khi nếu xét các KCN đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng và đi vào hoạt động, Hà Nội lại có tỷ lệ cao Tuy nhiên, cũng có thể dễ dàng nhận thấy qui mô KCN của Hà Nội là khá nhỏ so với các địa phương khác trong cả nước, đặc biệt là các địa phương phía Nam
Trang 7Hình 1: Diện tích các KCN Hà Nội và một số địa phương trong cả nước
Nguồn: Điều tra của VDF, 2005
Với 105 dự án ĐTNN và 1,25 tỷ USD vốn đầu tư, các KCN Hà Nội đã chiếm khoảng 40% về số dự án ĐTNN và 60% vốn đầu tư toàn vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (gồm Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên, Hải Dương,
Hà Tây, Bắc Ninh, và Vĩnh Phúc); tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện so với tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong các KCN Hà Nội đạt trên 50% Trong năm
2005, các doanh nghiệp trong 3 KCN đang hoạt động ở Hà Nội đã tạo ra giá trị sản xuất trên 1.203 triệu USD Trong đó giá trị xuất khẩu đạt trên 834 triệu USD và đóng góp cho ngân sách nhà nước 25,5 triệu USD, tạo việc làm cho trên 27.000 lao động Điều đáng khích lệ là các KCN Hà Nội tuy chỉ chiếm 14,8% tổng số dự án và 13,5% tổng vốn đăng ký của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN trên địa bàn nhưng lại chiếm tới 43% tổng doanh thu, 88% kim ngạch xuất khẩu và 35% việc làm (BQL các KCN và chế xuất Hà Nội, 2005) Tốc độ tăng xuất khẩu của các doanh nghiệp trong các KCN Hà Nội bình quân giai đoạn 2001-2005 là 64%/năm, cao hơn rất nhiều tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu chung của Hà Nội Suất đầu tư bình quân mỗi dự án là 9,7 triệu USD, cao hơn mức bình quân của cả nước Điều này cho thấy tiềm năng phát triển và vai trò của quan trọng của các KCN Hà Nội
Trang 8Nhiều doanh nghiệp ĐTNN trong các KCN Hà Nội có lượng vốn đầu tư lớn, công nghệ sản xuất hiện đại Trong số 11 doanh nghiệp được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao có 2 doanh nghiệp ở Hà Nội là Công ty TNHH đèn hình Orion Hanel (KCN Sài Đồng B) và công ty TNHH Canon Việt Nam (KCN Bắc Thăng Long), tổng vốn đầu tư của cả 2 doanh nghiệp này đã lên tới gần 400 triệu USD
Các cụm công nghiệp Hà Nội
Những điểm khác biệt cơ bản giữa KCN và CCN đó là: Trong khi các KCN được Thủ tướng Chính phủ thành lập và hoạt động theo Nghị định 36/CP với qui hoạch của cả nước, thì các CCN do UBND cấp tỉnh hoặc huyện thành lập, thậm chí được thành lập tự phát Hoạt động và quản lý của các CCN cũng không thuộc diện điều tiết của Nghị định 36/CP hay một khung pháp lý thống nhất nào nên một số tỉnh có qui hoạch phát triển các CNN nhưng nhiều tỉnh không có Trong khi các KCN thường có qui mô lớn hơn, với diện tích bình quân là 187 ha và có tường rào phân cách, thì các CNN có qui mô nhỏ hơn, với diện tích khoảng 100 ha hoặc ít hơn và tường rào phân cách cũng có thể có hoặc không Cơ quan quản lý các KCN là BQL các KCN và chế xuất địa phương, các KCN hoạt động dưới sự điều hành trực tiếp của các công ty phát triển hạ tầng KCN là các doanh nghiệp độc lập hoặc đơn vị hành chính
có thu, hạ tầng được trang bị hoàn chỉnh bao gồm các hệ thống: đường xá, điện, nước, cây xanh và xử lý chất thải Quản lý các CNN có thể là BQL các KCN và chế xuất địa phương hoặc sở KHĐT hoặc sở Công nghiệp hoặc UBND cấp huyện hoặc không có cơ quan quản lý Điều hành hoạt động CNN
là các công ty phát triển hạ tầng hoặc có thể không do ai quản lý, các tiêu chí
về cơ sở hạ tầng cũng không có những yêu cầu cụ thể
Trước tình hình các doanh nghiệp gặp khó khăn về mặt bằng sản xuất, đặc biệt
là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngày 15/10/1998 Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý để Hà Nội xây dựng thí điểm hai CCN Phú Thị và Vĩnh Tuy để di chuyển dần một số nhà máy, xí nghiệp trong nội thành ra ngoại thành, cho phép UBND Thành phố phê duyệt dự án đầu tư sau khi có ý kiến thỏa thuận của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Xây dựng Đến hết năm 2005, trên địa bàn Hà Nội
đã hình thành 18 dự án đầu tư xây dựng CCN vừa và nhỏ, trong đó 9 CCN đã
đi vào hoạt động với diện tích xây dựng gần 176 ha, với diện tích đất đã cho thuê là gần 90 ha Đã có 177 doanh nghiệp đầu tư vào các CCN với số vốn đăng ký là 3.256 tỷ đồng Theo BQL KCN và chế xuất Hà Nội, các lĩnh vực
Trang 9đầu tư chính trong các KCN là: Điện – Điện tử, công nghệ thông tin, cơ kim
khí, dệt may – da giầy, chế biến thực phẩm, với mức đầu tư bình quân một
doanh nghiệp khoảng 5 – 6 tỷ đồng và thu hút 5.400 lao động Trong năm 2005
doanh thu của các doanh nghiệp trong các CNN Hà Nội đạt khoảng 1.202 tỷ
đồng và đóng góp vào ngân sách 52 tỷ đồng (BQL KCN và chế xuất Hà Nội,
2006) Dự kiến đến năm 2008, toàn bộ 18 dự án CCN sẽ đi vào hoạt động
Bảng 2: Các cụm công nghiệp Hà Nội
(Chỉ tính các CNN đang hoạt động và hoạt thiện cơ sở hạ tầng, tính đến 31/12/2005)
Tình hình thu hút đầu tư
TT Cụm công nghiệp
Diện tích xây dựng (ha)
Số doanh nghiệp
Diện tích (m 2 )
Vốn đăng ký (tỷ VND)
Tỷ lệ lấp đầy (%)
1 KCN tập trung vừa và nhỏ Vĩnh Tuy 12,12 18 82.682 114,65 100
5 CCN vừa và nhỏ Đông Anh (GĐ1) 18,00 9 110.310 238,80 100
6 CCN vừa và nhỏ Hai Bà Trưng 9,03 33 39.999 260,00 100
7 CCN Ngọc Hồi (GĐ 1) 56,00 28 292.832 987,78 100
8 CCN thực phẩm Hapro 31,18 5 55.567 57,10 29.25
Tổng số 175,95 177 899.790 3.256,08
Nguồn: BQL các KCN và Chế xuất Hà Nội (2006)
Các CCN Hà Nội thường có quy mô nhỏ, diện tích từ 5 đến 50 ha Với đặc
điểm như vậy, các CCN ở Hà Nội chịu sự quản lý hoàn toàn của UBND
Thành phố qua Sở Kế hoạch và Đầu tư; BQL các KCN và chế xuất Hà Nội
và các sở, ngành liên quan; thậm chí chịu cả sự quản lý của BQL dự án Khu
Trang 10– CCN cấp quận, huyện nơi có CCN Do đặc điểm này, các doanh nghiệp hoạt động trong các CCN cũng chịu sự quản lý của rất nhiều sở, ngành; ngược lại so với qui chế “một cửa – tại chỗ” đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN theo nghị định 36/CP
Chủ đầu tư hạ tầng của các CCN ở Hà Nội hiện nay rất phức tạp, với 4 hình thức khác nhau, cụ thể như sau:
• CCN trực thuộc BQL CCN quận, huyện (do Thành phố thành lập)
nơi có CCN
• CCN do BQL dự án quận, huyện làm chủ đầu tư toàn bộ dự án, xây
dựng hạ tầng kỹ thuật cả trong và ngoài hàng rào đồng thời quản lý luôn cả CCN
• Thành phố giao đất cho BQL dự án quận, huyện xây dựng hạ tầng
ngoài hàng rào, đất trong hàng rào do doanh nghiệp phát triển hạ
tầng xây dựng
• Nếu doanh nghiệp nhà nước đang quản lý đất đã được chuyển mục
đích sử dụng đất sang đất công nghiệp thì doanh nghiệp đó được Thành phố giao làm chủ đầu tư dự án xây dựng hạ tầng CCN bằng nguồn vốn huy động của các doanh nghiệp vào thuê đất và vốn ngân sách
Tuy nhiên, việc vận hành hoạt động của các CCN theo 2 mô hình đầu đã xuất hiện nhiều bất cập do các BQL dự án trực tiếp quản lý các CCN cũng là đơn
vị hành chính nên chưa được kinh doanh các dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp và người lao động làm việc trong CCN, trách nhiệm của BQL đối với việc phục vụ cho nhà đầu tư, người đã đóng góp kinh phí cho xây dựng CCN chưa cao
Một số tồn tại, hạn chế của các KCN, CCN Hà Nội
Sự phát triển của các KCN, CCN dẫn đến một số tác động tiêu cực sau đây:
Thứ nhất, hiện tượng di dân tự do ảnh hưởng tới an ninh, trật tự xã hội của thành phố Hiện nay các KCN và CCN Hà Nội đã thu hút hơn 32.000 lao động, phần nhiều trong số này là lao động ngoại tỉnh, chủ yếu là các tỉnh phía Bắc như Hải Dương, Nam Định, Thái Bình và một số từ các tỉnh miền Trung
Họ là lao động đến Hà Nội theo hình thức tự do hoặc theo sự giới thiệu của
Trang 11một số công ty lao động tư nhân thành lập mang tính tự phát Đa số người lao động có trình độ thấp, thuê nhà ở của dân địa phương Ngoài ra, một số tội phạm cũng tham gia vào lực lượng này làm cho tình hình an ninh, trật tự xã hội thêm phức tạp, khó quản lý Việc người lao động di cư một cách ồ ạt cũng dẫn đến các nhiều tác động không mong muốn như sự quá tải về hạ tầng
xã hội như trường học, bệnh viện, đường xá… cũng như các dịch vụ cho người lao động và gia đình họ tại địa phương nơi có KCN
Thứ hai, sự phát triển nhanh chóng các KCN, CNN dẫn tới ô nhiễm môi trường Việc thiếu vốn đầu tư cộng với việc tiết kiệm chi phí đầu tư cho bảo
vệ môi trường, thêm vào đó là sự quản lý thiếu chặt chẽ, nên nhiều chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đã bỏ qua các biện pháp bảo vệ môi trường Trong số các KCN Hà Nội hiện nay, ngoài KCN Thăng Long có hệ thống xử lý nước thải riêng, các KCN còn lại đều chưa có Đối với các CCN, tình trạng này còn đáng lo ngại hơn Công tác xử lý nước nước thải, chất thải của các CCN gần như không được quan tâm đúng mức Nhiều CCN nằm xen kẽ với các khu dân cư đông đúc gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường xung quanh
Bên cạnh các vấn đề kể trên, công tác quản lý hoạt động của các KCN, CNN cũng bộc lộ nhiều yếu kém, cụ thể là:
• Chất lượng qui hoạch các KCN chưa cao, thiếu sự liên kết trong phát triển KCN trong Thành phố và các tỉnh lân cận dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh trong thu hút vốn đầu tư vào KCN
• Tiến trình đền bù giải toả đất công nghiệp còn chậm
• Cơ sở hạ tầng KCN phát triển thiếu đồng bộ, hạ tầng các CCN chất lượng còn thấp
• Tình trạng thiếu đất cho phát triển KCN ở Hà Nội đang ngày càng thể hiện rõ nét Đến thời điểm hiện tại, mặc dù hầu hết diện tích các KCN, CCN đi vào hoạt động đều đã được lấp đầy và hiệu quả các KCN đã rõ, nhưng do quĩ đất cho phát triển KCN, CNN bị giới hạn nên rất khó có thể phát triển thêm
• Tiến độ xây dựng CCN còn chậm do năng lực của BQL dự án còn yếu, chưa phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các cơ chế, chính sách hỗ trợ của thành phố chưa được thể chế hóa
• Việc xét duyệt và đôn đốc các doanh nghiệp vào KCN triển khai chậm
Trang 12• Quản lý xây dựng trong các CCN chưa tốt, nhiều doanh nghiệp tự ý xây dựng khác hẳn so với bản thiết kế được cho phép của cơ quan quản lý
2 Sự hấp dẫn của các KCN Hà Nội trong mối liên
hệ với các địa phương khác của Việt Nam
Phần này phân tích tính hấp dẫn của các KCN Hà Nội dựa trên đánh giá của các nhà đầu tư đang hoạt động trong KCN Các tiêu chí được sử dụng để đánh giá (được tóm tắt trong Hình 2 dưới đây) dựa trên các tiêu chí đánh giá của “Báo cáo Tính hấp dẫn về Môi trường Đầu tư theo Vùng” của Indonesia với sự tài trợ của USAID và Quĩ Châu Á (Asia Foundation) năm 200533 Điều tra của VDF được thực hiện với qui mô nhỏ trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2005 trên phạm vi 11 tỉnh, thành phố34 Đối tượng điều tra, phỏng vấn là lãnh đạo các BQL KCN và chế xuất địa phương, các công ty phát triển hạ tầng KCN và các doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp, bao gồm: Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, và trưởng phòng kinh doanh Các phiếu điều tra được gửi cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong các KCN theo mẫu câu hỏi có sẵn với nội dung đề nghị đánh giá mức độ thỏa mãn của doanh nghiệp về các điều kiện hạ tầng và môi trường đầu tư trong KCN Kết quả trả lời được cho theo thang điểm từ 1 (rất tồi) đến 5 (rất tốt) Phiếu điều tra cũng bao gồm các câu hỏi về: giá thuê đất, phí hạ tầng KCN, các chi phí về tài chính, thời gian vận chuyển hàng hóa đến cảng hàng không và cảng biển Các kết quả điều tra thường được thực hiện cùng với các cuộc phỏng vấn sâu với hầu hết các tổ chức và doanh nghiệp Các kết quả chính được đưa ra bao gồm:
33 Dự án được tiến hành hàng năm, đánh giá tính hấp dẫn đầu tư của 228 vùng và thành phố của Indonesia kể từ năm 2001 Điều tra chủ yếu dựa trên quan điểm về nhận thức của doanh nghiệp
34 Các tỉnh, thành phố điều tra bao gồm (các số ghi trong ngoặc đơn tương ứng thể hiện số lượng các Ban QL KCN và chế xuất địa phương, số công ty phát triển hạ tầng KCN, và số doanh nghiệp hoạt động trong các KCN địa phương đã được điều tra): Hà Nội (1,2,8), Hải Phòng (1,0,0), Hải Dương (1,2,3), Bắc Ninh (1,0,3), Hưng Yên (1,1,3), Thái Bình (1,0,0), Đà Nẵng (1,1,1), BR-VT (1,1,2), Tp HCM (1,0,1), Đồng Nai (0,0,3), Bình Dương (1,0,3) Tổng số đối tượng điều tra là 44
Trang 13Hình 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của KCN
Thuế và các ưu đãi khác của chính quyền địa phương
Thái độ của công chức địa phương
Cung cấp điện Cấp nước
Cơ sở hạ tầng trong KCN
Khả năng xử lý nước, rác thải
Giá thuê đất
Quyết định chọn địa điểm của nhà đầu
lao động qua đào tạo
Giá nhân công
Chất lượng dịch vụ bên
ngoài KCN
Tính hấp dẫn của KCN
Trang 14Bảng 3: Giá thuê đất tại các KCN Hà Nội
1 KCN Sài Đồng B (Còn 40 năm) Diện tích thuê đất
(m 2 )
Trả 1 năm
1 lần (USD/m 2 /năm)
Trả 5 năm 1 lần (USD/m 2 /năm)
Trả 1 lần cho suốt thời gian dự án (USD/m 2 )
2 KCN Nội Bài (còn 39 năm)
Trả 2 lần trong 30 năm 50 USD: 30 năm = 1.66 USD/m 2 /năm
3 KCN Thăng Long (Còn 41 năm)
Trả 1 lần trong 47 năm 75 USD: 47 năm = 1.60 USD/m 2 /năm
4 KCN Đài Tư (còn 39 năm)
Trả 1 lần cho 39 năm 78 USD: 39 năm = 2
USD/m 2 /năm
5 KCN Nam Thăng Long
Do còn nhiều vấn đề phát sinh nên chưa quyết định giá
Nguồn: BQL các KCN và chế xuất Hà Nội (2003); số liệu KCN Đài Tư do VDF điều tra
(2005)
Do có khá nhiều mức giá khác nhau với mỗi KCN, nên nếu tính riêng giá
thuê đất có thể lấy mức trung bình cho Hà Nội là 1,5 USD/m2/năm So với
các tỉnh khác, không chỉ giá thuê đất mà phí hạ tầng các doanh nghiệp phải
trả hàng năm tại các KCN của Hà Nội là khá cao (hình 3) Giá thuê đất của
Hà Nội chỉ đứng thứ 2, chỉ sau Tp HCM (1,85 USD) và cao hơn tất cả các
Trang 15tỉnh, thành phố còn lại, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc, cá biệt như giá thuê đất
ở các KCN Thái Bình chỉ có 0,13 USD/m2/năm
Một số KCN đưa ra mức giá triết khấu cho các doanh nghiệp thuê diện tích lớn, nghĩa là các doanh nghiệp thuê diện tích đất càng lớn thì giá thuê đất/m2
sẽ càng nhỏ Điều này là phù hợp với mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng hạ tầng KCN nhưng là không hiệu quả xét trên phương diện xã hội
vì nó khuyến khích các doanh nghiệp thuê những miếng đất lớn không cần thiết để được hưởng giá thuê thấp hơn, làm cho việc sử dụng đất thiếu hiệu quả, lãng phí
Hình 3: Giá thuê đất bình quân các KCN Hà Nội và một số địa phương
Trang 16sân bay quốc tế duy nhất Do vậy với các nhà đầu tư thì Hà Nội và các địa phương lân cận là sự chọn thông minh giúp họ giảm thời gian và chi phí vận chuyển bằng hàng không Điều đáng lưu ý là hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp lớn trong nước đều tham gia hoạt động xuất nhập khẩu bằng đường hàng không: Từ các ngành sản xuất có hàm lượng công nghệ cao như: Điện tử, tin học đến những ngành sản xuất có tính thời vụ như may mặc, giầy dép… Ông Tổng giám đốc KCN Thăng Long còn khẳng định rằng hầu hết các hoạt động vận tải của các doanh nghiệp trong KCN này là bằng đường không, bao gồm cả việc mua nguyên vật liệu và bán hàng hóa Một điển hình khác là một lãnh đạo của một công ty may (100% vốn Trung Quốc chuyên sản xuất áo vét và các loại quần áo khác cho thị trường Hoa Kỳ
và EU) ở Nam Sách, Hải Dương cũng cho biết tất cả các sản phẩm của họ đều được vận chuyển bằng đường hàng không qua sân bay quốc tế Nội Bài
Do vậy, có thể khẳng định khả năng tiếp cận cảng hàng không là một lợi thế quan trọng của Hà Nội, Tp HCM, và kém lợi thế hơn một chút là Đà Nẵng
Từ Hà Nội, thời gian vận chuyển bình quân cho 1 container 20 feet đến cảng biển Đình Vũ, Hải Phòng (khoảng 120 km) là 150 phút; tới cảng Cái Lân, tỉnh Quảng Ninh (khoảng 170 km) là 270 phút Trên thực tế, thời gian và khoảng cách vận chuyển hàng hóa phụ thuộc vào vị trí cụ thể của nhà máy, thời điểm vận chuyển trong ngày, và cả điều kiện về chất lượng đường xá Trong điều tra của chúng tôi, các nhà đầu tư hoạt động trong các KCN Hà Nội cho biết thời gian bình quân và khoảng cách đến cảng Hải Phòng từ các KCN như sau: KCN Sài Đồng B: 120 phút/100 km; Thăng Long: 150 phút/120 km; và Nội Bài: 180 phút/130 km Rõ ràng xét khả năng vận chuyển đường biển có thể thấy Hà Nội không hề có lợi thế so với các tỉnh nằm dọc theo quốc lộ 5, đường 18 ở phía Bắc, hay các tỉnh, thành phố nằm trong khu vực kinh tế năng động phía Nam
Trang 17Bản đồ 2: Vị trí các KCN Hà Nội và hướng đi đến cảng Đình Vũ
Nguồn: Tác giả
Trang 18Chất lượng các dịch vụ
Điều tra của VDF với các doanh nghiệp hoạt động trong các KCN của Hà Nội và các địa phương trong cả nước về mức độ thỏa mãn của doanh nghiệp với các dịch vụ và các điều kiện hoạt động trong KCN Kết quả được đánh giá thể hiện sự hài lòng của các doanh nghiệp với các tiêu chí cụ thể, được tính theo thang điểm từ 1 đến 5, với mức ý nghĩa: 1= Rất kém; 2 = kém; 3 = trung bình; 4 = khá; 5 = rất tốt Như vậy, với điểm số càng cao, chứng tỏ mức
độ thỏa mãn của doanh nghiệp với chất lượng dịch vụ mà KCN cung cấp càng cao, và ngược lại Phương pháp này cũng được sử dụng để điều tra với các đối tượng điều tra khác Kết quả điều tra được thể hiện trong Bảng 4 dưới đây Các chỉ tiêu cụ thể về hạ tầng trong các KCN Hà Nội so với các địa phương khác được mô tả trong Hình 4 và 5
Bảng 4: Các điều kiện sản xuất và dịch vụ hạ tầng
theo đánh giá của các doanh nghiệp
6 Khả năng tuyển dụng lao
7 Giá nhân công 3.63 3.67 5.00 3.22 3.56
8 Khả năng của các ngành
công nghiệp phụ trợ 2.50 3.00 3.00 2.78 2.78
9 Thuế và các ưu đãi khác của
chính quyền địa phương 3.25 4.11 5.00 3.44 3.67
10 Thái độ của công chức địa phương 3.25 3.78 4.00 3.67 3.59
Nguồn: Kết quả điều tra của VDF, 2005
Trang 19Theo kết quả điều tra, đánh giá của các nhà đầu tư về các điều kiện dịch vụ
hạ tầng có thể tóm tắt như sau:
Về chất lượng điện, thật đáng ngạc nhiên khi các doanh nghiệp đánh giá chất lượng cung cấp điện trong các KCN Hà Nội chỉ đạt 3,25 điểm, thấp hơn nhiều so với mức chung bình của các tỉnh còn lại phía Bắc là 4,0 điểm, phía Nam là 3,56 và thậm chí mức bình quân của cả nước là 3,59 Trong điều tra này, Hà Nội được đánh giá trên Đồng Nai, Đà Nẵng, nhưng thấp hơn tất cả các tỉnh/thành phố còn lại Điều này có thể lý giải một phần là do thời điểm điều tra một số doanh nghiệp phía Bắc (tháng 8/2005) trùng vào thời điểm có
sự thiếu hụt lớn về cấp điện ở phía Bắc do nhà máy Thủy điện Hòa Bình bị thiếu nước để hoạt động Thậm chí, trong lúc đang phỏng vấn Tổng giám đốc một doanh nghiệp Nhật Bản tại KCN Nội Bài thì tự nhiên bị cắt điện, ông
Tổng giám đốc này đã phải thốt lên rằng “Lại tắt điện nữa rồi, cấp điện ở Hà Nội kém quá” Xét tương quan về khả năng đảm bảo cung cấp điện quốc gia
hiện nay, các tỉnh phía Nam là tốt hơn so với phía Bắc Nếu có biến động về thời tiết, tình huống của năm 2005 sẽ lặp lại và không thể giải quyết trong tương lai gần
Ngược lại với điện, chất lượng cấp nước trong các KCN Hà Nội được đánh giá khá cao, với mức 4,0 điểm, tương đương với Hưng Yên, và cao nhất so với các địa phương còn lại Kết quả này ở các tỉnh phía Bắc còn lại là 3,44, phía Nam 3,33 và tính chung cả nước là 3,48
Chất lượng các dịch vụ xử lý nước thải, chất thải của các KCN Hà Nội cũng được đánh giá tốt, đạt mức bình quân 3,88 điểm, trong khi kết quả này ở khu vực phía Bắc là 3,67 và cả nước nói chung là 3,59 điểm Xét về tiêu chí này,
Hà Nội chỉ đứng sau Hải Dương, Đà Nẵng nhưng tốt hơn các tỉnh còn lại
Trang 20Hình 4: Chất lượng cung cấp điện, nước và xử lý nước thải
theo đánh giá của các nhà đầu tư
Nguồn: Điều tra của VDF, 2005
Hạ tầng trong các KCN của Hà Nội được các doanh nghiệp đánh giá khá cao, đạt 4,38 điểm, cao nhất cả nước; trong khi chỉ tiêu này bình quân đối với các địa phương khác phía Bắc là 3,78, phía Nam là 3,33 Một số địa phương phía