Chương 6: Ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là hậu quả của những tác động làm thay đổi các thành phần môi trường, thay đổi các thành phần lý hoá học, nguồn năng lượng, đa dạng sinh v
Trang 1Chương 6: Ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm môi trường là hậu quả của những tác động làm thay đổi các thành phần môi trường, thay đổi các thành phần lý hoá học, nguồn năng lượng, đa dạng sinh vật, làm mất cân bằng sinh thái, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường và tự nhiên Những thay đổi
làm mất cân bằng trạng thái môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến con người thông qua thức ăn, nước uống và không khí hoặc ảnh hưởng gián tiếp tới con người thông qua thay
đổi các điều kiện lý hoá học và suy thoái môi trường
Ô nhiễm môi trường cũng có nghĩa là sự xuất hiện các nhân tố lạ (số lượng và thành phần) trong môi trường, gây hại cho sinh vật Muốn kiểm soát ô nhiễm, trước hết phải biết giới hạn sinh thái đối với từng yếu tố sinh thái môi trường và xử lý ô nhiễm môi trường để đưa các yếu tố sinh thái trở lại bên trong giới hạn chống chịu của sinh vật
6.1 Khái niệm
6.1.1 Ô nhiễm
Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, thay đổi trực tiếp hoặc gián tiếp các thành phần lý hoá, sinh học của bất kỳ thành phần nào của môi trường hay toàn bộ môi trường vượt qua mức cho phép đã
được xác định
Chất gây ô nhiễm là những nhân tố làm cho môi trường trở thành độc hại, gây tổn hại hoặc có tiềm năng gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn hay sự phát triển của con người và sinh vật trong môi trường đó
Chất gây ô nhiễm ở nhiều dạng khác nhau, có thể ở dạng chất rắn (rác thải xây dựng), chất lỏng (chất thải của nhà máy dệt, nhuộm), khí (khói xe, đốt nhiên liệu), các
kim loại nặng từ việc bón phân, nước thải nơi khai thác và chế biến quặng, và chất gây ô
nhiễm cũng có thể ở các dạng khác nhau trong những điều kiện khác nhau
Suy thoái môi trường là môi trường bị thay đổi về số lượng và thành phần, gây ảnh hưởng xấu cho con người và các sinh vật sống
6.1.2 Sự cố môi trường
Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người, hoặc những biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái môi trường nghiêm trọng
Sự cố môi trường có thể xảy ra do bão lụt, hạn hán, sụt lún, động đất, núi lửa, mưa
đá, sóng thần, Cháy rừng , sự cố kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh, khoa học kỹ thuật,
an ninh quốc phòng, Sự cố trong các hoạt động thăm dò, khai thác và tìm kiếm khoáng sản Sự cố trong lò phản ứng hạt nhân, nhà máy điện nguyên tử, tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa phóng xạ,
6.1.3 Khả năng chịu đựng của môi trường
Khả năng chịu đựng của môi trường hay sức chứa của môi trường là khả năng cácloài tiếp nhận được chất dinh dưỡng và tiến hành các hoạt động trong môi trường có giới hạn, trong khoảng không gian nhất định để duy trì một mức sống nhất định
Sức chứa môi trường gồm sức chứa sinh học và sức chứa văn hoá Sức chứa sinh học
là khả nnăng mà hành tinh có thể chứa số người nếu các nguồn tài nguyên đều dành cho cuộc sống của con người Sức chứa văn hoá là số người mà hành tinh có thể chứa đựng theo các tiêu chuẩn của cuộc sống Sức chứa văn hoá sẽ thay đổi ở cac vùng khác nhau
ư
Trang 2Khả năng chịu đựng của môi trường phụ thuộc rất lớn vào các hoạt động của con người Khi xảy ra sự không cân đối giữa khả năng chịu đựng của môi trường với các nhu cầu xã hội thì con người có thể dùng khoa học và công nghệ để lập lại sự cân bằng
6.1.4 Nguồn gây ô nhiễm môi trường
Nguồn gây ô nhiễm là nguồn thải ra các chất gây ô nhiễm Có nhiều nguồn gây ô nhiễm môi trường khác nhau và nhiều cách chia các nguồn gây ô nhiễm,
- Theo tính chất hoạt động thì gồm 4 nhóm: nguồn gây ô nhiễm từ quá trình hoạt
động sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp, thủ công, du lịch, ), quá trình giao thông vận tải, quá trình sinh hoạt và các hoạt động tự nhiên
- Theo phân bố không gian, có 3 nhóm: điểm ô nhiễm (khói nhà máy), thường có tính
cố định; đường ô nhiễm (xe chạy trên đường), thường di động; vùng ô nhiễm, thường lan toả rộng (vùng thành thị, khu công nghiệp ô nhiễm thường la toả ra cả các vùng nông thôn)
- Theo nguồn phát sinh: có nguồn ô nhiễm sơ cấp và nguồn ô nhiễm thứ cấp Nguồn ô nhiễm sơ cấp là chất ô nhiễm được thải trực tiếp vào môi trường Nguồn ô nhiễm thứ cấp là chất ô nhiễm được tạo thành từ nguồn sơ cấp và đã biến đổi qua khâu trung gian rồi mới tới môi trường gây ô nhiễm
Hình 18: Sự lan truyền các chất ô nhiễm vào chuỗi thức ăn
qua nguồn nước bị ô nhiễm
Mức độ tác động của các nguồn gây ô nhiễm trên còn tuỳ thuộc vào 3 nhóm yếu tố
là quy mô dân số, mức tiêu thụ tính theo đầu người và tác động của môi trường Trong đó
yếu tố quy mô dân số là quan trọng nhất, nó ảnh hưởng đến các yếu tố khác
6.2 Ô nhiễm môi trường nước:
Nước có khả năng tự làm sạch qua các quá trình biến đổi hoá, lý và sinh học như hấp thụ, lắng động, tạo keo, trao đổi chất Các quá trình này sẽ hoạt động rất hiệu quả nếu môi trường nước có đủ O2 Do đó, quá trình tự làm sạch ở nước có dòng chảy liên tục (suối) hơn là nước đọng (ao, hồ) Khi lượng chất thải đưa vào nước quá nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của nước thì môi trường nước bị ô nhiễm, khi đó cần áp dụng các biện pháp xử lý nhân tạo Việc nhận biết nước đã bị ô nhiễm hay chưa thường căn cứ vào trạng thái hoá học, vật lý, sinh học của nước Ví dụ nước có mùi khó chịu, màu đục và có
vị không bình thường, sản lượng và chất lượng các loài hải sản sinh sống giảm mạnh, cỏ dại phát triển mạnh, nhiều mùn và có váng dầu mỡ
Trang 3Ô nhiễm sinh học được đánh giá theo mức độ hoại sinh
- Oligosaprob: nước giàu oxy, không nhiễm bẩn Có thể sử dụng cho cấp nước sinh hoạt
- β-mesosaprob: lượng oxy hoà tan giảm, nước hơi nhiễm bẩn do có nhu cầu oxy hoá sinh ọc Số lượng tảo và vi khuẩn <106/cm3 Các loài sinh vật vẫn sống được trong
đó, có thể dùng nước để tưới tiêu hoặc nuôi cá
- α- mesosaprob: lượng oxy hoà tan giảm mạnh và nước bị nhiễm bẩn rõ rệt, nhu cầu oxy hoá sinh học cao, tạo axit amin trong nước, vi khuẩn và tảo giảm mạnh về số lượng
- Polysaprob: oxy hoà tan giảm nhanh và mạnh, nhiễm bẩn nặng Có hiện tượng lên men, thối rữa và nước mùi khó chịu, nhiều chất lắng cặn và nhiều mung hữu cơ, có
ảnh hưởng xấu đến lượng nước sinh hoạt, nước tưới tiêu và nguồn thuỷ sản
6.2.1 Chất gây ô nhiễm nước
Nước có thể bị ô nhiễm bởi các yếu tố tự nhiên như nước mặn theo thuỷ triều hoặc
từ mỏ muối trong lòng đất vào làm nước nhiễm mặn Nồng độ muối trong nước >1g/l thì gây hại vi sinh vật, >4g/l gây hại cho cây trồng và >8g/l thì hầu hết các thực vật đều không sống được (trừ các cây ngập mặn)
Hiện nay nước bị ô nhiễm chủ yếu do nước thải từ các nguồn sinh hoạt, dịch vụ, chế biến thực phẩm và các ngành công nghiệp khác Chất ô nhiễm gồm các chất dạng vô cơ, hữu cơ và các vi sinh vật Đặc biệt là các chất có nhu cầu oxy, các chất dầu mỡ, chất rắn, muối, kim loại nặng, hữu cơ khó phân huỷ, các bùn thải dạng cặn Số lượng bùn thường rất lớn và hay đọng lại ở các kênh rạch
Bảng 38: Một số thành phần cơ bản của nước thải đô thị
Hầu hết các chất
hữu cơ, chất cặn bã
do con người thải
Các chất có
Chất thải công
nghiệp và sản phẩm
sinh hoạt
Các chất hữu cơ ít khả năng phân huỷ
Độc hại cho thuỷ sinh vật
Chất thải từ cơ thể
người
Vi khuẩn, vi rút truyền bệnh
Gây bệnh, lây lan, ngăn cản quá trình tái sinh nước
Chất tẩy rửa
Thiếu thẩm mỹ, cản trở quá trình vận chuyển O2,
độc hại cho sinh vật
Các chất tẩy rửa sinh
hoạt
các loài rong và tảo
cho sinh vật Kim loại nặng Độc hại cho sinh vật
Nhà bếp, xí nghiệp
chế biến thực phẩm,
chất thải công
hữu cơ
Vận chuyển và hoà tan ion kim loại nặng
+ Chất hữu cơ tổng hợp
Trên thế giới có khoảng 60 chất hữu cơ tổng hợp như nhiên liệu, chất dẻo, chất màu, thuốc trừ sâu, chất phụ gia, Đa số các chất này rất độc và khó phân huỷ, đặc biệt là các hydrocacbon thơm
Trang 4- Hoá chất bảo vệ thực vật
Các chất bảo vệ thực vật hiện có hơn 10.000 loại khác nhau bao gồm: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm, diệt chuột và các loài gặm nhấm, diệt ký sinh trùng
và các loại phân bón hữu cơ khác Các chất bảo vệ thực vật, kích thích sinh học đều có tính độc (độc ít đến rất độc) Các chất được phân theo thành phần hoá học gồm halogen, phospho, cacbonat, chlorophenocyanid
- Chất tẩy rửa
Các chất tẩy rửa có các dạng sau:
-> Các chất hoạt động bề mặt, có hoạt tính bề mặt cao, hoà tan tốt, sức căng bề mặt nhỏ, tạo nhũ tương và huyền phù với các chất bẩn (tách ra từ nguyên liệu giặt)
-> Các chất phụ gia bổ sung cho chất tẩy rửa chính, tạo môi trường kiềm theo ý muốn cho hoạt động bề mặt
- Dầu mỏ
Dầu mỏ được chế biến thành nhiều sản phẩm dạng khí, lỏng và rắn Dạng khí như khí đốt, dạng lỏng có xăng, dầu, nhớt Sản phẩm thải ra môi trường từ các hoạt động sản xuất, giao thông, sinh hoạt gia đình thường lắng đọng xuống đất và nước thải
- Các chất hữu cơ tổng hợp khác
Số lượng và chủng loại rất nhiều, là những chất tiêu thụ nhiều oxy vì chúng không bền, có khuynh hướng oxy hoá thành dạng đơn giản hơn, làm giảm lượng oxy hoà tan trong nước Hàm lượng oxy hoà tan trong nước là chỉ tiêu quan trọng để xác định chất lượng nước
Khi nhu cầu oxy hoá hoá học (COD) và nhu cầu oxy hoá sinh học (BOD) tăng thì oxy hoà tan (DO) sẽ giảm và nước trở nên bị ô nhiễm
+ Các hợp chất dạng vô cơ
- Các loại phân bón vô cơ
Thành phần chủ yếu là C, H, O2, N, P, K dưới dạng hợp chất vô cơ, hữu cơ và yếu
tố vi sinh vật Khi bón phân, một phần lớn phân bón trôi theo nước, bốc hơi, chuyển hoá hoặc thấm xuống đất và tồn đọng trong đất Sử dụng quá nhiều phân bón vô cơ sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng trong nước, tạo điều kiện cho các loài rêu, rong, tảo, phát triển, làm mất cân bằng sinh thái do thiếu oxy hoà tan và gây hại cho rất nhiều loài sinh vật sống trong nước
- Các khoáng axit
Nước thải có độ axit cao (nước thải công nghiệp) trôi theo dòng nước thải vào nước làmgia tăng độ axit cho nước và giảm độ pH của nước
-> Các chất lắng: mưa lũ, xói mòn đất làm các chất bị trôi theo dòng nước rồi lắng lại, làm tăng nhiều lần mức ô nhiễm của nước sinh hoạt
-> Các kim loại hàm lượng “vết”: một số kim loại với hàm lượng rất nhỏ (Hg, As, Thalium ) đã gây độc hại cho các sinh vật Các chất này được thải vào nước chủ yếu từ các nguồn sản xuất giao thông
- Chất phóng xạ
Một số dạng phóng xạ tự nhiên được tìm thấy phổ biến là Rd và K40 từ khoáng chất thấm lọc vào nguồn nước sinh hoạt Một số chất phóng xạ thải ra từ các nhà máy điện nguyên tử và sản xuất vũ khí hạt nhân
+ Các vi sinh vật gây bệnh
Nước thải sinh hoạt chứa rất nhiều các vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là các dạng Coliformes gây bệnh đường ruột
Trang 5+ Rác
Rác từ các nguồn thải khác nhau theo mưa đổ ra biển (6,5 triệu tấn/ năm) Chất plastic là khó phân huỷ nhất, nó có thể tồn tại tới 50 năm trong môi trường nước biển và ngày càng có xu hướng tăng lên
Dọc bờ biển Đại Trung Hải Thái Bình Dương
>70%
>80%
6.2.2 Một số hậu quả
- Con người sẽ bị nhiễm giun sán, nhiễm các loại chất độc, ảnh hưởng tới sức khoẻ,
gây nhiều bệnh hiểm nghèo Một số bệnh thường gặp như tả, thương hàn, viêm gan siêu
vi, ung thư,
- Gây hiện tượng phú dưỡng hoá, ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân xung quanh
và giảm sản lượng hải sản
- Tồn dư các kim loại nặng như Pb, Hg, Cd trong các loại tôm cá, vượt quá tiêu
chuẩn cho phép Các chất này đi theo chuỗi thức ăn vào cơ thể người gây ung thư và các bệnh khác
- Ô nhiễm nước ngầm: các chất độc hại từ bãi thải thâm nhập vào nước ngầm Tại
các thành phó lớn nước ngầm bị ô nhiễm nặng do xử lý và quản lý kém các hố rác tự hoại
- Các loại “tảo đỏ” phát triển mạnh ở vùng cửa sông và dọc bờ biển Hoa của tảo
đỏ tiết ra các độc tố ảnh hưởng tới các sinh vật trong biển Năm 1987, ngộ độc thực phẩm
có độc tố từ hoa tảo đỏ đã giết chết 26 người Guatamala ở Việt nam cũng đang phải đối mặt với hiện tượng thuỷ triều đỏ ở vùng biển Bình Thuận Dầu loang phủ trên mặt nước làm cản trở khả nămg quang hợp và trao đổi oxy, làm chết cá và các sinh vật khác (chim
ăn cá) ở Thái Lan, hàng năm có 50.000 chim biển chết do ngộ độc dầu, 250.00 ở Anh và 400.000 ở Đại Tây Dương
- Bơi lội, tắm biển ở vùng biển bị ô nhiễm hữu cơ thì bị rối loạn tiêu hoá, viêm tai,
viêm đường hô hấp, nguy cơ mắc các bệnh hiểm nghèo khác
6.2.3 Các thông số xác định ô nhiễm nước
Dựa vào tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế, người ta quy định cho các loại nước những tiêu chuẩn, thông số cần thiết để giám sát
- Nước nguồn phải giám sát các thông số như độ pH, độ trong, độ cứng, màu , độ
đục, hàm lượng oxy hoà tan, Fe, Mn và kim loại nặng,
- Nước qua sử dụng phải giám sát độ pH, độ kiềm, độ axit, COD, BOD, N, P, S,
các hoá chất, dầu mỡ, các kim loại nặng
a) Các chỉ số đặc trưng của nước
-> pH: Nước trung tính có pH = 7, nếu pH < 7 có tính axit và pH > 7 có tính kiềm Nước ngầm thường có pH = 4-5, nước thải có pH dao động nhiều, đặc biệt trong quá trình keo tụ, làm mềm nước, khử trùng, khử sắt, chống ăn mòn, pH là chỉ tiêu quan trọng, cho phép xác định phương pháp xử lý nước thích hợp
-> Độ axit tự nhiên: là do CO2 hoặc axit vô cơ gây ra, làm ăn mòn kim loại CO2 từ không khí hoặc từ các hoạt động oxy hoá sinh học các chất hữu cơ Axit vô cơ thường có trong nước ngầm khi chảy qua các vùng mỏ hoặc các lớp khoáng chất, thường thấy ở dạng các hợp chất lưu huỳnh
-> Độ kiềm tự nhiên: là do 3 nhóm OH-, CO và HCO3- tạo nên Một số axit hữu cơ bền với chất oxy hóa sinh học như humic nên các muối của chúng tạo ra làm tăng độ
Trang 6kiềm Độ kiềm cao gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh vật nên cần giám sát độ kiềm để
có biện pháp làm mềm nước hoặc tạo dung dịch đệm
-> Độ cứng: Nước cứng không tạo bọt xà phòng, dễ kết tủa do các ion hoá trị 2 như Ca2+, Mg2+, Mn2+, Fe2+, Zn2+ chủ yếu là do Ca2+ và Mg2+ Giám sát độ cứng qua hàm lượng CaCO3 Nước mềm có hàm lượng CaCO3 < 50 mg/l Nước cứng không độc hại gì
đối với người và sinh vật nhưng không có ảnh hưởng tốt đến sinh hoạt của con người vì nước cứng không tạo bọt khi giặt, hàm lượng Ca2+ và Mg2+ làm vải nhanh mục Trong công nghiệp tạo thành màng bám vào nồi hơi và thành ống nên dễ gây nổ
-> Độ đục: Độ đục là do các hạt rắn lơ lửng, các chất hữu cơ phân rã hoặc xác các
động thực vật chết gây nên, làm giảm khả năng truyền ánh sáng vào nước, giảm quang hợp và giảm tính thẩm mỹ Các hạt rắn có thể mang theo rất nhiều những chất độc, vi sinh vật gây bệnh và nhiều thành phần gây hại khác
Giám sát độ đục thông qua hàm lượng SiO2 /1 lit nước
Độ màu: Nước tự nhiên không có màu, độ màu là do các chất mùn, vụn hữu cơ do
phân huỷ, các hạt lơ lửng có nguồn gốc từ nước thải công nghiệp, sinh hoạt hoặc do
Fe làm nước có màu nâu đặc trưng
Người ta phân biệt màu thực và màu biển kiến Màu thực là do các dạng hữu cơ
khó xử lý, ví dụ rong tảo có màu xanh Màu biểu kiến là do các hạt rắn vô cơ có màu, dễ
xử lý hơn
Nước thải công nghiệp thường có cả màu thực và màu biểu kiến Nước có màu đôi khi không gây hại cho sinh vật nhưng gây mất thẩm mỹ hoặc giảm chất lượng sản phẩm trong công nghiệp nhuộm và chế biến thực phẩm
b) Hàm lượng các chất trong nước
+ Hàm lượng chất rắn: Các chất rắn bao gồm các chất vô cơ hoà tan (muối) hoặc
không hoà tan (đất đá dạng huyền phù) và các chất hữu cơ (VSV, động vật nguyên sinh, tảo), các chất hữu cơ tổng hợp (phân bón, chất thải) Người ta xác định hàm lượng chất rắn thông qua các thông số sau:
- Tổng chất rắn (TS) là trọng lượng khô của phần còn lại (mg/l) sau khi bay hơi 1 lít nước, sấy khô ở 103oC
- Chất rắn lơ lửng (SS) là trọng lượng khô phần rắn còn lại trên giấy lọc sợi thuỷ tinh 1 lít nước, sấy khô ở 103 ữ 105oC
- Chất rắn hoà tan (DS) là hiệu số: DS = (TS - SS)
+ Hàm lượng oxy hoà tan (DO-Dissolved Oxygen)
Là lượng oxy hoà tan tự do trong nước cần thiết cho vi sinh vật hô hấp, thường
được tạo ra do sự hoà tan oxy từ khí quyển hoặc do sự quang hợp của tảo
Động vật dưới nước sử dụng oxy hoà tan trung bình 4 mg/l, oxy hoà tan có nhiều hơn trên nước mặt hoặc vùng có thực vật xanh Nồng độ oxy hoà tan phụ thuộc vào áp suất riêng phần oxy hoà tan không khí, nhiệt độ nước và quang hợp của tảo Khi hàm lượng oxy hoà tan gần bằng 0 thì nước đã bị ô nhiễm nặng Nước sạch thì oxy hoà tan bão hoà
+ Nhu cầu oxy hoá sinh hoá (BOD-Biochemical oxygen Demand)
Là lượng oxy cần thiết để vi sinh vật thực hiện quá trình oxy hoá sinh hoá các chất hữu cơ bị phân huỷ (O2/l) Chỉ số BOD cao thì nước ô nhiễm càng nặng
- Nước sạch BOD < 2mg O2/l
- Nước thải sinh hoạt thường có BOD = 80-240 mg O2/l
Thời gian để oxy hoá hết 80-90% lượng chất hữu cơ thường mất 20 thì 89-90% lượng chất hữu cơ bị oxy hoá hết ngày gọi là BOD20 Người ta quy ước để 5 ngày gọi là BOD5
Trang 7+ Nhu cầu oxy hoá hoá học (COD-Chemical oxygen Demand)
Là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hoá hoá học các chất hữu cơ tạo thành CO2
và nước Vì BOD không tính đến các chất hữu cơ bền vững còn COD thì có tác dụng với mọi chất hữu cơ nên COD được coi là đặc trưng hơn trong việc xác định sự ô nhiễm nước Nước thải ô nhiễm có tỷ lệ BOD/COD là 0,7 ữ 0,5
+ Hàm lượng các chất
- SO42- ảnh hưởng đến sự tạo thành H2S gây mùi khó chịu và rất độc đối với cá, bám vào thành nồi hơi, làm mòn kim loại, gây bệnh tiêu chảy
- Nitơ và hợp chất nitơ: do quá trình phân huỷ chất hữu cơ của vi sinh vật NO2 là giai đoạn trung gian của quá trình đạm hoá và NO3 là giai đoạn oxy hoá cao nhất và là giai đoạn sau cùng của quá trình oxy hoá sinh học
- PO43- là nguồn dinh dưỡng giúp sinh vật và hệ sinh thái nước phát triển, nhưng nếu nhiều quá sẽ gây nên hiện tượng thiếu oxy tạo nên hiện tượng thối rữa
- Các kim loại và kim loại nặng: Các kim loại thường được chú ý bởi tính độc hại
và tác động gây ô nhiễm của chúng như Cu, Zn, Hg, Cd, Pb, Al
6.2.4 Thành phần nước thải của một số nhà máy
Bảng 39: Đặc điểm nước thải của một số nhà máy lớn ở Hà nội
Tên nhà máy Lượng xả m2/ngày
BOD 5mg/l
COD mg/l
Các chất bẩn
sulfua
Mương Thuỵ khuê
Xà phòng Hà
+ Vedan
Nguồn nước thải của Công ty Vedan từ các nguồn như: nước chảy tràn, nước thải sinh hoạt của cán bộ công nhân viên và nước thải sản xuất Nước thải sản xuất bao gồm:
- Nước thải từ phân xưởng sản xuất Lysin và Vedagro trong dây truyền lên men (lên men hiếu khí) chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, chất dinh dưỡng (N,P) và các acid
- Nước thải từ phân xưởng sản xuất tinh bột và nước đường (lên men hiếu khí và kỵ khí) Nước thải chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, xơ của vỏ sắn có CN-
- Nước thải từ phân xưởng sản xuất bột ngọt và Vedagro có chứa hàm lượng NH3
và các chất hữu cơ khác
Lượng nước thải của nhà máy vào khoảng 1.000-1.200 m3/ngày, đặc biệt nước thải của khu lên men là 1.250 m3/ngày
+ Công ty Vissan
Nước thải của Công ty chủ yếu là huyết, phân trâu bò và phân heo, một số phế phẩm như da, lông, các phần bỏ đi không dùng được của gia súc, gia cầm Các nguồn nước thải:
Trang 8- Từ khu giết mổ gia súc
- Khu chế biến sản phẩm từ thịt gia súc-gia cầm
- Khu chế biến sản phẩm từ nguyên liệu thuỷ hải sản
- Khu chuồng trại
- Nước thải sinh hoạt khu hành chính
Bảng 40: Thành phần hoá học nước thải của Vedan, Vissan, đường Hiệp Hoà
hoà
+ Nhà máy đường Hiệp Hoà (Long An)
Nước thải có màu nâu sậm, mùi hôi và chua do lên men đường, mức độ ô nhiễm rất nghiêm trọng nếu thải trực tiếp ra sông hồ Thành phần khoáng vô cơ và hữu cơ đều cao, pH thấp Nước thải chứa nhiều thành phần mật và đường nên có thể nghiên cứu sử dụng làm phân bón, pha loãng nuôi vi tảo
6.2.5 Tình hình ô nhiễm nước ở Việt nam
Nước ta có tổng lượng nước ngọt bề mặt phong phú (881,97 tỷ m3), mặt khác tốc
độ đô thị hoá chưa cao nên mức độ ô nhiễm nguồn nước trung bình hàng năm còn thấp, dưới mức cho phép Nhưng xét riêng từng nơi thì có vùng đã ở mức ô nhiễm nghiêm trọng
Nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, rác sinh hoạt, rác công nghiệp, đều trực tiếp đổ vào các dòng chảy làm nguồn nước ở trung tâm các thành phố lớn đều bị nhiễm bẩn Theo báo cáo hiện trạng môi trường Việt nam năm 1994 như sau:
- Các chỉ số BOD, SS, pH ở các nguồn tiếp nhận nước thải đều vượt quá mức cho phép 5-10 lần, những nguồn ô nhiễm nặng có chỉ số >20 lần
- Các nguồn tiếp nhận nước thải còn chứa các kim loại nặng như As, Zn, Hg, Pb,
là những nguyên tố rất độc hại ngay ở nồng độ thấp
Vùng nông thôn, các kênh rạch bị ô nhiễm do không nạo vét thường xuyên, dân số ngày càng gia tăng, ý thức vệ sinh môi trường của người dân chưa cao, nước thải thải trực tiếp ra kênh rạch Ô nhiễm môi trường nước nông thôn và nước biển nhìn chung còn thấp nhưng vẫn tăng lên hàng năm, nhất là nơi gần các khu công nghiệp, bến cảng, của sông và bãi tắm
Trang 96.3 Ô nhiễm không khí
6.3.1 Khái niệm
Ô nhiễm không khí là sự có mặt các chất lạ không có trong thành phần các chất của không khí Các chất lạ có thể có sẵn trong tự nhiên hoặc do các hoạt động của con người làm ô nhiễm không khí
6.3.2 Lịch sử ô nhiễm không khí
Hình 19: Lịch sử ô nhiễm không khí
Trong quá trình tiến hoá của sự sống thì ô nhiễm không khí đã có từ thời kỳ
La Mã, Hy Lạp, khi con người tăng sử dụng lửa để luyện kim và nguồn năng lượng chủ yếu lấy từ việc đốt gỗ
Thời kỳ Trung cổ (thế kỷ 12-13), than được dùng thay cho gỗ làm phát sinh bò hóng và khói Đến thời kỳ công nghiệp hoá, rõ rệt nhất của hiện tượng ô nhiễm không khí
do đốt nhiều than là “khói sương mù” và hàm lượng CO2 trong khí quyển đã vượt quá khả năng chứa của bầu khí quyển Đến thời đại thông tin (thế kỷ 20) xe máy và máy nổ được phát minh (1940-1950) thì người ta thấy xuất hiện thường xuyên hiện tượng khói sương Khói sương mù tạo thành khi không khí lạnh và ứ đọng gần mặt đất, khi độ ẩm cao khói sương sẽ giữ các chất ô nhiễm và làm chúng không phân tán được trong không khí Khói sương mù làm chết 4000 người ở Anh (năm?)
Đến những năm 70 người ta bắt đầu phát hiện khí CFC, làm suy thoái tầng ozon ở tâng bình lưu Đến năm 1980, lượng CO2 quá nhiều gây hiện tượng nóng lên toàn cầu và lúc này ô nhiễm không khí đã ở mức toàn cầu
Mức độ ô nhiễm không khí hiện nay còn phụ thuộc vào quy mô dân số, tiêu thụ tài nguyên và hiệu quả việc sử dụng tài nguyên
6.3.3 Phân loại
Ô nhiễm không khí có thể có nguồn gốc tự nhiên như hoạt động của núi lửa, động
đất, bụi, phấn hoa, hoặc do các hoạt động của con người như sản xuất hoá chất, hoạt
động sản xuất công nghiệp, khai khoáng , nông nghiệp,
6.3.4 Các chất gây ô nhiễm không khí
+ Bụi và sol khí
Bụi là chất ở dạng rắn hoặc lỏng, có khích thước nhỏ, phân tán ở diện rộng Hàng năm con người trên thế giới thải vào khi quyển khoảng 200 triệu tấn bụi
Trang 10Sol khí là chất lơ lửng phân tán trong không khí với kích thước dạng keo (d<1μm)
và tương đối bền, khó lắng Sol khí cũng là tác nhân tạo nên các nhân ngưng tụ hình thành mây mưa
Người ta phân biệt bụi và sol khí dựa vào khích thước của chúng
- d< 0,3 μm là những nhân ngưng tụ vận động như thể khí, xuất hiện nhờ quá trình ngưng tụ, tách khỏi các hạt lớn nhờ hấp thụ
- d = 0,3-3 μm hình thành do quá trình kết hợp các hạt nhỏ, tách khỏi không khí nhờ mưa Thời gian lưu trong không khí ngắn hơn thời gian hợp thành các hạt lớn
- d > 3 μm xuất hiện do phân tán cơ học của những hạt lớn và được thu hồi qua quá trình lắng
Tác hại chính của bụi và sol khí là khả năng tạo hợp chất với một số kim loại nặng Bụi và sol khí được coi là phương tiện chứa kim loại nặng trong khí quyển Một số kim loại nặng như Cd, Pb, Zn, Cu, Sb tích tụ dạng hạt nhỏ có d ≤ 2,5 μm Một số kim loại khác tích tụ ở dạng hạt lớn hơn
Bụi và sol khí gây ảnh hưởng tới cân bằng sinh thái, là nguồn gốc gây nên sương
mù, cản trở bức xạ mặt trời, làm thay đổi pH trên mặt đất, tích tụ chất độc trên cây cối (kim loại nặng, hydrocacbon thơm), ăn mòn da, làm hại mắt và các cơ quan hô hấp
+ Các chất ở dạng khí
Các dạng khí gây ô nhiễm ở nhiều mức độ khác nhau, các khí gây ô nhiễm phổ biến là SO2, NOx, CO, CO2, các kim loại, các chất hữu cơ và các nguyên tố dạng “vết”
- SO2 (Dioxide lưu huỳnh, sulfurơ) là chất không màu, hơi cay, hơi nặng, bay là là mặt đất, làm nhiễm bẩn không khí chủ yếu và có hại cho quá trình hô hấp Do có tính axit nên SO2 có hại cho đời sống của của thuỷ sinh vật và axit hoá các vật liệu SO2 quá mức
sẽ hạn chế quang hợp và gây mưa axit
- NOx (Oxide nitơ), đặc trưng là NO và NO2 có tính axit như SO2, 70% NOx là sản phẩm của các phương tiện vận tải, đốt nhiên liệu nhiệt độ cao, hoặc do sấm sét oxy hoá nitơ không khí Tính khó tan và sự gia tăng của các phương tiện giao thông đã làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường không khí của các thành phố
CO (mono oxyde cacbon) là chất khí không màu, không mùi, được sinh ra từ các quá trình đốt nhiên liệu không hoàn toàn (thiếu oxy), chủ yếu từ khí thải xe hơi (80%) hoặc là các phương tiện chạy bằng xăng CO là khí rất độc, con người nhạy cảm với CO hơn động vật, gây tử vong nếu hít ở nồng độ cao Hiện nay CO là khí ô nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất
- CO2 (Dioxide cacbon) là sản phẩm của quá trình đốt cháy, là khí chủ yếu gây hiện tượng hiệu ứng nhà kính Các quá trình đót cháy như cháy rừng, đốt nhiên liệu phục
vụ sản xuất công nghiệp, giao thông, xây dựng
Bảng 41: Nguồn ô nhiễm công nghiệp tạo ra trong không khí
Chất ô nhiễm chỉ thị và tải lượng Ngành nghề, nguồn ô nhiễm
Đốt nhiên liệu, nhà máy điện, lò hơi 10,0 19,5 9,00 0,50