Phân loại thông tin kế toán quản trị
Trang 1Nghiên cứu trao đổi
EI T$ TRƯƠNG THỊ THỦY"
Kế toán quản trị được coi như một hệ thống trợ giúp cho các nhà quản lý trong việc lập dự toán sản xuất kinh doanh và kiểm soát một cách có hiệu quả tình hình hoạt động của các bộ phận trong doanh nghiệp Với chức năng phân tích, kiểm tra và dự đoán kế hoạch, kế toán quản trị cung cấp thông tin hữu ích đáp ứng yêu cầu quản lý của các nhà quản lý trong doanh nghiệp Để phục vụ cho việc ra quyết định, thông tin kế toán quản trị đặt trọng tâm trong tương lai, nhấn mạnh đến sự thích hợp và linh hoạt, cho nên thông tin này thông
thường không có sẵn
rong quá trình ra quyết định, các chi
phí cơ bản được xem
xét xoay quanh bốn câu hỏi: Những chi phí nào
thuộc về quyết định đang xem
xét? (chi phí có ảnh hưởng)?
Đơn vị phải từ bỏ gì nếu chọn
giải pháp này thay vì chọn giải
pháp khác (chi phí cơ hội)?
Những chi phí đi kèm với giải
pháp được chọn sẽ như thế nào
(chi phi biến đổi, chi phí cố
định)? Có thể tác động tới chỉ
phí bằng cách nào? (chi phí
kiểm soát được, chi phí không
kiểm soát được) Mỗi một tình
huống cần quyết định khác
nhau trong quá trình quản lý
của doanh nghiệp (DN), sẽ có
những câu trả lời khác nhau
cho các câu hỏi trên Thông
tin phục vụ cho việc ra quyết
định ngắn hạn rất phong phú,
linh hoạt Mỗi tình huống
trong quyết định ngắn hạn,
cần thu thập được những
thông tin về dòng thu nhập, về
chỉ phí được xem xét và lượng
hoá cho các phương án qua việc trả lời bốn câu hỏi ở trên
Thông qua những thông tin đã xác định cho từng phương án
đang xem xét và lựa chọn cho một tình huống quyết định
ngắn hạn mà kế toán quản trị (KTQT) cung cấp, nhà quản lý
sẽ cân nhắc và lựa chọn phương án tối ưu Phương án được lựa chọn cho một quyết
định ngắn hạn là phương án có
khả năng sinh lời nhiều nhất trong việc sử dụng năng lực sản xuất hiện có, tất nhiên
phương án hành động đó cũng
phải phù hợp với chiến lược chung của DN
Thông tin quá khứ và thông
tin tương lai Thông tin quá khứ
Thông tin quá khứ là nguồn
thong tin KTQT thu nhận được từ những sự kiện kinh tế
đã phát sinh trong quá trình
hoạt động của DN Thông tin này được thu nhận, xử lý và
tổng hợp thông qua các
phương pháp theo từng khâu
mm Tap chi KE loin 5 “#6 10/ 2008
công việc của kế toán
Trước hết, các thông tin
này thể hiện trên các chứng từ
kế toán, qua hệ thống hạch
toán ban đầu KTQT thiết lập nên những mô hình, kết cấu thông tin khác nhau theo yêu cầu của nhà quản lý
Hiện nay, có hai quan điểm
tổ chức hệ thống tài khoản
phục vụ cho KTQT: Theo quan
điểm thứ nhất, trong trường
hợp kế toán tài chính (kế toán pháp quy) thuộc loại hình “kế toán tnh, tính thuế”, các tài
khoản chi phí giá thành được tách khỏi hệ thống tài khoản
chung của kế toán tài chính,
do đó, người ta xây dựng
những tài khoản riêng biệt để
phản ánh thông tin của KTQT
theo nhu cầu quản lý Theo quan điểm thứ hai, trong
trường hợp kế toán tài chính (kế toán pháp quy) thuộc loại hình “kế toán động”, các thông tin chỉ tiết theo từng đối
*Học viện Tài chính
Trang 2tượng và theo từng yêu cầu
quản lý sẽ được phản ánh thu
nhận bằng cách sử dụng rộng
rãi kết quả của kế toán chỉ tiết
để có được những thông tin
quá khứ cần thiết
Hệ thống kế toán pháp quy
của Việt Nam hiện nay thiên
về kế toán động nên sẽ lựa
chọn theo quan điểm thứ hai
Thong qua thong tin vé chi phi
của từng trung tâm, từng bộ
phận để tính giá thành cho
từng loại sản phẩm Tuỳ theo
yêu cầu của nhà quản lý để
KTQT xác định giá thành toàn
bộ, hay giá thành có phân bổ
hợp lý định phí, hay giá thành
theo biến phí Bên cạnh đó
KTQT cũng xác định phương
pháp xử lý, cung cấp thông tin
cụ thể với các đối tượng khác
Tiếp đó, KTQT lập các báo cáo
bộ phận chí tiết theo yêu cầu
quản lý DN
Thông tin quá khứ mà
KTQT cung cấp theo quan
điểm lựa chọn của kế toán Việt
Nam nhìn chung có sự phù hợp
nhất định với số liệu của kế
toán tài chính, đây là luồng
thông tin cần thiết trong quá
trình quản lý DN: Thông tin
quá khứ mà KTQT cung cấp là
luồng thông tin thực hiện cung
cấp chỉ tiết cụ thể cho từng bộ
phận, từng mục tiêu theo yêu
cầu của nhà quản lý, phản ánh
một cách đầy đủ chi tiết những
hoạt động kinh tế đã phát sinh
trong quá trình tổ chức điều
hành thực hiện kế hoạch sản
xuất kinh doanh (SXKD) ở
nhiều cấp độ quản lý khác
nhau Luồng thông tin này
mang tính tin cậy ở mức độ
nhất định vì các thông tin này
được thu nhận, xử lý và cung cấp dựa trên số liệu từ hệ thống hạch toán ban đầu trong hệ thống kế toán của DN
Trên cơ sở thông tin quá
khứ đã thu nhận được, KTỌQT
tiến hành so sánh với thông
tin kế hoạch dự toán, từ đó, phân tích chênh lệch tìm ra nguyên nhân của những hạn
chế, giúp nhà quản lý khắc phục điều chỉnh kịp thời nhằm quản lý ngày càng hiệu
lực và hiệu quả hơn
Thông qua quá trình thu
nhận, cung cấp thông tin quá khứ của KTQT mà kiểm soát được quá trình điều hành thực hiện, ngăn chặn và kiểm tra, phát hiện những sai sót, đánh
giá trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ ở từng cấp độ
quản lý, từng bộ phận, khắc
phục sai sót, hạn chế để quản
lý tốt hơn
Luồng thông tin quá khứ là một trong những cơ sở khoa
học để xây dựng dự toán chỉ
phí SXKD Hơn nữa, có một số thông tin rất khó nhận diện
hoặc đòi hỏi tính chính xác ở mức độ cao để phục vụ cho
công tác dự toán, phải được
quan sát qua thực tế nhiều kỳ,
chẳng hạn như thông tin về
biến phí, định phí
Thông tin quá khứ mà
KTQT cung cấp để thực hiện
tốt hơn các chức năng phân
tích, đánh giá và dự đoán, giúp
cho nhà quản lý kiểm soát,
phân tích và đánh giá trách
nhiệm quản lý trong việc thực hiện kế hoạch SXKD, đúc rút
kinh nghiệm làm cơ sở cho
việc dự đoán thông tin tốt hơn
trong các kỳ hoạt động tiếp
theo Tuy vậy, trong một tình
huống cụ thể của quyết định
ngắn hạn thì những thông tin
quá khứ sẽ không thể thay đổi
cho dù người quản lý quyết
định lựa chọn phương án nào,
vì vậy, thông tin quá khứ không phải là thông tin được
sử dụng trực tiếp để xem xét
trong quá trình lựa chọn
phương án kinh doanh cụ thể
trong quyết định ngắn hạn
Thong tin tuong lai ma
KTQT cung cấp có được thông
qua chức năng dự đoán của
KTQT như dự toán chi phí SXKD trên cơ sở tình hình SXKD thực tế, hàng loạt các
dự đoán về tình hình SXKD
trong tương lai cũng như tình
hình về thị trường: dự toán về
chi phí, thu nhập cho từng phương án đang xem xét trong
một tình huống quyết định ngắn hạn
Một trong những thông tin tương lai quan trọng mà KTQT cung cấp là định mức chi phí,
chỉ phí tính trước Theo đó,
người ta xác định trước chi phí
mong muốn và so sánh với chỉ phí thực tế để tìm ra chênh
lệch, bản chất của các chênh
lệch và tìm những nguyên nhân giả định cho những chênh
lệch đó Hơn nữa, là để có những thông tin thực sự hữu
ích, thích hợp tư vấn cho nhà quản lý ra quyết định
Thông tin tin tương lai có
rất nhiều ưu điểm Trong
trường hợp áp dụng hệ thống
hạch toán linh hoạt, khi giả định đã tính trước cho một thời
Tap ché KE lod số Ming 10/2008 | 13 |
Trang 3Nghiên cứu trao đổi
kỳ nào đó, có thể tạm ghi chép
vào sổ kế toán ngay khi biết rõ
số lượng mà không cần chờ
cho đến khi tính được giá thực
tế Nghiên cứu số liệu được
ghi nhận từ việc phân tích
chênh lệch giữa thông tin quá
khứ với thông tin tương lai để
rút kinh nghiệm cho quản lý
cũng như dự đoán ngày càng
chính xác hơn Theo quan
điểm kinh tế, một kết quả dự
tính được ngay từ đầu có sai
biệt một chút còn hơn là biết
chắc chấn chính xác mà phải
chờ đợi một thời gian dài
Quan trọng hơn nữa, dự toán
được thu nhập, chi phí và kết
quả một cách nhanh chóng,
linh hoạt sẽ giúp cho nhà quản
lý giải quyết nhanh chóng các
đơn đặt hàng cũng như các
tình huống cụ thể trong việc ra
quyết định ngắn hạn
Các thông tin tương lai được
sử dụng rộng rãi trong quá
trình ra quyết định ngắn hạn
Tuy vậy, không phải bất cứ
thông tin tương lai nào cũng là
thông tin thích hợp cho ra
quyết định ngắn hạn Thông tin
khác nhau dùng cho các mục
đích khác nhau, chỉ những
thông tin tương lai liên quan
trực tiếp đến việc có thể dự
toán về chi phí, thu nhập và kết
quả phù hợp cho từng phương
án để xem xét lựa chọn
Thông tin thích hợp và
thông tin không thích hợp
Các quyết định có trước
khi xảy ra hành động và sau
đó các hoạt động này dẫn đến
những hậu quả hay kết quả
Xét về mặt kinh tế, tiêu chuẩn
lựa chọn trong quyết định
ngắn hạn là phương*án có thu
nhập cao nhất hoặc chi phí thấp nhất
Thông tin về chi phí và thu
nhập là thông tin thích hợp cho việc ra quyết định ngắn
hạn thì phải đạt hai tiêu chuẩn
cơ bản: Thông tin đó phải liên
quan đến tương lai; Thông tin
đó phải có sự khác biệt giữa
các phương án đang xem xét
và lựa chọn Các thông tin
không thoả mãn cả hai hoặc một trong hai tiêu chuẩn trên
là các thông tin không thích
hợp đối với quyết định ngắn hạn, cụ thể:
Thông tin không liên quan
đến tương lai, nói cách khác,
đó là những thông tin quá khứ như một khoản đã thu, hoặc đã chi ra trong quá khứ có liên quan tới tình huống đang xem
xét sẽ không thay đổi được cho
dù quyết định như thế nào
Chẳng hạn, những khoản chỉ
phí đã chi ra được gọi là chi phí chìm, loại chi phí này luôn tồn tại dưới mọi phương án,
chúng luôn bằng nhau và do
đó, khi so sánh những dòng chi phí của các phương án đang
xem xét lựa chọn, khoản chi phí này triệt tiêu nhau, vì vậy,
chi phí chìm luôn là thông tin không thích hợp cho việc ra
quyết định ngắn hạn
Thông tin không có sự khác biệt giữa các phương án đang
xem xét và lựa chọn: Thông tin
về chỉ phí, thu nhập đã phát sinh trong quá khứ luôn là thông tin không có tính chênh lệch, và không phải là thông
Eg Taf ché Ke loin sé “4 10/2008
tin thích hợp Còn những thông
tin về thu nhập và chỉ phí cho
đù có liên quan đến tương lai song không có sự khác biệt
giữa các phương án đang xem xét thì luôn triệt tiêu nhau khi
so sánh dòng chi phí và dòng
thu nhập của các phương án
đó, vì vậy, những thông tin này
không cố ý nghĩa trong so
sánh, và chúng là những thông tin không thích hợp cho việc ra
quyết định ngắn hạn
Việc nhận diện thông tin
thích hợp giúp cho nhà quản lý nhìn nhận nhanh chóng những
vấn để chủ yếu thông qua
những thông tin đã chọn lọc nhưng vẫn đảm bảo tính khoa
học, để có quyết định nhanh
chóng, đúng đắn, từ đó, có thể chiếm lĩnh lợi thế cạnh tranh Trong những tình huống
cụ thể của quyết định ngắn
hạn (tiếp tục hay loại bỏ kinh
doanh một bộ phận; mua
ngoài hay tự sản xuất; tiếp tục sản xuất thành thành
phẩm rồi mới bán hay bán ngay nửa thành phẩm; chấp
nhận một đơn đặt hàng đặc
biệt, ) cần có những thông
tif khác nhau, đồi hỏi KTQT
luôn phải thu thập thông tin,
xử lý phân tích thông tin để
loại bỏ những thông tin
không thích hợp, sau đó trình
bày những thông tin thích hợp với các phương án đang xem xét dưới dạng so sánh giúp cho nhà quản lý lựa chọn phương án tối ưu phù hợp với mục tiêu quản lý và
tiêu chuẩn lựa chọn quyết
định ngắn hạn