Giới thiệu1 Phương pháp lộ thiên đã được sử dụng từ nhiều năm nay để thi công các công trình giao thông ngầm dưới đất Phương pháp này bao gồm các công việc như lắp đặt các tường tạm thời
Trang 1HẦM THI CÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP LỘ THIÊN
TẠI KHU VỰC ĐÔ THỊ Trường Đại học Giao thông vận tải
Bộ môn Cầu - Hầm
Trang 3Giới thiệu
1
Phương pháp lộ thiên đã được sử dụng từ nhiều năm nay để thi công các công trình giao thông ngầm dưới đất
Phương pháp này bao gồm các công việc như lắp đặt các tường tạm thời để chống đỡ các thành bên của hố đào, hệ thống thanh chống, kiểm soát nước ngầm và chống đỡ cho các công trình lân cận khi cần
Trang 4Giới thiệu
1
Các công trình giao thông nên đặt càng gần mặt đất càng tốt và nên được thi công theo kỹ thuật đào mở lộ thiên hơn
là bằng phương pháp đào hầm Các hầm chôn nông thi
công theo pp lộ thiên có 1 số ưu điểm như dễ đi xuống từ trên đường phố
Nhược điểm chính của hầm dạng này là dễ bị thủng, bị sập tại những nơi thành thị đông người qua lại
Chi phí thi công theo pp lộ thiên tăng theo chiều sâu đào Giá thành các hầm nông TC theo pp đào hầm thông
Trang 5thiết kế đã được sử dụng trong việc thiết kế hệ thống chống
đỡ khi đào
Các bước trung gian trong quá trình thi công thông thường quan trọng hơn bước cuối cùng, nó quyết định việc thiết kế các bộ phận kết cấu
Trang 6Hệ thống chống đỡ
2
1 số loại hệ thống chống đỡ đã được sử dụng, dùng các kỹ thuật và vật liệu khác nhau, các hệ thống này
có thể được chia thành hệ thống tường mềm và nửa cứng (Wickham và Tiedemann, 1976) Độ đàn hồi và
độ mềm là sự khác biệt chủ yếu giữa 2 hệ thống này các ví dụ tường nửa cứng đó là các tường ngang
như các tường bê tông và các cọc bê tông chồng vào nhau 1 ví dụ về tường mềm đó là các cọc ván thép
Trang 7Hệ thống chống đỡ
2
Các hệ thống chống đỡ khi đào (Wilton, 1996):
Cọc chống đứng và ván lát ngang: các cọc thép hình tròn hay các cọc BTCT được dùng làm cọc chống đứng
Trang 8Hệ thống chống đỡ
2
Cọc ván thép
Trang 9Hệ thống chống đỡ
2
Các cọc BTCT đặt sát nhau: Các cọc đặt sát vào nhau được gọi chung là hệ cọc tiếp tuyến còn
những cọc chồng lên nhau gọi là hệ cọc cắt nhau
Trang 10Hệ thống chống đỡ
2
Loại hệ giằng
Hiện nay đang sử dụng 1 số loại hệ giằng Việc lựa
chọn giằng liên quan mật thiết đến hệ chống đào,
cách đào và thi công kết cấu vĩnh cữu
Các thanh chống truyền thống: Đây là hệ giằng
bên trong
Neo gia cố
Hệ thống kết hợp
Trang 11Áp lực đất thành bên
3
Tường bên thông thường quay xung quanh chân của nó
Trong trường hợp này áp lực thành bên bằng với áp lực
thu được theo lý thuyết của Rankine Ngược lại, hố đào
cho thấy 1 dạng dịch chuyển khác của tường
Trang 13Áp lực đất thành bên
3
Giới hạn đối với đường bao áp lực:
Đường bao áp lực đôi khi là các đường bao áp lực rõ
ràng Sự phân bố áp lực thực sự là 1 hàm của các bước thi công và độ cứng tương ứng của tường
Áp dụng đào các công trình sâu hơn 6m
Dựa trên giả thiết rằng mực nước ngầm thấp hơn cao độ đáy hố đào
Cát được giả thiết thấm nước tốt, áp lực thủy tĩnh bằng 0 Sét được giả thiết không thấm nước và áp lực thủy tĩnh là chưa xác định
Trang 14Ổn định đáy móng
3
Sụp đáy
hố đào trong đất sét
Trang 16Ổn định đáy móng
3
Ổn định đáy hố đào trong cát
Trang 17Lún nền
3
Độ uốn cong thành bên phụ thuộc vào 1 số yếu tố,
trong đó quan trọng nhất là thời gian từ lúc đào đến khi lắp đặt hệ chống tạm
Tường bên bị uốn cong gây ra lún khu vực xung quanh
Độ uốn cong tường bên phụ thuộc chủ yếu loại đất bên dưới đáy hố đào
Nếu 1 lớp đất cứng nằm bên dưới lớp sét ở đáy hố
đào thì các cọc cần được tựa trên lớp địa chất tốt hơn
Nó thông thường giúp tường hố đào ít bị uốn cong hơn
Trang 18Lún nền
3
Chuyển vị lớn nhất của tường bên (δH(max)) có mối
quan hệ mật thiết với hệ số an toàn chống sụp
Trang 19Lún nền
3
Tường bên bị uốn cong thông thường gây ra lún nền
Biến thiên độ lún của nền theo
khoảng cách (Peck 1969)
Biến thiên độ cong tường bên
theo lún nền (Mana và Clough 1981)
Trang 20Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
IZRAY là bộ phận chính của Hệ thống Vận tải chủ lực Izmir trong đó có hệ thống đường sắt khi hoàn thành xong sẽ có chiều dài tới 45km
Giai đoạn đầu tiên của dự án là tuyến đường dài 11.6 km giữa 2 ga Ucyol và Bornova đang được xây dựng
Có tổng cộng 10 ga trong giai đoạn đầu của dự
án 3 trong số này là các ga ngầm, 2 ga trên cao
Trang 21Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Trang 22Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
2 hầm đôi dài 1.7km nối giữa Ucyol và Bahribaba xuyên qua tầng đá andesite, thi công theo công nghệ NATM Diện tích mỗi hầm là 70m2
2 hầm này dẫn đến ga Konak, 1 công trình ngầm dài 410m thi công theo phương pháp lộ thiên
Tiếp sau ga Konak là 2 hầm đôi dài 2.8km xuyên qua tầng đất yếu, 2 hầm này được thi công theo phương pháp khiên đào cân bằng áp lực đất
Trang 23Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
2 hầm đôi thi công theo phương pháp EPB
Trang 24Sau khi qua đoạn ga Basmane dài 533m tuyến
ĐS trồi lên mặt đất và tiếp tục trên mặt đất hoặc trên cao Hệ thống ĐS công cộng này được đưa vào sử dụng từ năm 1998
Trang 25Lớp cuội sét và cuội sỏi có tuổi Neogene nằm ở độ sâu
15m Chỉ số SPT của lớp sét N=14÷30 và tăng theo chiều sâu.
Lớp đá gốc là andesite tuổi Miocene Lớp đá gốc không bị
Trang 26Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Mặt cắt địa chất:
Trang 27Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Thiết kế hầm thi công theo pp lộ thiên:
Khu gian Konak (Km 1+550~1+960), chiều sâu đào 17m, thi công trong khu vực đông dân cư nằm sát
Tháp đồng hồ lịch sử thành phố Izmir
Ga Cankaya (Km 2+708~2+906), chiều sâu đào xấp
xỉ 20m, nằm bên dưới trung tâm thương mại sầm uất Fevzi Pasa Boulevard
Ga Basmane (Km 3+500~4+053), chiều sâu đào xấp
xỉ 16m, nằm sát tòa nhà lịch sử Ga Đường sắt
Basmane
Trang 28Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Hầm thi công theo pp lộ thiên:
Trang 29Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Hệ chống đào và tường ngang ga Konak
Trang 30Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Các bước thi công theo pp lộ thiên:
Đào mở hố đào sâu 2m với thành bên tạo nghiêng là bước đầu tiên để giảm chiều cao tường ngang
Đào các rãnh sử dụng vữa sét betonite rồi sau đó thi công các tường ngang BTCT đổ tại chỗ
Sau đó đào đất giữa các tường và lắp 4 hàng cọc
chống thép dạng ống giữa các tường này Cọc thép
Trang 31Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Các bước thi công theo pp lộ thiên:
Khoảng cách ngang giữa các thanh chống s=4÷8m
Khi đào tới cao độ đáy hố, đổ lớp bê tông bịt đáy dày d= 0.75÷1m Sau đó thi công tường bao vĩnh cữu của kết cấu ga
Song song với công việc thi công tường ga, người ta tháo bỏ các thanh chống thép thành hố và thi công
lớp phòng nước
Trang 32b (m)
Chiều cao tường được đỡ h(m)
Chiều sâu tường vĩnh cửu D(m)
Chiều cao tổng cộng H=h+D
Chiều sâu đào lớn nhất (m)
Konak
1+550
~ 1+960
Cankaya
2+708
~ 2+906
19.20 ~ 22.25
1.20
14.80
~ 15.60
7.65
~ 8.70
23.00
~ 24.00
20.00
Trang 33đào được dự tính nhờ sử dụng phần mềm PTHH SIGMA/
W và SEEP/W của GEOSLOPE
Biến dạng đỉnh tường ngang và độ lún tương ứng của
các công trình gần kề được dự tính trong giai đoạn thiết
kế Các kết quả này đem so sánh với các kết quả đo
được Các biến dạng đo được nằm trong giới hạn cho
phép
Trang 34Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Lưới biến dạng đối với bước thi công thứ 2
Trang 35Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Công tác đo đạc:
Trong khi thi công, công việc đo đạc chi tiết tại hiện
trường được thực hiện để quan sát ứng xử của các tường ngang và các công trình lân cận
Thiết bị đo áp suất thủy tĩnh
Thiết bị đo chuyển vị góc
Thiết bị đo tải trên các thanh chống
Các điểm đo chuyển vị được bố trí tại các đầu dầm
Trang 36Số lượng thbị đo tải
Số lượng các điểm
đo chuyển vị
Tại thanh chống Tại đầu dầm
Trang 37Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Các bước thi công và đo đạc khi xây dựng ga Cankaya
Trang 38Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Đo chuyển vị góc – Ga Cankaya
Trang 39Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Đo tải
Trang 40Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Khoảng cách thanh chống tại 3 ga ở giai đoạn thi công:
Số đo tải đọc được cho thấy rằng 2 hàng thanh chống đầu chịu tải quá lớn khi so sánh với tải trọng dự tính trong bước thiết kế
Trong khi đó, tải trọng đo được ở hàng thanh chống cuối cùng (sát đáy hố đào) rất nhỏ
Dựa vào các số liệu tải đọc được khoảng cách giữa các
hàng thanh chống đã được điều chỉnh lại cho phù hợp
Bảng sau cho biết khoảng cách giữa các hàng thanh chống
Trang 42Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Thanh chống 2 hàng đầu tiên chịu tải trọng ngang lớn nhất,
trong khi các thanh hàng 4 chịu tải trọng rất nhỏ, khoảng 30 tấn
Sự phân bố áp lực đất thấy được này không giống với sự phân
bố trong lý thuyết cho các tường nhiều cột chống trong điều kiện đất cố kết và không cố kết
Tương tự các giá trị lực xô ngang đo được tại các thanh giằng dưới cũng nhỏ hơn nhiều so với dự tính, điều này được báo cáo trong tài liệu của Xanthakos, 1994 Người ta tin rằng điều này là tác động tổng hợp của 2 yếu tố: (1) sức kháng đáy hố đào sinh
ra nhờ sức kháng bị động từ các tường ngang nằm trong lớp sét
Trang 43Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Nước ngầm xâm nhập vào trong hố đào:
Người ta thấy nước phụt ra ở góc phía đông của ga
Cankaya khi đào tới cao độ -18m vào ngày 23-9-1997
Nước tràn vào hố đào với lưu lượng 45m 3 /h, nước ngừng dâng lên ở mức 8m dưới mặt đất và khi đó đạt tới trạng
thái cân bằng
Công tác khảo sát chi tiết rộng khắp bao gồm khoan lỗ bổ sung, lắp thiết bị đo áp suất thủy tĩnh ở vùng lân cận nơi nước phụt ra đã được thực hiện với mong muốn tìm ra
nguyên nhân sự cố
Các biện pháp khắc phục đã được lựa chọn và thực hiện
Trang 44Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Nước ngầm xâm nhập vào trong hố đào:
Trang 45Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Nước ngầm xâm nhập vào trong hố đào:
Trang 46Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Các biện pháp khắc phục sau đã được chọn:
Bơm vữa xi măng - betonite và silica vào dưới các
tấm dầm ngang tại khu vực bị sự cố
Sau khi bơm vữa xong, bơm nước trong hố đào ra để kiểm tra mức độ hiệu quả của công tác bơm vữa
Khi việc bơm vữa chưa hoàn tất, thi công các giếng phụ để kiểm soát sự chênh lệch mực nước và vận tốc dòng chảy và thoát nước bằng cách dùng những
Trang 47Hệ thống đường sắt nhẹ Izmir
4
Sau 1 tháng rưỡi khảo sát tỉ mĩ người ta đã quyết định
khoan 3 giếng sâu để khắc phục sự cố nước tràn
3 giếng này khoan sâu đến tậng tầng ngậm nước, 1 chiếc bên trong và 2 chiếc ở bên ngoài hố, nhờ đó nước thoát
Trang 48Kết luận
5
Phương pháp thi công lộ thiên là 1 pp rất phù hợp đối với các
hầm nông trong điều kiện địa chất bất lợi, đặc biệt tại các khu vực thành thị Các máy đào hầm TBM hay khiên đào cân bằng áp lực đất EPB có thể được sử dụng để thi công các hầm dạng này
Hệ thống giao thông ngầm nên được chôn nông và thi công theo phương pháp lộ thiên
Các nguyên tắc cơ bản của pp này đã được nghiên cứu ở đây 1 loạt các hệ thống chống đào đã được giới thiệu Áp lực thành bên trong hố đào, độ ổn định móng và lún của các công trình gần kề sinh ra do đào hầm cũng đã được nghiên cứu
Trang 49XIN CẢM ƠN