1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)

152 215 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 2,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Danh Văn Lâm

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁ Ở CÁC KHU VỰC DỰ KIẾN XÂY ĐẬP NGĂN MẶN Ở TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Danh Văn Lâm

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁ Ở CÁC KHU VỰC DỰ KIẾN XÂY ĐẬP NGĂN MẶN Ở TỈNH BẾN TRE

Chuyên ngành: Sinh thái học

Mã số: 60 42 01 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM CỬ THIỆN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Cử Thiện

Mọi số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa được các tác giả công bố trong bất kì công trình nào

Các trích dẫn về bảng biểu, kết quả nghiên cứu của những tác giả khác; tài liệu tham khảo trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và đúng theo quy định

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2017

Tác giả luận văn

Danh Văn Lâm

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường, Phòng Sau đại học, quý Thầy/Cô trong Khoa Sinh học - Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn này

Qua đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã động viên, ủng hộ, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn Xin chân thành cảm ơn

TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 09 năm 2017

Tác giả luận văn

Danh Văn Lâm

Trang 5

Mục lục

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Danh mục viết tắt

Danh mục hình

Danh mục bảng

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

5 Phạm vi nghiên cứu 2

6 Ý nghĩa của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN 3

1.1 Tổng quan về nguồn lợi cá ở đồng bằng sông Cửu long 3

1.1.1 Về thành phần loài 3

1.1.2 Về sản lượng khai thác 7

1.2 Tổng quan về Bến Tre 9

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên 9

1.2.2 Đặc điểm xã hội 16

1.2.3 Hiện trạng hệ thống thủy lợi 18

1.2.4 Tình hình nghiên cứu khu hệ cá tỉnh Bến Tre 20

1.3 Tác động từ việc điều tiết nước đến nguồn lợi thủy sản 22

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Thời gian, địa điểm 25

2.1.1 Thời gian nghiên cứu 25

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 27

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu cá ngoài thực địa 27

Trang 6

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cá trong phòng thí nghiệm 29

2.2.3 Phương pháp đánh giá độ đa dạng 30

2.2.4 Phương pháp điều tra 31

2.2.5 Phương pháp phân tích số liệu 32

2.5.6 Phương pháp xác định sự phân bố theo độ măn 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đa dạng khu hệ cá tỉnh Bến Tre 33

3.1.1 Danh sách các loài cá 33

3.1.2 Đặc điểm khu hệ cá 47

3.1.3 Biến động thành phần loài và độ đa dạng sinh học khu hệ cá ở Bến Tre 52

3.1.4 Các loài cá kinh tế 57

3.1.5 Các loài cá quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng 61

3.1.6 Thành phần loài cá ở các khu vực dự kiến xây cống ngăn mặn 63

3.2 Thực trạng khai thác cá ở tỉnh Bến Tre 65

3.2.1 Một số thông tin về chủ hộ 65

3.2.2 Thông tin về các loại ngư cụ khai thác thủy sản 65

3.2.3 Thông tin về các khu vực khai thác thủy sản 66

3.2.4 Thông tin về mùa vụ khai thác thủy sản 67

3.2.5 Thông tin về sản lượng khai thác thủy sản 68

3.2.6 Thông tin về các loại thủy sản đánh bắt 68

3.2.7 Nhận thức về xu hướng biến động nguồn lợi thủy sản 69

3.2.8 Nhận thức về tác động của cống điều tiết nước đến sản lượng khai thác thủy sản 70

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC PL1

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Đa dạng thành phần loài cá trong mẻ khai thác ở đồng bằng sông Cửu long 5

Hình 1.2 Xu hướng biến động sản lượng khai thác thủy sản nội địa 8

Hình 1.3 Vị trí tỉnh Bến Tre 9

Hình 1.4 Sơ đồ địa hình tỉnh Bến Tre 11

Hình 1.5 Sơ đồ thủy văn tỉnh Bến Tre 14

Hình 1.6 Bản đồ ranh giới mặn tỉnh Bến Tre 16

Hình 1.7 Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre 17

Hình 1.8 Sơ đồ hiện trạng chuẩn bị kỹ thuật Vùng 20

Hình 2.1 Các điểm nghiên cứu 25

Hình 2.2 Một số hình ảnh nghiên cứu ngoài thực địa 29

Hình 2.3 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở Cá xương 30

Hình 3.1 Biểu đồ % số lượng họ trong các bộ của khu hệ cá tỉnh Bến Tre 47

Hình 3.2 Số lượng loài trong các bộ của khu hệ cá ở Bến Tre 48

Hình 3.3 Số lượng loài ở các nhóm sinh thái khác nhau theo độ mặn 52

Hình 3.4 Đồ thị biến động thành phần loài khu hệ cá ở Bến Tre qua các tháng 53

Hình 3.5 Độ tương đồng về thành phần loài khu hệ cá Bến Tre qua các tháng 54

Hình 3.6 Cấu trúc thành phần khu hệ cá ở Bến Tre theo mùa 56

Hình 3.7 Độ đa dạng thành phần loài cá theo mùa 57

Hình 3.8 Sơ đồ cấu trúc các cấp đánh giá 61

Hình 3.9 Các loại ngư cụ khai thác được sử dụng theo vùng nghiên cứu 66

Hình 3.10 Các vùng khai thác thủy sản theo khu vực nghiên cứu 66

Hình 3.11 Thông tin về mùa vụ khai thác thủy sản theo vùng nghiên cứu 67 Hình 3.12 Tỉ lệ các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến biến động nguồn lợi thủy sản70

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Một số nghiên cứu tiêu biểu về khu hệ cá ở đồng bằng sông Cửu long 6

Bảng 2.1 Thông tin về 8 cống ngăn mặn được đề xuất xây dựng ở tỉnh Bến Tre 26

Bảng 2.2 Danh sách các ngư dân thu mẫu tại khu vực nghiên cứu 27

Bảng 2.3 Thang đánh giá của chỉ số Shannon-Weaver và Margalef 31

Bảng 3.1 Danh sách các loài cá ở Bến Tre 33

Bảng 3.2 Tỉ lệ các họ, giống, loài thuộc các bộ cá ở tỉnh Bến Tre 49

Bảng 3.3 Thành phần, tỉ lệ các giống, loài trong những họ cá ở tỉnh Bến Tre 49

Bảng 3.4 Số loài phân bố trong các nhóm sinh thái theo độ mặn 52

Bảng 3.6 Số lượng loài và tỉ lệ % so với khu hệ cá của Bến Tre qua các tháng 52

Bảng 3.7 Các chỉ số đa dạng của khu hệ cá Bến Tre qua các tháng 53

Bảng 3.8 Số lượng họ, giống, loài của các bộ cá theo mùa 55

Bảng 3.9 So sánh giá trị trung bình của các chỉ số đa dạng sinh học theo mùa 57

Bảng 3.10 Danh sách các loài cá có giá trị kinh tế ở Bến Tre 58

Bảng 3.11 Danh sách các loài cá quý hiếm, bị đe dọa 62

Bảng 3.12 Tỉ lệ các họ, giống, loài thuộc các bộ cá ở các khu vực xây cống 63

Bảng 3.13 Số lượng loài và tỉ lệ các loài tại 8 khu vực xây cống phân theo phía ngoài và phía trong 64

Bảng 3.12 Thông tin về sản lượng khai thác thủy sản theo vùng nghiên cứu 68

Bảng 3.13 Thông tin về các loài thủy sản hiếm trong mẻ đánh bắt 69

Bảng 3.14 Nhận thức về tác động tích cực của việc xây dựng cống ngăn mặn 71

Bảng 3.15 Nhận thức về tác động tiêu cực của việc xây dựng cống ngăn mặn 71

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Đồng bằng sông Cửu Long có tổng diện tích tự nhiên là 4.057 ha (chiếm 12,26% diện tích cả nước) với hơn 17 triệu người (chiếm 19,48% dân số cả nước) Đây là vùng đóng vai trò quan trọng nhất đối với an ninh lương thực và nền kinh tế của Việt Nam

Ví dụ như sản lượng lúa ở vùng ĐBSCL (năm 2015) đóng góp tới 56,75% sản lượng lúa của cả nước; 40,40% sản lượng khai thác thuỷ sản cả nước; 69,96% sản lượng nuôi trồng thuỷ sản cả nước [49] Đáng chú ý là vùng ĐBSCL có địa hình khá thấp rất dễ bị ảnh hưởng từ tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng Theo dự báo, vào năm

2040, mực nước biển quanh khu vực này sẽ tăng thêm 30 cm hoặc cao hơn Cùng với nước biển dâng là hiện tượng nhiễm mặn ở các vùng trũng Đặc biệt ở những vùng phụ thuộc vào nông nghiệp, nhiễm mặn làm tăng nguy cơ mất mùa cho một số loại cây trồng như lúa nước [48]

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng, Việt Nam đã có kế hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu (giải pháp công trình và phi công trình) để phát triển nông nghiệp bền vững ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL Các công trình ngăn mặn trong mùa khô là một trong những giải pháp quan trọng đã được xác định Một số công trình ngăn mặn đã có, một số đang xây dựng và một số đang trong giai đoạn đề xuất thực hiện

Tại Bến Tre, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, cơ quan tư vấn đã nghiên cứu đề xuất danh sách 08 công trình đầu mối (các cống An Hóa, Thủ Cửu, Bến Tre, Bến Rớ, Tân Phú, Cái Quao, Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam) phải đầu tư cấp thiết trong giai đoạn 2012 - 2020, gọi chung là dự án thủy lợi Bắc Bến Tre Đến nay, dự án này đã được Chính phủ Việt Nam đưa vào danh sách các dự án ưu tiên sử dụng ODA vốn vay của Chính phủ Nhật Bản [41]

Việc xây dựng các công trình ngăn mặn này sẽ tác động trực tiếp đến nguồn lợi thuỷ sản và đời sống ngư dân, đặc biệt là những người đang phụ thuộc vào nguồn lợi thuỷ sản này Do đó, việc nghiên cứu thành phần loài, đặc điểm phân bố của các loài

cá ở Bến Tre cũng như thực trạng khai thác nguồn lợi cá ở đây góp phần tạo cơ sở

Trang 11

khoa học cho việc đánh giá tác động của các công trình ngăn mặn trước khi xây dựng, giúp ngành nông nghiệp phát triển một cách bền vững là hết sức cần thiết Vì thế, đề

tài “Nghiên cứu thành phần loài và hiện trạng khai thác cá ở các khu vực dự kiến xây

đập ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre” được thực hiện

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu thành phần loài cá và hiện trạng khai thác cá ở Bến Tre

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Các loài cá và các nông hộ tại tỉnh Bến Tre

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Nghiên cứu thành phần loài thông qua việc thu mẫu định kỳ

a Xác định thành phần loài cá tại tỉnh Bến Tre

b Đánh giá sự biến động về thành phần loài và độ ĐDSH của khu hệ cá ở tỉnh Bến Tre theo các tháng và theo mùa

2 Điều tra thực trạng khai thác thủy sản ở Bến Tre

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện tại các thủy vực trên địa bàn tỉnh Bến Tre

6 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Góp phần bổ sung dữ liệu về khu hệ cá ở Bến Tre;

Làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá tác động của các công trình ngăn mặn trước và sau xây dựng

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGUỒN LỢI CÁ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những “vựa thủy sản” lớn của cả nước, không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm trong nước mà còn đóng góp vào kim ngạch

xuất khẩu, lưu giữ nguồn gen quý hiếm và các loài cá có giá trị kinh tế cao

- Theo Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) thì nguồn lợi cá nước ngọt vùng ĐBSCL gồm có 173 loài , 99 giống, 39 họ và 13 bộ trong đó bộ cá chép (Cypriniformes) 50 loài, 27 giống của 3 họ; bộ cá Vược (Perciformes) 42 loài, 29 giống của 15 họ; bộ cá Nheo (Siluriformes) 41 loài, 18 giống của 7 họ; bộ cá Trích (Clupeiformes) 12 loài, 7 giống của 2 họ Trong các bộ còn lại, mỗi bộ chỉ có 1 – 6 loài, 1- 4 giống và 1-2 họ [16]

- Kết quả nghiên cứu của Hứa Thị Bạch Loan và cs (2000) cho thấy nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông ven biển ĐBSCL có 169 loài cá, trong đó bộ cá Vược (Perciformes) có số loài cao nhất với 87 (chiếm 51,38%); nhóm cá nước lợ cửa sông chiếm ưu thế với 115 loài (68,05%), nhóm cá di cư giữa nước mặn và nước ngọt 22 loài (13,03%) Đồng thời nhóm nghiên cứu cũng phân chia cá ở ĐBSCL thành 4 nhóm: (1) nhóm cá sông (hay cá trắng), (2) Nhóm cá ruộng nước phèn (hay cá đen),

(3) Nhóm cá sông nước lợ, (4) Nhóm cá có nguồn gốc biển (di cư) [17]

- Hoàng Đức Đạt và cs (2008), “Đa dạng sinh học khu hệ cá ĐBSCL” đã xác

định 253 loài, 132 giống, 42 họ và 11 bộ [11]

Trang 13

- Vithayanon (2008) có liệt kê được 461 loài cá trong sách ảnh về các loài cá ở

khu vực ĐBSCL [38]

- Quan trắc cá bột ở sông Tiền và sông Hậu thuộc ĐBSCL của Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II (2009) đã xác định được tổng số 165 loài, trong đó 113 loài ở sông Hậu và 139 loài ở sông Tiền, thuộc 32 họ và 11 bộ Theo đó đa dạng loài cá trên sông Tiền cao hơn sông Hậu thông qua chỉ số đo Shannon-Weaver (2,2734 so với 2,0186) [9]

- Tại hội thảo về “Đa dạng thành phần loài cá ở lưu vực sông Mê-kông và Chao Phraya” (tổ chức tại Cần Thơ, tháng 2/2011) đã thống kê thành phần loài ở địa phận ĐBSCL (Việt Nam) gồm 292 loài thuộc 188 giống và 70 họ Trong đó có 5 loài chưa được mô tả (có thể loài mới), 8 loài chưa định loại được, 62 loài mới ghi nhận lần đầu

ở lưu vực sông Mê-kông và Việt Nam trong đó có 9 loài mới ghi nhận lần đầu ở Việt Nam [42]

- Dự án nghiên cứu về các loài cá ở ĐBSCL do sự hợp tác giữa Trường Đại học Cần Thơ (CTU) và Quỹ Môi trường Thiên nhiên Nagao (NEF) thực hiện từ năm 2006 đến năm 2013, đã xác định được 322 loài, 77 họ, 21 bộ Các loài cá được mô tả chi tiết trong quyển “Mô tả, định loại cá ĐBSCL, Việt Nam” do nhà xuất bản Đại học Cần

Thơ ấn hành năm 2013 [12]

- Mai Đình Yên & Phan Thanh Lâm (2015), “Giới thiệu về nghề cá và nuôi trồng thuỷ sản ở hạ lưu sông Mê-kông”, đã xác định 250 loài, thuộc 42 họ [34]

- Thái Ngọc Trí (2015), Luận văn tiến sĩ, “Nghiên cứu Đa dạng sinh học khu hệ

cá ĐBSCL và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển Kinh tế - xã hội” có kết hợp nghiên cứu về sinh học phân tử của 20 loài cá thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes) Kết quả nghiên cứu đã phân tích và xác định được 216 loài cá, thuộc 60 họ, 19 bộ Kết quả nghiên cứu cũng đã ghi nhận mới 6 loài cá thuộc 3 họ 2

bộ, cho khu hệ cá vùng ĐBSCL, gồm: cá Lòng tong đuôi vàng Rasbora tornieri Ahl, 1922; cá Cóc nhiều râu Cyclocheilichthys heteronema (Bleeker, 1854); cá Khoai (Acantopsis sp1); cá Khoai (Acantopsis sp2); cá Khoai (Acantopsis sp3) và cá Mang rổ

Toxotes microlepis Günther, 1860 Trong 216 loài cá thuộc 60 họ, 19 bộ ở vùng

Trang 14

ĐBSCLcũng ghi nhận có 19 loài nằm trong sách Đỏ Việt Nam (2007) và danh lục Đỏ thế giới (IUCN, 2014), với tình trạng bị đe dọa ở các mức độ khác nhau [28]

- Theo Chương trình Quan trắc sản lượng KTTS của ngư dân vùng ĐBSCL thuộc Chương trình thủy sản của Ủy hội sông Mê-kông từ năm 2007 đến năm 2016 đã xác

định được 234 loài Một số loài cá quý hiếm được xác định gồm cá Hô (Catlocarpio

siamensis) và cá Trà sóc (Probarbus jullieni), tuy nhiên hai loài cá quý hiếm này

không ghi nhận được trong năm 2016 Ngoài ra, cũng xác định được 9 loài cá ngoại lai Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy thành phần loài đa dạng nhất ở khu vực ngập sâu và có xu hướng giảm mạnh trong thời gian 2008 – 2014 (Hình 1.1) [7]

Không ngập Ngập nông Ngập sâu Ven biển TC

Hình 1.1 Đa dạng thành phần loài cá trong mẻ khai thác

ở Đồng bằng sông Cửu Long [7]

(Nguồn: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II)

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu về những khu vực cũng như những khía cạnh khác nhau về khu hệ cá ở ĐBSCL như:

+ Nguyễn Xuân Đồng và Hoàng Đức Đạt (2009), “Thành phần loài cá có tiềm năng làm cảnh ở các thủy vực nội địa các tỉnh Nam bộ” xác định được 149 loài, 77 giống, 31 họ và 9 bộ [13]

+ Công trình nghiên cứu “Đa dạng thành phần loài cá trên sông Hậu” của Vũ Ngọc Út và cs từ tháng 6/2011 đến tháng 7/2012 thuộc Khoa Thủy sản của trường Đại

Trang 15

học Cần Thơ đã xác định được 192 loài cá thuộc 49 họ, 16 bộ Trong đó vùng thượng lưu của sông có 121 loài, vùng trung lưu và hạ lưu của sông lần lượt là 107 loài và 145 loài [39]

+ Võ Thành Toàn và Trần Đắc Định (2013), khi nghiên cứu về “Thành phần loài

và mức độ phong phú của các loài cá họ Eleotridae trên sông Hậu” đã xác định được 5 loài thuộc họ này [26]

Nhìn chung, hình nghiên cứu cá ở ĐBSCL ngày càng phát triển hơn Bên cạnh những nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sự biến động số lượng, thành phần loài, các nghiên cứu gần đây có kết hợp với phân tích ADN giúp việc định loại ngày càng chính xác hơn Nếu so sánh với khu hệ cá của hệ thống sông Mê-kông với 3275 loài (Rainboth và cs, 2012) [37] thì khu hệ cá ĐBSCL (theo Trần Đắc Định, 2013) chiếm

tỷ lệ 9,83% tổng số loài Nếu so sánh với khu hệ cá Campuchia với 500 loài (Rainboth, 1996) [36], thì khu hệ cá vùng ĐBSCL chiếm 64,4% Nếu so sánh với khu hệ cá Lào với 481 loài (Kottelat, 2001) [33], thì khu hệ cá ĐBSCL chiếm 69,94% Điều này cho thấy khu hệ cá ĐBSCL có độ đa dạng cao về thành phần loài

Bảng 1.1 Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về khu hệ cá

ở Đồng bằng sông Cửu Long

1 Mai Đình Yên và cs (1992) Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ 255

234

Trang 16

1.1.2 Về sản lượng khai thác

Đồng bằng sông Cửu Long tuy chỉ chiếm 12% diện tích của cả nước, nhưng đây lại là khu vực sản xuất lương thực trọng điểm của cả nước Dân số năm 2015 đạt 17,58 triệu người (19% dân số cả nước) với mật độ dân số khá cao đạt 434 người/km2 Tổng sản lượng thủy sản vùng ĐBSCL năm 2015 đạt 3,68 triệu tấn, chiếm 56% tổng sản lượng thủy sản của cả nước [49] Và theo Quyết định số 492/QĐ-TTg, cho đến năm

2020, ĐBSCL sẽ là trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản, đóng góp lớn vào xuất khẩu nông thủy sản của cả nước Ngoài ra, vùng kinh

tế này còn đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ sinh học, cung cấp giống, các dịch vụ kỹ thuật, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp cho cả vùng ĐBSCL [41]

Khai thác thủy sản vùng ĐBSCL có vai trò quan trọng đến sinh kế người dân nghèo vùng nông thôn, tuy nhiên sản lượng KTTS có xu hướng suy giảm dần trong thời gian gần đây Theo kết quả thống kê từ Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II cho thấy sản lượng KTTS nội địa năm 2001 đạt giá trị cao nhất (cả nước đạt 244 ngàn tấn; vùng ĐBSCL đạt 185 ngàn tấn), sau đó sản lượng này có khuynh hướng giảm nhanh và liên tục trong những năm gần đây (Hình 1.2) [7] Đáng chú ý là sản lượng KTTS ở vùng ĐBSCL giảm rất mạnh so với sản lượng của cả nước Đặc biệt trong năm 2015, sản lượng KTTS nội địa vùng ĐBSCL giảm hơn 50% sản lượng so với năm

2001, trong khi đó sản lượng của cả nước chỉ giảm gần 20% tổng sản lượng so với năm 2001 Đồng thời sản lượng khai thác trên một đơn vị thời gian và diện tích lưới của ngư dân đều có xu hướng giảm Điều này cho thấy nguồn lợi thủy sản vùng ĐBSCL đang ngày càng bị tác động mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố khác nhau như việc khai thác quá mức, môi trường sống bị thu hẹp, chất lượng môi trường bị suy thoái, các công trình thủy điện, thủy lợi ngăn cản sự di cư của các loài cá

Trang 17

Hình 1.2 Xu hướng biến động sản lượng khai thác thủy sản nội địa [7]

(Nguồn: Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II)

Hơn nữa, hoạt động nghề cá ở ĐBSCL diễn ra quanh năm, không có thời gian nghỉ, đánh bắt ở mọi loại hình thủy vực từ thượng nguồn đến hạ lưu với nhiều loại ngư

cụ khai thác khác nhau, phương thức khai thác tận thu, lạm sát là nguyên nhân dẫn đến

nguồn lợi cá ở ĐBSCL ngày càng cạn kiệt [28] Theo Phan Thanh Lâm (2015),

nguyên nhân chính làm cho sản lượng KTTS ở ĐBSCL giảm dần được phía địa phương cho biết là việc: i) gia tăng làm đê bao để canh tác lúa 3 vụ dẫn đến việc khu vực cư trú của cá và vùng đánh bắt bị suy giảm; ii) tình trạng sử dụng ngư cụ lạm phá vẫn còn tồn tại (sử dụng ngư cụ điện, sử dụng thuốc độc, và các loại ngư cụ có mắt lưới nhỏ ) [17] Theo Poulsen (2005), sự đe dọa đối với nguồn lợi cá và nghề cá sông Mê-kông hơn lúc nào hết chịu ảnh hưởng của kế hoạch quản lý nước như tưới tiêu, thủy điện và ngăn lũ [22]

Nhìn chung nguồn lợi thủy sản ở khu vực ĐBSCL có xu hướng giảm bởi sự tác động của nhiều yếu tố như cường khai thác quá mức, thay đổi chế độ thủy văn, chất lượng môi trường sống bị suy thoái và mất sự kết nối giữa các sinh cảnh để các loài cá

di cư,… do các công trình thủy điện, thủy lợi

Trang 18

1.2 TỔNG QUAN VỀ BẾN TRE

1.2.1 Đặc điểm tự nhiên

1.2.1.1 Vị trí địa lí [40]

Bến Tre là tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, có toạ độ địa lý 9048’ – 10020’ vĩ Bắc,

105057’ – 106048’ kinh Đông; được hợp thành bởi cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên) Bến Tre cách thành phố Hồ Chí Minh 86 km, cách thành phố Cần Thơ 120 km, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông

Hình 1.3 Vị trí tỉnh Bến Tre [2]

(Nguồn: Phân viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn miền Nam)

Trang 19

1.2.1.2 Đặc điểm địa hình [2]

Bến Tre có nền đất yếu tại các vùng đất trũng thấp, ngập nước, khu vực ven biển

có các giồng cát, địa hình nhìn chung bằng phẳng và có khuynh hướng thấp dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam Chênh mực tuyệt đối giữa điểm thấp nhất và điểm cao nhất vào khoảng 3,5m Có thể chia địa hình Bến Tre thành 3 vùng:

- Vùng địa hình thấp, cao trình < 1 m, thường ngập nước theo triều, gồm vùng đất trũng xa sông, cù lao mới bồi, bãi triều ven sông, bờ biển, rừng ngập mặn

- Vùng địa hình trung bình, cao bình 1- 2 m, bằng phẳng, ngập trung bình hoặc ít ngập theo triều, chiếm khoảng 90% diện tích toàn tỉnh

- Vùng địa hình cao, bao gồm giải đất cao ven các sông lớn từ Chợ Lách đến Châu Thành và phía Bắc – Tây Bắc của thành phố Bến Tre (cao trình 1,8 – 2,5 m), các giồng cát tại khu vực ven biển (cao trình 3,0 – 3,5m)

Nhìn chung, địa hình Bến Tre thích hợp cho sản xuất nông nghiệp trên quy mô lớn Đồng thời, đường bờ biển có khuynh hướng bồi thêm theo hướng Đông – Đông Nam tại các cửa sông Ba Lai và Cổ Chiên do tác động tổng hợp giữa các dòng hải lưu ven bờ và phù sa sông đổ ra biển Tốc độ bình quân lấn biển hàng năm 9,25 km2 Tuy nhiên, địa hình bị sông rạch chia cắt mạnh, có nhiều vùng trũng, nền đất yếu khả năng chịu lực kém đòi hỏi chi phí gia cố nền móng cao đối với các công trình xây dựng, công trình giao thông…

Trang 20

Hình 1.4 Sơ đồ địa hình tỉnh Bến Tre [2]

(Nguồn: Phân viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn miền Nam)

1.2.1.3 Đặc điểm khí hậu [2]

- Nhiệt độ không khí

Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa khá ôn hòa Nền nhiệt trung bình tương đối cao và ổn định Nhiệt độ bình quân hàng năm 26 – 27oC và không có sự chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 5 là 29,2oC) và tháng mát nhất (tháng 11 là 25,2oC) Trong năm, không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 20oC; nhiệt độ cao nhất tuyệt đối trong ngày khoảng 35,8oC và thấp nhất 17,6oC

Tổng số giờ nắng cao, đạt khoảng 2.650 giờ/năm, trong đó mùa khô có lượng nắng trung bình 8 – 9 giờ/ngày, mùa mưa bình quân 5,5 – 7 giờ/ngày

- Lượng mưa

`Có lượng mưa năm phong phú và khá ổn định qua các năm Lượng mưa phân hoá thành hai mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 – 11 và mùa khô từ 12 – 4 năm sau

Trang 21

Lượng mưa trung bình thấp (1.210 – 1.500 mm/năm) và giảm dần theo hướng Đông, trong đó mùa khô lượng mưa chỉ vào khoảng 2 – 6% tổng lượng mưa cả năm

Vào mùa khô, lượng bốc hơi bình quân từ 4 – 6 mm/ngày, vào mùa mưa bốc hơi giảm còn 2,5 đến 3,5 mm/ngày

- Độ ẩm

Nhìn chung khá cao, trung bình 76 – 86%, trong đó các huyện ven biển có độ ẩm tương đối 83 – 91%; độ ẩm phân hoá mạnh theo mùa với chênh lệch giữa tháng ẩm nhất và tháng khô nhất khoảng 15%

- Gió bão

Chịu ảnh hưởng chế độ gió mùa Địa bàn chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính: gió mùa Tây – Tây Nam thường xuất hiện trong mùa mưa (tháng 5 – 9), tốc độ trung bình 1,0 – 1,2 m/s (riêng vùng biển 2,0 – 3,9 m/s), tốc độ tối đa 10 – 18 m/s (vùng biển

12 – 20 m/s); gió Đông – Đông Bắc (gió chướng) thổi theo hướng từ biển vào từ tháng

10 – 4, có tác động làm dâng mực nước triều, đẩy mặn xâm nhập sâu vào nội đồng, làm di chuyển các ngư trường khai thác cá sang các vùng khác khuất gió biển Tây, tốc

độ trung bình

1.2.1.4 Đặc điểm thủy văn [2]

- Mạng lưới sông ngòi

Sông Tiền, trước khi đổ ra biển tách ra làm bốn nhánh: sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, phân bố như hình nan quạt ôm gọn ba dải cù lao Bến Tre Tất cả đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và đổ ra biển hàng trăm tỷ mét khối nước mỗi năm Bốn con sông này giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân Bến Tre

Sông Mỹ Tho là tên gọi của một đoạn sông Tiền, bắt đầu từ chỗ phân nhánh ở chót cù lao Minh, ngang Vĩnh Long cho đến cửa Đại (riêng đoạn từ cồn Tàu ra đến cửa biển còn có tên là sông cửa Đại) Sông Mỹ Tho chảy suốt theo chiều dọc của tỉnh, dài 90km, làm ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và tỉnh Tiền Giang Lòng sông sâu

và rộng, trung bình từ 1.500m đến 2.000m, và càng ra biển càng rộng Trên sông có

Trang 22

nhiều cồn lớn như cồn Thới Sơn, cồn Rồng (thuộc tỉnh Tiền Giang), cồn Phụng, cồn Tàu (thuộc tỉnh Bến Tre)

Sông Cổ Chiên nằm phía Nam tỉnh, có chiều dài khoảng 80km, làm gianh giới tự nhiên giữa tỉnh Bến Tre và hai tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, mang những đặc trưng như sông Mỹ Tho Trên dòng sông Cổ Chiên cũng có nhiều cù lao và cồn như : cù lao Nai, cồn Chen, cồn Dung, cồn Lớn Các cồn này thuộc về tỉnh Bến Tre

Sông Hàm Luông là con sông lớn chảy trọn vẹn trên đất Bến Tre, ranh giới tự nhiên giữa hai cù lao Bảo và Minh dài 70km Lòng sông rộng từ 1.200m đến 1.500m, đoạn ra đến cửa biển rộng đến hơn 3.000m, sâu từ 12m – 15m Trên sông có những

cù lao và cồn đất nổi tiếng như : cù lao Tiên Long, Thanh Tân, Lăng, Ôc, Lá, cồn Hồ, cồn Lợi …

Sông Ba Lai nằm trọn vẹn trong địa phận tỉnh Bến Tre, có chiều dài 55km chảy

từ xã Tân Lợi ra tới cửa biển, cửa Ba Lai Xưa kia, sông sâu và rộng, nhưng từ những thập kỷ đầu thế kỷ XX, do phù sa sông Cửu Long bồi lấp ngày một nhiều ở phía cồn Dơi (vàm Ba Lai đến xã Thành Triệu) nên dòng sông cạn dần, và ngày nay, đoạn trên sông Ba Lai tách hẳn ra khỏi sông Mỹ Tho

Ngoài bốn con sông chính trên, Bến Tre còn có một mạng lưới sông, rạch, kênh đào chằng chịt nối liền nhau, tạo thành một mạng lưới giao thông và thủy lợi rất thuận tiện Bến Tre có hàng trăm sông, rạch và kênh, trong đó có trên 60 con sông, rạch và kênh rộng từ 50m – 100m Đáng chú ý có các sông, rạch và kênh quan trọng sau đây:

- Sông Bến Tre: dài khoảng 30km, chảy từ trung tâm cù lao Bảo (Tân Hào – Giồng Trôm), một nhánh kết nối với kênh Chẹt Sậy qua sông Ba Lai, một nhánh qua thị xã, đổ ra sông Hàm Luông Đây là tuyến đường thủy rất quan trọng của tỉnh

- Rạch Cái Mơn: dài 11km, chảy qua vùng cây ăn trái nổi tiếng trù phú Vĩnh Thành, Vĩnh Hòa (huyện Chợ Lách) đổ ra sông Hàm Luông

- Rạch Mỏ Cày: chảy qua thị trấn Mỏ Cày (thông với kênh Mỏ Cày – Thom) ra Hòa Lộc, nhập với rạch Giồng Keo, đổ ra sông Hàm Luông

- Kênh Mỏ Cày – Thom: được đào từ năm 1905 nối rạch Mỏ Cày với rạch Thom, tạo thành con đường lưu thông giữa sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên dài 15km

Trang 23

- Rạch Băng Cung: là một nhánh sông Hàm Luông chảy từ Đại Điền, Mỹ Hưng,

An Thạnh đến Giao Thạnh đổ ra sông Hàm Luông như một cánh cung dài 23km, một nhánh đổ ra sông Cổ Chiên

- Rạch Ba Tri: chảy từ Phú Lễ, Phú Ngãi qua thị trấn Ba Tri rồi ra sông Hàm Luông dài 8km

- Kênh Đồng Xuân: dài 11km nối liền rạch Ba Tri với rạch Tân Xuân

- Kênh Chẹt Sậy – An Hóa: là con đường thủy quan trọng từ sông Hàm Luông qua thành phố Bến Tre đến sông Mỹ Tho

Hình 1.5 Sơ đồ thủy văn tỉnh Bến Tre [2]

(Nguồn: Phân viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn miền Nam)

Trang 24

- Xâm nhập mặn

Bến Tre có địa hình chủ yếu nằm dưới mực nước triều trung bình Các con sông chịu tác động mạnh của chế độ thủy triều biển Đông Nhiều sông và kênh rạch có độ rộng khá lớn, một số cửa sông rộng từ 2 đến 3km, do đó nước sông bị nhiễm mặn nghiêm trọng và trong mùa khô, mặn xâm nhập gần như hầu khắp diện tích trong tỉnh, gây nên tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô Mặn quan hệ mật thiết với chế

độ triều Chân và đỉnh mặn thường xuất hiện sau chân và đỉnh triều 1 đến 2 giờ Càng

xa biển, chênh lệch này càng lớn Ngoài biến đổi theo mùa, mặn còn phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn đổ về Mùa lũ, lượng nước ngọt lớn, mặn bị đẩy ra

xa Tuy vậy, những vùng giáp biển, độ mặn không lúc nào nhỏ dưới 0.2% Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng 4, tháng có lượng nước ngọt ít nhất

Mặn từ biển xâm nhập vào sông dưới dạng hình nêm Do sự tiết giảm của sóng triều, sức cản và sự pha loãng của nước ngọt, nên càng vào sâu trong sông, nồng độ mặn càng giảm Mặn xâm nhập còn có sự khác nhau giữa hai bờ, do các bãi bồi vùng cửa sông thường chia ra làm nhiều cửa nhỏ Cửa nào có độ sâu lớn và diện tích mặt cắt lớn, thì lượng triều vào lớn, mặn xâm nhập sâu nên mặn mất cân đối, lệch hẳn về một bên bờ

Đường ranh giới mặn chủ yếu phụ thuộc vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn

về Lượng nước ngọt càng nhỏ, mặn càng vào sâu nội địa Vì vậy mùa khô, ranh giới mặn vào sâu nhất gần như bao trùm toàn diện tích tỉnh Lúc đó, tỉnh chia làm 3 khu vực: khu vực không bị nhiễm mặn, khu vực nước lợ và khu nước mặn

Trang 25

Hình 1.6 Bản đồ ranh giới mặn tỉnh Bến Tre [47]

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre, 2011)

1.2.2 Đặc điểm xã hội

1.2.2.1 Đơn vị hành chính và đặc điểm dân số

Theo Tổng cục Thống kê năm 2016, tỉnh Bến Tre có diện tích tự nhiên 2.394,6

km2 với dân số khoảng 1.265 nghìn người (mật độ dân số trung bình 528 người/km2) bao gồm 1 thành phố trực thuộc tỉnh (TP Bến Tre) và 8 huyện (Châu Thành, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam, Mỏ Cày Bắc, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Lai, Thạnh Phú) [49]

Trang 26

Hình 1.7 Bản đồ hành chính tỉnh Bến Tre [45]

(Nguồn: Phân viện Quy hoạch Thủy sản phía Nam, 2013)

1.2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội [46]

- Kinh tế

+ Bến Tre là tỉnh có nhiều lợi thế về nguồn lợi thủy sản, với 65 km chiều dài bờ biển nên thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, tạo ra nguồn tài nguyên biển phong phú với các loại tôm, cua, cá, mực, nhuyễn thể…Đây còn là vùng đất phù

sa trù phú, sản sinh ra vựa lúa lớn của ĐBSCL và nhiều loại nông sản mang lại hiệu quả kinh tế cao

+ Những vườn hoa kiểng, cây trái nổi tiếng ở vùng Cái Mơn- Chợ Lách hàng năm cung ứng cho thị trường nhiều loại trái cây và hàng triệu giống cây trồng, cây cảnh nổi tiếng Đặc biệt, Bến Tre - xứ sở dừa Việt Nam, nơi có diện tích trồng dừa lớn nhất cả nước khoảng 51.560 ha Cây dừa đã góp phần to lớn vào sự phát triển kinh tế của tỉnh, có thể nói là cây xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, đồng thời góp một phần đáng kể vào ngân sách địa phương

Trang 27

+ Toàn tỉnh hiện có trên 2.886 doanh nghiệp và hơn 44.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động trên các lĩnh vực Bến Tre đã hình thành Khu công nghiệp Giao Long và Khu công nghiệp An Hiệp đưa vào hoạt động thu hút nhiều dự án đầu tư vào tỉnh Hiện tỉnh đang tập trung phát triển các loại hình du lịch sinh thái sông nước Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp phát triển khá ổn định, thương mại - du lịch phong phú,

đa dạng ngày càng sôi động, tạo tiền đề cho bước đột phá tăng trưởng kinh tế của địa phương trong thời gian tới Đặc biệt, cống đập Ba Lai, cầu Rạch Miễu hoàn thành và đưa vào sử dụng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra tương lai phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, đưa Bến Tre thoát khỏi thế “ốc đảo”, nhanh chóng hòa nhập với các tỉnh ĐBSCL, tạo đà phát triển các mặt kinh tế- xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng cho toàn vùng

1.2.3 Hiện trạng hệ thống thủy lợi [2]

Công trình ngăn mặn kết hợp với tưới tiêu, trong tỉnh rất có hiệu quả và làm cơ

sở cho việc dẫn ngọt Hiện nay trong toàn tỉnh có 85 cống lớn nhỏ, hầu hết đều phát huy tác dụng tốt Các cống xây dựng trước năm 2000 có nhiệm vụ tiêu là chủ yếu Ngoài ra còn có tác dụng ngăn mặn giữ hoặc nhồi nước ngọt trong thời kỳ có nước ngọt trong các tháng mùa khô

Các cống xây dựng sau năm 2000 có nhiệm vụ đa dạng hơn, làm việc 2 chiều, kiểm soát mặn, tiêu, lấy nước Các cống kết hợp với các cấp kênh rạch, đê bao hiện có làm tăng khả năng tiêu hoặc tưới tự chảy trong vùng Điển hình như hệ thống Châu Bình – Vàm Hồ, cống Cây Đa và kênh Cây Đa – Ba Tri, nhờ vậy đã phát huy tốt khả năng phục vụ sản xuất, đặc biệt là khả năng tăng vụ Cống Ba Lai có bề rộng 84 m xây

Trang 28

dựng xong năm 2000, đang vận hành cũng góp phần ngọt hóa một vùng lớn thuộc Bình Đại, Ba Tri …

Trong 10 năm trở lại đây: hệ thống đê sông, đê biển không ngừng được củng cố

và xây dựng mới Đê dọc bờ tả sông Ba Lai: đê Tây từ sông Chẹt Sây đến Thạnh Trị dài 31km trong đó có đoạn 10 km thuộc khu vực trạm bơm An Hóa gần như hoàn chỉnh, đê Đông dài 4km hiện nay đã được nâng cấp thành đường giao thông Đê ven sông Cổ Chiên dài 39,32km, đê ven sông Hàm Luông bờ bắc dài 41km, đê ven sông Hàm Luông bờ Nam dài 9,7 km

Đê biển: nhiều đoạn của tuyến đê biển dọc theo 3 huyện ven biển đã hình thành

từ nhiều năm qua và hàng năm vẫn được tu bổ, nâng cấp nhưng qui mô, kích thước chưa đạt yêu cầu để chống lũ, triều dâng, chống sóng … Tuyến đê biển đã được xây dựng với chiều dài 78,159 km (đê Bình Đại dài 47,159 km, đê biển Ba Tri dài 31km),

bề rộng mặt đê 5 m, cao trình đỉnh +3,50 m, nhưng các công trình cống dưới đê vẫn bỏ ngỏ, cần được đầu tư để bảo vệ sản xuất, đời sống người dân trong vùng ven biển

Hệ thống công trình thủy lợi trong tỉnh do công ty xây dựng và khai thác công trình thủy nông quản lý và khai thác bao gồm:

- Hệ thống cống: 85 cống

- Hệ thống đê: 265,288 km (đê sông: 187,129 km; đê biển: 78,159 km)

- Kênh trục chính: 94 km

Trang 29

Hình 1.8 Sơ đồ hiện trạng chuẩn bị kỹ thuật Vùng [2]

(Nguồn: Phân viện Quy hoạch Đô thị - Nông thôn miền Nam)

1.2.4 Tình hình nghiên cứu khu hệ cá tỉnh Bến Tre

Theo kết quả nghiên cứu của Thái Ngọc Trí và cs (2009), ở khu vực cửa sông Hàm Luông có 70 loài cá đã được ghi nhận và cửa sông Ba Lai năm 2010 đã ghi nhận được 46 loài cá [30]

Dự án “Quy hoạch và xây dựng mô hình đồng quản lý khu bảo tồn đa dạng sinh học cửa sông Hàm Luông thuộc hai huyện Ba Tri và Thạnh Phú tỉnh Bến Tre” do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì thực hiện năm 2009 – 2010 Kết quả của

đề tài đã thu thập, định danh được 62 loài cá thuộc 38 họ, 13 bộ Trong đó, bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế với 29 loài, tiếp theo là bộ cá Nheo (Siluriformes) với 9 loài và bộ cá Trích (Clupeiformes) với 7 loài [27]

Lương Lê Phương và cs (2000), “Điều tra qui hoạch khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ và xa bờ tỉnh Bến Tre” đã xác định thành phần loài cá ở sông

Trang 30

và ven biển tỉnh Bến Tre có 120 loài thuộc 28 họ, nằm trong 15 bộ cá Bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế cả về họ (21 họ) lẫn về loài (54 loài) Bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có 14 loài phân bố trong 3 họ, họ cá Bơn cát (Cynoglossidae) chiếm 8 loài, họ cá Bơn vĩ (Bothidae) 4 loài, họ cá Bơn sọc (Soleidae) 2 loài Bộ cá Trích (Clupeiformes) có 13 loài, họ cá Trích (Cluipeidae) 6 loài, họ cá Trỏng (Engraulidae) 6 loài [21]

Võ Thị Miền (2012) khi nghiên cứu khu hệ cá ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre

đã xác định được 86 loài thuộc 42 họ, 14 bộ [18]

Theo Đinh Quang Minh và cs (2009) thì khu hệ cá lưu vực sông cổ Chiên và sông Hàm Luông trên địa bàn huyện Mỏ Cày – tỉnh Bến Tre có 77 loài cá thuộc 62

giống, 32 họ, 12 bộ [23]

Tô Thị Mỹ Hoàng (2013), nghiên cứu tại ba huyện Thạnh Phú, Ba Tri và Bình Đại tỉnh Bến Tre xác định được 120 loài cá thuộc 43 họ và 16 bộ Trong đó, chiếm ưu thế là bộ cá Vược (Perciformes) với 61 loài, chiếm 50,83%; tiếp theo là bộ cá Nheo (Siluriformes) 10 loài, chiếm 8,33%, kế đến là bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) có số lượng 8 loài với 6,67% và bộ cá Chép (Cypriniformes) chiếm 5% với 6 loài, còn lại các bộ khác với 23 loài, chiếm 19,17% Ngoài ra, nghiên cứu đã bắt gặp được 3 loài cá

nằm trong danh lục Sách Đỏ Việt Nam (2007): cá Măng (Chanos chanos), cá Mang rổ (Toxotes chatareus), cá Cháo lớn (Megalops cycyprinoides) [15]

Một số các nghiên cứu về khu hệ cá tại các khu bảo tồn ở Bến Tre như [30]:

- Kết quả đợt khảo sát bổ sung năm 2011 của Viện Sinh học Nhiệt đới tại vườn

chim Vàm Hồ đã thu thập và xác định được 27 loài cá thuộc 21 họ 7 bộ cá khác nhau Trong đó bộ cá Vược (Perciformes) có số lượng loài nhiều nhất với 16 loài, chiếm 59% tổng số loài thu thập; tiếp đến là bộ cá Nheo (Siluriformes) có 4 loài, chiếm 15%; các bộ còn lại có số lượng loài không nhiều, từ 1 đến 2 loài, chiếm từ 4% đến 7% tổng

số loài thu thập được

- Cũng trong đợt khảo sát bổ sung năm 2011, tại Khu bảo tồn Đất ngập nước Thạnh Phú đã thu thập và xác định được 49 loài cá thuộc 32 họ 12 bộ cá khác nhau Trong đó bộ cá Vược (Perciformes) có số lượng loài nhiều nhất với 26 loài, chiếm 53% tổng số loài thu thập; tiếp đến là bộ cá Nheo (Siluriformes) có 7 loài, chiếm 15%;

Trang 31

bộ cá Trích (Clupeiformes) có 4 loài, chiếm 8%; các bộ còn lại có số lượng loài không nhiều, từ 1 đến 2 loài, chiếm từ 2% đến 4% tổng số loài thu thập được

- Khảo sát tại Khu bảo tồn Ốc gạo Phú Đa cũng đã thu thập và xác định được 34 loài cá thuộc 19 họ 8 bộ cá khác nhau Trong đó bộ cá Chép (Cypriniformes) có số lượng loài nhiều nhất với 11 loài chiếm 32%; kế đến là bộ cá Vược (Perciformes) với

10 loài, chiếm 29% tổng số loài thu thập; tiếp đến là bộ cá Nheo (Siluriformes) có 6 loài, chiếm 18%; các bộ còn lại có số lượng loài không nhiều, từ 1 đến 3 loài, chiếm từ 3% đến 9% tổng số loài thu thập được

Nhìn chung có rất nhiều nghiên cứu về khu hệ cá ở Bến Tre, tuy nhiên chưa thật

sự đầy đủ cũng như chưa có nhiều nghiên cứu về sự biến động khu hệ cá dưới tác động của các công trình thủy lợi ở đây như hệ thống các đê đập ngăn mặn

1.3 TÁC ĐỘNG TỪ VIỆC ĐIỀU TIẾT NƯỚC ĐẾN NGUỒN LỢI THỦY SẢN

Theo kết quả nghiên cứu của Phan Thị Lệ Anh, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III về “Tác động của các công trình thủy điện tới nguồn lợi thủy sản trên sông Sêrêpốt Việt Nam” cho thấy các công trình thủy điện có các tác động chính là: Ảnh hưởng đến sự di cư của cá: do ngăn đập, thay đổi chu kỳ lũ, mất bãi đẻ và bãi sinh trưởng; làm giảm, mất nơi cư trú: do xây dựng công trình, thay đổi chế độ dòng chảy, giảm diện tích ngập nước; thay đổi môi trường nước: giảm nguồn dinh dưỡng, thay đổi chất lượng nước; tạo ra những hệ sinh thái mới: hồ chứa, nước chảy, nước tĩnh Từ đó

đã gây ra sự giảm phong phú, sản lượng và sự đa dạng của nguồn lợi thủy sản [11] Thông thường lúa được trồng 2 vụ/năm (vụ Đông Xuân và Hè Thu), sau đó nước

lũ đổ về và làm ngập tự nhiên một vùng rộng lớn, điển hình là vùng Đồng Tháp Mười

và Tứ Giác Long Xuyên Tuy nhiên hiện nay nhiều địa phương đã xây dựng hệ thống

đê bao ngăn lũ để gia tăng sản lượng canh tác nông nghiệp Hệ thống đê bao ngăn lũ trong sản xuất nông nghiệp hiện nay được đánh giá là mất môi trường sống đối với các loài thủy sản nói chung ở vùng ĐBSCL trong mùa lũ [5] Theo Thái Ngọc Trí (2015), việc gia tăng sản xuất nông nghiệp (trồng lúa 3 vụ), xây dựng đê bao chống lũ hoàn toàn, hoặc lũ đầu và giữa vụ để bảo vệ lúa vụ 3 làm giảm diện tích vùng ngập trong mùa lũ ở ĐBSCL, dẫn đến vùng sinh sống của các loài cá bị thu hẹp, đặc biệt là cá bột

và cá con [28]

Trang 32

Võ Thành Toàn (2007), khi nghiên cứu về biến động một số chỉ tiêu thủy lý hóa, thành phần loài và sản lượng các loài tôm, cá tự nhiên ở các tuyến kênh trong và ngoài cống ngăn mặn của tỉnh Bạc Liêu cũng cho thấy: nồng độ muối ở tuyến kênh ngoài cống lớn hơn nhiều so với ở các tuyến kênh phía trong cống Hộ Phòng; đồng thời thành phần loài thủy sản và sản lượng giảm dần từ cửa sông di vào nội đồng, đặc biệt

là số lượng các loài xuất hiện ở tuyến kênh phía ngoài cống nhiều hơn so với các tuyến kênh ở phía trong cống Hộ Phòng [25]

Theo Mai Viết Văn và cs (2015), việc xây dựng các công trình đê bao và hệ thống cống của các tiểu dự án vùng bán đảo Cà Mau đã làm giảm diện tích khai thác

cá, ảnh hưởng đến sự di cư của các loài cá tự nhiên và giảm khả năng khai thác cá trong vùng kiểm soát lũ đã tác động trực tiếp đến sinh kế của cộng đồng KTTS ở đây [29] Việc vận hành hệ thống cống thoát lũ đã đưa một lượng lớn cá bột và cá con ra biển, chúng sẽ bị chết trong môi trường nước lợ, mặn ở vùng cửa sông ven biển Việc trữ nước cho các hồ chứa thủy điện, thủy lợi từ đầu đến giữa mùa mưa, làm thay đổi thời gian và cường độ lũ trên sông, các loài cá có tập tính sinh sản trên sông vào đầu mùa lũ sẽ không có đủ điều kiện sinh thái để sinh sản Nguồn cá bột, cá con di cư theo nước lũ về ĐBSCL sẽ giảm sút, [28]

Theo kết quả nghiên cứu của Trường Ðại học An Giang “Nghiên cứu tác động đê bao đến đời sống kinh tế – xã hội và môi trường tại một số khu vực có đê bao ở tỉnh

An Giang” cho thấy một trong những tai hại nổi bật nhất của hệ thống đê bao là vấn đề

ô nhiễm bên trong đê bao Theo tài liệu của Sở Khoa học và Công nghệ môi trường tỉnh An Giang cho biết ngay từ năm 2001 ở huyện Chợ Mới đã xuất hiện tình trạng ô nhiễm trong đê bao Chỉ riêng chỉ tiêu amoniac đã ô nhiễm cao gấp 10 lần tiêu chuẩn môi trường Một số vi sinh, đạm, phốt pho tổng cũng ngày càng cao Tình trạng này có thể gây nên hiện tượng phú dưỡng, bùng nổ sự phát triển tảo, làm nước bị thối, giảm chất lượng nước sinh hoạt và tác động tiêu cực đời sống thủy sinh, chưa kể sự suy thoái chất lượng đất Cũng theo kết quả nghiên cứu này thì hệ thống đê bao không những ảnh hưởng đến thành phần một số loài cá tôm, đặc biệt, làm mất hẳn một số loại như tôm càng xanh, cá rô biển, và cá bống tượng, mà còn làm giảm kích thước của tôm cá đánh bắt được so với thời điểm chưa có đê bao [20]

Trang 33

Chương trình nghề cá của Uỷ ban sông Mê Công (MRC), thực hiện khảo sát trong hai năm (2003-2004), đã xác định được 233 loài cá thuộc 55 họ, thường sống ở các kênh chính, vùng ngập lũ và vùng cửa sông sẽ bị đe dọa và tác động bởi sự phát triển hệ thống đập trên các dòng chính, trong đó nhóm cá di cư có 150 loài [35]

Kết quả nghiên cứu của Hoàng Đức Đạt và cs (2001-2007) “Tư vấn giám sát di

cư cá ở các tiểu dự án thủy lợi vùng ĐBSCL” đã theo dõi và đánh giá sự giảm sút trong khai thác khi có các hệ thống công trình thủy lợi ở tiểu dự án Ô Môn – Xà No (khoảng 47,25%) so với trước khi có hệ thống công trình thủy lợi (vào thời điểm năm

2003 so với năm 2001) [10]

Khi nghiên cứu thành phần loài cá ở hồ Dầu Tiếng trước và sau xây dựng cũng cho thấy sau khi thành lập hồ có 14 loài cá bị mất, 2 loài cá hiện nay không còn tìm

thấy như cá Lưỡi trâu Paraplagusia bilineata, cá Hường Coius microlepis Đây là

những loài cá thích nghi với môi trường nước lợ, việc xây đập thành hồ đã ngăn cản sự xâm nhập mặn, làm cho một số loài cá này bị biến mất do không thích hợp với môi trường nước ngọt [14]

Tóm lại, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và tình trạng xâm nhập mặn như hiện nay, việc xây dựng các công trình thủy lợi giúp phát triển một nền nông nghiệp bền vững là hết sức cần thiết Tuy nhiên, việc bảo tồn nghề cá là một yếu tố quan trọng của phát triển bền vững (Baran, 2006) [32] Và việc xây dựng các cống này có thể gây ra những tác động đáng kể đến nguồn lợi thủy sản cũng như các hoạt động đánh bắt cá của người dân địa phương, nhất là những người có thu nhập và sinh kế phụ thuộc vào nguồn lợi này Vì vậy, việc nghiên cứu về thành phần loài cá cũng như những ảnh hưởng của những công trình ngăn mặn này đến nguồn lợi thủy sản ở Bến Tre là hết sức cần thiết

Trang 34

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM

2.1.1 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 11/2015 đến tháng 08/2017

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Gồm 8 khu vực dự kiến xây dựng các cống ngăn mặn lớn (C1-C8) nhằm dự báo tác động của việc xây cống đến thành phần loài cá Mỗi khu vực sẽ thu ở 2 tuyến, 1 ở dòng chính (ứng với phía ngoài cống) và 1 mẫu ở dòng nhánh (ứng với phía trong cống)

Ngoài ra còn thu mẫu bổ sung 12 vị trí khác để đánh giá thành phần loài cá ở KVNC (Hình 2.1)

Hình 2.1 Các điểm nghiên cứu

Trang 35

Bảng 2.1 Thông tin về 8 cống ngăn mặn được đề xuất xây dựng ở tỉnh Bến Tre

Phú

Rộng 20m, đặt tại lòng rạch Tân Phú, bờ Đông thuộc

xã Phú Đức và bờ Tây thuộc xã Tân Phú, huyện Châu Thành Tim cống cách ngã ba sông Cần Dơi, rạch Ke Luông khoảng 150m

0630889 E

1134922 N

Tre

Rộng 70m, đặt tại lòng sông Bến Tre, bờ Bắc thuộc

xã Phú Hưng, bờ Nam thuộc xã Nhơn Thạnh, Thành phố Bến Tre Tim tuyến công trình dự kiến nằm trước ngã ba sông Chẹt Sậy và sông Giồng Trôm, cách ngã 3 này khoảng 1,0 km về phía Tây, cách cầu Bến Tre 2 khoảng 5,0km

bờ sông Tiền khoảng 500m

0658371 E

1138028 N

Cửu

Rộng 60m, đặt tại lòng rạch Thủ Cửu, bờ Bắc thuộc

xã Phước Long, bờ Nam thuộc xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm Tim cống cách bờ sông Hàm Luông khoảng 650m

Trang 36

Rộng 70m, đặt tại lòng sông Vàm Thơm, bờ tả thuộc

xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày Nam và bờ hữu thuộc xã Khánh Thạnh Tân, huyện Mỏ Cày Bắc Tim cống cách bờ sông Cổ Chiên khoảng 500m

Ghi chú: Thứ tự các cống ứng với các điểm từ C1 đến C8 ở Hình 2.1

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu cá ngoài thực địa

Thu mẫu trực tiếp bằng những ngư cụ cho phép (Bảng 2.2)

Hướng dẫn cho các hộ ngư dân trực tiếp thu mẫu: chỉ thu mẫu cá ở đúng khu vực chỉ định Nếu ngư dân nào chịu trách nhiệm thu ở 2 phía trong và ngoài cống thì để riêng 2 mẫu trong dung dịch focmon 8% đã được pha sẵn Một mẫu là các loài cá được thu trong thời gian nửa tháng Các mẫu sau đó sẽ được thu gom định kỳ mỗi tháng một lần và chuyển về Phòng Thí nghiệm của Viện Nghiên cứu nuôi trồng Thủy sản II để phân tích, định loại

Bảng 2.2 Danh sách các ngư dân thu mẫu tại khu vực nghiên cứu

(trong cống)

Dòng nhánh

và dòng chính

Đ3

Hòa Thành, An Hóa,

Trang 37

Châu Thành

Đ5

Dòng nhánh

và dòng chính

ven biển

ven biển Đ11 Phạm Thị Lệ Thanh Thới An, Thới Thuận, Bình Đại Đáy cọc Cửa sông,

ven biển Đ12 Phạm Văn Trèo Tân An, Thạnh Phước, Bình Đại Đáy cọc Cửa sông,

ven biển Đ13 Phạm Văn Em Thạnh Hựu, Tam Phước, Châu Thành Đáy cọc Dòng nhánh

Đ16 Võ Văn Cọt Phú Lộc Hạ, An Định, Mỏ Cày Nam Đáy cọc Dóng nhánh

Long, Bình Đại

Lưới, lú,

Trang 38

1 Thu mẫu bằng ngư cụ đáy 2 Chụp mẫu cá tại hiện trường

3 Thu mẫu bằng ngư cụ 12 cửa ngục 4 Khảo sát địa điểm dự kiến xây cống

Hình 2.2 Một số hình ảnh nghiên cứu ngoài thực địa 2.2.2 Phương pháp nghiên cứu cá trong phòng thí nghiệm

Định loại xác định tên khoa học của loài dựa vào đặc điểm cấu tạo hình thái ngoài gồm: số lượng tia vây lưng (Dorsal, D), vây ngực (Pectoral, P), vây bụng (Ventral, V), vây hậu môn (Anal, A), vây đuôi (Caudal, C); trong đó số La mã biểu thị tia gai cứng, chữ số Ả rập biểu thị tia mềm phân nhánh hoặc tia đơn Vảy đường bên (Laterial line, Ll), chiều dài toàn bộ (Lab), chiều dài bỏ vây đuôi (L0), trọng lượng (Pg), màu sắc khi cá còn sống,

Trang 39

Hình 2.3 Sơ đồ chỉ dẫn các số đo ở Cá xương [36]

Một số tài liệu chính được sử dụng để phân tích hình thái và định loại như Trần Đắc Định và cs (2013) [12], Mai Đình Yên và cs (1992) [31], Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) [16], Rainboth (1996) [36], Kottelat (2001) [33]

Tất cả mẫu vật thu thập được xử lý, phân tích xác định tên khoa học và sắp xếp các bậc phân loại: Lớp (Class), Bộ (Oder), Phân bộ (Suborder), Họ (Family), Phân họ (Subfamily), Giống (Genus), Loài (Species) theo hệ thống phân loại của Eschmeyer (2017) [43]

2.2.3 Phương pháp đánh giá độ đa dạng

Các chỉ số đa dạng sinh học (ĐDSH) được tính dựa trên các công thức sau:

S

Trang 40

- Chỉ số ưu thế Simpson:  

1

1 1

n

i i i

= ; n là số lượng cá thể của loài thứ i; S là số lượng loài; N là i

tổng số cá thể của tất cả các loài trong một mẫu nghiên cứu

- Hệ số không tương đồng Bray-Curtis (1957):

2.2.4 Phương pháp điều tra

Điều tra các hoạt động khai thác thủy sản và nhận thức của các hộ dân ở KVNC

về tác động của các công trình ngăn mặn bằng phiếu điều tra (Phụ lục 1) Tại mỗi điểm nghiên cứu, chọn ngẫu nhiên 8-10 hộ dân để tham gia phỏng vấn với tổng số hộ được điều tra là 166 hộ Trong đó có 35 hộ ở KV xung quanh 8 cống, 63 hộ ở KV tại 8 cống

và 68 hộ ven biển

Ngày đăng: 03/04/2018, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (2007), Sách đỏ Việt Nam, Phần I: Động vật, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách đỏ Việt Nam
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2007
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Quyết định số 82/2008/QĐ-BNN ngày 17/7/2008 về việc công bố Danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển, có hiệu lực kể từ ngày 19 tháng 02 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục các loài thuỷ sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển
4. Vũ Vi An, Đoàn Văn Tiến, Lâm Phước Khiêm, Nguyễn Nguyễn Du (2011), “Đánh giá sản lượng khai thác của ngư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long”, Tuyển tập Nghề cá sông Cửu Long, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sản lượng khai thác của ngư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long”, "Tuyển tập Nghề cá sông Cửu Long
Tác giả: Vũ Vi An, Đoàn Văn Tiến, Lâm Phước Khiêm, Nguyễn Nguyễn Du
Năm: 2011
5. Vũ Vi An, Nguyễn Nguyễn Du, Đoàn Văn Tiến, Nguyễn Văn Phụng, Đoàn Văn Bảy, Phan Thanh Lâm, Nguyễn Minh Niên (2014), Báo cáo tổng hợp về Điều tra, thu thập số liệu bổ sung để đánh giá tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê-Kông tới nguồn lợi thủy sản, Ủy ban sông Mê-Kông Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp về Điều tra, thu thập số liệu bổ sung để đánh giá tác động của các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê-Kông tới nguồn lợi thủy sản
Tác giả: Vũ Vi An, Nguyễn Nguyễn Du, Đoàn Văn Tiến, Nguyễn Văn Phụng, Đoàn Văn Bảy, Phan Thanh Lâm, Nguyễn Minh Niên
Năm: 2014
6. Vũ Vi An, Nguyễn Nguyễn Du, Nguyễn Văn Phụng, Đoàn Văn Tiến (2015), Báo cáo tổng kết về Điều tra phục vụ nghiên cứu và đánh giá tác động của dự án Jica 3 đến nguồn lợi thủy sản trong khu vực dự án. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết về Điều tra phục vụ nghiên cứu và đánh giá tác động của dự án Jica 3 đến nguồn lợi thủy sản trong khu vực dự án
Tác giả: Vũ Vi An, Nguyễn Nguyễn Du, Nguyễn Văn Phụng, Đoàn Văn Tiến
Năm: 2015
7. Vũ Vi An, Nguyễn Nguyễn Du, Đoàn Văn Bảy, Nguyễn Văn Phụng, Nguyễn Minh Niên, Phan Thanh Lâm (2016), Báo cáo tổng kết nhiệm vụ thường xuyên về Quan trắc biến động nguồn lợi thủy sản nội địa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long phục vụ công tác nghiên cứu và quản lý nhà nước, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ thường xuyên về Quan trắc biến động nguồn lợi thủy sản nội địa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long phục vụ công tác nghiên cứu và quản lý nhà nước
Tác giả: Vũ Vi An, Nguyễn Nguyễn Du, Đoàn Văn Bảy, Nguyễn Văn Phụng, Nguyễn Minh Niên, Phan Thanh Lâm
Năm: 2016
8. Phan Thị Lệ Anh (2016), Tác động của các công trình thủy điện tới nguồn lợi thủy sản trên sông Sêrêpók-Việt Nam, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của các công trình thủy điện tới nguồn lợi thủy sản trên sông Sêrêpók-Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Lệ Anh
Năm: 2016
9. Nguyễn Nguyễn Du, Lâm Ngọc Châu, Nguyễn Văn Phụng, Nguyễn Thị Hoài Ân (2009) “Quan trắc cá bột ở sông Tiền và sông Hậu, Đồng bằng sông Cửu Long”, Tuyển tập Nghề cá sông Cửu Long, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan trắc cá bột ở sông Tiền và sông Hậu, Đồng bằng sông Cửu Long”, "Tuyển tập Nghề cá sông Cửu Long
10. Hoàng Đức Đạt (2001-2007), Tư vấn giám sát di cư cá ở các Tiểu dự án thuỷ lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long (Ô Môn-Xà No, Nam Măng Thít, Quản Lộ Phụng Hiệp), Báo cáo kỹ thuật, CPO/MARD-WB, HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư vấn giám sát di cư cá ở các Tiểu dự án thuỷ lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long (Ô Môn-Xà No, Nam Măng Thít, Quản Lộ Phụng Hiệp)
11. Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Thư, Thái Ngọc Trí, Nguyễn Xuân Đồng (2008), “Đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông Cửu Long”, Kỷ yếu hội nghị khoa học và công nghệ 2007, Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội, tr. 577- 582 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học khu hệ cá đồng bằng sông Cửu Long”, "Kỷ yếu hội nghị khoa học và công nghệ 2007
Tác giả: Hoàng Đức Đạt, Nguyễn Xuân Thư, Thái Ngọc Trí, Nguyễn Xuân Đồng
Nhà XB: Nxb Khoa học Tự nhiên và Công nghệ
Năm: 2008
12. Trần Đắc Định, Shibukawa Koichi, Nguyễn Thanh Phương, Hà Phước Hùng, Trần Xuân Lợi, Mai Văn Hiếu, Utsugi Kenzo (2013), Mô tả định loại cá đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam, Fishes of the Mekong Delta, Vietnam, Nxb Đại học Cần Thơ, 174 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả định loại cá đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam
Tác giả: Trần Đắc Định, Shibukawa Koichi, Nguyễn Thanh Phương, Hà Phước Hùng, Trần Xuân Lợi, Mai Văn Hiếu, Utsugi Kenzo
Nhà XB: Nxb Đại học Cần Thơ
Năm: 2013
13. Nguyễn Xuân Đồng, Hoàng Đức Đạt (2009), “Thành phần các loài cá có tiềm năng làm cá cảnh ở các thủy vực nội địa các tỉnh Nam Bộ”, Tạp chí Kinh tế Sinh thái, (33), tr. 61-70. 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần các loài cá có tiềm năng làm cá cảnh ở các thủy vực nội địa các tỉnh Nam Bộ”, "Tạp chí Kinh tế Sinh thái
Tác giả: Nguyễn Xuân Đồng, Hoàng Đức Đạt
Năm: 2009
14. Nguyễn Xuân Đồng (2015), “Biến đổi thành phần loài cá ở hạ lưu sông Sài Gòn trước và sau khu xây dựng Hồ Dầu Tiếng", Hội nghị khoa học toàn quốc về sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6, Viện Sinh học Nhiệt đới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi thành phần loài cá ở hạ lưu sông Sài Gòn trước và sau khu xây dựng Hồ Dầu Tiếng
Tác giả: Nguyễn Xuân Đồng
Năm: 2015
15. Tô Thị Mỹ Hoàng (2013), Thành phần loài và sự thành thục sinh dục của cá đối mục (Mugil cephalus Linnaeus, 1758) phân bố ở tỉnh Bến Tre, Luận văn cao học, Đại học Cần Thơ, 83 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và sự thành thục sinh dục của cá đối mục (Mugil cephalus "Linnaeus, 1758") phân bố ở tỉnh Bến Tre
Tác giả: Tô Thị Mỹ Hoàng
Năm: 2013
16. Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương (1993), Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long, Trường Đại học Cần Thơ, 361 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương
Năm: 1993
41. Cổng thông tin điện tử Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, http://vanban.chinhphu.vn. Truy cập ngày 20/6/2017 Link
43. Froese, R. and D. Pauly. Editors. 2017. FishBase. World Wide Web electronic publication (Version 06/2017), http://www.fishbase.org. Truy cập ngày 17/8/2017 Link
44. IUCN (2017), The IUCN Red List of Threatened Species (Version 3, 5/2017), http://www.iucnredlist.org. Truy cập ngày 16/8/2017 Link
46. Sở Công thương Bến Tre, http://www.congthuongbentre.gov.vn. Truy cập ngày 28/5/2017 Link
47. Sở Tài nguyên và Môi trường Bến Tre, http://www.stnmt.bentre.gov.vn. Truy cập ngày 17/5/2017 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w