Bài báo khoa học này đã chứng minh tiêu chuẩn nêu trên và thực nghiệm đánh giá độ chính xác của mô hình số độ cao toàn cầu SRTM1 (1” x 1”) dựa trên 89 điểm độ cao hạng I ở Việt Nam. Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng đa số các độ chênh giữa các độ cao chỉ ở mức một vài mét, riêng điểm độ cao I(DN-BT)28 có độ chênh lớn nhất bằng 19,577 m, sai sốtrung phương của độ cao từ mô hình SRTM1 ở mức ± 5,480 m.
Trang 1Nghiên cứu
Ngày nhận bài: 17/7/2017, ngày chuyển phản biện: 19/7/2017, ngày chấp nhận phản biện: 25/7/2017, ngày chấp nhận đăng: 01/8/2017
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SỬ DỤNG MÔ HÌNH SỐ ĐỘ CAO TOÀN CẦU ĐỘ PHÂN GIẢI 1” x 1” TRONG VIỆC TÍNH TOÁN CÁC SỐ HIỆU CHỈNH BỀ MẶT ĐẤT Ở CÁC KHU VỰC
RỪNG NÚI VIỆT NAM
HÀ MINH HÒA ĐẶNG XUÂN THỦY
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt:
Việc sử dụng mô hình số độ cao toàn cầu để tính các số hiệu chỉnh Faye có ưu điểm nổi bật là bao phủ được các khu vực mà ở đó không có các dữ liệu địa hình quốc gia Hiện nay các tổ chức khoa học - công nghệ quốc tế và các nước phát triển sử dụng rộng rãi các
mô hình số độ cao toàn cầu để tính toán các số hiệu chỉnh Faye khi xây dựng các CSDL
dị thường trọng lực toàn cầu hoặc quốc gia Tiêu chuẩn cơ bản để làm điều này là sai số của các chênh cao được xác định từ mô hình số độ cao không được lớn hơn 50 m và các
mô hình số độ cao toàn cầu đáp ứng được yêu cầu này Bài báo khoa học này đã chứng minh tiêu chuẩn nêu trên và thực nghiệm đánh giá độ chính xác của mô hình số độ cao toàn cầu SRTM1 (1” x 1”) dựa trên 89 điểm độ cao hạng I ở Việt Nam Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng đa số các độ chênh giữa các độ cao chỉ ở mức một vài mét, riêng điểm độ cao I(DN-BT)28 có độ chênh lớn nhất bằng 19,577 m, sai số trung phương của độ cao từ mô hình SRTM1 ở mức ± 5,480 m Do đó mô hình số độ cao toàn cầu SRTM1 hoàn toàn đáp ứng yêu cầu tính toán các số cải chính Faye để xây dựng cơ sở dữ liệu trọng lực
ở Việt Nam.
1 Đặt vấn đề
Việc tính số hiệu chỉnh bề mặt đất (train correction) hay còn được gọi là số hiệu chỉnhFaye vào các giá trị gia tốc lực trọng trường tại các khu vực rừng núi là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) dị thường trọng lực quốcgia Các phương pháp tính số hiệu chỉnh Faye dựa trên mô hình số độ cao đã được trìnhbày trong tài liệu (Hà Minh Hòa, 2016) Vấn đề đặt ra là việc tính số hiệu chỉnh Faye vàogiá trị gia tốc lực trọng trường tại điểm trọng lự̣c ở khu vực rừng núi đòi hỏi phải sử dụngcác dữ liệu độ cao trong bán kính 200 km Tại các khu vực rừng núi biên giới với các nướcTrung Quốc, Lào chúng ta không có dữ liệu độ cao ở các khu vực bên trong giáp biên củacác nước này Đây là vấn đề khó khăn đang gặp phải trong quá trình xây dựng CSDL dịthường trọng lực ở Việt Nam khi sử dụng mô hình số độ cao quốc gia
Cơ quan Vũ trụ và Hàng không quốc gia (NASA) cùng với Cơ quan Tri thức Địa khônggian quốc gia (NGA, trước đây là NIMA) của Mỹ cùng với các cơ quan vũ trụ của Đức, Italia
đã thành lập mô hình số độ cao toàn cầu của Trái đất dựa trên giao thoa ladar Tàu vũ trụSpace Shuttle Endeavour mang theo thiết bị SRTM được đưa lên vũ trụ từ Trung tâm vũtrụ Kennedy (Florida Mỹ) từ ngày 11/02/2000 và hoàn thành sứ mệnh vào ngày22/02/2000 Thiết bị SRTM bao gồm tập hợp phần cứng radar ảnh vũ trụ - C (Spaceborne
Trang 2Nghiên cứu
Imaging Radar - C (SIR-C)) được sửa đổi với cột và anten từ trạm vũ trụ tạo thành bộ giaothoa với cạnh đáy dài 60 m Các dữ liệu radar Shuttle được xử lý bởi hệ thống siêu máytính của hệ thống xử lý dữ liệu mặt đất Shuttle (SDPS) tại Phòng Thí nghiệm phản lực(JPL) và được chuyển thành khuôn dạng DTED và được chuyển về NGA Dữ liệu SRTM1
độ phân giải 1” x 1” tương ứng với khuôn dạng DTED2, dữ liệu SRTM3 độ phân giải 3” x3” tương ứng với khuôn dạng DTED1, còn dữ liệu SRTM30 độ phân giải 30” x 30” tươngứng với khuôn dạng DTED0 và tạo ra mô hình số độ cao GTOPO30
Theo các tài liệu (Werner, M., 2001; Pavlis N.K., Factor J.K and Holmes S.A., 2007), từ
11 - 22 tháng 02 năm 2000, dự án thành lập bản đồ địa hình Trái đất từ vũ trụ SRTM đã
đo chụp được vùng lãnh thổ Trái đất từ 560S đến 600N bao phủ 80% phần lục địa của Tráiđất và 90% dữ liệu độ cao có các sai số nằm trong khoảng ± (6 - 10) m Theo kết quả sosánh với CSDL độ cao quốc gia (NED) của Mỹ, theo tài liệu (Smith, B., and D Sandwell,
2003), SRTM và NED có cùng các bước sóng lớn hơn 200 m, tuy nhiên NED phù hợp hơn
SRTM ở các bước sóng nhỏ hơn 350 m Sai số trung phương của các hiệu độ cao giữaSRTM và NED ở mức ± 5,7 m Theo đánh giá trong tài liệu (Tighe M.L and ChamberlainD., 2009), độ chính xác của độ cao từ SRTM trên một số khu vực thử nghiệm ở nước Mỹ
ở mức ± 15,27 m
Khi so sánh các mô hình SRTM3 và GTOPO30 với DEM độ phân giải 1’ x 1’ của Đức,theo tài liệu (Denker, H., 2004), SRTM3 có độ lệch chuẩn 7,9 m, còn GTOPO30 có độ lệchchuẩn 6,8 m
Hiện nay độ chính xác của gia tốc lực trọng trường nhận được từ các kết quả đo đạctrọng lực mặt đất, hàng không nằm ở mức ± 1 mGal Khi tính đến các sai số của các môhình số độ cao DEM, ở nước Mỹ đã đưa ra tiêu chuẩn độ chính xác của dị thường trọnglực ở mức ± 5,1 mGal khi xây dựng các CSDL dị thường trọng lực quốc gia và toàn cầu,
mà trong đó sai số trung phương của dị thường trọng lực chủ yếu được gây ra do sai sốcủa độ cao trong quá trình giải quyết bài toán quy chiếu trọng lực Hạn sai của dị thường
trọng lực ± 15,3 mGal Khi lưu ý gradient của gia tốc lực trọng trường chuẩn 0,3086 mGal/m, sai số của độ cao ở mức ± 15,3/ 0,3086 = ± 50 m Do đó hạn sai của độ cao trong
mô hình số độ cao ở mức ± 50 m (Tscherning, C.C., and Richard H Rapp, 1974; Roman,
D R., Y.M Wang, J Saleh, X Li, W Waickman, 2009)
Trong tài liệu (Jekeli, C., H.J Yang, and J H Kwon, 2009) khi nhận độ phân giải 2’ x 2’của CSDL dị thường trọng lực ở Hàn Quốc với việc sử dụng mô hình số độ cao toàn cầuETOPO2 (2” x 2”) để mô hình hóa các giá trị dị thường trọng lực ở các mức độ chính xáckhác nhau và đã cho đánh giá độ chính xác của độ cao geoid phụ thuộc vào độ chính xáccủa dị thường trọng lực (xem bảng 1 ở dưới đây)
Trang 3Nghiên cứu
cao geoid) ở mức ± (2 – 3) cm
Hiện nay các mô hình số độ cao toàn cầu được sử dụng rộng rãi để tính toán các giátrị dị thường trọng lực ở các nước trên thế giới Theo các tài liệu (Roman, D R., Y.M.Wang, J Saleh, X Li, W Waickman, 2009; Roman, D R., Y.M Wang, J Saleh, X Li,2010), mô hình độ cao geoid USGG2009 độ phân giải 1’ x 1’ của nước Mỹ bao phủCONUS, Hawaii, Guam, đảo Mariana Bắc, Samoa thuộc Mỹ, Puerto Rico, đảo Virgin thuộc
Mỹ và được xây dựng dựa trên CSDL dị thường RTM với việc sử dụng mô hình EGM2008,
mô hình số độ cao SRTM – DTED1 độ phân giải 3” x 3”
Theo các tài liệu (Krynski, J., and A Lyszkowicz, 2006; Godah, W., M Szelachowska,
J Krynski,2014), ở Ba Lan đã sử dụng các mô hình số độ cao toàn cầu DTED3 (3” x 3”)
và SRTM3 (3” x 3”) để tính các số hiệu chỉnh Faye
Theo tài liệu (Hirt C., 2011) ở Liên bang Đức đã sử dụng mô hình số độ cao toàn cầuSRTM3 để tính toán dị thường RTM và các số hiệu chỉnh Faye
Như vậy các mô hình số độ cao toàn cầu được sử dụng rộng rãi ở các nước để tínhcác số hiệu chỉnh Faye và dị thường trọng lực RTM Vậy nẩy sinh câu hỏi: đối với mô hìnhsố độ cao toàn cầu sai số của các hiệu độ cao (các chênh cao) đến 50 m có ảnh hưởngđến việc tính các số hiệu chỉnh Faye hay không ? Trả lời câu hỏi này sẽ xác định được cơ
sở khoa học của việc sử dụng các mô hình số độ cao toàn cầu để tính các số hiệu chỉnhFaye trong quá trình xây dựng CSDL dị thường trọng lực ở Việt Nam và là mục đích củabài báo khoa học này
2 Giải quyết vấn đề
Sai số trung phương của dị thường trọng lực Faye được đánh giá theo công thức
ở đây - sai số trung phương của dị thường không khí tự do,
- sai số trung phương của số hiệu chỉnh Faye Theo nguyên tắc nhỏ bỏ qua, sai sốtrung phương của số hiệu chỉnh Faye được nhận bằng
Khi nhận sai số trung phương của số hiệu chỉnh Faye phải thỏamãn điều kiện Như vậy khi tính toán số hiệu chỉnh Faye, các sai sốthành phần được gây ra bởi các sai số của mô hình số độ cao không được lớn hơn 0,333mGal
Không mất tính chất chung, với mục đích đánh giá ước tính chúng ta coi các ô chuẩncủa mô hình số độ cao được bố trí theo dải hình vành khuyên như trên hình 1, thêm vào
đó kích thước của các ô chuẩn hình vuông là 30 m (tương ứng với mô hình số độ cao độ
phân giải 1” x 1”) Khi đó theo hướng bán kính - vectơ từ điểm trọng lực P, bán kính a i = 30.i (đơn vị mét), hiệu của hai bán kính - vectơ a i+1 - a i = 30m Nằm giữa hai vành khuyên bán kính a i và bán kính a i+1có tất cả ô chuẩn Do bán kính tính sốhiệu chỉnh Faye xung quanh điểm trọng lực P là 200 km, nên theo hướng bán kính - vectơ
Trang 4Khi ký hiệu là chênh cao chính xác từ ô chuẩn thứ j nằm giữa hai hình vành khuyên
với các bán kính a i và a i+1, là sai số lớn nhất của chênh cao, chênh cao
Khi đó công thức (2) lại có dạng mới:
(3)
Thành phần đầu tiên ở vế phải của công thức (3) là giá trị chính xác của số hiệu chỉnhFaye, còn các thành phần thứ hai và thứ ba ở vế phải của công thức (3) là các sai số của
số hiệu chỉnh Faye do sự tồn tại sai số trong các chênh cao giữa các ô chuẩn của mô hình
số độ cao so với điểm P
Chúng ta nghiên cứu thành phần thứ hai ở vế phải của công thức (3) Lưu ý a i = 30.i
chúng ta có:
Trang 5ở đây với các giá trị tới hạn n = 6667, đại lượng B icó dạng:
Do < ln(n) = 8,804925, nên B(6) < 0,0123 mGal và nhỏ hơn rất nhiều so với hạn
sai 0,333 mGal Do đó sai số B là số nhỏ bỏ qua
Các chứng minh ở trên cho thấy rằng các thành phần thứ hai và thứ ba trong công thức(3) được coi là nhỏ bỏ qua khi tính số hiệu chỉnh Faye khi sai số giới hạn của chênh cao
có thể đạt tới 50 m Điều này cũng lý giải cho việc sử dụng các mô hình số độ cao độ phângiải cao toàn cầu để tính các số hiệu chỉnh Faye ở các nước trên thế giới
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ đã thu thập được mô hình số độ cao SRTM1 (1” x 1”)
từ Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ NASA theo địa chỉ Website của Phòng Thí nghiệm OakRudge (Oak Ridge National Laboratory – ORNL) thuộc Trung tâm Lưu trữ Phân phối Tíchcực đối với động lực học địa hóa sinh (Distributed Active Archive Center for biogeochemi-
Trang 6Nghiên cứu
cal dynamics – DAAC):
https://lpdaac.usgs.gov/nasa_shuttle_radar_topography_mission_srtm_global_1_arc_second_data_re
Mô hình số độ cao SRTM1 được kiểm tra trên 89 điểm độ cao hạng I quốc gia phân bốđều trên lãnh thổ Việt Nam Do các độ cao từ mô hình SRTM1 (1” x 1”) được xácđịnh tương ứng với mặt geoid toàn cầu có thế trọng trường
được sử dụng trong mô hình trọng trường Trái đất EGM96, nên các độ cao quốc giacủa các điểm độ cao hạng I trong hệ độ cao quốc gia HP72 ở Việt Nam được chuyển vềmặt geoid toàn cầu với thế trọng trường theo công thức sau:
Các kết quả đánh giá so sánh các độ cao quốc gia trên 89 điểm độ cao hạng Iđược chuyển từ mô hình SRTM1 với các độ cao quốc gia của 89 điểm độ cao hạng I đượctrình bày bảng 2
Bảng 2
STT
i Tên điểm
Vĩ độ (WGS84)
0 ‘ “
Kinh độ (WGS84)
0 ‘ “
Độ cao chuẩn từ SRTM 1” x 1”
Độ chênh di(m)
Trang 8Mức sai số trung phương của các chênh cao được xác định cũng phù hợp với các đánhgiá quốc tế được trình bày ở mục 1.
Từ bảng 2 chúng ta thấy chỉ có điểm độ cao I(DN-BT)28 có độ chênh lớn nhất bằng19,577 m Đại đa số các độ chênh trong bảng 2 có độ lớn khá nhỏ chỉ ở mức một vài mét
Trang 9Nghiên cứu
Điều này cho thấy rằng các hiệu dH giữa các điểm trên lãnh thổ Việt Nam được xác định
từ mô hình số độ cao toàn cầu SRTM1 có giá trị luôn nhỏ hơn mức cho phép 50 m vàchúng ta hoàn toàn có thể sử dụng mô hình SRTM1 để tính các số hiệu chỉnh Faye trongquá trình xây dựng CSDL dị thường trọng lực quốc gia ở Việt Nam
Các kết quả nội suy độ cao từ 04 đỉnh của ô chuẩn của mô hình số độ cao toàn cầuSRTM 1” x 1” theo các phương pháp nội suy song tuyến, tuyến tính và Lagrange trên 02điểm độ cao hạng I là I(BH-TH)5 và I(VL-HT) 17 cho thấy các phương pháp nội suy song
tuyến, tuyến tính cho các kết quả nội suy độ cao tin cậy hơn cả (xem bảng 3).
± 5,480 m Điều này đảm bảo các hiệu dH giữa các điểm trên lãnh thổ Việt Nam được xácđịnh từ mô hình số độ cao toàn cầu SRTM1 có giá trị luôn nhỏ hơn mức cho phép 50 m
Do đó việc sử dụng mô hình số độ cao toàn cầu SRTM1để hiệu chỉnh các giá trị gia tốclực trọng trường ở các khu vực rừng núi Việt Nam hoàn toàn khả thi và đáp ứng đầy đủcác yêu cầu hiện đại của việc xây dựng CSDL dị thường trọng lực quốc gia ở Việt Nam.m
Tài liệu tham khảo
[1] Denker, H., 2004 Evaluation of SRTM and GTOPO30 Terrain Data in Germany In:
C Jekeli, L Bastos, J Fernandes (eds.): Gravity, Geoid and Space Missions GGSM 2004,IAG International Symposium, Porto, Portugal, August 30 –September 3, 2004,International Association of Geodesy Symposium, Vol 129, pp 218 – 223
[2] Godah, W., M Szelachowska, J Krynski, 2014 Accuracy assessment of GOCE –based geopotential models and their use for modeling the gravimetric quasigeoid – A casestudy of Poland Geodesy and Cartography, Vol 63, No 1, pp 3 – 24 Polish Academy of
Các phương pháp nội suy Điểm độ cao I(BH-TH)5 với độcao gốc 76,874 m Điểm độ cao I(VL-HT)17 với độcao gốc 2,810 m
Trang 10Nghiên cứu
Sciences
[3] Hà Minh Hòa, 2014 Lý thuyết và thực tiễn của Trọng lực trắc địa Nhà Xuất bảnKhoa học và Kỹ thuật, 592 trg., Hà Nội - 2014
[4] Hà Minh Hòa, 2016 Hoàn thiện quy trình xử lý các dữ liệu trọng lực để xây dựng
cơ sở dữ liệu dị thường trọng lực quốc gia ở Việt Nam Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản
đồ, số 30, tháng 12/2016, trg 1 - 9.
[5] Hirt C., 2011 Assessment of EGM2008 over Germany using accurate quasigeoid
heights vertical deflections, GCG05 and GPS/leveling Zeits chriftgeoinformation und management (zfv) 136 (3): 138 – 149.
land-[6].Jekeli, C., H.J Yang, and J H Kwon, 2009 Using gravity and topography - Implied
anomalies to assess data requirement for precise geoid computations Journal of Geodesy,
83: 1193 - 1202
[7] Krynski, J., and A Lyszkowicz, 2006 Centimetre Level of Accuracy of QuasigeoidModel in Poland Symposium of the IAG Subcommission for Europe, European ReferenceFrame – EUREF 2006, Riga, Litvia, 14 – 17 June 2006
[8] Pavlis N.K., Factor J.K and Holmes S.A., 2007 Terrain - related GravimetricQuantities Computed for the Next EGM Proceedings of the 1st International Symposium
of the International Gravity Field Service (IGFS), Istanbul, pp 318-323
[9] Roman, D R., Y.M Wang, J Saleh, X Li, W Waickman (2009) USGG2009 &GEOID09: New geoid height models for surveying/GPS NOAA’s National Geodetic Survey,ACSM – MARLS – UCLS – WFPS Conference 2009, 20 February 2009, Salt Lake City, UT.[10] Roman, D.R., Y M Wang, J Saleh, X Li, 2010 Geodesy, Geoids, and VerticalDatums: A Perspective from U.S National Geodetic Survey FIG Congress 2010, Sydney,Australia, 11 – 16, April 2010
[11] Smith, B., and D Sandwell, 2003 Accuracy and Resolution of Shuttle Radar
Topography Mission Data Geophysical Research Letters, Vol 30, No.9, 1467, doi:
10.1029/2002GL016643
[12] Tighe, M.L and Chamberlain, D., 2009 Accuracy comparison of the SRTM,ASTER, NED, NEXTMAPR USA Digital Terrain Model over several USA study sites.ASPRS/MAPPS2009 Fall Conference November 16-19, 2009, San Antonia, Texas, 12 p.[13] Tscherning, C.C., and Richard H Rapp, 1974 Closed covariance expressions forgravity anomalies, geoid undulations and deflections of the vertical implied by anomalydegree variance models Reports of the Department of Geodetic Science, report No 208,the Ohio State University, Columbus, Ohio, 212 p
[14] Werner, M., 2001 Shuttle Radar Topography Mission (SRTM), Mission overview J.Telecom., 55, pp 75-79.m
(Xem tiếp trang 48)
Trang 11Nghiên cứu
Ngày nhận bài: 15/6/2017, ngày chuyển phản biện: 22/6/2017, ngày chấp nhận phản biện: 04/7/2017, ngày chấp nhận đăng: 01/8/2017
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG NÂNG CAO ĐỘ CHÍNH XÁC ĐỘ CAO TRẮC ĐỊA QUỐC GIA NHỜ VIỆC GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN BÌNH SAI PHÉP NỐI MẠNG LƯỚI GNSS VÀ HỆ QUY CHIẾU TOẠ ĐỘ
KHÔNG GIAN QUỐC GIA VN2000-3D
LƯƠNG THANH THẠCH
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
1 Đặt vấn đề
Trong bài báo khoa học này sử dụng 2 thuật ngữ, đó là “điểm mặt đất” và “điểm trùng”
Cụ thể, thuật ngữ “điểm mặt đất” để chỉ các điểm Thiên văn – Trắc địa hạng I, II quốc giađược thành lập bằng các phương pháp đo đạc truyền thống trên mặt đất; thuật ngữ “điểmtrùng” để chỉ rằng, điểm trắc địa vừa có tọa độ trong mạng lưới GNSS hạng A, vừa có tọa
độ trong mạng lưới Thiên văn - Trắc địa hạng I, II quốc gia của Hệ quy chiếu tọa độ khônggian quốc gia VN2000-3D
Trong tài liệu (Hà Minh Hòa, Đặng Hùng Võ và nnk, 2005)đã đề xuất xây dựng hệ tọa
độ động quốc gia (Dynamic Reference System) ở Việt Nam mà thực chất là xây dựng Hệquy chiếu tọa độ không gian quốc gia, gắn kết chặt chẽ với Khung quy chiếu Trái đất quốc
tế ITRF Xây dựng Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia là nội dung quan trọng trongChiến lược phát triển ngành Đo đạc và Bản đồ đến năm 2020 đã được phê duyệt tại Quyếtđịnh số 33/2008/QĐ -TTg ngày 27/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ Trên cơ sở ứng
dụng công nghệ GNSS, như đã phân tích trong các tài liệu (Hà Minh Hòa và nnk, 2012);
Hà Minh Hòa, 2014a), mấu chốt của việc xây dựng Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc
gia là xây dựng mô hình quasigeoid quốc gia với độ chính xác không thấp hơn hơn ± 4.0
cm để đảm bảo sai số tương đối của các tọa độ không gian ở mức 10-9theo quy định quốc
tế (Augath W., Ihde J, 2002) Cũng cần nhấn mạnh thêm rằng, Hệ quy chiếu tọa độ không
gian quốc gia Việt Nam phải được xây dựng dựa vào ellipsoid WGS-84 quy chiếu quốc gia
đã được định vị sát nhất với mặt quasigeoid quốc gia Hòn Dấu Khi ứng dụng công nghệGNSS có thể xác định độ cao trắc địa tương ứng với ellipsoid WGS-84 quốc tế với độchính xác rất cao Tuy nhiên, xác định độ cao trắc địa độ chính xác cao tương ứng với
Tóm tắt:
Trong quá trình xây dựng Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia, mạng lưới GNSS phủ trùm (tạm gọi là mạng lưới GNSS hạng A) có vị trí rất quan trọng Các trị đo của mạng lưới GNSS hạng A đóng vai trò như các trị đo dư, nên sau khi bình sai ghép nối dựa vào các điểm trùng, độ chính xác độ cao trắc địa của các điểm mặt đất sẽ được nâng lên - đây
là một trong những yêu cầu rất quan trọng đặt tiền đề cho việc xây dựng Hệ quy chiếu tọa
độ không gian quốc gia.
Bài báo khoa học này đã nghiên cứu cơ sở lý thuyết của bài toán bình sai ghép nối mạng lưới GNSS vào Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia và tiến hành tính toán thực nghiệm Kết quả thực nghiệm trong bài báo đã chỉ ra rằng, độ chính xác độ cao trắc địa đã được nâng lên cỡ 4 lần sau khi thực hiện bình sai ghép nối.
Trang 12Nghiên cứu
ellipsoid WGS-84 quy chiếu quốc gia lại là vấn đề nan giải, mà mấu chốt là giải quyết bàitoán dị thường độ cao cục bộ (hay độ chính xác của mô hình quasigeoid quốc gia) Điềunày đảm bảo độ cao trắc địa quốc gia độ chính xác H cao được xác định từ các tọa độkhông gian quốc gia X, Y, Z của điểm trắc địa thỏa mãn điều kiện ở đây là
độ cao chuẩn trong hệ độ cao quốc gia HP72, còn là độ cao quasigeoid quốc gia đượcxác định từ mô hình quasigeoid quốc gia độ chính xác cao (độ cao của mặt quasigeoid cục
bộ Hòn Dấu so với ellipsoid WGS-84 quy chiếu quốc gia)
Trong thực tiễn xây dựng các hệ quy chiếu tọa độ không gian ở các nước, hệ tọa độkhông gian địa tâm OS Net (Ordnance Survey Network) của nước Anh được xây dựng dựatrên mô hình geoid OSGM02 (Ordnance Survey Geoid Model 2002) với độ chính xác ± 2.0
cm(J C Iliffe, M Ziebart, and P A Cross; R Forsberg and G Strykowski; C C Tscherning); Mô hình geoid của Australia AUSGeoid09 với độ chính xác ± 3.0 cm được
dùng để xây dựng hệ quy chiếu địa tâm GDA94 Các nhà khoa học trắc địa Australia đangđược định hướng cho việc xây dựng hệ quy chiếu địa tâm GDA2020 - The Geocentric
Datum of Australia (Australia is on the move GDA2020) trong tương lai dựa trên mô hình
AUSGeoid2020; Hệ quy chiếu tọa độ không gian của Đức ETRS89/DREF91/2016 đượcxây dựng dựa trên mô hình quasigeoid GCG2016 - Germany Combined QuasiGeoid of
2016 với độ chính xác ± 2.0 cm (Quasigeoid of the Federal Respublic of Germany) Trong tài liệu (Hà Minh Hòa, Đặng Hùng Võ và nnk, 2005), khi quan niệm mạng lưới
hạng AA là hệ thống điểm/trạm GNSS hoạt động liên tục phục vụ cho việc thu nhận thườngxuyên các dữ liệu GNSS để kết nối với IGS, thì mạng lưới GNSS hạng A (mạng lưới phủtrùm) có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết bài toán bình sai ghép nối Mạng lướiGNSS hạng A được xử lý riêng rẽ trong ITRF, sau đó được bình sai ghép nối vào Hệ quychiếu tọa độ không gian quốc gia VN2000-3D sẽ giải quyết được hai nhiệm vụ khoa họcsau:
- Nâng cao độ chính xác độ cao trắc địa của các điểm mặt đất trong VN2000-3D có tọa
độ trùng với các điểm thuộc mạng lưới GNSS hạng A Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất,cũng là nội dung chính của bài báo này
- Đưa tọa độ các điểm của mạng lưới GNSS chưa có tọa độ trong Hệ quy chiếu tọa độkhông gian quốc gia VN2000-3D (ví dụ đang trong ITRF) về Hệ quy chiếu tọa độ này, với
độ chính xác “đồng cấp hạng” với mạng lưới GNSS hạng A Nhiệm vụ này phục vụ choviệc phát triển Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia VN2000-3D khi có nhu cầu xây
dựng các điểm GNSS hạng A mới Nội dung này đã được giải quyết trong tài liệu (Lương Thanh Thạch, 2017).
2 Giải quyết vấn đề
Giả thiết rằng mạng lưới GNSS có N điểm, trong đó có n điểm trùng (n ≤ N) có vectơcác tọa độ không gian trong hệ tọa độ VN2000 - 3D với matrận tương quan ,ở đây k=3.n Không mất tính chất chung, chúng ta giả thiết n điểmtrùng được đánh số thứ tự đầu tiên Khi đó sau khi bình sai riêng rẽ mạng lưới GNSS trongITRF tương ứng với ellipsoid WGS84 quy chiếu quốc tế, chúng ta nhận được vectơ cáctọa độ không gian được bình sai của N điểm GNSS ở dạng sau:
Trang 13Nghiên cứu
với ma trận tương quan ở đây - sai số trung phương đơn vị trọng số nhận
được sau khi bình sai riêng rẽ mạng lưới GNSS trong ITRF, R s- ma trận chuẩn bậc K x K,còn bậc K = 3.N
Khi đã biết các giá trị gần đúng của 07 tham số chuyển tọa độ từITRF về VN2000 – 3D, dựa trên công thức Bursa – Wolf ở dạng sau:
vectơ các tọa độ không gian trong ITRF được chuyển thành vectơ các tọa độ không giantrong VN2000 – 3D dưới dạng , ở đây là vectơ con của các tọa độ khônggian tương ứng với n điểm trùng, là vectơ con của các tọa độ không gian tương ứngvới (N – n) điểm GNSS còn lại
Vectơ được nhận làm vectơ các tọa độ không gian gần đúng để giải quyếtbài toán bình sai ghép nối mạng lưới GNSS vào Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc giaVN2000 – 3D Việc giải quyết bài toán này trong Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc giaVN2000 – 3D được thực hiện theo mô hình toán học được đề xuất vào năm 1995 trong
công trình (Hà Minh Hòa, 1995) (xem chi tiết trong các tài liệu Hà Minh Hòa, 2013; Hà Minh Hoà, 2014a) ở dưới dạng sau đây:
(1)
ở đây vectơ số hạng tự do
ma trận hệ số G s có dạng: thêm vào đó G i (i = 1,2, ,N) là ma trận
đơn vị bậc 3x3; là vectơ số hiệu chỉnh vào các tham số chuyển
tọa độ X 0 , Y 0 , Z 0do sự ghép nối thêm các điểm mới
Trong thực tế bình sai ghép nối mạng lưới GNSS vào Hệ quy chiếu tọa độ không gianquốc gia VN2000-3D, các tọa độ trắc địa B, L của các điểm trùng trong Hệ quy chiếu tọa
độ không gian quốc gia thay đổi rất nhỏ, trong khi đó độ cao trắc địa H thay đổi đáng kể
do sai số trong độ cao quasigeoid quốc gia và điều này chủ yếu dẫn đến sự thay đổi của
các tham số chuyển tọa độ X 0 , Y 0 , Z 0
Khi bình sai riêng rẽ mạng lưới GNSS theo thuật toán T – thuận, chúng ta nhận được
ma trận tam giác trên T s liên hệ với ma trận chuẩn R s trong (1) bởi biểu thức R s = T s T T s.
Khi đó phương trình thứ hai trong hệ (1) được chuyển về dạng phương trình số hiệu chỉnhcủa các trị đo cùng độ chính xác ở dạng sau:
(2)với ma trận trọng số là ma trận đơn vị bậc K x K, ở đây , vectơ số hạng tự
do Dạng đơn giản của phương trình (2) phản ánh ưu điểm nổi bật của thuậttoán T - thuận khi giải quyết bài toán bình sai riêng rẽ và ghép nối tiếp theo mạng lưới
Trang 14Nghiên cứu
GNSS vào Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia
Phương trình số hiệu chỉnh thứ nhất trong hệ (1) đóng vai trò như phương trình số hiệuchỉnh của các số liệu gốc (bài toán bình sai với sai số số liệu gốc) Khi ma trận trọng số
được khai triển về dạng ở đây là ma trận tam giác trên bậc k x k, để giải
hệ phương trình số hiệu chỉnh (2) theo thuật toán T - thuận, chúng ta lập ma trận ban đầu
(3)
ở đây - ma trận đơn vị bậc (K–k)
Trong thực tế đối với mỗi điểm trùng với các toạ độ không gian (X, Y, Z) đã biết trong
VN2000 – 3D, chúng ta chỉ biết được ma trận tương quan bậc 3 x 3 Việc chuyển
ma trận tương quan thành ma trận tam giác trên được thực hiện theo thuật
toán đã được trình bày trong tài liệu (Hà Minh Hòa, 2014a).
Triển khai hệ phương trình (2) theo thuật toán T - thuận, chúng ta sẽ nhận được ma trận
tam giác trên T (K+3)x(K+3) , vectơ số hạng tự do được biến đổi Y (K+3) và
Vectơ số hiệu chỉnh vào vectơ các toạ độ không gian gần đúng,được xác định từ việc giải hệ phương trình vectơ các toạ độkhông gian cuối cùng nhận được theo công thức sai số trung phương đơn vịtrọng số sau bình sai ghép nối được đánh giá theo công thức:
Theo tài liệu (Ha Minh Hoa, 2017), các giá trị gần đúng của 07 tham số chuyển tọa độ
từ ITRF về VN2000 – 3D như sau:
X 0 = 204.511083m, Y 0 = 42.192468m, Z 0= 111.417880m,
= - 0”.011168229, = 0”.085600577, = - 0”.400462723, = 0.000000000 Theo tài liệu (Lương Thanh Thạch, 2017), kết quả bình sai riêng rẽ mạng lưới trên trong
ITRF tương ứng với ellipsoid WGS84 quy chiếu quốc tế được thống kê (xem bảng 2).
Từ tọa độ trắc địa (B, L, H) của 05 điểm mặt đất trong bảng 1, chuyển về dạng (X, Y, Z)
và được thống kê (xem bảng 3) (ký hiệu là vectơ ).
Dựa vào 07 tham số chuyển đổi tọa độ nêu trên, tiến hành chuyển vectơ tọa độ trongbảng 2 từ ITRF về VN2000 - 3D theo mô hình Bursa – Wolf Kết quả nhận được vectơ tọa
độ và được thống kê (xem bảng 4).
Vì không còn lưu giữ được các thông tin về độ chính xác khi bình sai mạng lưới Thiênvăn – Trắc địa quốc gia hạng I, II của 05 điểm mặt đất ở giai đoạn trước, nên trong thực
Trang 15Nghiên cứu
Bảng 1: Toạ độ trắc địa của các điểm mặt đất trong VN2000 - 3D tương ứng với
elipsoid WG84 quy chiếu quốc gia
Bảng 3: Tọa độ không gian (X, Y, Z) của 05 điểm mặt đất trong VN2000 - 3D
TT Tên điểm Các toạ độ trắc địa trong VN2000 - 3D
Trang 16Nghiên cứu
nghiệm này chúng ta tiến hành xác lập mô hình sai số tiên nghiệm cho chúng như sau: Giả
sử độ chính xác của các thành phần tọa độ trắc địa B, L tương ứng là m B ” = 0.0020, m L ”
= 0.0015 - là độ chính xác trong khoảng cho phép theo chỉ tiêu kỹ thuật về độ chính xác của mạng lưới Thiên văn - Trắc địa quốc gia hạng I, II (Tổng cục Địa chính, 1999) Theo tài liệu (Ha Minh Hoa, 2017), độ chính xác của mô hình VIGAC2017 là cm và
độ chính xác độ cao chuẩn hạng II là (Hà Minh Hòa, 2014b), chúng ta có độ
chính xác của độ cao trắc địa: Lúc này, ma trận tương quancủa các điểm trùng như sau:
kết hợp với sai số trung phương của kết quả bình sai riêng rẽ trong ITRF = 0.005m
(Lương Thanh Thạch, 2017), dựa vào thuật toán được trình bày trong (Hà Minh Hoà, 2014a) sẽ xác định được 05 giá trị tương ứng với 05 điểm mặt đất trong VN2000 - 3D thuộc ma trận ban đầuT 0dạng (3) ở trên
Triển khai hệ phương trình (2) theo thuật toán T - thuận, nhận được ma trận tam giáctrên T và vectơ Y Lúc này, vectơ số hiệu chỉnh của vectơ toạ độ không gian gần đúngđược xác định từ hệ phương trình còn vectơ toạ độ không gian
cuối cùng nhận được theo công thức được thống kê (xem bảng 5).
* Nhận xét:
Sau khi bình sai ghép nối nhận được ma trận tam giác trên T, kết hợp với sai số trungphương trọng số đơn vị nhận được ở kết quả bình sai riêng rẽ, sẽ nhận được ma trậntương quan trung bình của 05 điểm mặt đất như sau:
So sánh sau khi bình sai ghép nối với tiên nghiệm ban đầu nêu trên ta thấy
rằng, độ chính xác của độ cao trắc địa H được nâng lên cỡ 4 lần so với trước khi bình sai
- Hiện nay, độ chính xác về vị trí mặt bằng có thể được xác định với độ chính xác rấtcao bằng công nghệ GNSS, nhưng để có được độ cao trắc địa độ chính xác cao đòi hỏiphải có mô hình quasigeoid quốc gia độ chính xác rất cao Một trong nhiều vấn đề khoahọc cần giải quyết là sử dụng các trị đo trong mạng lưới GNSS hạng A như là trị đo dư đểnâng cao độ chính xác độ cao trắc địa của các điểm mặt đất trên cơ sở bình sai ghép nốinối mạng lưới GNSS hạng A vào Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia.m
Trang 17Nghiên cứu
Bảng 5: Kết quả bình sai ghép nối
Tài liệu tham khảo
[1] Augath W., Ihde J., 2002 Definition and realization of Vertical ReferenceSystem - the European Solution EVRS/EVRF2000 FIG XXII International Congress,Washington D.C., April 19-26 2002;
gda2020/;
https://esriaustraliatechblog.wordpress.com/2016/08/12/australia-is-on-the-move-[3] Hà Minh Hòa, 1995 Các phương pháp ghép nối các mạng lưới mặt đất và vệ tinhvới việc áp dụng phép xoay Givens IZV Vuzov Geodezia i Aerophotoxemka, No1, trg 54– 66 (Tiếng Nga);
[4] Hà Minh Hòa, Đặng Hùng Võ và nnk, 2005 Nghiên cứu cơ sở khoa học của việcxây dựng các mạng lưới GPS các cấp hạng trong hệ tọa độ động học Báo cáo tổng kếtKhoa học và Kỹ thuật Bộ Tài nguyên và Môi trường Hà Nội - 3/2005
[5] Hà Minh Hòa, và nnk, 2012 Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc hoàn thiện hệ độ
Toạ độ X (0) Toạ độ Y (0) Toạ độ Z (0)
Trang 18[10].Quasigeoid of the Federal Respublic of Germany.Geodatenzentrum,https://upd.geodatenzentrum.de/docpdf/quasigeoid_eng.pdf;
[11].J C Iliffe, M Ziebart, and P A Cross; R Forsberg and G Strykowski; C.C.Tscherning “OSGM02: A New geoid model for the BritishIsles”,http://cct.gfy.ku.dk/publ_cct/cct1777.pdf
[12] Lương Thanh Thạch, 2017 Nghiên cứu phương pháp phát triển hệ quy chiếu tọa
độ không gian quốc gia VN2000-3D khi xuất hiện các điểm cơ sở mới Tạp chí Khoa học
Luong Thanh Thach
Ha Noi University of Natural Resources and Environment
During the process of the National Spatial Coordinate System construction, theoverarching GNSS network (temporarily called the GNSS network tier A) is very important.The measured values of the GNSS network tier A play a role as the measured residualvalue, therefore, after pairing adjustment based on the coincided points, the accuracy of thegeodetic heights of the ground points were improved - this is one of the very importantrequirements to set the premise for the construction of the National Spatial CoordinateSystem
This paper presents the theoretical basis of pairing adjustment of the GNSS network intothe National Space Coordinates System, and empirical calculations The results ofempirical calculations showed that, the accuracy of the geodetic heights were improved up
to 4 times, after performing the pairing adjustment.m
Trang 19Nghiên cứu - Ứng dụng
Ngày nhận bài: 04/8/2017, ngày chuyển phản biện: 07/8/2017, ngày chấp nhận phản biện: 06/9/2017, ngày chấp nhận đăng: 08/9/2017
NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC VÀ HIỆU QUẢ CUNG CẤP DỮ LIỆU
CỦA HỆ THỐNG VNREDSAT-1NGUYỄN HÀ PHÚ (1) , TRẦN TUẤN NGỌC (1)
NGÔ DUY TÂN (2) , BÙI TRỌNG TUYÊN (2) , PHẠM MINH TUẤN (2) , CHU XUÂN HUY (2)
(1) Cục Viễn thám Quốc gia, Bộ Tài nguyên và Môi trường (2) Viện Công nghệ Vũ trụ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Tóm tắt:
Hệ thống vệ tinh viễn thám quan sát Trái đất đầu tiên của Việt Nam (VNREDSat-1) đã
và đang được khai thác hiệu quả kể từ năm 2013 Đến nay, sau hơn bốn năm vận hành và khai thác, hệ thống đã cung cấp trên 6 vạn cảnh ảnh, phục vụ các nhu cầu giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai, đáp ứng các yêu cầu chụp ảnh cho mục đích
an ninh-quốc phòng và đặc biệt cũng tích cực tham gia hợp tác quốc tế với các đối tác trong khu vực và trên thế giới Tuy nhiên, hệ thống VNREDSat-1 là hệ thống khép kín và có xuất
xứ từ Châu Âu, do vậy quá trình quản lý, vận hành và khai thác cần phải được tối ưu phù hợp với điều kiện hoạt động tại Việt Nam Bài báo này sẽ trình bày tổng kết quá trình vận hành và khai thác hệ thống, đồng thời đề xuất các phương án nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả cung cấp dữ liệu của hệ thống VNREDSat-1.
1 Giới thiệu chung về hệ thống
VNREDSAT-1
Dự án “Vệ tinh nhỏ Việt Nam quan sát tài
nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai
– Vietnam Natural Resources, Environment
and Disaster Monitoring System
(VNREDSat-1)” là vệ tinh quang học viễn
thám quan sát Trái đất đầu tiên của Việt
Nam, hoạt động ở quỹ đạo đồng bộ mặt trời
với độ cao khoảng 680 km, có khả năng
chụp ảnh toàn bộ bề mặt trái đất ở các kênh
toàn sắc và đa phổ với độ phân giải tương
ứng là 2,5 m và 10 m, thời gian chụp lặp lại
cho một vị trí trung bình là 3 ngày
Dự án là sự phối kết hợp giữa Viện Hàn
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện
HLKHCNVN) và Bộ Tài nguyên và Môi
trường để khai thác hiệu quả các hạ tầng kỹ
thuật sẵn có đó là “Hệ thống thu nhận, lưu
trữ và xử lý ảnh các vệ tinh viễn thám” của
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã được đầu
tư giai đoạn trước nhằm tạo ra một hệ thốnggiám sát hoàn chỉnh, độc lập từ vệ tinh đếntrạm thu mặt đất và trung tâm xử lý phânphối dữ liệu ảnh viễn thám tại Việt Nam Hệthống VNREDSat-1 bao gồm các cấu phầnchính sau đây: 01 quả vệ tinh hoạt động trênquỹ đạo, 01 trạm thu phát tín hiệu điều khiển
vệ tinh băng S (đặt tại Hòa Lạc), 01 trungtâm điều khiển và lưu trữ dữ liệu dự phòng(đặt tại Viện HLKHCNVN) và 01 trạm thu dữliệu ảnh băng X (đặt tại Cục Viễn thám Quốcgia, Bộ Tài nguyên và Môi trường) Cáctrang thiết bị thuộc các cấu phần mặt đấtđược liên kết với nhau bằng hệ thống mạngcáp quang tốc độ cao
Mặc dù hệ thống vệ tinh VNREDSat-1 đãhoạt động tối đa nhưng cũng không thể đápứng hết nhu cầu dữ liệu ảnh vệ tinh viễnthám ngày càng tăng của các đơn vị ứng
Trang 20Nghiên cứu - Ứng dụng
dụng tại Việt Nam Sở dĩ có thực tế này là
do các nguyên nhân sau đây:
Với quỹ đạo được thiết kế để đảm bảo
cho vệ tinh chụp được toàn bộ lãnh thổ Việt
Nam (bao gồm cả trên đất liền và vùng biển)
vệ tinh sẽ bay vòng quanh Trái đất ~ 14 lần
trong ngày, tuy nhiên chỉ có 4 vòng quay quỹ
đạo là được sử dụng cho các tác nghiệp liên
quan tới khu vực Việt Nam;
Vệ tinh VNREDSat-1 là vệ tinh quang
học nên chất lượng ảnh chụp phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện thời tiết tại khu vực
chụp ảnh;
VNREDSat-1 là hệ thống vệ tinh viễn
thám đầu tiên của Việt Nam do chính các kỹ
sư của Việt Nam vận hành và khai thác Do
vậy, năng lực quản lý cũng như vận hành và
khai thác hệ thống chắc chắn sẽ phải được
cải thiện và nâng cao nhằm nâng cao hiệu
quả khai thác và sử dụng hệ thống (Xem
hình 1)
Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường
cùng với Viện HLKHCNVN đã định hướng
chỉ đạo và hỗ trợ phối hợp và hợp tác quốc
tế nhằm chia sẻ kinh nghiệm vận hành và
khai thác, tìm kiếm khả năng hợp tác vàchia sẻ dữ liệu với các hệ thống vệ tinh kháctrong khu vực và trên thế giới Đây cũng làmột hướng đi đúng đắn và hiệu quả nhằmnhằm tăng cường hiệu quả vận hành và sửdụng dữ liệu ảnh viễn thám của vệ tinhVNREDSat-1 và tăng cường hội nhập quốc
tế trong lĩnh vực công nghệ vũ trụ
2 Đề xuất phương án nâng cao năng lực và hiệu quả cung cấp dữ liệu VNRED- SAT-1
Trên kinh nghiệm vận hành và khai thác
hệ thống thu ảnh vệ tinh (SPOT vàENVISAT) từ năm 2009 và đặc biệt là hệthống VNREDSat-1 từ năm 2013, các nhómgiải pháp sau đây được đề xuất nhằm nângcao hiệu quả cung cấp dữ liệu của hệ thống:
2.1 Phối hợp vận hành và khai thác
dữ liệu ảnh của hệ thống VNREDSat-1
Việc vận hành, khai thác an toàn và hiệuquả hệ thống VNREDSat-1 phụ thuộc vào
sự phối hợp giữa hai cơ quan trực tiếp quản
lý hệ thống VNREDSat-1 là Viện
HLKHCN-VN và Bộ Tài nguyên và Môi trường
Hình 1: Quỹ đạo và vết qua lãnh thổ Việt Nam của vệ tinh VNREDSat-1
Trang 21Nghiên cứu - Ứng dụng
2.1.1 Các nguyên tắc chung
Nhằm thực hiện tốt công tác phối hợp
vận hành và khai thác, hai bên cần phải phối
hợp chặt chẽ với nhau dựa trên những
nguyên tắc sau đây:
Các bên thực hiện đúng chức năng,
trách nhiệm của mình trong việc vận hành
hệ thống VNREDSat-1
Vận hành hệ thống tuân thủ tuyệt đối quy
trình đã được xây dựng cho hệ thống
VNREDSat-1 và cho từng phân hệ cụ thể
Luôn duy trì kênh thông tin liên lạc giữa
hai bên
Phải có các đầu mối liên hệ chịu trách
nhiệm chung về quản lý, về kỹ thuật ở hai
Khi xuất hiện sự cố hai bên phải thông
báo cho nhau để nắm bắt tình hình đồng
thời thực hiện các biện pháp khắc phục
2.1.2 Tiếp nhận và đáp ứng các yêu cầu
chụp ảnh của người sử dụng
Hàng năm, Cục Viễn thám Quốc gia cần
gửi phiếu điều tra yêu cầu chụp ảnh
VNREDSat-1 tới các cơ quan thuộc các Bộ,
ngành, các cơ quan sử dụng dữ liệu viễn
thám trên cả nước và các địa phương để
tổng hợp nhu cầu đảm bảo đầy đủ và chính
xác, để từ đó tổng hợp thành các kế hoạch
chụp ảnh hàng năm Trên cơ sở các yêu
cầu sử dụng ảnh, 2 bên tiến hành lập lịch
chụp hàng ngày Các yêu cầu sẽ được phân
tích đánh giá mức độ ưu tiên trong quá trình
đặt lịch chụp ảnh nhằm mục đích vận hành
hiệu quả vệ tinh VNREDSat-1 Nội dung
công tác này tuân theo các quy định trong
quy chế xác định mức độ ưu tiên của các
bên
Công tác đặt lịch chụp ảnh ngoài việcdựa trên năng lực và quỹ đạo của vệ tinh thìviệc phân tích và dự đoán mật độ che phủmây tại vị trí cần chụp có ý nghĩa quan trọngtrong việc đảm bảo chất lượng ảnh thu nhậnđược Do vậy, hai cơ quan phải có cácnguồn dữ liệu về dự đoán độ che phủ mây(theo từng tháng hoặc năm) để từ đó tối ưuhóa công tác lựa chọn và đặt lịch chụp ảnh
Hình 2: Bản đồ che phủ mây và các vùng khuyến cáo chụp ảnh VNREDSat-1
Hình 3: Phân tích các dải chụp ảnh bằng công cụ hỗ trợ lập lịch chuyên dụng
Trang 22Nghiên cứu - Ứng dụng
Đánh giá chung:
Công tác phối hợp vận hành và khai thác
hệ thống VNREDSat-1 đã và đang được
thực hiện hiệu quả Điều này được thể hiện
các khía cạnh sau đây: công tác tiếp nhận
và phân tích yêu cầu được thực hiện tối ưu,
đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của
người sử dụng; việc sử dụng bản đồ mây đã
giảm đáng kể tỷ lệ che phủ mây, khắc phục
được một phần nhược điểm của hệ thống
chụp ảnh quang học và điều kiện khí hậu tại
Việt Nam
2.2 Xây dựng trang thông tin điện tử
và công bố thông tin
Theo thiết kế của hệ thống VNREDSat-1,
người dùng bên ngoài rất khó truy cập và
tìm kiếm các thông tin về dữ liệu ảnh đã
được thu nhận tại Trạm thu ảnh Do vậy, cơ
sở dữ liệu ảnh viễn thám thu nhận được tại
trạm thu vì thế cần phải được chiết xuất và
tổ chức lại dưới dạng một cơ sở dữ liệu về
thông tin của dữ liệu ảnh viễn thám mà
người dùng có thể dễ dàng trong việc truy
cập và tìm kiếm thông tin dữ liệu ảnh
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn
dữ liệu viễn thám cần hướng đến những
tiện ích đối với người dùng Một trong
những giải pháp chính về công nghệ thông
tin giúp kết nối giữa người dùng với nhà
cung cấp thông qua việc xây dựng Trang
thông tin điện tử Trang thông tin điện tử về
dữ liệu viễn thám sẽ cho phép người dùng
là các tổ chức, cá nhân truy cập trực tuyến
đến danh mục dữ liệu viễn thám cũng như
các sản phẩm giá trị gia tăng được lưu giữ
trong Cơ sở dữ liệu viễn thám tại cơ quan
có thẩm quyền quản lý Trang thông tin này
có thể hỗ trợ tìm kiếm, hiển thị trước và tải
về thông tin siêu dữ liệu viễn thám giúp
người dùng xác định được mức độ phù hợp
của dữ liệu đối với yêu cầu và mục đích sử
dụng Thông qua trang thông tin dữ liệu này,
người dùng cũng có thể đặt hàng các sản
phẩm, dịch vụ và phương thức chuyển giao
dữ liệu đối với nhà cung cấp Trang thôngtin điện tử công bố siêu dữ liệu ảnh và giaodiện đặt hàng và cung cấp dữ liệu ảnh viễnthám là một trang thông tin được quản trị cơ
sở dữ liệu bởi Hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQLServer phiêu bản 2008 R2 Đây là một hệquản trị cơ sở dữ liệu SQL Server đangngày càng chứng tỏ là hệ quản trị cơ sở dữliệu ưu việt, giải quyết tốt yêu cầu quản lýcho các cơ quan, tổ chức Chính vì thế phầnmềm có tính bảo mật an toàn dữ liệu tươngđối tốt, hoạt động ổn định và có thể thao tácvới khối lượng dữ liệu lớn Dưới đây là một
số hình minh họa giao diện của công cụnày:
Hình 4: Giao diện Khai thác dữ liệu ảnh
hệ thống này có ý nghĩa quan trọng đối với
Trang 23Nghiên cứu - Ứng dụng
những cá nhân quan tâm trong đó có các
nhà quản lý và cộng đồng người sử dụng
Các thông tin này là những dữ liệu tổng hợp
quan trọng đánh giá tình hình hoạt động và
là những thông tin hỗ trợ người dùng định
hướng ứng dụng ảnh vệ tinh VNREDSat-1
Công tác công bố thông tin đã được Viện
HLKHCNVN thực hiện, cụ thể như sau:
Tình hình hoạt động của vệ tinh
VNREDSat-1 được cập nhật định kỳ trên
trang web của Viện HLKHCNVN tại địa chỉ:
http://vast.ac.vn/ban-tin-vnredsat1
Ngoài ra, các thông tin các đặc trưng kỹ
thuật của hệ thống VNREDSat-1 được công
bố tại trang Web của Viện Công nghệ vũ trụ,
Viện HLKHCNVN, tại địa chỉ sau:
Trang thông tin điện tử công bố siêu dữ
liệu ảnh và giao diện đặt hàng và cung cấp
dữ liệu ảnh viễn thám cũng quản lý cơ sở
dữ liệu tương thích và có thể tích hợp được
với cơ sở dữ liệu tài nguyên môi trường
Mặt khác, các chức năng về quản lý dữ liệu
cũng được hỗ trợ tối đa Công vụ này cho
phép cập nhật nhanh chóng số lượng cảnh
ảnh đã chụp được tại Trạm thu ảnh và có
thể sử dụng như một phần mềm quản lý dữ
liệu để truy vấn, thống kê Việc xây dựng
cổng thông tin điện tử và công bố thông tin
góp phần quan trọng vào công tác quản lý
dữ liệu nói riêng và hiệu quả khai thác của
cả hệ thống VNREDSat-1 nói chung
2.3 Hợp tác quốc tế
Với việc sở hữu một hệ thống hoàn chỉnh
(cả trạm mặt đất và vệ tinh), hệ thống
VNREDSat-1 có thể hợp tác được với các
tổ chức quốc tế ở các khía cạnh sau đây:
2.3.1 Cung cấp dữ liệu ảnh viễn thám
cho các tổ chức quốc tế
Với việc chủ động lập lịch, thu nhận và
xử lý ảnh vệ tinh viễn thám, dữ liệuVNREDSat-1 có thể được cung cấp cho các
tổ chức quốc tế cho các mục đích sau đây:Tham gia các hoạt động tìm kiếm, cứu
Một số ảnh minh họa vệ tinh
VNREDSat-1 tham gia các hoạt động phòng tránh vàgiảm nhẹ thiên tai quốc tế:
Hình 6: Ảnh vệ tinh VNREDSat-1 chụp Tamil Nadu, Ấn Độ ngày 3/12/2015
Hình 7: Ảnh vệ tinh VNREDSat-1 chụp Philippines ngày 24/10/2016 2.3.2 Trao đổi dữ liệu viễn thám
Do nhu cầu sử dụng ảnh viễn thám ngàycàng tăng, không chỉ đối với Việt Nam màngày cả đối với các tổ chức sở hữu vệ tinh
Do vậy, việc chia sẻ dữ liệu giữa các vệ tinhvới nhau sẽ làm tăng cường cả về số lượng
Trang 24Nghiên cứu - Ứng dụng
và chất lượng nguồn dữ liệu viễn thám, góp
phần làm tăng hiệu quả ứng dụng viễn
thám
Hình 8: Ảnh hai vệ tinh VNREDSat-1 của
Việt Nam và Thaichote của Thái Lan
2.3.3 Phối hợp cùng chụp một vùng rộng
với các vệ tinh khác
Đối với các vùng cần theo dõi giám sát
có diện tích lớn, cần nhiều dải ảnh vệ tinh
thì việc phối hợp lập kế hoạch chụp ảnh với
vệ tinh khác sẽ đem lại hiệu quả to lớn trong
việc tăng cường tần suất và số liệu quan
sát
Hình 9: Hệ thống lập lịch đa vệ tinh của
GISTDA (Thái Lan)
2.3.4 Hợp tác về sử dụng chung trạm
điều khiển vệ tinh
Với đặc thù là vệ tinh có độ che phủ toàn
cầu, nên việc sử dụng các trạm điều khiển
tại nhiều nơi trên trái đất có ý nghĩa quan
trọng trong các khía cạnh sau đây:
Sử dụng trạm dự phòng: trong trường
hợp trạm chính bị sự cố kỹ thuật hoặc trong
trường hợp cần nhiều phiên liên lạc với vệ
tinh thì việc sử dụng thêm một trạm tươngđương có ý nghĩa quan trọng trong việcđảm bảo vận hành hệ thống
Dịch vụ cho thuê trạm điều khiển: trạmđiều khiển mặt đất của hệ thốngVNREDSat-1 hoàn toàn có thể cho các nhà
sử dụng vệ tinh khác thuê để điều khiển các
vệ tinh tương đương VNREDSat-1
Dịch vụ phối hợp hoặc cho thuê trạm thuảnh: tương tự như trạm điều khiển
Hình 10: Sơ đồ vị trí các trạm mặt đất của Tập đoàn vũ trụ Thụy Điển (SSC)
Như vậy, Hợp tác quốc tế là cách hiệuquả làm tăng cường số lượng và chất lượngcủa các ứng dụng viễn thám Việc phối hợpvới các tổ chức quốc tế vừa nhằm nâng cao
vị trí và uy tín của hệ thống VNREDSat-1,vừa làm phong phú nguồn dữ liệu viễn thámcho Việt Nam Hợp tác hiệu quả vừa đem lạilợi ích về kinh tế, đồng thời chủ động hộinhập quốc tế trong lĩnh vực này
Đánh giá chung:
Với đặc thù quỹ đạo vệ tinh đồng bộ mặttrời, cụ thể là thời gian bay qua Việt Namchiếm khoảng 1/3 thời gian trên quỹ đạo thìhợp tác quốc tế là cách hiệu quả làm tăngcường số lượng và chất lượng cho các ứngdụng viễn thám Việc phối hợp với các tổchức quốc tế vừa nhằm nâng cao vị trí và uytín của hệ thống VNREDSat-1, vừa làmphong phú nguồn dữ liệu viễn thám cho ViệtNam Hợp tác hiệu quả vừa đem lại lợi ích
về kinh tế, đồng thời chủ động hội nhậpquốc tế trong lĩnh vực này
Trang 25Nghiên cứu - Ứng dụng
3 Kết luận và kiến nghị
Hệ thống VNREDSat-1 đã và đang được
vận hành và khai thác hiệu quả nhờ sự phối
kết hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài nguyên và Môi
trường và Viện HLKHCNVN Các nhóm giải
pháp nêu trên cũng đã được tiến hành đồng bộ
tại các đơn vị liên quan nhằm nâng cao hiệu
quả cung cấp dữ liệu ảnh vệ tinh
VNREDSat-1 cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, để
đảm bảo thực hiện có hiệu quả cần phải:
Tiếp tục nhận được sự hỗ trợ của các cơ quan
cụ thể là Bộ Tài nguyên và Môi trường và Viện
HLKHCNVN trong việc quản lý và phối hợp
Tiếp tục áp dụng các nhóm giải pháp trên
trong thực tiễn vận hành và khai thác hệ
thống VNREDSat-1
Tiến hành tổng kết, đánh giá, rút kinh
nghiệm và hoàn thiện
Tóm lại, việc phối hợp và triển khai các
đề xuất nêu trên dự kiến sẽ góp phần không
nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả đầu tư của
dự án VNREDSat-1 nói riêng và góp phần
xây dựng và hoàn thiện quy trình cũng như
năng lực cán bộ chuẩn bị cho các dự án
tương tự trong tương lai.m
Tài liệu tham khảo
[1] Quyết định 137/2006/QĐ-TTg ban hành
ngày 14 tháng 06 năm 2006 của Thủ tướng
chính phủ về “Chiến lược nghiên cứu và ứngdụng công nghệ vũ trụ đến năm 2020”.[2] Nghị định 21/2013/NĐ-CP ban hànhngày 04 tháng 03 năm 2013 của Thủ tướngchính phủ về “Quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TàiNguyên và Môi Trường”
[3] Quyết định số 1166/QĐ-BTNMT ngày
17 tháng 7 năm 2013 Quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức củaCục Viễn thám Quốc gia
[4] Trần Mạnh Tuấn, Công nghệ vệ tinh,NXB Khoa học Kỹ thuật, 2006
[5] Ray A Williamson, 1997 TheLandsat Legacy: Remote Sensing Policyand the Development of CommercialRemote Sensing, PhotogrammetricEngineering & Remote Sensing, Tập 63, số
7, tháng 7, 1997, trang 877-885
[6] Sergio Albani, 2009 Long-termPreservation of Earth Observation Data andKnowledge in ESA through CASPAR, TheInternational Journal of Digital CurationIssue 3, Volume 4 | 2009
[7] Charles Toth, 2013 Remote SensingSensors and Platforms: The Trends ISPRSHannover Workshop, Hannover, GermanyMay 21-24.m
Summary
Study and proposal to improve capacity and efficiency of data provision by
VNREDSat-1 system
Nguyen Ha Phu, Tran Tuan Ngoc, Department of National Remote Sensing
Ngo Duy Tan, Bui Trong Tuyen, Pham Minh Tuan, Chu Xuan Huy
Space Technology Institute, Vietnam Academy of Science and Technology
VNREDSat-1, the 1stVietnam’s remote sensing system, has been operating effectively since
2013 So far, the system has provided thousands of image scenes, which serve the needs ofmonitoring of natural resources, environment and natural disasters, and satisfying the require-ments for national security and defense purposes, and international cooperation as well.However, the VNREDSat-1 is a closed Europe-designed system, so the management, operationand exploitation process must be optimized to adapt with the local conditions in Vietnam Thispaper will summarize the operation and exploitation activities of the VNREDSat-1 system, andpropose solutions to improve its capacity and efficiency in data provision.m
Trang 26Nghiên cứu - Ứng dụng
Ngày nhận bài: 18/7/2017, ngày chuyển phản biện: 21/7/2017, ngày chấp nhận phản biện: 18/8/2017, ngày chấp nhận đăng: 07/9/2017
NGHIÊN CỨU QUY TRÌNH PHÁT HIỆN BIẾN ĐỘNG ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI BẰNG CÔNG NGHỆ BAY CHỤP ẢNH TỪ THIẾT BỊ BAY
KHÔNG NGƯỜI LÁI (UAV)
LÊ THỊ KIM DUNG
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt:
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên đất đai hạn chế, bên cạnh đó do áp lực gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa đô thị hóa đòi hỏi công tác quản lý nguồn tài nguyên đất đai hiệu quả đang trở nên cấp thiết Để làm được điều đó cần cập nhật liên tục những thông tin về quỹ đất và tình trạng sử dụng chúng Phương pháp truyền thống để đánh giá sự biến động về đất đai là phương pháp đo đạc ngoài thực địa nhưng phương pháp này tốn nhiều công sức và thời gian Xu hướng của thế giới hiện nay là dựa trên kết quả xử lý ảnh hàng không hoặc ảnh vệ tinh để thực hiện giám sát tình trạng bề mặt trái đất nhằm đánh giá sự biến động đất đai Nội dung bài báo giới thiệu quy trình phát hiện biến động đất đai phục vụ cho công tác quản lý đất đai bằng công nghệ bay chụp ảnh từ thiết
bị bay không người lái (UAV).
1 Mở đầu
Đất đai là nguồn tài nguyên vô giá, là
thành phần quan trọng nhất của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
các cơ sở sản xuất, các công trình văn
hóa-xã hội, đồng thời đất đai cũng được xem
như một loại hàng hóa đặc thù Tuy nhiên
đất đai có những tính chất đặc trưng mà các
loại tư liệu sản xuất khác không có được
như: hạn chế về diện tích, có vị trí cố định
trong không gian, không thể di chuyển được
theo ý muốn của con người Chính vì lẽ đó,
sử dụng đất đai hợp lý, phát hiện và theo dõi
những biến động của chúng để quản lý
đang trở nên cấp thiết Hiện nay, có nhiều
cách đánh giá biến động đất đai, tuy nhiên
sử dụng ảnh thu được bằng công nghệ bay
chụp ảnh không người lái (UAV) để giám sát
đang là một trong những xu hướng của thế
giới Vì vậy, nội dung bài báo này tập trung
vào nghiên cứu quy trình bay chụp và phát
hiện sự thay đổi, biến động của đất đai bằng
công nghệ bay chụp ảnh từ thiết bị baykhông người lái (UAV)
2 Quy trình phát hiện biến động đất đai và công nghệ UAV
Một trong những nội dung quan trọngtrong công tác quản lý nhà nước về đất đai
là công tác theo dõi và chỉnh lý sự biến độngnhằm mục đích quản lý quỹ đất đai có hiệuquả, nắm được tình hình sử dụng đất vànhững biến đổi của quá trình đó Để thựchiện được điều đó đòi hỏi cập nhật thườngxuyên những thông tin quan trọng về sửdụng đất thông qua việc đăng ký, chỉnh lý,cập nhật biến động đất đai trên hồ sơ địachính, hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai Hiệnnay, có nhiều phương pháp khác nhau trongviệc đánh giá, phát hiện sự biến động vềtình trạng đất đai Theo phương pháp truyềnthống, thông qua thống kê và kiểm kê đấtđai, nhà quản lý xác định được sự thay đổi
về diện tích và mục đích sử dụng trên cơ sở
Trang 27Nghiên cứu - Ứng dụng
đo đạc thực địa Phương pháp này có độ
chính xác cao, tuy nhiên việc đo đạc được
thực hiện ở ngoài trời nên phụ thuộc lớn
vào thời tiết, phạm vi đo đạc hẹp và chi phí
đo đạc cao
Phương pháp đo vẽ bằng ảnh viễn thám
có độ chính xác tương đối cao trong điều
kiện thời tiết thuận lợi và khu vực khảo sát
có địa hình chênh cao không nhiều Việc
chụp ảnh và xử lý ảnh có thể thực hiện trên
phạm vi rộng, tiết kiệm về thời gian và kinh
phí, đồng thời, nâng cao độ chính xác của
thông tin về đất đai Trên thế giới, nhiều nơi
đã sử dụng máy bay không người lái để
thực hiện bay chụp ảnh, sử dụng ảnh chụp
được để xử lý và giám sát trạng thái đối
tượng trên bề mặt Trái đất Sự phát triển
của việc thu nhận hình ảnh trên máy bay
không người lái được bắt đầu từ năm 1858
khi Gaspard Felix Tournashon sử dụng
khinh khí cầu để thực hiện việc chụp ảnh từ
trên không ở Paris Sau đó, để thực hiện
việc chụp ảnh trên không, những ý tưởng về
máy bay không người lái đã phát triển một
cách nhanh chóng, điểm nhấn của quá trình
này là việc dược sỹ người Đức Julius
Neubronner đã được cấp bằng sáng chế khi
sử dụng chim bồ câu để chụp ảnh phong
cảnh từ trên cao
Cấu tạo hệ thống chụp ảnh hàng không
kỹ thuật số bằng máy bay không người lái
(UAV) có thể được chia thành 4 phần chính
như sau: hệ thống máy bay, máy ảnh kỹ
thuật số, trạm điều kiển mặt đất, trạm xử lý
ảnh
Để đánh giá sự biến động sử dụng đất,
việc thực hiện bay chụp ảnh bằng công
nghệ bay không người lái thường được
thực hiện ở 2 thời điểm khác nhau Việc
khảo sát được thực hiện ở 3 giai đoạn: giai
đoạn chuẩn bị, ngoại nghiệp và nội nghiệp
Giai đoạn chuẩn bị bao gồm các hoạt
động về hoạch định vị trí, xác định phạm vi
cần bay chụp, kiểm tra vùng cấm bay và
thời tiết có thuận lợi cho công việc bay chụphay không Sau khi kiểm tra tất cả các điềukiện đảm bảo cho việc bay chụp, sau đó tiếpđến là thiết kế tuyến bay bằng phần mềmchuyên dụng và tiến hành bay chụp ảnh
Số liệu thu được từ bay chụp sẽ được xử
lý bằng phần mềm xử lý UAV chuyên dụng(Agisoft Photoscan) bao gồm ảnh số và tọa
độ các điểm khống chế ảnh Sản phẩm thuđược sau khi xử lý ảnh là mô hình đám mâyđiểm (Point Cloud), mô hình số bề mặt(DSM), mô hình số độ cao (DEM) và ảnhtrực giao (Orthomosaic)
3 Khu vực thử nghiệm
Khu vực thử nghiệm thuộc huyện Ba Vì Thành phố Hà Nội Tiến hành bay chụp ảnhUAV tại hai thời điểm tháng 4/2014 và tháng12/2015 Độ phân giải mặt đất hai lần baychụp là 3cm; độ cao bay chụp 160m; sốlượng ảnh 312 ảnh; diện tích khu bay chụp1,02km2 Đồ hình bay chụp theo hình vuông
-để đảm bảo thu được ảnh trực giao với chấtlượng tốt nhất, ranh giới các thửa đất vànhà cửa sẽ được hiển thị tốt nhất trên ảnh
Hình 1: Sơ đồ tuyến bay khu vực thử
nghiệm
Sau khi bay chụp, trên khu đo sử dụng
05 điểm KCA đo bằng phương pháp RTK để
tăng dày và bình sai khối ảnh (Xem hình 2)
Sản phẩm bình đồ ảnh trực giao có độchính xác 5 cm về mặt bằng ở cả hai thờiđiểm, đủ điều kiện để tiến hành đánh giá sựbiến động về sử dụng đất trên khu vực thử
nghiệm (Xem hình 3)
Trang 28Nghiên cứu - Ứng dụng
Hình 2: Sản phẩm ảnh trực giao và mô hình số bề mặt khu thử nghiệm
Hình 3: Quy trình phát hiện biến động đất
đai sau khi thực hiện xử lý ảnh chụp bằng
công nghệ bay chụp ảnh từ thiết bị bay
không người lái (UAV).
Kết quả thực hiện xử lý ảnh qua 2 thời
điểm khác nhau được thể hiện ở những
hình ảnh sau: (Xem hình 4, 5)
Việc phát hiện thay đổi tại khu vực thử
nghiệm (Thôn Yên Bồ) tại hai thời điểm
được phát hiện sơ bộ bằng phần mềm viễn
thám ENVI để phát hiện các khu vực có biến
động Tuy nhiên, để chính xác hóa chúng ta
phải sử dụng các phần mềm GIS khác để số
hóa lại các khu vực biến động để có ranh
giới khu vực biến động rõ nét Tác giả sử
dụng phần mềm ArcGIS 10.1 để số hóa lại
ranh giới các khu vực có biến đổi
Qua quá trình phát hiện thay đổi và sốhóa chúng ta thấy chỉ sau hơn một năm tạikhu vực thử nghiệm đã có 32 sự biến độngđáng kể trong đó có 30 ngôi nhà được xâymới diện tích khoảng 2.780 m2, 01 ngôi mộxuất hiện tại khu đất nông nghiệp (ruộng),
01 khu ao được mở rộng 1.814 m2 (Xem hình 6)
Qua quá trình phân tích và xử lý, giảiđoán bổ sung các thông tin trên ảnh chúng
đồ, mô hình 3D độ chính xác cao Đặc biệtkhi công nghệ bay chụp UAV kết hợp vớicông nghệ xác định tâm ảnh chính xác RTK
sẽ giảm bớt chi phí công tác ngoại nghiệprất nhiều, trong khi đó vẫn giữ được độchính xác thành lập bản đồ cần thiết.Dựa vào nghiên cứu trên, một lần nữakhẳng định công nghệ UAV có đủ độ chínhxác, độ tin cậy, và tính ứng dụng cao trongcông tác quản lý đất đai mà đặc biệt trongviệc phát hiện biến động đất đai phục vụ cho
Trang 29Nghiên cứu - Ứng dụng
Hình 4: Khu vực thử nghiệm tháng 4/2014 Hình 5: Khu vực thử nghiệm tháng 12/2015
Hình 6: Khu vực biến động trên khu vực
thử nghiệm
Hình 7: Bản đồ khu vực biến đổi từ 4/2014
đến 12/2015
công việc đánh giá nhằm mục đích thống
kê, kiểm kê và công tác quy hoạch, v.v
Công nghệ này sẽ giúp các nhà quản lý sẽ
có cái nhìn chính xác hơn, nhanh hơn, tổng
quan hơn về khu vực mình nghiên cứu Từ
đó nhanh chóng đưa ra được các quyết
định và giải pháp kịp thời giúp quy hoạch
phát triển kinh tế-xã hội và quản lý đất đai
một cách hợp lý và hiệu quả nhất.m
Tài liệu tham khảo
[1] Nguyễn Mạnh Hiển Xây dựng chiến
lược phát triển ngành quản lý đất đai theo
định hướng hiện đại hóa, kinh tế hóa và
phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
bền vững http://hunre.edu.vn
[2] Peter Van Blyenburgh, Harmonision
UAS Regulations and Standards, GIM
International, UAS edition, vol 30 (2016),
[5] Trang web UAV Geoscangeoscan.aero
[6] Trang web UAV Ebee sensefly.com.[7] Trang web UAV Trimble UX5 trim-ble.com/uas.m
(Xem tiếp trang 39)
Trang 30Nghiên cứu - Ứng dụng
Ngày nhận bài: 28/8/2017, ngày chuyển phản biện: 05/9/2017, ngày chấp nhận phản biện: 13/9/2017, ngày chấp nhận đăng: 20/9/2017
ỨNG DỤNG WAVELET ĐỂ CHIẾT XUẤT ĐIỂM ĐẶC TRƯNG PHỤC VỤ ĐỒNG ĐĂNG KÝ ẢNH SAR
sẽ đáng tin cậy hơn Bài báo trình bày một trong những phương pháp có thể được sử dụng
để tìm ra điểm đặc trưng, phương pháp wavelet.
1 Giới thiệu
Khi đồng đăng ký ảnh dựa vào các điểm
đặc trưng thì sự phân bố của các điểm đặc
trưng trên ảnh là một trong các yếu tố quan
trọng ảnh hưởng tới độ chính xác của đồng
đăng ký ảnh Nếu điểm đặc trưng được
phân bố đều trên toàn ảnh thì việc đồng
đăng ký sẽ đáng tin cậy hơn so với các điểm
phân bố không đều Quá trình khớp điểm
ảnh đặc trưng bao gồm hai bước: chiết xuất
điểm ảnh đặc trưng và khớp điểm ảnh đặc
trưng Hiện nay, một số phương pháp được
sử dụng để chiết xuất các điểm đặc trưng từ
ảnh Một trong những phương pháp đó là
phương pháp Interest Operators (IO)
(Urban, 2003) Phương pháp này sử dụng
giá trị gradient cực đại để chiết xuất các
điểm đặc trưng Tuy nhiên việc tính giá trị
gradient cho mỗi điểm ảnh từ ảnh gốc tạo
nên khối lượng tính toán vô cùng lớn
Phương pháp wavelet cũng được sử dụng
để chiết xuất các điểm đặc trưng từ ảnh
(Moigne et al., 2002) Phương pháp này
dựa trên giá trị wavelet gradient lớn nhất
So sánh Interest Operators (IO) với wavelet,
thì giá trị gradient không tính cho ảnh gốcnhư IO mà chỉ được tính cho các ảnh ở cáctầng phân tích wavelet, do đó giảm đượckhối lượng tính toán Đặc biệt wavelet còn
hỗ trợ cho phân tích đa phân giải ảnh Phântích wavelet cung cấp tất cả các đặc trưngcủa ảnh mà không làm mất đi thông tin quantrọng của dữ liệu ban đầu ngay cả ở độphân giải thấp Ngoài ra các tính chất của
hệ số wavelet sử dụng để lọc tần số thấp vàtần số cao còn được sử dụng trong việcchiết xuất đặc trưng của ảnh (Louis et al,1997), và nó có thể sử dụng để tìm điểmđặc trưng
Tóm lại, việc sử dụng wavelet cho phântích đa phân giải để tìm điểm đặc trưngphục vụ cho quá trình đồng đăng ký là rấthợp lý vì:
- Các điểm đặc trưng phải là các điểmnhư ngã ba đường, góc nhà, các giao lộ,các địa vật độc lập …Tuy nhiên những điểmđặc trưng này không phải lúc nào cũng tìmthấy trên ảnh SAR Vì vậy, ý nghĩa của điểmđặc trưng rất quan trọng Trong nghiên cứu
Trang 31Nghiên cứu - Ứng dụng
này điểm đặc trưng được định nghĩa trong
miền wavelet
- Trong phương pháp phân tích đa phân
giải bằng wavelet thì dữ liệu gốc không bị
mất đi mà các đặc trưng của tín hiệu lại
được tìm thấy ngay cả ở độ phân giải thấp
- Phân tích wavelet đa phân giải sẽ làm
nổi bật đặc trưng của hình ảnh ở độ phân
giải thấp, do đó nó loại bỏ được một số đặc
trưng không rõ ràng ở độ phân giải cao
- So với các phương pháp khác, thuật
toán này đạt độ chính xác cao hơn với tốc
độ tính toán nhanh và ở tất cả các độ phân
giải
2 Cơ sở của phương pháp
Phân tích trên ảnh có thể được thực hiện
bằng phân tích đa phân giải wavelet 2-D
Trong không gian 2-D:
nếu hàm
thỏa mãn: (2.1)
Nó được gọi là wavelet hai chiều cơ bản
“wavelet mẹ” Wavelet 2-D liên tục biến đổi
theo hàm được cho bởi hàm
tích phân chập
(2.2)Biến đổi wavelet có thể được coi như là
bộ lọc của băng tần, có thể thực hiện ở các
loại tỷ lệ và độ phân giải khác nhau Nếu
chúng ta dùng cửa sổ lớn để nhìn vào dữ
liệu thì chung ta sẽ thấy đặc trưng tổng thể,
tương tự, nếu chúng ta dùng cửa sổ nhỏ để
nhìn vào dữ liệu thì chúng ta sẽ thấy các
đặc trưng chi tiết Đối với từng lớp nhỏ của
wavelet, tỷ lệ a có thể được lấy mẫu liên tục
a=2ivới mà không thay đổi các thuộc
tính tổng thể của phép biến đổi Các phép
biến đổi tương ứng với giá trị nhân đôi của
a được gọi là biến đổi wavelet rời rạc
(DWT), (2.3)
Do đó, hình ảnh có thể được coi là một
chức năng f(x,y) và biến đổi wavelet rời rạc
có thể thực hiện theo mô tả theo công thức2.3
Để là hàm trơn hai chiều Giả thuyếtrằng được phân tích thành hai thànhphần dọc theo hướng x và y là:
(2.4a)
(2.4b)Các chức năng này có thể được sử dụngnhư wavelet Ở tỷ lệ a =2j, Biến đổi wavelet2-D của ảnh f(x,y) có thể được phân tíchthành hai hướng độc lập
(2.5a)(2.5b)
Về cơ bản, hai thành phần này tỷ lệthuận với tọa độ của vector hướng dốc củaf(x,y), làm trơn bằng ở tỷ lệ 2jtheo haihướng x và y
Ở tỷ lệ 2j, môdul vector hướng dốc củaf(x,y) có thể được tính như sau:
(2.6)
Ở mỗi tỷ lệ 2j, biến đổi wavelet cực đạiđược định nghĩa là các điểm (x,y) mà tại đómôdul là cực đại địa phương dọctheo hướng dốc
3 Phương pháp chiết xuất các điểm đặc trưng bằng wavelet
3.1 Phân tích tín hiệu SAR bằng wavelet
Quá trình chiết tách các điểm đặc trưngtrên ảnh SAR được bắt đầu bằng việc phântích đa phân giải ảnh SAR Phép biến đổiwavelet rời rạc được sử dụng để phân tích
đa phân giải ảnh SAR (hình 1) Trong phầnthực nghiệm tác giả sử dụng ảnh Sentinel– 1A được Cơ quan hàng không vũ trụ Châu
Âu phóng thành công lên quỹ đạo năm 2014với chu kỳ là 12 ngày Đây là tư liệu viễnthám mới và có độ phân giải không gian10m, cung cấp dữ liệu SAR band C bước
Trang 32Nghiên cứu - Ứng dụng
sóng 5,66cm với chế độ chụp là IW Các
phép lọc được tiến hành với nhiều tầng
(level) khác nhau và để khối lượng tính toán
không tăng, khi qua mỗi bộ lọc, tín hiệu
được lấy mẫu xuống 2 (xem hình 1)
Mỗi thành phần của ảnh được phân tích
ở mỗi tầng phân tích nêu trên được xem
như là một kênh ảnh Như vậy, ở mỗi tầng
phân tích, ảnh được phân tích thành 4 ảnh
nhỏ hơn Hình 2 mô tả cấu trúc phân tích
hình kim tự tháp của phương pháp wavelet
Ảnh SAR được phân tích bằng wavelet để
chuẩn bị cho bước chiết tách điểm ảnh đặc
trưng tiếp theo (xem hình 2)
Hình 2: Cấu trúc hình kim tự tháp của phương pháp phân tích ảnh bằng wavelet
Hình 1: Sơ đồ phân tích ảnh bằng wavelet