Gắn liền với tiến trình lịch sử của Việt Nam ta là sự hình thành và phát triển của các dân tộc dọc chiều dài đất nước. Mỗi dân tộc đều mang trong mình những đặc trưng văn hóa riêng trong đời sống sinh hoạt.
Trang 1BÀI THUYẾT TRÌNH NHÀ DÀI Ê-ĐÊ
A DẪN NHẬP:
I Lí do chọn đề tài:
- Gắn liền với tiến trình lịch sử của Việt Nam ta là sự hình thành và phát triển của các dân tộcdọc chiều dài đất nước Mỗi dân tộc đều mang trong mình những đặc trưng văn hóa riêng trongđời sống vật chất và vật chất Khi đến với vùng núi Tây Nguyên đại ngàn hùng vĩ, ta không thểnào không kể đến những đồng bào dân tộc sinh sống nơi đây, trong đó đó có người Ê-đê Nhắcđến dân tộc này, ta sẽ dễ dàng nghĩ đến ngay hình ảnh những ngôi nhà dài gần 100m, đã từ lâuđược ví von là "dài như tiếng chiêng ngân" Có thể nói, nhà dài Ê-đê là một trong những đặctrưng tiêu biểu và điển hình nhất, thể hiện mạnh mẽ những nét văn hóa, xã hội và đời sống vậtchất, tinh thần độc đáo trong cuộc sống sinh hoạt của dân tộc Ê-đê
II Mục đích thực hiện đề tài:
- Tuy mang trong mình những ý nghĩa và tầm quan trọng nhất định trong bản sắc văn hóa dântộc Ê-đê, nhưng đáng tiếc thay khi giờ đây, với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, hình ảnhnhững ngôi nhà dài ấy dần dần trở nên "xa lạ" ngay với chính dân tộc Ê-đê, bởi vì sự mất dần đicủa nó theo thời gian, thay vào đó là những ngôi nhà được xây kiên cố bằng bê-tông cốt thépnhư người Kinh
- Đề tài này sẽ góp phần giúp chúng ta có những kiến thức, thông tin chân thật và chính xác nhất
về nhà dài, từ đó có cái nhìn khách quan hơn, nhận thức đúng đắn hơn về ý nghĩa và tầm quantrọng của nó trong lịch sử văn hóa, xã hội của người Ê-đê, để rồi giúp ta phần nào định hướngđược những cách thức, phương pháp tốt nhất, hiệu quả nhất trong việc bảo tồn và phát triển nhàdài Ê-đê trong xã hội hiện nay
III Đối tượng và phạm vi đề tài:
1 Đối tượng của đề tài:
- Thông qua những thông tin, kiến thức về địa bàn cư trú và lịch sử hình thành, phát triển củadân tộc Ê-đê, ta sẽ có những hiểu biết nhất định về đối tượng chính của đề tài này đó chính lànhà dài Ê- đê
2 Phạm vi đề tài:
- Thời gian: Từ khi hình thành dân tộc Ê-đê (khoảng thế kỉ thứ VIII sau Công Nguyên) cho đếnnay
- Không gian: Nơi người Ê-đê cư trú tập trung đông nhất, điển hình nhất, thuộc thành phố Buôn
Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk, phía nam của tỉnh Gia Lai Ngoài ra đây là nơi tồn tại những ngôi nhàdài truyền thống điển hình nổi tiếng
Trang 2IV Phương pháp thực hiện và nguồn tư liệu:
- Thực hiện bằng phương pháp liên ngành và thông qua các nguồn tài liệu, sách báo, bài viết liênquan đến vùng Tây Nguyên, dân tộc Ê-đê và nhà dài truyền thống của họ
V Nội dung đề tài:
Gồm 6 phần:
1 Lịch sử hình thành Buôn Ma Thuột và tỉnh Đắk Lắk
2 Khái quát về dân tộc Ê-đê
3 Khái quát và ý nghĩa của nhà dài Ê-đê
4 Đặc điểm kiến trúc, mỹ thuật của nhà dài Ê-đê
5 Thực trạng và giải pháp bảo tồn nhà dài Ê-đê
6 Tổng kết
Trang 3B NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
I Lịch sử hình thành tỉnh Đắk Lắk và thành phố Buôn Ma Thuột:
Được coi là miền đất của “các cao nguyên xếp tầng”, Tây Nguyên chất chứa trong lòngmình khối di sản, di tích văn hoá phong phú và độc đáo Đó là mảnh đất của văn hoá rừng, vănhoá nương rẫy, văn hoá cồng chiêng, văn hoá của những trường ca và các chiến binh ngườiThượng; vùng đất của văn hoá café và tiêu hạt; vùng đất của nghệ thuật điêu khắc gỗ thấm đẫmtính nhân bản và triết lý cuộc đời… và cũng là vùng đất có nhiều biến động to lớn về chính trị vànhững chuyển mình quan trọng về văn hóa - kinh tế
Tỉnh Đắk Lắk (Darlac, Đắc Lắc) là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, phía bắc giápGia Lai; nam giáp Lâm Đồng, tây giáp Đăk Nông và vương quốc Campuchia; đông giáp PhúYên và Khánh Hòa Tiếng Êđê: Đăk = nước; Lăk = hồ Tỉnh lỵ ĐăkLăk là thành phố Buôn MaThuột, cách Hà Nội 1.410k Đăk Lăk có diện tích tự nhiên 13.085 km², chiếm 3.9 % diện tích tựnhiên cả nước Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Disản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Bản đồ hành chính tỉnh Đắk Lắk ngày nay
Nguồn: http://vietnamnay.com/xem-tin-tuc/tong-quan-tinh-dak-lak-default.html
Phần lớn địa bàn Đắk Lắk thuộc sườn phía tây nam dãy Trường Sơn nên địa hình núi caochiếm 35% diện tích tự nhiên Địa hình cao nguyên bằng phẳng nằm ở giữa tỉnh, chiếm 53%diện tích tự nhiên với độ cao trung bình 450 m Phần diện tích tự nhiên còn lại là vùng thấp, baogồm những bình nguyên ở phía bắc tỉnh và ở phía nam thành phố Buôn Ma Thuột Đáng chú ý
là diện tích đất đỏ Bazan rất lớn chiếm khoảng 1/3 diện tích tự nhiên thích hợp cho việc pháttriển cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su, điều, hồ tiêu và cây ăn quả Đăk Lăk có 44dân tộc, trong đó người Ê-đê và người M'nông là những dân tộc bản địa chính Dân tộc Êđêtrước đây còn có tên là Rhadộ sinh sống chủ yếu ở Đắk Lắk phân thành nhiều nhóm Kpă,Adtham, Krung, Mthur, Klul, Ruê, Blô, Kdrao
Tỉnh Đăk Lăk thống nhất từ năm 1976 hình thành từ hai tỉnh Darlac và Quảng Đức, códiện tích lớn nhất Việt Nam (19.800 km²), gồm thị xã Buôn Ma Thuột và 5 huyện: Krông Buk,
Trang 4Từ ngày 1/1/2004, Đăk Lăk lại được chia thành hai tỉnh: Đăk Lăk và Đăk Nông, nên số huyệngiảm xuống còn 13 huyện.
Đăk Lăk là một trong số các địa danh gây nhiều tranh cãi nhất về cách viết, tùy theo góc
độ nhìn nhận của ngôn ngữ học, dân tộc học hay xã hội học, có nhiều biến thể của tên tỉnh: ĐắcLắc (hay dùng nhất), Đắk Lắk, Đắk Lắc, Dăklăk, Dak Lak
Nằm trong không gian văn hóa vùng đất Tây Nguyên - nơi mà gần như duy nhất củaĐông Nam Á không chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ Vì vậy có thể coi đây
là vùng văn hóa dân gian phong phú và độc đáo nhất nước ta Trong phân vùng văn hóa, các nhànghiên cứu khẳng định Tây Nguyên là một trong bảy vùng văn hóa lớn của Việt Nam - “nơi gặp
gỡ của nhiều luồng dân cư, nơi giao lưu văn hóa của nhiều tộc người, do vậy các tộc người TâyNguyên và văn hóa Tây Nguyên là bức thảm nhiều màu sắc”
Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thànhphố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt Nam Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê-đê, nghĩa là "bản hoặclàng của Ama Thuột", nó xuất phát từ tên gọi buôn của Ama Thuột - tên một vị tù trưởng giàu
có và quyền uy nhất vùng, để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triểnthành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay
Buôn Ma Thuột thủ phủ của vùng đất Tây Nguyên được biết đến là vùng đất thiên nhiênhùng vĩ, cái nôi của văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, mang đậm nét đặc trưng của cư dânbản địa với những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể độc đáo và đồ sộ còn lưu giữ rất nhiều disản văn hóa độc đáo
Buôn Ma Thuột là một trong những địa điểm còn dấu vết của thời đại đồ đồng có niên đại
2000 năm và dấu vết nền văn hóa Chămpa trước đó vì thế những giá trị văn hóa tạo nên bản sắccủa thành phố này là sự đan xen hài hòa giữa yếu tố vật thể và phi vật thể của nhiều lớp tầng vănhóa và nhân học
Thuở xưa, đây là vùng đất của người Ê-đê Kpă với khoảng 50 nhà dài Ê-đê nằm dọc theosuối Ea Tam do tù trưởng Ama Thuột cai quản Khi đó, thủ phủ của vùng đất cao nguyên ĐắkLắk được đặt tại Bản Đôn (huyện Buôn Đôn bây giờ) Năm 1890, Bourgeois - một tên thực dânnổi tiếng nham hiểm, sau khi thu phục được Khumjunop, một tù trưởng, một vua săn voi nổitiếng ở Bản Đôn đã tiếp tục tìm mọi cách để mua chuộc tù trưởng Ama Thuột nhằm đặt tiền đềcho việc xây dựng một thủ phủ mới ở đây Với lợi thế là trung tâm của Đắk Lắk cũng như toànTây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trênmột cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, 14 năm sau, tức ngày 22 tháng 11 năm 1904,theo đề nghị của Hội đồng tối cao Đông Dương, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị địnhthành lập Đại lý hành chính Buôn Ma Thuột, thuộc quyền giám sát và quản trị của Khâm sứTrung Kỳ và Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh Đarlac (tên gọi tỉnhĐắk Lắk bây giờ) thay cho Bản Đôn
Trang 5Bản đồ Buôn Ma Thuột năm 1905.
http://bmtvn.com/showthread.php?15650-Nhung-hinh-anh-thoi-xua-cua-Buon-Ma-Thuot
Chính những đặc điểm về địa chính trị - địa văn hóa này là cơ nguyên cho sự hình thànhmột bản sắc văn hóa của thành phố vùng cao - hạt nhân của vùng Tây Nguyên Buôn Ma Thuộtcũng là nơi khởi nguồn của nhiều lễ hội văn hóa, nơi hội tụ và thẩm thấu nhiều giá trị phi vật thể
vô giá của vùng cao nguyên này Nói tới Buôn Ma Thuột là nói tới những giá trị phi vật thểmang đơm tính bản địa, tộc người, tính địa văn hóa phong phú, đa dạng và độc đáo
Ngày 28/8/1945, tổng khởi nghĩa diễn ra ở Đắk Lắk, Uỷ ban Cách mạng lâm thời tỉnh đã
ra mắt và tuyên bố xoá bỏ chế độ thống trị của Nhật, Pháp; hệ thống chính quyền cách mạngđược thành lập Liên hoan đoàn kết các dân tộc Dak Lak được tổ chức tại Biệt điện Bảo Đại bàn
về vấn đề đoàn kết các dân tộc anh em trong xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng
Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tiến đánh bất ngờ vào Thànhphố Buôn Ma Thuột, giải phóng Thành phố và cũng là thời khắc mở màn cho Chiến dịch Hồ ChíMinh lịch sử, giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước
Trang 6Bản đồ Buôn Ma Thuột năm 1930
http://bmtvn.com/showthread.php?15650-Nhung-hinh-anh-thoi-xua-cua-Buon-Ma-Thuot
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, đến giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX, thị xã Buôn
Ma Thuột được Nhà nước quyết định nâng lên Thành phố Buôn Ma Thuột (theo Nghị định NĐ/CP ngày 21/01/1995)
08-Đến năm 2005, Thành phố Buôn Ma Thuột lại tự hào được nâng cấp thành đô thị loại II(Quyết định 38/2005/QĐ-TTg ngày 28/02/2005) và ngày 07/9/2006 Thủ tướng Chính phủ kýQuyết định số 1181/QĐ-TTg, theo đó Buôn Ma Thuột sẽ:
“- Là đô thị hạt nhân vùng Tây Nguyên, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hộitoàn vùng; là trung tâm giáo dục đào tạo, y tế, dịch vụ, du lịch, thể dục thể thao cấp vùng;
- Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học kỹ thuật của tỉnh Đắk Lắk;
- Là đầu mối giao thông liên vùng, tạo điều kiện phát triển giao lưu kinh tế, văn hoá, xãhội giữa Tây nguyên với các vùng trong cả nước và quốc tế;
- Có vị trí đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng.”
(Trích Quyết định số 1181/QĐ-TTg ngày 07/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ)
Như vậy, qua hơn 100 năm hình thành và phát triển, mặc dù có nhiều lần thay đổi về cấphành chính nhưng Buôn Ma Thuột vẫn luôn là thủ phủ, lỵ sở của tỉnh Đắk Lắk Điều đó chứng
tỏ tầm quan trọng của Thành phố Buôn Ma Thuột xưa cũng như nay vẫn luôn là trung tâm kinh
tế, chính trị xã hội không những của tỉnh Đắk Lắk mà còn cả khu vực Tây Nguyên
Trang 7II Khái quát về dân tộc Ê-đê:
Người Ê-đê tộc danh tự gọi là Đêgar hay Anăk Ea Ðê, Ra Ðê (hay Rhađê), ê Ðê, êgar,
Ðê Trong bia ký Champa tại Tháp Pô Yang Ana Gar đã ghi chép sự xuất hiện của tộc danhOrang Đêy tại vùng Êa Trang (Nha Trang) từ rất sớm khoảng thế kỉ VIII, Orang Đêy biến âmsau này thành Rađê, Rađêy hay Ê-đê cuối Trước năm 1975, tại miền nam Việt Nam người Ê-đêđược gọi là Rađê Đối với người Ê-đê họ tự gọi họ là ĐÊGAR hay ĐÊGA trong cụm từ AnakĐêgar (Người Con của Núi Rừng)
Trong tất cả các tỉnh cao nguyên trung phần, có thể nói Đắk Lắk là quê hươngcủa người Ê-đê, vì đại đa số họ sống ở đây và có dân số đông nhất trong các dân tộc thiểu số củatỉnh Đắk Lắk với 285,715 người Người Ê-đê nói bằng ngôn ngữ riêng có nguồn gốc từ nhómngôn ngữ Malayo-Polynesian, cư trú chủ yếu tại Thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Păk,Krông Buk, Ea Sup và M’Drak
Trang 8Cuộc sống sinh hoạt người Ê-đê
http://entity.xalo.vn/ethnics/ae6fd5c6.html
Dân tộc Ê-đê bao gồm khoảng 330.348 người, là dân tộc có nguồn gốc từ nhóm tộc người
Mã Lai (Malays) từ các hải đảo Thái Bình Dương đã có mặt lâu đời ở Đông Dương; truyềnthống dân tộc vẫn mang đậm nét mẫu hệ thể hiện đậm nét dấu vết hải đảo của nhóm tộc ngườinói tiếng Mã Lai (Malays) Các nhóm địa phương bao gồm: Adham, Bih, Blô, Dong Kay, DongMak, Ening, Arul, Hwing, Mđhur, Ktul, Kpă, Krung, Dliê, Hruê, Kah, Kdrao, Ktlê, ÊBan…hưng không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm địa phương
Người Ê-đê làm rẫy là chính, riêng nhóm Bíh làm ruộng nước theo lối cổ sơ, dùng trâudẫm đất thay việc cày, cuốc đất Ngoài trồng trọt còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đanlát, dệt vải Trên nương rẫy, ngoài cây chính là lúa, còn có ngô, khoai, bầu, thuốc lá, bí, hành, ớt,bông,
Đặc điểm làm rẫy của người Ê-đê là chế độ luân khoảnh, tức là bên cạnh những khu đấtđang canh tác còn có những khu đất để hoang để phục hồi sự mầu mỡ Ngày nay người Ê-đê gắnmình với sản xuất nông sản cây công nghiệp: cà phê, cao su, hồ tiêu, ca cao… Sản xuất nông
nghiệp trong đó làm rẫy (hma) chiếm vị trí trọng yếu Những mảng rừng thưa, trảng cỏ hay trên
những sườn đồi thường được chọn làm nơi phát cây làm rẫy với những cộng cụ đơn giản như rìu(jông), xà gạc (kgac), cuốc xới đất luỡi nhỏ (wăngbriêng), cào cỏ (hwar)
Trang 9Sinh hoạt văn hóa của người Ê-đê
http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/199040/Xem-video-clip-Loi-chieng-Ede.html
Do khí hậu Tây Nguyên phân thành 2 mùa rõ rệt, đồng bào Ê-đê chỉ canh tác, cấy trồngmột vụ trong năm vào mùa mưa và luân canh Những năm gần đây, đồng bào đã dần biết ápdụng các biện pháp kỹ thuật tiến tiến tăng năng suất và đa dạng hoá sản xuất, ví dụ lúa, bắp, đậu,rau và sản phẩm khác Việc trồng cây công nghiệp như hồ tiêu, cà phê, cao su dần dần đóng vaitrò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình người Ê-đê Bên cạnh trồng trọt, người Êđê còn chănnuôi trâu, bò, lợn, dê, gà, vịt, ngan, ngỗng và gia súc khác Gia đình giàu có hàng trăm đầu trâu,
bò Trâu bò vừa là biểu hiện khối tài sản của một gia đình, vừa là vật định giá trong các cuộctrao đổi những chiếc chiêng, ché quý Trâu bò, dê, heo còn được dùng làm vật hiến sinh, phục
vụ những nghi lễ trong năm của gia đình và cộng đồng Người dân ở đây còn tự làm ra đựơc đồđan lát, bát đồng, đồ gỗ, đồ trang sức, đồ gốm
Cho đến nay, người Ê-đê vẫn theo chế độ mẫu hệ Cơ sở xã hội truyền thống là buôn.Buôn của người Ê-đê là nơi quần tụ của vài chục, có đến khi vài trăm nóc nhà dài làm theo kiểunhà sàn với kích thước và quy mô khác nhau phụ thuộc vào số lựơng các thành viên trong đạigia đình mẫu hệ Mỗi buôn có phạm vi rừng và phạm vị cư trú riêng Ranh giới của phạm vi này
là các ranh giới tự nhiên như một dòng suối, một gốc cây hay một mỏm đá Trong phạm vi đấtrừng và đất cư trú của buôn mình, mọi người dân trong buôn đều có quyền tự do khai thác, sănbắt, hái lượm, chọn đất làm rẫy nhưng vi phạm sang khu vực như rừng thiêng khác là điều cấmkỵ
Người Ê-đê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, tụcngữ, đặc biệt là các Khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng với Khan Đam San, Khan Đam KtehM’lan… Người Ê-đê yêu ca hát, thích tấu nhạc và thường rất có năng khiếu về lĩnh vực này
Trang 10Nhạc cụ có cồng chiêng, trống, sáo, khèn, Gôc, Kni, đàn, Đinh Năm, Đinh Tuốc là các loại nhạc
cụ phổ biến của người Êđê và được nhiều người yêu thích
Trong mọi hoạt động xã hội, phong tục, nghi lễ mang tính cộng đồng đều phải tuân theo
những luật lệ chung do một bộ máy tổ chức mang tính tự quản mà người đứng đầu là khoa kpin
ea còn được gọi là mtao (già làng), điều hành luật tục trong buôn có pô phạt kđy (người xử kiện)
để luận tội những kẻ vi phạm luật tục, hòa giải các mâu thuẫn giữa các thành viên trong cộng
đồng buôn, ngoài ra cũng có những pô riu Yang(người khấn thần) để thay mặt dân làng thực hiện các nghi lễ tín ngưỡng và các pa ghê (thầy bói, thầy cúng) để chữa bệnh bằng các hình thức
bói toán
Người Ê-đê theo tín ngưỡng đa thần thể hiện trong các nghi lễ về mọi mặt của cuộc sống
Có những nghi lễ theo vòng đời từ khi người mẹ mang thai đến khi đứa trẻ sinh ra, lớn lên, dựng
vợ, gả chồng đến khi già, chết; có những nghi lễ thuộc vòng sinh trưởng của cây trồng từ khichọn đất làm rẫy cho đến khi thu hoạch; và những nghi lễ của chung cộng đồng như lễ cúng bếnnước thường được tổ chức vào đầu mùa mưa, ngoài ra còn có lễ trước Kpan khi dựng xong nhàmới Đối với quan niệm về cái chết, người Êđê dựng các ngôi nhà mồ đặc sắc có tượng xungquanh để canh gác giai đoạn khi chuyển tiếp từ sống sang chết và sang cuộc sống thế giới bênkia
Trang phục người Ê-đê
http://www.cuocsongviet.com.vn/index.asp?act=dt&id_dt=15
Có đầy đủ các thành phần, chủng loại trang phục và phong cách thẩm mỹ khá tiêu biểucho các dân tộc khu vực Tây Nguyên Y phục cổ truyền của người Êđê là màu đen, có điểmnhững hoa văn sặc sỡ Đàn bà mặc áo, quấn váy (Ieng) Đàn ông đóng khố (Kpin), mặc áo.Người Ê-đê ưa dùng các đồ trang sức bằng bạc, đồng, hạt cườm Trước kia, tục cà răng qui địnhmọi người đều cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên, nhưng lớp trẻ ngày nay không cà răng nữa
Trang 11III Khái quát và ý nghĩa của nhà dài Ê-đê:
1 Khái quát nhà dài Ê-đê:
Nhà dài Ê-đê
Trang 12Nhà dài đặc trưng của văn hóa đồng bào dân tộc Ê Đê.
http://chaobuoisang.net/an-tuong-voi-nha-dai-cua-dan-toc-e-de-468684.htm
Theo chế độ mẫu hệ, đại gia đình trong mỗi nhà dài thường có ba nhóm: nhóm phụ nữthuộc dòng họ mẹ (ân go–cái nồi cái), nhóm đàn ông thuộc dòng họ mẹ (dăm đei-anh em traicủa ân go) và nhóm người đàn ông không thuộc dòng họ mẹ (pêrông–người nuôi) Người phụ
nữ thuộc nhóm cao tuổi nhất làm chủ gia đình Khi bà mất đi, quyền hành về tay người con gái
út, nếu người con gái út đó còn ít tuổi thì người chị cả tạm thay quyền, cho tới lúc cô em trưởngthành thì trao lại
Hiện nay nhà dài Ê-đê có ở các tỉnh Tây Nguyên như : ở thành phố Buôn Ma Thuột; tạicác huyện buôn Kô Sir, buôn Pănn Lăm, buôn Đôn,… vùng xa ở các huyện Krông Ana, MaĐ’Rắk, Krông Búk hay Cư M’Gar…
2 Ý nghĩa của nhà dài Ê-đê:
Theo quan niệm của người Ê-đê, ngôi nhà không chỉ là nơi cư trú của gia đình mà còn thểhiện phong cách, nếp sống, sự giàu sang, "đẳng cấp" của gia đình đó trong cộng đồng
Nhà dài của người Ê-đê Tây Nguyên là một công trình kiến trúc độc đáo Từ bao đời nay,
Trang 13Ngôi nhà dài còn thể hiện yếu tố tâm linh, như cột cúng Yàng là chiếc cột của gian nhà bàchủ Việc hình thành ngôi nhà dài là vấn đề quan trọng, nó được thể hiện từ chỗ bà chủ nhà mờithầy cúng thần chọn đất dựng nhà đến khi làm các chi tiết trên từng cột nhà, nhất là cột khách,cột chiêng, cầu thang và bà chủ nhà là người chặt nhát dao đầu tiên cũng như cuối cùng lên vậtdựng làm nhà.
Nhà dài của đồng bào Ê-đê là một phức hợp không gian kiến trúc thể hiện nét đặc trưngtrong đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng - tâm linh, một công trình sáng tạo văn hóa vật chất ấntượng của tộc người này
Nó là sản phẩm tiêu biểu của tổ chức công xã thị tộc nhằm thích ứng với môi trườngthiên nhiên, tránh thiên tai, thú dữ và bảo vệ sự sống của các thành viên trong cộng đồng, đồngthời cũng là nơi sinh hoạt văn hóa của đồng bào Ê-đê
Nhà dài với những giá trị, sắc thái mang đậm ý nghĩa nhân văn của văn hóa truyền thống
đã là niềm tự hào của dân tộc Ê Đê Tín ngưỡng và chế độ mẫu hệ của đồng bào dân tộc Ê Đêqua nhà dài đã tồn tại tốt đẹp cùng với thời gian
Nhà dài là nét đẹp văn hóa rất tiêu biểu của các dân tộc ít người tại Việt Nam Nó đã gópphần quan trọng làm đa dạng hơn cho truyền thống, tạo nên bản sắc văn hóa người Việt
IV Đặc điểm kiến trúc, mỹ thuật của nhà dài Ê-đê:
1 Đặc điểm kiến trúc, mỹ thuật tổng quan của nhà dài Ê-đê:
Nhà dài của người Ê-đê là nhà sàn, làm bằng tre nứa và bằng gỗ, mặt sàn và vách tường baoquanh nhà làm bằng thân cây bương hay thân tre già đập dập, mái lợp cỏ tranh Nhà có kết cấu cột kèobằng gỗ tốt, các đà ngang, đòn dông được đẽo bằng tay Nhà được thưng vách và lót sàn bằng các phênnứa đập nát, mái lợp cỏ tranh dày Phên dựng ở hai đầu hồi thẳng đứng, còn phên dựng theo chiều dàithì ngã ra hai bên, nếu nhìn từ xa, ngôi nhà có hình dáng một cái thuyền Từ mắt đất đến sàn nhà khoảng1,5 đến 2 mét, đỉnh mái cách sàn nhà 4 - 5 mét, lòng nhà rộng khoảng 4,5 đến 5,5 mét, xà ngang dài từ3,20 đến 3,40 mét; cột cao 3,60 đến 4 mét Khi nói đến chiều dài thì nói đến số lượng dầm ngang (đê)tương ứng với một đôi cột Nhà có bao nhiêu đê là có bấy nhiêu gian Nhà dài có hai cửa, cửa phía trướcdành cho khách và nam giới, cửa phía sau dành cho phụ nữ Sát với hiên là sàn
Đáng chú ý là nhà chỉ có vi cột, gồm cột dầm, quá giang, không có vi kèo, do đó khung nhà vàmái nhà là hai bộ phận tách rời nhau ghép lại Nhà có hai mái chính, nhưng có nhà có thêm 2 mái phụ ở
2 đầu hồi, thụt sâu vào 2 mái chính để tránh hắt mưa vào nhà mái lợp cỏ tranh Người ta khoét ngàm đểđặt đôi xà dọc lên hàng cột cái, quàng quá giang lên đôi xà dọc và cột ốp vào nhau Những đòn tay, rui,
mè và trên cùng là mái tranh Mái nhô ở hai đầu hồi che cột hiên, tranh lợp từng cụm, ngọn thả xuôimái, gốc bẻ gập xuống để cây đòn tay chèn giữ phía trên Kết cấu của nhà là cột kèo bằng gỗ tốt có sứcchịu đựng dãi dầu mưa nắng