1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Hệ sinh thái rừng ppsx

15 335 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 234,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ sinh thái rừng Hệ sinh thái rừng Hệ sinh thái rừng Forest ecosystem là một hệ sinh thái mà thành phần nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động

Trang 1

Hệ sinh thái rừng

Hệ sinh thái rừng

Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một

hệ sinh thái mà thành phần nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất) Nội dung nghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm

cả cá thể, quần thể, quần xã và hệ sinh thái,

về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa

các cây rừng và giữa chúng với các sinh vật khác trong quần xã đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau giữa những sinh vật này với hoàn

Trang 2

cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng (E.P Odum 1986, G Stephan 1980)

[sửa]Một số quan điểm

Theo khoản 1 điều 3 của Luật bảo vệ và phát

triển rừng Việt Nam năm 2004: Rừng là một

hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1* trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (quy định trước đây được ghi trong Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm sinh: là rừng phải có độ tàn che từ 0,3 trở lên)

 Theo Tansley (1935): Rừng là một hệ sinh thái

 Theo Sucasep (1964): Hệ sinh

thái rừng đồng nghĩa với quần lạc sinh địa rừng

Nhìn chung có nhiều khái niệm về rừng song hầu hết các khái niệm đều có điểm thống nhất

đó là nó phải bao gồm thành phần cây gỗ

đóng vai trò chủ đạo Mặc dù có sự tương

đồng song giữa hai khái niệm (của Sucaep và Tansley) cũng có sự khác nhau nhất định

Khái niệm của Tansley tỏ ra rộng hơn, ngược lại, khái niệm theo Sucasep tỏ ra nghiêm ngặt

Trang 3

hơn – đó là những bộ phận của bề mặt đất hoặc nước thuần nhất về các điều kiện địa

hình, vi khí hậu, đất, thủy văn và các yếu tố sinh học Trong số 2 khái niệm này, khái niệm của Tansley, 1935 tỏ ra đơn giản hơn và dễ nhớ hơn và được sử dụng rộng rãi

(Xem thêm bài viết về rừng

Thành phần của hệ sinh thái rừng

Rừng Bao báp ở Madagascar

Thành phần của hệ sinh thái rừng cũng giống như thành phần của một hệ sinh thái điển hình song đối với rừng, thành phần thực vật mà đặc biệt là cây gỗ được quan tâm hơn cả, đây chính là thành phần lập quần Sau đây chúng

ta sẽ nghiên cứu thành phần cơ bản, quan

trọng của hệ sinh thái rừng:

Thành phần thực vật rừng

Thành phần cây gỗ: Đây là thành phần

chủ yếu của hệ sinh thái rừng Đối với rừng nhiệt đới nói chung thành phần cây gỗ được chia thành 3 tầng: tầng vượt tán, tầng ưu thế sinh thái và tầng dưới tán

Trang 4

Dựa vào thành phần và tỷ lệ giữa các loài mà người ta chia ra thành rừng thuần loài và rừng hỗn loài Về nguyên tắc, rừng thuần loài là

rừng chỉ có một loài Tuy nhiên trên thực tế, rừng có một số loài khác nhưng số lượng các loài khác này không vượt quá 10% thì vẫn

được coi là rừng thuần loài (rừng thuần loài tương đối) Với rừng hỗn loài, để biểu thị mức

độ tham gia của các loài người ta dùng công thức tổ thành Thành phần cây gỗ là bộ phận chính và chủ yếu tạo nên độ khép tán (được biểu diễn thông qua độ tán che), độ đầy và trữ lượng lâm phần

Lớp cây tái sinh: Đây là thuật ngữ dùng để

nói về lớp cây thế hệ non của tầng cây gỗ,

chúng sống và phát triển dưới tán rừng, chúng

sẽ là đối tượng thay thế tầng cây gỗ phía trên khi tầng cây này được khai thác Tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau người ta chia lớp cây tái sinh thành các giai đoạn: cây mầm, cây mạ và cây con (hay cây non) Việc phân chia này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định các nhân tố ảnh hưởng và xác định các biện pháp kĩ thuật trong chăm sóc, bảo vệ

Cây mầm: Là lớp cây nằm trong khoảng

một vài tháng tuổi (tùy loài) Đặc trưng của lớp cây ở giai đoạn này là cây chưa

có khả năng quang hợp, vẫn sống nhờ vào chất dinh dưỡng có sẵn trong phôi

Trang 5

hạt Trong giai đoạn này cây chịu ảnh hưởng mạnh của các yếu tố môi trường đặc biệt là nhân tố ánh sáng và độ ẩm Theo W.Richard (1956), đây là giai đoạn nguy hiểm nhất của cây tái sinh, cây tái

sinh có thể chết hàng loạt do môi trường thiếu nước hoặc nhiệt độ quá cao do ánh sáng trực xạ Cũng theo W Richard, một nguyên nhân khác nguy hiểm đối với cây mầm là các loài động vật rừng

Cây mạ: Là những thế hệ cây gỗ

thường có tuổi từ một vài tháng đến 1 -2 năm, chiều cao thường không quá

50cm Đặc điểm: Cây đã có khả năng tự đồng hóa Mặc dù đã lớn hơn lớp cây mầm song cây mạ vẫn rất yếu ớt và chịu ảnh hưởng nhiều của các nhân tố môi trường trong đó có sự cạnh tranh của cỏ dại

Cây con (cây non): Là những thế hệ

cây lớn hơn 2 năm tuổi, thường có

chiều cao >50cm Cùng với sự sinh

trưởng, nhu cầu ánh sáng của nó cũng tăng dần Khi cây con có chiều cao >1m, khoẻ mạnh thì được coi là những cây con có triển vọng Đây chính là đối

tượng sẽ thay thế tầng cây gỗ trong

tương lai

Trang 6

Thành phần cây bụi: Là những cây

thân gỗ, song chiều cao không quá 5m, phân cành sớm Cây bụi là một thành phần quan trọng trong hệ sinh thái rừng Trong kinh doanh rừng hiện đại, lớp cây bụi mang lại rất nhiều lợi ích – đó là những lợi ích phi gỗ

(NTFPs)

Thành phần thảm tươi: Bao gồm

những loài thực vật thân thảo (không

có cấu tạo gỗ), chúng thường sống dưới tán rừng Cũng như cây bụi,

nhiều loài cây thảo đem lại lợi ích kinh

tế khá cao Đứng trên quan điểm sinh thái, lớp cây bụi và lớp thảm tươi có ý nghĩa quan trọng, chúng góp phần bảo

vệ đất, chống xói mòn, giữ độ ẩm cho đất, tham gia vào quá trình hình thành, cải tạo đất Tuy nhiên, chúng cũng có thể là tác nhân cản trở tái sinh gây

những khó khăn trong công tác trồng rừng, phục hồi rừng

Thực vật ngoại tầng: Bao gồm các

loài dây leo, thực vật phụ sinh… chúng mọc không tuân theo một trật tự nào

về không gian, chúng không phân bố ở những tầng cụ thể nào Một số loài

thực vật ngoại tầng có thể có giá trị kinh tế, làm dược liệu

Trang 7

]Dòng năng lượng trong hệ sinh thái

rừng

Theo quan điểm của sinh thái học hiện đại, năng lượng đi qua hệ sinh thái cũng tuân theo các quy luật nhiệt động học của vật lý:

 Quy luật 1: năng lượng không tự nhiên sinh ra cũng không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác Ví dụ: Năng lượng mặt trời (quang năng) có thể chuyển hóa thành hóa

năng tích lũy trong thực vật

 Quy luật 2: Khi năng lượng được

chuyển hóa từ dạng này sang dạng

khác không bao giờ được bảo toàn

100% mà thường bị hao hụt một lượng nhất định để biến thành nhiệt năng

 Sinh vật tự dưỡng là sinh vật có khả năng tự mình tổng hợp ra các chất hữu cơ cần thiết cho sự sống Sinh vật tự dưỡng được chia thành 2

loại, tương ứng với nó là 2 nguồn cung cấp năng lượng

1 Sinh vật quang dưỡng: Sử dụng năng lượng từ ánh sáng mặt trời Quá trình tổng hợp chất dinh dưỡng được thực hiện nhờ vào diệp lục, H2O, CO2 dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời Thực

Trang 8

vật màu xanh là những sinh vật quang dưỡng

2 Sinh vật hóa dưỡng: Sử dụng năng lượng hóa học từ các phản ứng hóa học của các chất vô cơ đơn giản Ví dụ: các sinh vật ôxy – hoá lưu huỳnh (S) thành axit sunfuaric (H2S) qua đó hấp thụ năng lượng của phản ứng hóa học này

 Với nhóm sinh vật dị dưỡng,

nguồn cung cấp năng lượng của chúng không phải trực tiếp từ mặt trời cũng như các phản ứng hóa học mà chính là từ các sản phẩm hữu cơ do các sinh vật tự dưỡng tổng hợp lên Các sinh vật dị

dưỡng được gọi chung là những sinh vật tiêu thụ Sinh vật dị

dưỡng được chia thành 3 bậc từ bậc 1 đến bậc 3

 Sinh vật phân hủy: Chuyên phân hủy các hợp chất hữu cơ trong xác chết, chất bài tiết…thành các hợp chất vô cơ đơn giản hơn

cũng có thể được gộp chung vào nhóm các sinh vật dị dưỡng

Nguốn gốc nguồn năng lượng trong hệ sinh thái rừng

Trang 9

1 Trong số các nguồn năng

lượng cung cấp cho chuỗi thức

ăn, năng lượng mặt trời đóng vai trò chủ đạo Tuy nhiên,

thực vật chỉ sử dụng khoảng 0,1% năng lượng này trong quá trình quang hợp để tạo thành năng lượng hữu cơ nuôi sống toàn bộ các sinh vật

thuộc chuỗi chăn nuôi và các vi sinh vật thuộc chuỗi phế thải

2 Hơn 50% năng lượng liên kết tạo từ phản ứng quang

hợp được sử dụng để hô hấp, phần còn lại để tạo thành cơ thể và trở thành thức ăn cho các sinh vật tiêu thụ khác

3 Năng lượng được truyền qua các sinh vật thuộc các bậc

khác nhau Mỗi một sinh vật như vậy được gọi là một mắt xích thức ăn Tập hợp các mắt xích thức ăn tạo nên các chuỗi thức ăn (chuỗi dinh dưỡng, chuỗi thực phẩm) Tập hợp nhiều chuỗi thức ăn có chung một hoặc một số mắt xích thức

ăn sẽ tạo ra lưới thức ăn

4 Trong một chuỗi thức ăn, cứ sau mỗi bậc dinh dưỡng năng

Trang 10

lượng lại bị hụt đi khoảng 80-90% chủ yếu do tỏa nhiệt ra môi trườg, chỉ có từ 10-20% năng lượng được truyền cho bậc kế tiếp

Tỷ lệ giữa phần năng lượng mà bậc sau kế tiếp nhận được so với phần năng lượng trước khi truyền của bậc trước nó được gọi là hệ số

truyền năng lượng Hệ số truyền năng lượng ở hệ sinh thái trên cạn luôn nhỏ hơn so với hệ số truyền năng lượng của hệ sinh thái dưới nước

Nếu sắp xếp số lượng cá thể (hay sinh khối hoặc năng lượng) theo các bậc dinh dưỡng từ thấp đến cao thì bao giờ chúng cũng sắp xếp theo dạng hình tháp Người ta gọi chúng là những hình tháp sinh thái học Tùy vào đơn vị tính mà chúng

ta có hình tháp sinh khối, hình tháp khối lượng hay hình tháp số lượng

Mối quan hệ của dòng năng

lượng trong hệ sinh thái rừng

1 Đầu vào của một dòng năng lượng được bắt đầu bằng năng lượng thì đầu ra cũng là dạng năng lượng Nói cách khác, bất

Trang 11

kỳ một dòng năng lượng nào cũng bắt đầu bằng năng lượng

và kết thúc bằng việc chuyển hóa năng lượng ấy thành nhiệt năng và phát tán vào môi

trường xung quanh

2 Chuỗi dinh dưỡng càng ngắn hoặc sinh vật càng gần với với điểm khởi đầu thì năng lượng thu nhận được càng lớn

3 Trong lưới thức ăn, nếu có

nhiều chuỗi thức ăn liên hệ qua lại càng chặt chẽ, phức tạp thì quần xã sinh vật càng phong phú về loài, trong đó có nhiều loài đa thực

4 Nếu thay thế mắt xích thức ăn này bằng mắt xích thức ăn

khác có họ hàng gần nhau thì cấu trúc của chuỗi thức ăn

không hoặc rất ít thay đổi

5 Các chuỗi thức ăn thường

không ổn định mà thay đổi tùy thuộc vào nhu cầu thức ăn của các loài ở các giai đoạn sống khác nhau

6 Độ dài của chuỗi thức ăn ít khi lớn hơn 5-6 mắt xích,

Trang 12

Chu trình sinh địa hóa trong hệ

sinh thái rừng

Thuật ngữ chu trình hay sự tuần hoàn biểu thị sự lặp đi lặp lại nhiều lần và có tính chu kỳ khép kín

Trong hệ sinh thái, người ta phân thành 3 kiểu chu trình vật chất: Chu trình địa hóa; Chu trình sinh địa hóa

và chu trình sinh hóa (chu trình bên trong sinh vật)

Chu trình địa hóa

Là chu trình vận động của các

nguyên tố hóa học giữa các hệ sinh thái Ví dụ: Các chất khoáng theo nước mưa đi từ hệ sinh thái rừng trên núi cao xuống hệ sinh thái

nông nghiệp thấp hơn

Chu trình sinh địa hóa

Là chu trình vận động của các chất xảy ra giữa các sinh vật và môi

trường bên trong phạm vi của một

hệ sinh thái Ví dụ: Đạm (N) được

rễ cây hút lên từ đất thông qua các việc phân hủy các cành nhánh, lá rơi rụng tích lũy vào các bộ phận (tham gia hình thành các bộ phận) khi các bộ phận này chết, rơi rụng

Trang 13

nó lại mang theo Đạm trở về trong đất

Các chất vô cơ trong tự nhiên vận động theo hai chu trình: Chu trình đại tuần hoàn nước và không khí của sinh quyển và chu trình tuần hoàn vật chất sinh vật trong hệ sinh thái

Chu trình đại tuần

hoàn nước và không khí: Hơi

nước bốc lên từ đại dương (biển) dưới tác dụng đốt nóng của ánh sáng mặt trời được vận chuyển vào trong lục địa (do gió, hình

thành nhờ sự chênh lệnh gradien nhiệt độ), tại đây hơi nước gặp khối không khí lạnh sẽ ngưng kết

và biến thành mưa Mưa tạo

thành dòng chảy mặt và dòng

chảy ngầm theo các dòng sông lại đổ ra biển hoàn thành một chu

kỳ khép kín

Chu trình tuần hoàn vật chất-sinh vật: Đây là chu trình của

nhiều chất vô cơ Trong chu trình này, nhìn chung phần lớn các

chất khí có chu trình khép kín

(O2, CO2), nhiều chất vô cơ bị loại

bỏ một phần khỏi chu trình để tồn

Trang 14

tại trong môi trường biến thành các dạng trầm tích Những chu trình như vậy được gọi là những chu trình không hoàn toàn Chu trình phốt phát là một chu trình

Chu trình sinh hóa

Là chu trình các chất xảy ra bên trong các bộ phận của sinh vật

Quần lạc sinh địa rừng

Quần lạc sinh địa rừng là một

khoảnh đất bất kỳ có sự đồng nhất

về thành phần, cấu trúc và các đặc điểm của các thành phần tạo nên

nó và về mối quan hệ giữa chúng với nhau, có nghĩa là đồng nhất về thực vật che phủ, về thế giới động vật và vi sinh vật cư trú tại đó, về các điều kiện tiểu khí hậu, thủy văn

và đất đai, về các kiểu trao đổi vật chất và năng lượng giữa các thành phần của nó với các hiện tượng tự nhiên khác (V.N Sucasep 1964) Quần lạc sinh địa rừng khác biệt hoàn toàn với các quần lạc sinh địa khác như: Quần lạc sinh địa sa

mạc, quần lạc sinh địa thảo

nguyên, Định nghĩa quần lạc sinh địa rừng là rất quan trọng khi xét tới các quần lạc thực vật, quần

Trang 15

lạc động vật, và các yếu tố vô sinh liên quan khác tồn tại trong rừng Quần lạc sinh địa rừng giúp chúng

ta hiểu rõ hơn những tác động và mối quan hệ mật thiết giữa rừng với hoàn cảnh sống xung quanh

Ngày nay có một số quan điểm đã

coi rằng từ quần lạc sinh địa rừng đồng nghĩa với hệ sinh thái rừng và

nó là một cấu trúc sống

Tham khảo

PGS.TS Hoàng kim Ngũ, Một số

vấn đề lâm học nhiệt đới, Đại

học Lâm nghiệp Việt Nam, 2004

GV.Hà quang Anh, Bài giảng

môn học Sinh thái rừng- Bộ

môn Lâm sinh-Khoa Lâm học-Đại

học Lâm nghiệp Việt Nam

 Luật Bảo vệ và phát triển rừng do quốc hội Việt Nam ban hành năm

2004

Ngày đăng: 08/07/2014, 20:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w