-Chính vì vậy, đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu và nướcbiển dâng của hệ sinh thái rừng ngập mặn có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệvà phát triển rừng ngập mặn, cũng như đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
NGHI£N CøU §¸NH GI¸ TÝNH DÔ TæN TH¦¥NG
DO BIÕN §æI KHÝ HËU CñA HÖ SINH TH¸I RõNG NGËP MÆN
T¹I §åNG RUI, TI£N Y£N, QU¶NG NINH
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Sỹ Tuấn
HÀ NỘI – 2015
MỤC LỤC
Trang 21 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Tính dễ bị tổn thương của RNM đối với biến đổi khí hậu 3 2.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 19
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 23
3.1 Mục đích 23
3.2 Đối tượng 23
3.3 Phạm vi 23
3.4 Nội dung 24
4 Luận điểm cơ bản, đóng góp của luận văn 24
4.1 Luận điểm cơ bản 24
4.2 Đóng góp của luận văn 24
5 Phương pháp nghiên cứu 25
5.1 Điều tra, thu thập, thông tin, tài liệu và bản đồ 25
5.2 Điều tra, đo đạc thực địa 25
5.3 Phương pháp kế thừa 28
NỘI DUNG30 CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG RUI 30 1.1 Nhiệt độ 30 1.2 Lượng mưa 32 1.3 Mực nước biển dâng 34 CHƯƠNG : THỰC TRẠNG RỪNG NGẬP MẶN Ở ĐỒNG RUI 36 2.1 Biến động diện tích RNM ở Đồng Rui những năm qua 36
2.1.1 Số liệu về biến động diện tích RNM 36
2.1.2 Nguyên nhân của sự biến động diện tích RNM 37
2.2 Đặc điểm cấu trúc RNM ở Đồng Rui 40
Trang 32.2.1 Diện tích ngang thân của cây trong các ô tiêu chuẩn 41
2.2.2 Mật độ cây 42
2.2.3 Chiều cao trung bình của RNM 43
2.2.4 Thành phần loài 44
2.2.5 Tỉ lệ cây tái sinh 47 2.2.6 Tốc độ bồi tụ 48 2.2.7 Khả năng mở rộng diện tích RNM 48 CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG NGẬP MẶN 49 3.1 Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong việc quản lý, bảo vệ , phát triển RNM 49
3.1.1 Thuận lợi 49
3.1.2 Khó khăn 49
3.2 Sự tham gia của cộng đồng 50
3.2.1 Nhận thức của cộng đồng vai trò của RNM 50
3.2.2 Khả năng quản lý của cộng đồng 52
3.3 Sự tham gia của các bên liên quan 55
3.3.1 Các chính sách về bảo vệ RNM ở Đồng Rui 55
3.3.2 Các tổ chức cộng đồng có trách nhiệm liên quan tới RNM 56
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐỐI VỚI RỪNG NGẬP MẶN 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC
Trang 4TNTN Tài nguyên thiên nhiênNTTS Nuôi trồng thủy sản
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn theo từng chỉ
tiêu đánh giá (Theo Ellison, 2012) 17
Bảng 2: Tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn dựa vào điểm
đánh giá trung bình 19
Bảng 1.1 : Nhiệt độ trung bình của Đồng Rui từ 1994 -2008 31
Bảng 1.2: Lượng mưa trung bình của Đồng Rui từ 1994-2008 33
Bảng 2.1: Sự biến động diện tích RNM ở Đồng Rui qua các năm 36 Bảng 2.2: Sự sinh trưởng của cây theo vị trí 40
Bảng 2.3 : Thành phần loài trong khu vực nghiên cứu 46
Bảng 2.4 : Số lượng cây tái sinh 47
Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn về vai trò của RNM 51
Bảng 3.2: Kết quả phỏng vấn về sự tham gia của cộng đồng vào bảo
vệ và phát triển RNM 51
Bảng 3.3: Diện tích RNM xã tiến hành trồng qua các năm 53
Bảng 4.1: Kết quả cho điểm các chỉ tiêu đánh giá nghiên cứu ở Đồng
Rui 57
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Vị trí khu vực nghiên cứu 26
Hình 2: Sơ đồ các tuyến lập ô tiêu chuẩn nghiên cứu. 27
Hình 1.1 : Biểu đồ biến động nhiệt độ ở Đồng Rui 31
Hình 1.2 : Biểu đồ sự biến động lượng mưa ở Đồng Rui 33
Hình 1.3 : Biểu đồ sự biến động mực nước biển ở Đồng Rui 35
Hình 2.1 : Biểu đồ biến động diện tích RNM xã Đồng Rui qua các năm
37
Hình 2.2 : Biểu đồ biến động diện tích ngang thân 41
Hình 2.3 : Biểu đồ biến động mật độ cây 43
Hình 2.4 : Biểu đồ biến động chiều cao trung bình cây 44
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đất nước Việt Nam với bờ biển dài 3260 km trải dài là nơi có nhiềuđiều kiện thuận lợi cho sự phát triển phong phú của rừng ngập mặn về diệntích, số lượng loài và thành phần loài cây ngập mặn
Rừng ngập mặn có vai trò, chức năng to lớn trong việc cung cấpnguyên liệu, nhiên liệu phục vụ nhu cầu cơ bản của con người và góp phầnphát triển kinh tế xã hội Đặc biệt hơn nữa là việc bảo vệ môi trường và chốnglại các tác động rủi ro trong xu thế biến đổi khí hậu: Rừng ngập mặn cảnsóng, làm chậm dòng chảy sóng biển, tích lũy phù sa, mùn bã thực vật tại chỗ,điều hòa khí hậu
Rừng làm giảm mạnh độ cao của sóng khi triều cường và bảo vệ đêbiển Theo Phan Nguyên Hồng (1991)[6], độ cao sóng biển giảm mạnh khi điqua dải rừng ngập mặn với mức biến đổi từ 75% đến 85% (tức là từ độ caosóng từ 1,3 m xuống còn 0,2-0,3m) từ đó đê biển được bảo vệ Cụ thể nhưtháng 7 năm 1996, khi cơn bão số 2 (Frankie) với sức gió 103 ÷ 117km/s đổ
bộ vào huyện Thái Thụy (Thái Bình) nhờ có dải RNM bảo vệ nên đê biển vànhiều bờ đầm không bị hư hỏng, trong lúc đó huyện Tiền Hải do phá phần lớnRNM nên các bờ đầm đều bị xói lở hoặc bị vỡ Năm 2005, vùng ven biểnhuyện Thái Thụy tuy không nằm trong tâm bão số 7 (Damrey) nhưng sóngcao ở sông Trà Lý đã làm sạt lở hơn 650m đê nơi không có RNM ở thôn TânBồi, xã Thái Đô trong lúc phần lớn tuyến đê có RNM ở xã này không bị xạt
lở vì thảm cây dày đặc đã làm giảm đáng kể cường độ sóng
Cây ngập mặn với hệ rễ chằng chịt, đặc biệt là những quần thể thực vậttiên phong mọc dày đặc có tác dụng làm giảm vận tốc dòng chảy tạo điềukiện cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn ở các vùng cửa sông ven biển[9] Chúng
Trang 8vừa ngăn chặn có hiệu quả hoạt động công phá bờ biển của sóng, đồng thời làvật cản làm cho trầm tích lắng đọng Ví dụ như, hàng năm vùng cửa sôngHồng tại Ba Lạt tiến ra biển 60÷70m, một số xã ở tỉnh Tiền Giang, Bến Tređất bồi ra biển 25÷30m, Trà Vinh, Sóc Trăng 15÷30m, Bạc Liêu, Cà Mau30÷40m (Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Nam Bộ, 2006).
Theo Blasco (1975)[18] các quần xã rừng ngập mặn là một tác nhânlàm cho khí hậu dịu mát hơn, giảm nhiệt độ tối đa và giảm biên độ nhiệt Hệsinh thái rừng giúp cân bằng O2 và CO2 trong khí quyển, điều hòa khí hậu địaphương (nhiệt độ, lượng mưa) và giảm thiểu khí nhà kính, tham gia tích cựcvào quá trình bảo vệ tầng ozon Nhờ các tán lá hút CO2 mạnh nên hàm lượngkhí CO2 nơi có rừng giảm mạnh
Tuy nhiên trong những năm gần đây khí hậu đã và đang bị biến đổitheo chiều hướng tiêu cực tác động rất lớn tới sinh vật cũng như hệ sinh tháitrên trái đất Biến đổi khí hậu và hệ quả lớn nhất của nó là nóng lên toàn cầu
đã làm tổn hại lên tất cả các thành phần của môi trường sống như nước biểndâng cao, gia tăng hạn hán, ngập lụt, thay đổi các kiểu khí hậu, gia tăng bệnhtật, thiếu hụt nguồn nước ngọt, suy giảm đa dạng sinh học và gia tăng cáchiện tượng khí hậu cực đoan
Từ năm 1870 - 2004, mực nước biển đã tăng 19,5cm; với tốc độ tăngđặc biệt nhanh trong vòng 50 năm gần đây Ủy ban liên Chính phủ về Biếnđổi Khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC)) củaLiên Hợp Quốc đã cảnh báo mực nước biển trên toàn cầu đang tăng nhanh và
có thể tăng thêm 34 cm trong thế kỉ này Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên Môi trường ngày 20-8-2009, 50 năm qua, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam đãtăng khoảng 0,5 - 0,70C, mực nước biển đã dâng khoảng 20cm Điều đó cũngcảnh báo là các vùng đất thấp ven biển trên thế giới trong đó có Việt Nam cóthể sẽ phải chịu những ảnh hưởng nặng nề
Trang 9-Chính vì vậy, đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu và nướcbiển dâng của hệ sinh thái rừng ngập mặn có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ
và phát triển rừng ngập mặn, cũng như đảm bảo ổn định cuộc sống của cộngđồng ven biển Hiện nay nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đối với
hệ sinh thái rừng ngập mặn đã được tiến hành ở một số nơi, nhưng nghiên cứuđánh giá tính tổn thương do biến đổi khí hậu của hệ sinh thái rừng ngập mặnvẫn là một vấn đề mới
Xuất phát từ thực tế trên và trong khuôn khổ đề tài thạc sĩ, học viên tiến
hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu của hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Đồng Rui, Tiên Yên, Quảng Ninh”.
2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
2.1 Tính dễ bị tổn thương của RNM đối với biến đổi khí hậu
2.1.1 Khái niệm tính dễ bị tổn thương
Khái niệm về tính dễ bị tổn thương (Vulnerability) đã có nhiều thay đổitrong 20 năm qua Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loạicác thành phần, yếu tố để đánh giá tính dễ bị tổn thương
Có rất nhiều khái niệm dễ bị tổn thương được sử dụng, có thể chỉ ra 3trường phái về tính dễ bị tổn thương, đây cũng là 3 hướng tiếp cận khác nhautrong nghiên cứu và đánh giá về tính dễ bị tổn thương
+ (1) Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý bao gồm phântích điều kiện phân bố các hiểm họa, khu vực hiểm họa mà con người đangsống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động (e.g., Heyman et
al 1991, Alexander 1993)[16,33]
+ (2) Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên quanđến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư baogồm cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa (e.g.,Blaikie et al 1994, Watts and Bohle 1993)[20]
Trang 10+ (3) Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn thươngnhư là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tácđộng thích ứng của xã hội [25].
Quan điểm thứ (1): "Tổn thương" có nguồn gốc từ chữ Latin có nghĩa
là sự tổn hại Ở một mức độ rất cơ bản, dễ bị tổn thương có thể được địnhnghĩa là "khả năng bị thương" hoặc "thiệt hại tiềm năng Tuy nhiên, địnhnghĩa chung dễ bị tổn thương không chỉ định loại của sự thiệt hại hoặc các
cá nhân, nhóm, hoặc tổn thất xã hội [24]
Quan điểm thứ (2) Blaikie (1994)[20] cho rằng: Dễ bị tổn thương cónghĩa là các đặc tính của một người hoặc một nhóm về năng lực của họ có thể
dự đoán, đối phó, chống lại, và phục hồi từ tác động của thiên tai Nó là sự kếthợp của các yếu tố xác định mức độ mà cuộc sống và sinh kế của người khácđược đặt tại rủi ro bằng một sự kiện rời rạc và nhận dạng trong tự nhiên hoặctrong xã hội Theo Christian Kuhlicke quan niệm tính dễ bị tổn thương xuấtphát từ một khái niệm về sự không hiểu biết có nghĩa là con người đối phónhư thế nào với kiến thức hạn chế của mình (Christian Kuhlicke, 2010)[22]
Khái niệm dễ bị tổn thương áp dụng cho một hệ thống xã hội do đó cóthể được hiểu là "một tập hợp các điều kiện và quy trình kết quả từ vật lý, cácyếu tố xã hội, kinh tế và môi trường, làm tăng tính nhạy cảm của một cộngđồng có các mối nguy hiểm tác động " (ISDR, 2002)[34]
Quan điểm thứ (3) Joanne Linnerooth-Bayer định nghĩa “Tổn thương làmột thuật ngữ phân tích, tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong mộtphạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhânchủng học và sinh thái”[39] Trong điều kiện tiếp xúc với một số căng thẳnghoặc khủng hoảng, tính dễ bị tổn thương không chỉ bởi tiếp xúc với sự nguyhiểm mà còn phụ thuộc vào khả năng đối phó của những người bị ảnh hưởng.Khả năng đối phó đã được xác định như là một sự kết hợp giữa sức kháng cự
Trang 11(khả năng đối phó các tác động gây hại của mối nguy hiểm và tiếp tục tác động)cũng như khả năng phục hồi tổn thương một cách nhanh chóng.
Cụ thể với mỗi một ngành khoa học khác nhau, các cách tiếp cận vớiviệc nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương lại theo những hướng khác nhau
Trong ngành khoa học kinh tế - xã hội với cách tiếp cận của Ramade(1989)[43] thì tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con người và kinh tế - xã hội,liên quan đến khuynh hướng hàng hóa, con người, cơ sở hạ tầng, các hoạtđộng bị thiệt hại, sức đề kháng của cộng đồng, khi được giới thiệu trong một
số nghiên cứu địa lý vào những năm 1980 Nhưng nghiên cứu đó lại không đềcập đến mặt tự nhiên, mức độ, tần suất xuất hiện của các hiện tượng thiên tai.Trong nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực này đã giải thích tính dễ bị tổnthương của một hệ thống địa lý, vùng lãnh thổ là kết quả của các hoạt động,khả năng chống chịu khác nhau xã hội, bối cảnh kinh tế và công nghệ khôngđồng nhất (Trần Hữu Hào, 2012)[5]
Trong ngành khoa học xã hội thì tính dễ bị tổn thương lại tập trung vàonăng lực của con người để đối phó với mối nguy hiểm và kịp thời khôi phụclại các thiệt hại và những tổn thất Cách tiếp cận này đòi hỏi ít kiến thức về hệthống địa lý vì mục tiêu của nghiên cứu là giải thích các hành vi xã hội
Ngành khoa học tự nhiên có một điểm khác để giải thích tính dễ bị tổnthương, họ tập trung vào các hệ thống vật lý để xác định tính dễ bị tổn thương
mà ban đầu ít xét đến những đặc điểm kinh tế - xã hội của hệ thống
Trong lĩnh vực biến đổi khí hậu : Theo nghiên cứu của IUCN đã nêutrong báo cáo về “người bản địa và biến đổi khí hậu” (2008), tính dễ bị tổnthương được phân làm 2 nhóm yếu tố: Xã hội (nghèo đói, bất bình đẳng, mùchữ… ); lý sinh (sức khỏe và dinh dưỡng) Theo Cục biến đổi khí hậu và nănglượng Australia, 2011, tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu được phânthành 3 yếu tố là sinh thái học, kinh tế và xã hội
Trang 12Hội đồng quốc tế về biến đổi khí hậu (IPCC) đã phát triển các địnhnghĩa về tính dễ bị tổn thương qua nhiều năm Năm 1992, họ xác định tính dễ
bị tổn thương như mức độ không có khả năng đối phó với những hậu quả củabiến đổi khí hậu và nước biển dâng
Năm 1996, báo cáo lần thứ 2 SAR[35] của IPCC đã định nghĩa tính dễ
bị tổn thương là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệthống; không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộcvào năng lực thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới Định nghĩanày bao gồm sự phơi lộ, mức độ nhạy cảm, khả năng phục hồi của hệ thống
để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH Nó được xem nhưnhững tác động còn lại của BĐKH sau khi các biện pháp thích ứng được thựchiện Downing, 2005)[24] Năm 2001, báo cáo lần thứ 3(TAR) của IPCC đãđịnh nghĩa tính dễ bị tổn thương là mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội
bị nhạy cảm với các thiệt hại do BĐKH gây ra Tính dễ bị tổn thương là mộthàm của mức độ nhạy cảm của một hệ thống đối với những thay đổi của khíhậu (mức độ mà một hệ thống sẽ ứng phó với một sự thay đổi của khí hậu,bao gồm những tác động có lợi và có hại), năng lực thích ứng (mức độ mà sựđiều chỉnh trong thực tiễn, quá trình thực hiện, hoặc cơ cấu có thể giảm nhẹhoặc bù lại được những thiệt hại tiềm ẩn hoặc tận dụng được những cơ hội tạo
ra từ sự thay đổi khí hậu đó), và mức độ phơi lộ của hệ thống với các nguy cơkhí hậu Năm 2007, báo cáo lần thứ 4 (AR4) của IPCC[36] đã định nghĩa tính
dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ một hệ thống bị nhạy cảmhoặc không thể chống chịu trước các tác động có hại của BĐKH, bao gồmdao động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan Tính dễ bị tổn thương
là một hàm của các đặc tính, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi
và dao dộng khí hậu mà hệ thống đó bị phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lựcthích ứng của hệ thống đó Theo định nghĩa mới nhất này, khi các biện pháp
Trang 13thích ứng được tăng cường thì tính dễ bị tổn thương theo đó sẽ giảm đi Trongbiến đổi khí hậu, khái niệm do IPCC xây dựng là khái niệm được ứng dụngrộng rãi nhất.
Tại Việt Nam theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) định nghĩa “Khảnăng (tính) dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là mức độ mà một
hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương do BĐKH, hoặc không
có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu[1]
2.1.2 Nguyên nhân gây tổn thương RNM
Sự suy thoái phần lớn diện tích RNM do tác động trực tiếp của conngười và BĐKH là nguyên nhân gây giảm khả năng thích ứng của RNMtrước những điều kiện cực đoan của khí hậu (Nicholls et al., 2007)[40]
Ít nhất 35% diện tích rừng ngập mặn đã bị mất trong hai thập kỷ qua (IvanValiela, Jennifer L Bowen, Joanna K York , 2001)[37] Đây là con số đáng báođộng cho thấy sự suy giảm nghiêm trọng diện tích RNM trên thế giới
Theo tài liệu của IUCN (1983)[7] thì diện tích RNM trên thế giới là168.810 km2 Fisher và Spalding (1993)[7] đưa ra số liệu diện tích RNM trênthế giới là 198.818 km2
Dựa vào việc tính toán trên bản đồ ảnh vệ tinh và các số liệu thu thậpđược gần đây Spalding và cs (1997)[7] đã lập bảng thống kê tổng diện tíchRNM các vùng trên thế giới là 181.000km2
Trong nghiên cứu “Rừng ngập mặn thế giới 1980 – 2005” của FAO đãcho biết tổng diện tích RNM năm 2005 là 15,2 triệu ha Tuy nhiên có sự chậmlại trong tỷ lệ mất RNM: Tỷ lệ phá rừng ngập mặn là 1,7% trong giai đoạn1980-
1990 và 1,0% trong giai đoạn 1990-2000 (FAO, 2003)[28], và giảm xuống 0,66
% trong năm năm trước năm 2005 (FAO, 2007; Spalding et al, 2010 )[30] Điều
đó đồng nghĩa trong những năm 1980 khoảng 187 000 ha rừng bị phá huỷ hàngnăm, đến trong giai đoạn 2000 - 2005 còn 102 000 ha một năm
Trang 14Sự mất RNM ở các quốc gia khu vực là không giống nhau Ở châu Phi,Bắc và Trung Mỹ là khu vực bị suy giảm đáng kể diện tích rừng ngập mặn,với con số mất mát tương ứng là 690,000ha và 510,000 ha rừng trong vòng 25năm qua.
Châu Á gánh chịu sự mất rừng ngập mặn lớn nhất từ năm 1980, với hơn1,9 triệu ha bị tàn phá, chủ yếu do những thay đổi trong việc sử dụng đất đai
Ở cấp quốc gia, Madagascar, Indonesia, Mexico, Pakistan, Papua NewGuinea và Panama là những nước có diện tích rừng bị mất lớn nhất trongnhững năm 1980
Tại Việt Nam, theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc, diện tích RNMnước ta tính đến ngày 21/12/1999 là 156608 ha Số liệu thống kê của ViệnĐiều tra Quy hoạch Rừng, 2001 diện tích RNM tự nhiên là 59732 ha chiếm38,1% và diện tích RNM trồng là 96.876 ha chiếm 61,95% Còn theo BộNông nghiệp & Phát triển Nông thôn (2008), hiện nay cả nước chỉ có khoảngtrên 209 741 ha tập trung chủ yếu ở vùng ven biển Nam Bộ (128537ha)[47]
RNM đang chịu những tác động to lớn của quá trình BĐKH (Nicholls
et al., 2007)[40] Theo Nguyễn Đức Ngữ (2008)[10], các biểu hiện của biếnđổi khí hậu là :
- Nhiệt độ trung bình năm tăng; sự biến đổi và độ khác thường của thờitiết và khí hậu tăng
- Nước biển dâng do băng tan từ các cực Trái đất và các đỉnh núi cao;
- Các hiện tượng cực đoan của thời tiết và thiên tai (nóng, rét hại,bão, lũ lụt, hạn hán, v.v…) xảy ra với tần suất cao hơn, cường độ và độkhác thường lớn hơn
Việc nhiệt độ tăng và trực tiếp là tăng lượng CO2 cùng với lượng mưa
có xu hướng giảm ảnh hưởng trực tiếp năng suất và đa dạng sinh học củaRNM Tuy nhiên, những tác động của mực nước biển dâng hiện nay nổi lên là
Trang 15những tác động chính với một số ảnh hưởng có hại nghiêm trọng tới RNM(Ellison, 2012)[27], nó được biểu hiện thông qua các tác động đến sự tích tụtrầm tích, xói lở, độ mặn, thời gian và độ ngập triều Những biểu hiện đó tácđộng làm cho RNM bị tổn thương cụ thể như sau:
Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình quang hợp, hô hấp
và sự phát triển RNM Nếu nhiệt độ tăng quá cao có thể khiến cây RNM khôngthể quang hợp được, sự phát triển CNM ở vĩ độ thấp bị giảm Tuy nhiên nhiệt độkhí quyển tăng có thể khiến RNM dịch chuyển lên những vùng vĩ độ cao hơn, vàtăng năng suất CNM vào mùa đông (Clough & Sim, 1989; Cheeseman et al.,1991; Cheeseman, 1994; Cheeseman et al., 1997)[21] Trong khi đó nhiệt độnước biển tăng được cho là không gây ảnh hưởng lớn tới RNM
Nồng độ CO2 tăng sẽ tăng cường quá trình quang hợp, trong điều kiện
độ mặn và độ ẩm phù hợp sẽ làm RNM sinh trưởng nhanh hơn Từ năm 1880đến năm 2000, nồng độ khí CO2 trong khí quyển đã tăng từ 280 ppm lên 370ppm Đồng thời việc tăng nồng độ CO2 làm tăng độ tích tụ mùn bã, góp phầnnâng cao thể nền RNM (Snedaker, 1995; Farnsworth et al, 1996; Bong et al.,1997; Langley et al., 2009)[31,46] Tuy nhiên, còn có mặt bất lợi khi nhiệt độtăng, nồng độ CO2 tăng sẽ làm các rạn san hô suy thoái, và làm một số khuRNM suy thoái theo do không còn được che chắn trước sóng lớn
Trong 100 năm qua, lượng mưa có xu hướng tăng ở khu vực vĩ độ caohơn 30˚ Tuy nhiên, lượng mưa lại có xu hướng giảm ở khu vực nhiệt đới từgiữa những năm 1970 Hiện tượng mưa lớn có dấu hiệu tăng ở nhiều khu vựctrên thế giới[27] nhưng sự phân bố lượng mưa sẽ không đều Lượng mưa tănghoặc giảm đều ảnh hưởng khác nhau đến RNM Lượng mưa tăng có thể khiếnRNM sinh trưởng nhanh, mở rộng, và tăng mức độ đa dạng và ngược lại.Lượng mưa giảm kéo theo độ ẩm giảm, do CNM phát triển mạnh ở nhữngvùng có lượng mưa lớn (1800-2500mm) nên sự giảm lượng mưa làm cho
Trang 16CNM kém phát triển, giảm năng suất và sự đa dạng sinh học (Rogers et al,
2005, Whelan et al, 2005, Smith & Duke, 1987)[44]
Bên cạnh đó theo một số nghiên cứu gần đây, biến đổi khí hậu có khả
năng làm tăng cường độ và tần suất xuất hiện các cơn bão Các cơn bão mạnh
sẽ gây tác hại nghiêm trọng cho RNM, chúng có thể khiến RNM bị hư hỏngcấu trúc thậm chí phá hủy (Jaffar, 1993; Dahdouh-Guebas et al, 2005; Alongi,2008; Yanagisawa et al., 2009)[38] tương tự như trường hợp các cơn bãomạnh đã khiến 10 khu RNM ở vùng Ca-ri-bê chết hàng loạt trong 50 năm qua(Jimenez và cộng sự, 1985; Armentano và cộng sự, 1995)[48] Các cơn bãocũng làm thay đổi thành phần loài của RNM vì khả năng tái sinh của từng loàitrong RNM là rất khác nhau Các trận lụt làm giảm khả năng tiếp cận với ô-xycủa rễ cây RNM, thay đổi độ mặn và thành phần trầm tích, làm giảm quanghợp và nếu kéo dài thì sẽ phá hủy hệ sinh thái RNM
Đặc biệt theo dự đoán, trong Thế kỷ 21, mực nước biển sẽ tăng trungbình từ 0,09-0,88m Trong khoảng 1980-1999 đến cuối thế kỷ 21 (2090-2099)
dự báo mực nước biển tăng là 0,18-0,59 m (IPCC, 2007)[36,41] Đây sẽ là tácđộng lớn nhất của biến đổi khí hậu gây ra cho RNM Các dữ liệu địa chất chothấy những lần tăng mực nước biển trước đây có tác động cả xấu lẫn tốt đốivới RNM Mực nước biển tăng nhanh sẽ làm chết các cây tái sinh khu vựcmép biển, đồng thời khiến RNM di chuyển vào phía đất liền, tuy nhiên điềunày phụ thuộc vào trầm tích, địa hình và sự tác động của con người (Ellison,
1993, 2005; Semeniuk, 1994; Cahoon et al., 2006; Gilman et al, 2008; Soares,2009)[26] Trong trường hợp mực nước biển tăng đủ chậm, RNM có thể thíchứng bằng cách thay đổi cấu trúc rễ, mọc cao hơn hoặc xa hơn về hướng đấtliền, hay tạo nhiều than bùn hơn thông qua quá trình trầm tích Có một loạtcác yếu tố môi trường ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái RNM và do đó cóthể làm thay đổi tác động của mực nước biển dâng đến RNM như dạng cơ
Trang 17chất, các quá trình bờ, hoạt động kiến tạo địa phương, lượng nước ngọt vàtrầm tích, độ mặn của đất và nước ngầm Vùng triều và lượng trầm tích là haichỉ thị quan trọng nhất về khả năng thích ứng của RNM đối với mực nướcbiển dâng Những khu RNM ở vùng triều lớn nhiều trầm tích (ví dụ ở phíaBắc Australia) có khả năng sống sót cao hơn khi mực nước biển dâng so vớinhững khu RNM sống ở vùng triều nhỏ ít trầm tích (ví dụ ở các đảo vùngCaribbean) Tại các vùng đá vôi hay các vòng cung đảo và san hô, lượng trầmtích thường thấp, RNM khó có khả năng dịch chuyển về phía bờ nên thườngrất dễ bị đe dọa khi mực nước biển dâng Mặc dù trầm tích là một điều kiệnthiết yếu để RNM có thể thích ứng với mực nước biển dâng, nhưng hệ sinhthái này vẫn có thể có nguy cơ bị suy thoái do ảnh hưởng của nước biển dângkết hợp với tốc độ bồi lắng cao nhưng không đồng đều của vùng và nguy cơ
bị kẹt bởi công trình thủy lợi (đê biển đã kiên cố hóa) nên không thể thực hiệnquá trình diễn thế lấn sâu vào đất liền (Nguyễn Thị Kim Cúc và Trần VănĐạt, 2014)[4]
2.1.3 Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đối với RNM
Việc nghiên cứu về tính tổn thương đã được tiến hành ở nhiều tác giả trênnhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế , xã hội, thiên nhiên, y tế,… và đặc biệtquan tâm tới nguyên nhân BĐKH Các nhà nghiên cứu đã sử dụng các phươngpháp khác nhau để đánh giá tính dễ bị tổn thương bởi biến đổi khí hậu
Vào cuối thế kỷ XX, có một số mô hình về tổn thương và phương phápđánh giá tính dễ bị tổn thương tập trung vào nghiên cứu xây dựng các bản đồ
về phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và mật độ phân bố các đối tượng
dễ bị tổn thương, từ đó thành lập bản đồ đánh giá tính dễ bị tổn thương theophương pháp của NOAA, phương pháp của Cutter dựa trên các thông số đượclượng hóa có hệ thống
Trang 18Alex de Sherbinin và cộng sự (2010)[17] sử dụng phương pháp tiếp cậndựa vào các kịch bản kết hợp với những phương pháp tiếp cận mới đánh giátính dễ bị tổn thương từ dưới lên để nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thươngtại 3 thành phố là Mumbai, Rio de Janeiro và Thượng Hải Hannah Reid vàcộng sự (2009)[32] cũng sử dụng phương pháp tiếp cận dựa vào cộng đồng đểnghiên cứu tính dễ bị tổn thương và năng lực thích ứng với BĐKH.
Tại Việt Nam khái niệm và những nghiên cứu về tính dễ bị tổn thươngmới được thực hiện trong thời gian gần đây, bắt đầu từ những năm cuối của thế
kỷ XX
Năm 1999, Adger và cộng sự đã nghiên cứu tính dễ bị tổn thương ởkhía cạnh xã hội và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi ởhuyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định[15]
Năm 2012, Nguyễn Thị Kim Cúc và Trần Văn Đạt nghiên cứu mô hình
mô phỏng diễn thế rừng ngập mặn ven biển Thái Bình dưới biến động của cácyếu tố môi trường và nước biển dâng [4]
Phan Văn Tân và Ngô Đức Thành (2013)[14] đưa ra hướng tiếp cận làđánh giá tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn thương do BĐKH và giải phápthích ứng
Một số nghiên cứu khác như nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương do lũđến kinh tế - xã hội như tổn thương do lũ của Đặng Đình Khá ở Quảng Trị(2011)[8,24], năng lực thích ứng của cộng đồng ở Hòa Bình của Trần Hữu Hào(2012)[5] hoặc Trần Xuân Sinh nghiên cứu mô hình hóa ảnh hưởng của độngập (do biến đổi khí hậu) đến hệ sinh thái rừng ngập mặn Vườn Quốc giaXuân Thủy, tỉnh Nam Định (2013)[12]
Các nghiên cứu về tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậu này chủ yếu vềđánh giá khả năng thích ứng để đề xuất các giải pháp cụ thể dựa vào cộng đồngnhư của Lưu Thị Bình (2007)[3], Trần Thị Nhàn (2013)[11]
Trang 19Việc đánh giá về tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu trên nhiều lĩnhvực đã được tiến hành trên cơ sở xây dựng các bộ chỉ số về tính nhạy, độ tiếpxúc và khả năng thích ứng Trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn, thủy triều,
xu hướng tăng mực nước biển, độ bồi tụ phù sa và khí hậu khô hơn là tất cảcác yếu tố tiếp xúc, trong khi các yếu tố nhạy cảm bao gồm tình trạng và sựtăng trưởng rừng, khả năng tiến ra biển của RNM, sự suy giảm diện tích rừngngập mặn, độ cao trong rừng ngập mặn, tỷ lệ bồi lắng, khả năng phục hồi hệsinh thái lân cận và hiệu quả của các chính sách pháp luật Yếu tố năng lựcthích ứng bao gồm các khu vực có dân cư sinh sống bao trong vùng có RNM,năng lực quản lý của cộng đồng và mức độ tham gia các bên liên quan trongquản lý rừng ngập mặn (Ellison, 2012) [27]
Một đánh giá về tính dễ bị tổn thương dựa trên các bộ chỉ số cần đảm bảo
6 nguyên tắc sau (Schroter et al., 2005)[45]
- Cách tiếp cận này cấn đánh giá trong sự qua lại giữa hệ thống môitrường nơi con người sinh sống, chứ không phải là hệ thống của con ngườihoặc môi trường trong sự cô lập
- Cách tiếp cận này nên có sự tham gia của các bên liên quan để hiểuquan điểm và kiến thức của họ; cộng đồng địa phương tham gia sinh hoạttrong và gần với các khu vực nghiên cứu; và đặt mối quan hệ này trong kếhoạch hành động thích ứng
- Khu vực nghiên cứu nên là một khu vực cụ thể chứ không phải làtoàn bộ đất nước
- Các quá trình dẫn đến sự thay đổi toàn cầu bao gồm hoạt động pháttriển kinh tế và sử dụng đất thay đổi, các quá trình này tương tác với nhau vànằm trong môi trường sống của con người
- Việc đánh giá này là cần cho các khả năng thích ứng khác nhau Lựachọn các biện pháp thích ứng có thể bị hạn chế do không đủ nguồn lực, haynhững rào cản về chính trị và thể chế
Trang 20- Việc đánh giá cần phải bao gồm trong quá khứ và tương lai Đánh giáqua các quá trình sinh lý và xã hội trong một thời gian ở một khu vực cụ thểcho thấy khả năng phục hồi hay không phục hồi biến đổi, điều đó sẽ giúpnhận thức được khu vực đó có dễ bị tổn thương hay không (Schroter et al,2005)[45].
Ellison đã đề xuất và công bố thông qua Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên(WWF) phương pháp đánh giá dựa trên sự đánh giá tổng hợp các nhân tố môitrường tác động tới rừng ngập mặn và các đặc điểm sinh học của chính rừngngập mặn đó Phương pháp đánh giá tính dễ tổn thương do biến đổi khí hậuvới RNM này có tám thành phần:
- Đánh giá rừng ngập mặn: là đánh giá ban đầu về trạng thái, cấu trúccủa quần xã RNM Xác định được vùng, loài và sự phân bố của chúng trongRNM Đánh giá sơ bộ về điều kiện môi trường Đánh giá này giúp cung cấp
cơ sở để nghiên cứu sự thay đổi RNM dưới áp lực tụ nhiên và con ngườitrong tương lai
- Những thay đổi không gian gần đây của RNM: cho biết về biếnđộng diện tích và khu phân bố của RNM, RNM có thể tiến về đất liền hoặc
mở rộng về phía biển hay không Trong điều kiện khai thác không bềnvững sẽ làm giảm khả năng phục hồi diện tích rừng dưới tác động của thiêntai do BĐKH gây nên Điều này làm tăng độ nhạy cảm với những tác độngcủa BĐKH
- Khoảng độ cao phân bố RNM: vì khu vực phân bố RNM thường là giữamực nước biển trung bình và mức thủy triều cao nhất, do RNM nhạy cảm với sựthay đổi mực nước biển nên sự phân vùng các loài cây ngập mặn sẽ bị điềukhiển bởi độ cao nền đáy thông qua thời gian, tần suất ngập, độ mặn
- Xu hướng tăng mực nước biển: Khi mực nước biển tăng thời gian và
độ ngập tăng lên do đó sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của các cây ngập mặn,tăng tỷ lệ chết của các cây phía rìa biển hoặc các các loài phân bố phía trong
Trang 21- Độ bồi tụ của trầm tích: ảnh hưởng tới sự mở rộng hoặc thu hẹp phân
bố phía biển của RNM Nếu độ bồi tụ trầm tích mạnh RNM có khả năng mởrộng diện tích, điều đó cho thấy khả năng sinh trưởng và phục hồi của RNM
là tốt Tuy nhiên nếu sự bồi tụ trầm tích quá cao cũng có thể là nguyên nhângây chết CNM
- Khả năng phục hồi của HST: là khả năng sinh sản, phát triển củaCNM trước những tác động của tự nhiên và con người tức là năng suất củathảm thực vật RNM tăng lên
- Mô hình biến đổi lượng mưa: lượng mưa trung bình tăng hay giảm lànhân tố ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của RNM Lượng mưa cònảnh hưởng tới độ mặn, qua đó gây biến đổi năng suất và đa dạng sinh học củaHST RNM
- Đánh giá nhân thức của cộng đồng địa phương: cộng đồng ngườidân là người thực hiện các biện pháp để bảo vệ và phát triển bền vững HSTRNM Nhận thức của người dân tốt thì các biện pháp được thực thi có hiệuquả cao hơn
Phương pháp này của Ellison đồng thời hướng dẫn cách thu thập số liệucho từng thành phần trên nói trên, tại sao phải làm điều đó, làm thế nào đểphân tích kết quả, làm thế nào để giải thích và dễ bị tổn thương mạnh và hạnchế của nó là gì Phương pháp cũng chỉ ra việc đánh giá mỗi thành phần dựatrên chuyên môn, thời gian cần thiết, chi phí tương đối của nó và tính hữudụng tương đối của nó cho các giai đoạn tiếp theo của việc tổng hợp đánh giámột tổn thương và hướng dẫn lập kế hoạch thích ứng Qua đó hình thànhphương pháp luận cho việc đánh giá tính dễ bị tổn thương và là cơ sở để đưa
ra các biện pháp thích ứng phù hợp
Hiện nay bộ chỉ số để đánh giá tính tổn thương do biến đổi khí hậu đối với
hệ sinh thái rừng ngập mặn ở Việt Nam chưa được xây dựng cụ thể Trên cơ sở
Trang 22phân tích những điều kiện và khả năng áp dụng, phương pháp đánh giá tính dễ bịtổn thương của Ellison được đề nghị sử dụng để đánh giá tính dễ bị tổn thươngcủa các hệ sinh thái rừng ngập mặn Việt Nam đối với biến đổi khí hậu.
Việc đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của hệ sinh tháirừng ngập mặn theo phương pháp của Ellison (2012)[27] thông qua việc chođiểm các dữ liệu được thu thập về đặc điểm tự nhiên và xã hội của hệ sinhthái rừng ngập mặn
Dữ liệu được thu thập bao gồm các nhân tố sau :
+ Nhân tố tác động đến hệ sinh thái: Sự tác động của tự nhiên/conngười, độ lớn thủy triều, sự tăng mực nước biển, tỷ lệ trầm tích được cungcấp, sự thay đổi lượng mưa
+ Nhân tố dễ bị tác động của hệ sinh thái: Diện tích ngang thân, sự thayđổi diện tích ngang thân, sự tái sinh, tỷ lệ chết, năng suất lượng rơi, sự suygiảm diện tích phân bố, tốc độ bồi tụ/xói lở trầm tích, cơ chế bảo vệ rừngngập mặn
+ Nhân tố liên quan tới khả năng thích ứng: Diện tích để rừng ngậpmặn tiến vào đất liền, sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là cộngđồng trong quản lý, bảo vệ, phát triển rừng
Tính dễ bị tổn thương chung cho hệ sinh thái được đánh giá thông quađiểm đánh giá trung bình với các mức như sau Với mỗi nhân tố đánh giá chođiểm theo thang tương ứng với từng chỉ tiêu cụ thể Kết quả đạt được là mộtgiá trị định tính (điểm trung bình)
Với mỗi một nhân tố đánh giá sẽ được cho điểm cụ thể tương ứng vớimức độ biểu hiện tác động của chúng Tính dễ bị tổn thương chung cho hệsinh thái được đánh giá thông qua điểm đánh giá trung bình với các mức nhưsau Với mỗi nhân tố đánh giá cho điểm theo thang tương ứng với từng chỉtiêu cụ thể Kết quả đạt được là một giá trị định tính (điểm trung bình)
Trang 23Bảng 1: Tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn theo
từng chỉ tiêu đánh giá (Theo Ellison, 2012)
STT Các yếu tố đánh giá
Đặc điểm của từng chỉ tiêu đánh giá tương ứng
với điểm đánh giá Điểm đánh
Vừa phải
Tương đốimạnh
Mạnh Rất mạnh
2 Sự tái sinh
Tất cả cácloài
Hầu hết cácloài
Một số loài
Vài loài
Không loàinào
Giảm mạnh
5 Tỷ lệ chết <4% 4-10% 10-20% 20-30% >30%
6 Năng suất lượng rơi
Cao, bao gồm
>20%
hoa và quả
Trung bình, gồm 5-20% hoa
và quả
Trung bình,
có ít hoa
và quả
Thấp (không bao gồm gỗ)
Chủ yếu là gỗ
Trang 24STT Các yếu tố đánh giá
Đặc điểm của từng chỉ tiêu đánh giá tương ứng
với điểm đánh giá Điểm đánh
Không thay đổi Giảm ít Giảm nhiều
Tương đối thấp
Thấp hơn, <1mm
Không thay đổi
Khô hơn,không đáng kể
Khô hơn nhiều
Khô hơn rấtnhiều
Bảng 2: Tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn dựa vào
điểm đánh giá trung bình
Trang 25Điểm đánh giá trung
Tính dễ bị tổn thương thấpRất Thấp Trungbình Cao Rất caoVới điểm đánh giá trung bình sau khi cho điểm các chỉ số ta có thể biếtđược RNM ở Đồng Rui có dễ bị tổn thương hay không, và mức độ tổn thươngnhư thế nào để từ đó đưa ra các biệ pháp thích ứng phù hợp
2.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1 Vị trí địa lý
Đồng Rui là xã đảo thuộc huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh Trungtâm xã cách huyện lỵ 23 km về phía Nam, phía tây giáp huyện Ba Chẽ, phíađông giáp huyện Vân Đồn và phía bắc giáp xã Hải Lạng, thị trấn Tiên Yên.Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 4.974,21 ha Xã nằm trong toạ độ địa lý
từ 21011’ đến 21033’ vĩ độ Bắc và từ 107013’ đến 107032’ kinh độ Đông
2.2.1.2 Khí hậu
Khu vực cửa sông Ba Chẽ, Tiên Yên mang đặc trưng của vùng khí hậunhiệt đới gió mùa với mùa hè nóng ẩm, mùa đông khô lạnh Tuy nhiên, dođặc điểm về vị trí địa lý và địa hình phức tạp, đồi núi chạy sát biển nên tạocho khu vực có những đặc trưng khí hậu riêng, những tiểu vùng khí hậu hỗnhợp miền núi, ven biển
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đếntháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm khoảng 20 - 29ºC Nhiệt độ caonhất vào tháng 7, tháng 8 và thấp nhất vào tháng 12, tháng 1 Mùa đông lạnh
và có sương mù, nhiệt độ trung bình tháng 1 dao động từ 12 - 15ºC; từ tháng 1đến tháng 3 hay có hiện tượng sương mù làm ảnh hưởng đến tàu thuyền đi lại
và hoạt động sản xuất của nhân dân Mùa hè nhiệt độ khá cao, trung bìnhtháng 7 từ 28 - 29ºC, nhiệt độ cao tuyệt đối đạt tới 37,3ºC Lượng mưa trung
Trang 26bình năm từ 2200 – 2400mm, trung bình có khoảng 130 – 160 ngày mưa/năm.Trong năm có khoảng 5-15 ngày mưa lớn với lượng mưa sấp sỉ 50 mm tậptrung vào các tháng 7, tháng 8 Số ngày mưa lớn nhất sấp sỉ 100 mm khôngquá 6 ngày Mưa tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè với lượng mưatháng trên 200 mm, tháng có mưa nhiều nhất là tháng 7 và 8 Mùa đông,tháng mưa ít nhất vào tháng 12, tháng 1 và tháng 2 năm sau Lượng mưa lớnnhất của một ngày có thể đạt 350 - 450 mm, chỉ xảy ra trong những ngày chịuảnh hưởng của áp thấp, bão, dải hội tụ nhiệt đới
Chế độ gió ở khu vực nghiên cứu chịu sự chi phối của hệ thống giómùa Vào mùa đông, hướng gió thịnh hành bắc, đông bắc Mùa hè gió thịnhhành là hướng nam, đông nam Sự luân chuyển của gió từ mùa này sang mùakhác trong khu vực tương đối tuần tự Đầu mùa hè, gió nam chiếm ưu thế, rõrệt nhất vào giữa mùa, sau đó giảm đi Biến đổi của tần suất gió bắc trongmùa đông cũng diễn ra tương tự Tháng 9-10 mang tính chất trung gian, gióbắc ít hơn mùa đông nhưng nhiều hơn mùa hè, ngược lại, gió nam ít hơn mùa
hè nhưng nhiều hơn mùa đông Mỗi hướng gió thường có tốc độ gió khácnhau, gió có thành phần hướng tây có tốc độ nhỏ nhất, gió có thành phầnhướng bắc và nam có tốc độ lớn nhất Tốc độ gió tại khu vực hàng năm khônglớn, trung bình khoảng 2,5-3,5m/s
2.2.1.3 Địa hình
Đồng Rui là một xã đảo nằm kẹp giữa hai con sông là Sông Voi lớn vàsông Ba Chẽ, địa hình tương đối bằng phẳng Vị trí của Đồng Rui là vùng bồi
tụ ven biển bị ngăn cách bởi đồi núi chạy sát biển, có địa hình thấp thoải dần
ra biển, có độ cao từ 1,5m đến 3m Một số đã được cải tạo thành đất canh tác,đắp đầm NTTS, còn lại là bãi sú vẹt, cồn cát ven biển bị ngập nước thuỷ triều
2.2.1.4 Thủy văn
Đồng Rui nằm trong lưu vực của sông Tiên Yên và sông Ba Chẽ có đặc
Trang 27điểm chung là mạng lưới sông ở có dạng cành cây và mang đặc điểm củasông miền núi và ven biển, dốc và ít thác ghềnh, phía thượng lưu rộng, thuhẹp ở phía hạ lưu, cửa sông hẹp, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thuỷ triều Chế
độ thuỷ văn không điều hoà trong năm, có sự chênh lệch lớn về lưu lượnggiữa 2 mùa Về mùa khô (mùa kiệt) mực nước sông thường thấp, lưu lượngnước nhỏ, lúc này xâm nhập mặn do dòng triều là lớn nhất tạo điều kiện thuậnlợi cho NTTS nước lợ Ngược lại, vào mùa mưa thường có lũ đơn, không kéodài vì lũ lên nhanh và cũng rút nhanh Do địa hình dốc về phía Nam nên tạo ranhiều khe suối, chia cắt thành nhiều khu vực, đặc trưng của các suối này là có
độ dốc từ 4-6% thoát nước nhanh, nhưng vì sông suối hẹp nên sau những trậnmưa lớn thường gây ngập lụt ở một số nơi, ảnh hưởng xấu đến môi trườngNTTS, gây ra hiện tượng ngọt hoá nhanh, gây đục nguồn nước do xói mòn,rửa trôi mạnh, phá huỷ hệ thống đê điều, đầm nuôi, cuốn trôi vật nuôi
2.2.1.5 Hải văn
a Thuỷ triều
Khu vực Tiên Yên có chế độ nhật triều thuần nhất, tức là trong mộtngày có một lần nước lớn và một lần nước ròng Về mùa hè, nước thường lênvào buổi chiều và về mùa đông thường lên vào buổi sáng Các đỉnh triều(nước lớn) thường cách nhau 25 giờ Số ngày có một lần nước lên và một lầnnước xuống chiếm 85-95% (tức trên 25 ngày) trong tháng Khu vực Tiên Yên
có biên độ thuỷ triều vào loại lớn nhất nước ta, khoảng 3,5 - 4,0m
b Sóng và hướng sóng
Vào mùa đông, độ cao của sóng cao nhất chỉ ở mức 0,5-0,7m với tầnsuất rất bé (khoảng 0,48%) xuất hiện chủ yếu vào tháng 12 Hầu hết các thángtrong năm ở cấp 0,25-0,5m Tần suất sóng lặng và sóng lăn tăn chiếm 97-99% Hướng sóng chủ yếu là hướng Bắc với tần suất khoảng 30-38%, sau làhướng Đông Bắc chiếm khoảng 15-20% Tần suất hướng Đông, Đông Nam
Trang 28và Nam vào khoảng 10-15% Sóng hướng Tây có tần suất xuất hiện ít nhất,chỉ ở mức 1-3%.
Vào mùa hè, tần suất lặng sóng và sóng lăn tăn chiếm 88-94% Cấp độcao sóng từ 0,25-0,5m chiếm 4-9% Cấp độ cao cao nhất lên đến 2-2,5m vàotháng 7 và tháng 8 do bão ảnh hưởng trực tiếp gây ra Hướng sóng thịnh hànhtrong mùa hè chủ yếu hướng Đông Nam với tần suất 20-40% Tần suất sónghướng nam cũng khá cao 15-25% Tần suất sóng hướng Tây nhỏ không đáng kể
c Độ mặn nước biển
Nước ven bờ là sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt từ vùng núi caophía Tây, Tây- Bắc theo các dòng sông Ba Chẽ, Tiên Yên và Cái Mắm đổ ravịnh theo quy luật mùa Vào mùa khô, từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, nướcbiển chiếm ưu thế, độ mặn trong mùa này dao động từ 26-300/00 Vào mùa mưa,
từ tháng 5 đến tháng 8 với lượng mưa lớn trờn vựng vịnh và được cộng thêmlượng nước mưa từ phía các vùng núi cao đổ xuống đã làm cho độ mặn giảmxuống đáng kể Độ mặn trung bình trong mùa này thường dao động từ 5-170/00
d Tai biến thiên nhiên
Tai biến thiên nhiên xảy ra ở Tiên Yên chủ yếu là bão Hàng năm khuvực Tiên Yên chịu ảnh hưởng trực tiếp của 1-2 cơn bão mạnh và khoảng 3-4cơn bão ảnh hưởng gián tiếp Thỏng cú nhiều bão đổ bộ vào Tiên Yên làtháng 7 và tháng 8, sớm hơn các khu vực khác ở miền Bắc Phần lớn các cơnbão đổ bộ vào Tiên Yên là bão vừa và nhỏ (tốc độ gió từ cấp 8 đến cấp 10).Vào mùa bão, trung bình mỗi tháng có 1 cơn bão, năm nhiều có thể lên đến 3hoặc 4 cơn bão một tháng Ngược lại, nhiều tháng, nhiều năm không có cơnbão nào Kèm với bão thường là mưa to gió lớn và gây ra lũ lụt tại nhiều khuvực Tốc độ gió lớn nhất khi có bão tới trên 20 m/s, thậm chí không hiếmnhững cơn bão tốc độ lớn hơn 40 m/s gây ảnh hưởng trực tiếp đến các khuvực NTTS Bão kèm theo mưa lớn, lượng mưa của các cơn bão đổ bộ trựctiếp ít nhất cũng trên 100mm, có khi tới 300-400 mm gây ngọt hoá đột ngột
Trang 29hoặc lũ lụt phá vỡ các ao đầm NTTS Cùng thời gian khi mưa về nhiệt độkhông khí lại càng giảm nhanh, làm cho rủi ro của NTTS càng cao.
2.2.2 Đặc điểm dân cư xã hội
Xã Đồng Rui có 4 thôn, đó là các thôn: thôn Thượng, thôn Hạ, thônTrung và thôn Bốn Theo số liệu thống kê của UBND xã Đồng Rui thì tínhđến cuối năm 2012, xã Đồng Rui có 668 hộ với 2432 khẩu Số người trong
độ tuổi lao động là 1429 người chiếm 58,6% tổng số nhân khẩu toàn xã Hoạtđộng sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp là chủ yếu
Ở xã Đồng Rui hiện chỉ có 5 dân tộc sinh sống, gồm dân tộc Kinh, Tày,Dao, Sán Chỉ và Hoa Người kinh chiếm khoảng 85,3% dân số, còn đồng bàothiểu số chiếm khoảng 14,7% Trình độ dân cư nhìn chung là chưa cao và đã
có phần tiến bộ trong những năm gần đây
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Đề tài được thực hiện nhằm:
- Đánh giá khả năng bị tác động bởi biến đổi khí hậu của RNM tạiĐồng Rui
- Kết quả thu được là cơ sở để đề ra các biện pháp bảo vệ, phát triểnRNM, đảm bảo duy trì chức năng của RNM
Trang 30- Sự thay đổi các điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu.
- Sự tác động của các điều kiện kinh tế xã hội tới sự phát triển của RNM
- Vai trò và nhận thức của người dân trong việc khôi phục, bảo vệ vàphát triển RNM
4 Luận điểm cơ bản, đóng góp của luận văn
4.1 Luận điểm cơ bản
- Biến đổi khí hậu toàn cầu tác động đến tất cả các mặt của tự nhiên vàcon người Trong đó có những tác động cực đoan đến sự phát triển của rừngngập mặn trên thế giới nói chung và sự phát triển của rừng ngập mặn xã ĐồngRui, huyện Tiên Yên nói riêng
- Việc ngăn ngừa, giảm thiểu những yếu tố tiêu cực đến rừng ngập mặnđầu tiên phải đưa ra những đánh giá về tính dễ bị tổn thương để có những giảipháp phù hợp, cụ thể cho từng địa phương, từng vùng
- Tính dễ tổn thương của rừng ngập mặn được đánh giá dựa trên cấutrúc, phản ứng của rừng ngập mặn trước sự tác động của tự nhiên và conngười Điều này đã được chứng minh trong các mô hình, đánh giá, nghiên cứukhoa học trước đó Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tôi đưa ra một sốchỉ tiêu phù hợp với điều kiện tình hình rừng ngập mặn xã Đồng Rui dựa trênnhững chỉ tiêu đánh giá của Ellison
- Bảng đánh giá và cho điểm tính dễ bị tổn thương là cơ sở để đánh giátính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn được xây dựng cho những đặc điểmriêng của một vùng, một địa phương cũng như những đặc điểm chung trongbối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu
4.2 Đóng góp của luận văn
- Trên cơ sở phân tích các đặc điểm sinh thái học của rừng ngập mặn,
sự biến động diện tích rừng ngập mặn, sự thay đổi môi trường, khí hậu và sựtham gia của cộng đồng trong công tác bảo vệ phát triển rừng ngập mặn để
Trang 31đánh giá mức độ dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của hệ sinh thái rừngngập mặn Từ đó đưa ra các đánh giá về tính dễ bị tổn thương của rừng ngậpmặn khu vực xã Đồng Rui, huyện Tiên Yên, mức độ tổn thương nhiều hay ít,
dễ bị tác động hay khó bị tác động…
- Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn tại đây là
cơ sở để đề ra các biện pháp phòng chống, chiến lược bảo vệ, phát triển rừngngập mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Điều tra, thu thập, thông tin, tài liệu và bản đồ
Thu thập thông tin, tài liệu, bản đồ tại các cơ quan nhà nước và xãĐồng Rui liên quan tới:
- Hiện trạng hệ sinh thái rừng ngập mặn
- Biến động diện tích rừng ngập mặn
- Sự thay đổi khí hậu, mực nước biển
- Vai trò và sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ phát triển RNMHiện tại đã đánh giá sơ bộ về hệ sinh thái của rừng ngập mặn ở ĐồngRui và những tác động trực tiếp cũng như gián tiếp của người dân nơi đây tới
hệ sinh thái rừng ngập mặn
5.2 Điều tra, đo đạc thực địa
5.2.1 Điều tra, đo đạc các đặc điểm sinh học của hệ sinh thái RNM
- Tuyến điều tra: hai tuyến tại thôn Bốn và một tuyến thôn Thượng.Mỗi tuyến khảo sát sẽ được bắt đầu từ đất liền tiếp giáp với dân cư sinh sống
và tiến dần ra biển Mỗi tuyến khảo sát có chiều dài 2km
- Ô tiêu chuẩn: Mỗi tuyến khảo sát thiết lập 3 ô có kích thước 10m x10m dọc theo mặt cắt vuông góc với đê biển tính từ mép rừng sát đê ra phíabiển hoặc song song với bờ biển Dưới đây là vị trí các tuyến khảo sát đểthành lập ô tiêu chuẩn nghiên cứu
Trang 32Hình 1: Vị trí khu vực nghiên cứu
Trang 33Hình 2: Sơ đồ các tuyến lập ô tiêu chuẩn nghiên cứu.
- Các chỉ tiêu đo đạc trong mỗi ô tiêu chuẩn theo bảng (phụ lục 6)
+ Loài: xác định những loài cây có trong ô tiêu chuẩn cụ thể, đếm sốlượng cây của từng loài
+ Mật độ: số lượng cây của từng loài đếm được / diện tích ô tiêu chuẩn.Mật độ cây = N
S Với N là tổng số cây
S là diện tích ô tiêu chuẩn (m2)
+ Cây tái sinh: đếm và phân loại số cây tái sinh của từng loài ( cây cóchiều cao <60cm )
+ Đường kính: đo đường kính thân cây tại vị trí cách bạnh vè 30cm.Đối với cây có thân nhiều nhánh (sú), đếm số nhánh và đo nhánh có đườngkính trung bình
Trang 34Đường kính thân trung bình d
N
(cm)
Với d là đường kính của thân cây
d
là tổng đường kính thân đo được ở ô tiêu chuẩn
Diện tích ngang thân của 1 cây * 2
d S
5.2.2 Xu hướng biến đổi khí hậu (lượng mưa, nhiệt độ) và mực nước biển
- Thu thập tại Trung tâm lưu trữ dữ liệu khí tượng thủy văn Quốc gia
- Số liệu thu thập cho ít nhất 10-20 năm trở về trước
5.2.3 Sự tham gia của cộng đồng
- Phương pháp: gồm 2 hình thức
+ Phỏng vấn trực tiếp thông qua các câu hỏi chuẩn bị sẵn
Phương pháp này được áp dụng tất cả các đối tượng cộng đồng dân cưtrong phạm vi nghiên cứu Thông tin thu thập được thông qua phiếu câu hỏi
và từ các câu hỏi ngẫu nhiên phát sinh trong quá trình phỏng vấn
+ Phát phiếu điều tra (Mẫu phiếu điều tra phụ lục 1)
Áp dụng đối với những đối tượng có khả năng tự nhận thức sâu sắc hơntrong cộng đồng, như cán bộ thôn, xã, giáo viên, cán bộ y tế…
5.3 Phương pháp kế thừa
Với phương pháp này, luận văn đã kế thừa một số nghiên cứu trước đây
Trang 35về RNM ở Quảng Ninh và Việt Nam, về các đánh giá tính dễ bị tổn thương ởViệt Nam và trên thế giới Lấy đó làm cơ sở nghiên cứu và đánh giá đối tượngnghiên cứu cụ thể trong khu vực nghiên cứu là thảm thực vật ngập mặn xãĐồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Trang 36NỘI DUNG CHƯƠNG 1 THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG RUI
Hiện nay, tại địa điểm nghiên cứu không có trạm quan trắc khí tượng
do đó số liệu được sử dụng theo số liệu trạm khí tượng gần với điểm điểmnghiên cứu nhất và có đặc điểm khí hậu tương đồng là trạm khí tượng HònDáu (Hải Phòng)
1.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và năng suất các loài Ởnhững vùng nhiệt độ bình quân trong năm cao, biên độ ngày và đêm, biên độnhiệt giữa các mùa thấp (đồng thời có độ ẩm cao) thì RNM phát triển cả vềkích thước và số lượng loài
Trên qui mô toàn cầu, nhiệt độ tăng là một thành phần biểu hiện rõ nétcho việc BĐKH, đặc biệt là sau những năm 1950 Theo IPCC (2007)[36],trong khoảng thời gian 1906-2005 nhiệt độ không khí trung bình toàn cầutăng 0,74±0,18°C Tại Việt Nam nói chung và Đồng Rui nói riêng, sự biếnđổi nhiệt độ cũng theo xu hướng chung của toàn cầu
Số liệu điều tra, thu thập và phân tích về khí hậu từ những năm 1970 trở lạiđây cho thấy tại các khu vực nghiên cứu thuộc vùng ven biển miền Bắc có xuhướng biến đổi nhiệt độ giữa các năm không theo quy luật, nhiệt độ tăng trungbình khoảng 0,013oC/năm (Phạm Hồng Tính & cs) [42]
Nhiệt độ tăng khoảng 0,13°C mỗi thập kỉ, trong đó nhiệt độ mùa xuântăng ít nhất (khoảng 0,08°/thập kỉ), nhiệt độ trung bình một số tháng mùa hètăng khoảng 0,1-0,3°C/thập kỷ, nhiệt độ mùa đông tăng mạnh nhất (khoảng0,23°C/thập kỉ) Nhiệt độ trung bình năm của thời kì gần đây (1991-2007)tăng 0,4°C so với thời kì trước (1961-1990) Trong thời kì gần đây, tần suất mùa
Trang 37đi so với thời kì 1961-1990 Nhiệt độ cực trị cũng có xu thế phù hợp với nhiệt
độ trung bình, kết quả là giảm số đêm lạnh và tăng số ngày nóng và biên độnhiệt độ ngày giảm đi chừng 0,07°C mỗi thập kỷ
Kết quả của việc nghiên cứu biến động nhiệt độ tại Đồng Rui được thểhiện dưới bảng số liệu và dạng đồ thị sau
Bảng 1.1 : Nhiệt độ trung bình của Đồng Rui từ 1994 -2008
Năm Nhiệt độ trung
bình năm (°C) Năm
Nhiệt độ trungbình năm (°C) Năm
Nhiệt độ trungbình năm (°C)
Trang 38Hình 1.1 : Biểu đồ biến động nhiệt độ ở Đồng Rui
Nhiệt độ trung bình từ năm 1994-2008 ở Đồng Rui là 22,7°C trong đóchênh lệch nhiệt độ thấp nhất vào năm 1996 (-0,6°C) và cao nhất năm 1998(0,8°C) Nhiệt độ trung bình năm biến đổi thất thường tăng trong khoảng 2 hoặc
3 năm rồi giảm đột ngột, có 9/15 năm có nhiệt độ cao hơn trung bình và 6/15năm thấp hơn Chênh lệch nhiệt độ trung bình lớn nhất giữa 2 năm liên tiếp là0,7°C vào các năm 1996,1997,1998 và 2007 Trong những năm tiếp theo củaThế kỷ XXI, theo kịch bản phát thải trung bình B2, so với thời kì 1989-1999 thìtại Quảng Ninh nhiệt độ trung bình có xu hướng tăng, khoảng từ 0,5°C (2020)tới 2,5°C (2100) ( Bộ Tài nguyên và môi trường, 2012)[2]
Việc tăng nhiệt độ không khí không làm cho nhiệt độ nước biển tăngnhiều tuy nhiên lại có sự tác động xấu tới sinh trưởng và phát triển của cây ngậpmặn Khi nhiệt độ tăng cao làm giảm sự quang hợp và hô hấp của lá, rễ Nhiệt
độ tăng cũng làm cho cây ngập mặn di chuyển khu vực sinh sống lên nhũng vĩ
độ cao hơn
1.2 Lượng mưa
Trang 39RNM phát triển mạnh ở những nơi có lượng mưa trong năm cao 1800 –2500mm [7].
Lượng mưa thay đổi ảnh hưởng tới độ mặn của nước biển Nếu giảmlượng mưa trong một thời gian dài sẽ làm giảm năng suất rừng ngập mặn hoặc
có thể làm thay đổi thành phần loài chịu mặn Khi độ mặn trong đất tăng vàtầng bùn giảm thì cây còi cọc, cành ngăn, lá nhỏ và dày hơn Nhiều nghiêncứu cho thấy, cây ngập mặn có thể tồn tại được trong nước ngọt một thòi giannào đó, nhưng sinh trưởng của cây giảm dần, sau vài tháng nếu không đượccung cấp một lượng muối thích hợp thì cây sinh trưởng kém, lá cây có nhiềuchấm đen và vàng do sắc tố bị phân huỷ, lá sớm rụng Hầu hết các cây ngậpmặn đều sinh trưởng tốt ở môi trường nước có độ mặn từ 25-50% độ mặnnước biển Khi độ mặn càng cao thì sinh trưởng của cây càng kém, sinh khốicủa rễ, thân và lá đều thấp dần, lá sớm rụng
Lượng mưa trung bình ở Đồng Rui từ 1994-2008 là 2252,7mm Điềunày cho thấy lượng mưa ở đây thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển củaCNM Tuy nhiên số liệu lượng mưa trung bình năm từ 1994-2008 ở bảngdưới đây cho thấy lượng mưa có xu hướng biến đổi không rõ rệt, có giai đoạntăng có giai đoạn giảm
Bảng 1.2: Lượng mưa trung bình của Đồng Rui từ 1994-2008
Năm
Lượng mưa trung bình năm (mm)
Trang 40Hình 1.2 : Biểu đồ sự biến động lượng mưa ở Đồng Rui
Chỉ có 5/15 năm có lượng mưa cao hơn trung bình, còn số năm có lượngmưa thấp hơn là 10/15 năm Trong thời kì gần đây (1991-2007), lượng mưagiảm (-168 mm) so với thời kì trước (1961-1990) Tại Đồng Rui lượng mưagiảm đi vào tháng 7, tháng 8 và tăng lên vào tháng 9, 10, 11 Lượng mưa mùa
ít mưa (tháng 11- 4) tăng lên chút ít hoặc không thay đổi đáng kể trong khi đólượng mưa mùa mưa nhiều (tháng 5-10) giảm từ 5 đến trên 10% Số ngàymưa phùn giảm một nửa, từ trung bình 30 ngày mỗi năm trong thập kỷ 1961-
1970 xuống còn 15 ngày mỗi năm trong thập kỷ 1991-2000 Trung bình chunglượng mưa có xu hướng giảm khoảng 4,145 mm/năm, tuy nhiên số ngày mưalớn lại có xu hướng gia tăng so với thời kỳ cuối Thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.Như vậy có thể thấy tại Đồng Rui trong những năm gần đây có xu hướng khôhơn do lượng mưa giảm tuy nhiên không đáng kể Theo thang điểm của Ellison(2012)[27] thì sự biến động lượng mưa đạt điểm 2 Việc lượng mưa giảm có tácđộng đến sự sinh trưởng của CNM nhưng mức độ nhẹ, CNM ở đây vẫn có thểthích nghi và không bị ảnh hưởng lớn Dự báo theo kịch bản phát thải trungbình B2, trong những năm Thế kỷ XXI lượng mưa sẽ tăng 1,3-6,7% ( Bộ Tàinguyên và môi trường, 2012)[)[2]