Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học “Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của hệ sinh thái rừng ngập mặn vencửa sông Lèn tỉnh Thanh Hóa” đã hoàn thành th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
LẠI THỊ THẢO
NGHI£N CøU §¸NH GI¸ TÝNH DÔ BÞ TæN TH¦¥NG
DO BIÕN §æI KHÝ HËU CñA HÖ SINH TH¸I RõNG NGËP MÆN
VEN BIÓN CöA S¤NG LÌN, TØNH THANH HãA
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Mai Sỹ Tuấn
HÀ NỘI – 2015 LỜI CẢM ƠN
Trang 2Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Sinh thái học “Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của hệ sinh thái rừng ngập mặn ven
cửa sông Lèn tỉnh Thanh Hóa” đã hoàn thành tháng vào 10 năm 2015 Trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhậnđược rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình
Trước hết tác giả luận văn xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáoPGS.TS Mai Sỹ Tuấn đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ trong quá trìnhnghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tác giả cũng chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo bộ môn Thực vậthọc, Khoa Sinh học, phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
hỗ trợ rất nhiều để luận văn được hoàn thành
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng
hộ động viên trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinhnghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong nhậnđược những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 31 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2
2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 3
2.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu 3
2.2 Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 8
2.2.1 Lịch sử nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu trên thế giới 8
2.2.2 Lịch sử nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu tại Việt Nam 11
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 20
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 20
2.3.2 Kinh tế - xã hội 24
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 26
3.1 Mục đích nghiên cứu 26
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 26
4 LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN 27
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 28
5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 29
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu cấu trúc của hệ sinh thái rừng ngập mặn 29
5.2.2 Đánh giá tính dễ bị tổn thương 32
NỘI DUNG 36
CHƯƠNG 1: TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI VÀ CÁC CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TỚI TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA RỪNG NGẬP MẶN 36
1.1 Tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 37
1.2 Tác động của các tổ chức, chính sách quản lý 39
CHƯƠNG 2: TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA RỪNG NGẬP MẶN XÃ ĐA LỘC 45
Trang 42.1 Rừng ngập mặn tại địa điểm nghiên cứu – xã Đa Lộc 45
2.1.1 Vị trí, diện tích rừng ngập mặn 45
2.1.2 Các nguyên nhân gây suy giảm rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc 46
2.1.3 Khai thác và sử dụng rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc 49
2.2 Tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn 51
2.2.1 Vai trò của rừng ngập mặn đối với tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu 51
2.2.2 Chỉ tiêu đánh giá tính dễ bị tổn thương dựa trên cấu trúc rừng ngập mặn 54
2.2.3 Biến đổi khí hậu và nước biển dâng tác động đến rừng ngập mặn 59
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG CỦA RỪNG NGẬP MẶN TẠI XÃ ĐA LỘC 70
3.1 Bảng điểm về tính dễ bị tổn thương 70
3.2 Đánh giá về tính dễ bị tổn thương 72
KẾT LUẬN 74
KIẾN NGHỊ 75
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Biến động diện tích rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc 45
Bảng 2.2 Danh mục các loài cây trong khu vực rừng ngập mặn ở xã Đa Lộc 55
Bảng 2.3 Đường kính thân của rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc 56
Bảng 2.4 Mật độ cây ngập mặn tại xã Đa Lộc 58
Bảng 2.5 Biến đổi của mực nước biển theo các thời gian 65
Bảng 2.6 Các đặc trưng nhiều năm của mực nước biển (cm) 65
Bảng 2.7 Tốc độ biến đổi (mm/năm) của mực nước biển ở Hòn Dấu, Hòn Ngư và Cô Tô ước lượng theo các chuỗi giá trị mực nước khác nhau 66
Bảng 2.8 Kết quả điều tra sự hiểu biết, tham gia của cộng đồng vào bảo vệ và phát triển rừng ngập mặn tại các địa điểm nghiên cứu 69
Bảng 3.1 Điểm đánh giá về tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc 71
Bảng 3.2 Điểm và điểm trung bình đánh giá tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc 72
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Biến động diện tích rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc 46Biểu đồ 2.2 Biểu đồ biến đổi nhiệt độ trung bình qua các năm 60Biểu đồ 2.3 Dự báo nhiệt độ trung bình năm theo kịch bản biến đổi khí
hậu và nước biển dâng trong tương lai 61Biểu đồ 2.4 Biểu đồ biến đổi lượng mưa trung bình qua các năm 63Biểu đồ 2.5 Biểu đồ biến đổi độ ẩm không khí tương đối qua các năm 63Biểu đồ 2.6 Dự báo lượng mưa trung bình năm theo kịch bản biến đổi khí
hậu và nước biển dâng trong tương lai 64Biểu đồ 2.7 Biến động của mực nước biển dâng qua các năm 67
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Biến đổi khí hậu trong thời gian vừa qua đã gây ra nhiều tổn thất to lớn
về người, tài sản và tài nguyên thiên thiên, hủy hoại môi trường Các thiên tainhư bão, siêu bão, triều cường, lũ lụt, hạn hán ngày càng xảy ra nhiều hơn,với mức độ, cường độ cao hơn gây nên những hậu quả nghiêm trọng Rừngngập mặn (RNM) là một trong những hệ sinh thái quan trọng được nhắc đếnkhi bàn về biện pháp, kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu
Rừng ngập mặn được ví như lá chắn xanh bảo vệ vùng cửa sông, cửabiển để chống xói lở, hạn chế tác hại của gió bão, mở rộng đất liền Rừngngập mặn phòng chống gió, bão, sóng thần, lũ Rừng ngập mặn làm giảmmạnh độ cao của sóng khi triều cường và bảo vệ đê biển, theo Phan NguyênHồng (1996) [6] độ cao sóng biển giảm mạnh khi đi qua dải rừng ngập mặnvới mức biến đổi từ 75% đến 85% (tức là từ độ cao sóng từ 1,3m xuống còn0,2-0,3m)…Rừng ngập mặn không chỉ hấp thụ một lượng CO2 do hoạt độngcông nghiệp và sinh hoạt thải ra mà còn sản sinh ra một lượng O2 rất lớn làmcho bầu không khí trong lành
Việt Nam là đất nước chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu vànước biển dâng Theo báo cáo “Chương trình Sáng kiến về tính dễ tổn thương
do khí hậu của tổ chức Quốc tế và Diễn đàn các nước dễ bị tổn thương vì biếnđổi khí hậu” (2012) [2] biến đổi khí hậu ở Việt Nam ước tính làm thiệt hại 5%GDP, tương đương với 15 tỷ USD mỗi năm Nếu không có những biện phápgiải quyết hiệu quả, những tác động của biến đổi khí hậu sẽ khiến Việt Namtổn thất nhiều hơn (dự kiến 11% GDP vào năm 2030) Nước biển dâng làmViệt Nam thiệt hại ước tính 4 tỷ USD hàng năm” Đặc biệt là khu vực miềnTrung hàng năm luôn phải hứng chịu những tác động nặng nề và kéo theo lànhững thiệt hại không nhỏ về người và của
Trang 9Bảo vệ, phát triển RNM cũng như đề ra chiến lược bảo vệ, phát triểnrừng ngập mặn có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh BĐKH và nước biển dâng.Đánh giá tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn là một trong những bướcđầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng những biện pháp để giảm nhẹ cácthiệt hại do các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu gây ra.
Từ những phân tích nêu trên và trong khuôn khổ đề tài thạc sĩ, tôi thực
hiện đề tài “Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu
của hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển cửa sông Lèn, tỉnh Thanh Hóa”.
2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG 2.1 Khái niệm về tính dễ bị tổn thương đối với biến đổi khí hậu
Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi trong 20 năm qua
Đã có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau nhằm phân loại các thành phần, yếu
tố để đánh giá tính dễ bị tổn thương Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữliên quan đến tính dễ bị tổn thương giữa các ngành, lĩnh vực khác nhau cũngkhác nhau
Có nhiều khái niệm về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) và việc sử dụngthuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương TDBTT thường đi kèm với cácnguy cơ tự nhiên như lũ lụt, hạn hán và nguy cơ xã hội như nghèo đói…Gầnđây, khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong bối cảnh BĐKH để biểu thịmức độ thiệt hại mà một khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng do các tác động khácnhau của BĐKH Có nhiều nghiên cứu về TDBTT trên thế giới và khái niệm
về TDBTT cũng khác nhau tùy theo quan điểm của những nhà nghiên cứu
Chamber (1983) [15] định nghĩa TDBTT có 2 mặt Một mặt là rủi robên ngoài, các cú sốc mà một cá nhân hoặc hộ gia đình phải chịu từ các tácđộng của BĐKH và một mặt là nội bộ bên trong đó là sự không có khả năngbảo vệ, có nghĩa là thiếu phương tiện để đối phó mà không bị thiệt hại
O'brien và Mileti (1992) [29] đã thử nghiệm TDBTT đối với BĐKH vàkhẳng định rằng bên cạnh sự ổn định và giàu có về kinh tế, khả năng chống
Trang 10chịu của dân cư với các cú sốc về môi trường, cấu trúc và tình trạng sức khỏecủa người dân có thể đóng một vai trò quan trọng quyết định đến TDBTT.Tuổi tác là một vấn đề quan trọng vì người già và trẻ em vốn là những đốitượng dễ bị tổn thương do những rủi ro môi trường và nguy cơ phơi lộ Dân
số trong độ tuổi lao động và có sức khỏe tốt có nhiều khả năng đối phó và do
đó ít bị tổn thương hơn khi đối mặt với nguy cơ phơi lộ
Blaikie và cộng sự (1994) [14] định nghĩa TDBTT là các đặc điểm củamột người hoặc một nhóm người về khả năng của họ để dự đoán trước, đốiphó với, chống chịu và phục hồi từ các tác động của các nguy cơ tự nhiên vàkhẳng định rằng TDBTT có thể được đánh giá thông qua khả năng chống chịu
và mức độ nhạy cảm
Watson và cộng sự (1996) [33] định nghĩa TDBTT như mức độ màBĐKH có thể gây thiệt hại hoặc gây tổn hại cho một hệ thống, không chỉ phụthuộc vào mức độ nhạy cảm của hệ thống đó mà còn về năng lực thích ứngvới các điều kiện khí hậu mới
Atkins và cộng sự (1998) [13] đã nghiên cứu các phương pháp đolường TDBTT và xây dựng một sự kết hợp chỉ số TDBTT thích hợp cho cácnước đang phát triển Các chỉ số dễ bị tổn thương tổng hợp đã được trình bàycho một mẫu của 110 nước phát triển có số liệu thích hợp có sẵn Các chỉ sốcho thấy rằng các quốc gia nhỏ đặc biệt dễ bị tổn thương khi so sánh với cácquốc gia lớn Giữa các quốc gia nhỏ, Cape Verde và Trinidad và Tobago,được ước tính có TDBTT tương đối thấp còn phần lớn được ước tính cóTDBTT tương đối cao; và các nước như Tonga, Antigua và Barbedas cóTDBTT cao đối với các yếu tố kinh tế và môi trường bên ngoài
Handmer và cộng sự (1999) [21] đã nghiên cứu các cơ chế đối phó với
cú sốc môi trường hoặc nguy cơ gây ra tổn thương về mặt sinh lý Các yếu tốnhư sự ổn định về thể chế và chất lượng của cơ sở hạ tầng công cộng là rất
Trang 11quan trọng trong việc xác định TDBTT đối với BĐKH Một xã hội với cơ sở
hạ tầng công cộng thích hợp sẽ có thể đối phó với một mối nguy một cáchhiệu quả và do đó làm giảm TDBTT Một xã hội như vậy có thể được xemnhư một xã hội có TDBTT thấp Nếu không có năng lực thể chế liên quan đếncác kiến thức về các hiện tượng và năng lực đối phó, thì TDBTT cao có khảnăng chuyển rủi ro về sinh lý thành một tác động đến dân số
Theo Adger (1999) [12], TDBTT là mức độ mà một hệ thống tự nhiênhoặc xã hội dễ bị thiệt hại do BĐKH Nó được coi là một hàm của hai thànhphần: ảnh hưởng có thể có của một hiện tượng đến con người, được gọi lànăng lực hoặc TDBTT về mặt xã hội và rủi ro về một hiện tượng như vậy cóthể xảy ra, thường được gọi là sự phơi lộ (exposure)
Kasperson và cộng sự (2000) [26] định nghĩa TDBTT như mức độ màmột hệ thống dễ bị thiệt hại do bị phơi lộ với một nhiễu loạn hoặc căng thẳng
và thiếu năng lực hoặc các biện pháp để đối phó, phục hồi hoặc thích ứng mộtcách cơ bản để trở thành một hệ thống mới hoặc sẽ bị mất đi vĩnh viễn
Chris Easter (2000) [16] đã xây dựng một chỉ số TDBTT đối với cácquốc gia khối thịnh vượng chung, dựa trên hai nguyên tắc Đầu tiên là tácđộng của các cú sốc bên ngoài mà quốc gia này đã bị ảnh hưởng và thứ hai làkhả năng chống chịu của một quốc gia để chống cự và phục hồi từ những cúsốc như vậy Phân tích sử dụng mẫu của 111 nước đang phát triển trong đó có
37 nước nhỏ và 74 nước lớn mà có sẵn dữ liệu có liên quan Kết quả cho thấytrong số 50 nước dễ bị tổn thương nhất, có 33 nước nhỏ trong đó có 27 nướckém phát triển nhất và 23 hòn đảo Trong 50 quốc gia ít bị tổn thương nhất,chỉ có hai tiểu bang
Moss và cộng sự (2001) [28] đã xác định mười đại diện cho năm lĩnhvực nhạy cảm liên quan đến khí hậu đó là mức độ nhạy cảm về định cư, anninh lương thực, sức khỏe con người, hệ sinh thái và nguồn nước và bảy đại
Trang 12diện cho ba lĩnh vực đối phó và năng lực thích ứng, năng lực kinh tế, nguồnnhân lực và năng lực tài nguyên môi trường hay tự nhiên Các đại diện đãđược tổng hợp thành các chỉ số ngành, các chỉ số về mức độ nhạy cảm và cácchỉ số đối phó hoặc năng lực thích ứng và cuối cùng là xây dựng các chỉ số vềkhả năng chống chịu TDBTT đối với BĐKH.
Dolan và Walker (2003) [25] đã thảo luận các khái niệm về TDBTT vàtrình bày một khung tích hợp đa cấp để đánh giá TDBTT và năng lực thíchứng Những yếu tố quyết định năng lực thích ứng bao gồm khả năng tiếp cận
và phân phối của cải, công nghệ, và thông tin, nhận thức và quan điềm về rủi
ro, vốn xã hội và các khung thể chế quan trọng để giải quyết các nguy cơ củaBĐKH Chúng được xác định ở cấp độ cá nhân, cộng đồng và nằm trongphạm vi khu vực thiết lập, quốc gia và quốc tế Kiến thức của người dân làchìa khóa để thiết kế, thực hiện nghiên cứu và cho phép kết quả có liên quantại địa phương có thể hỗ trợ trong việc ra quyết định, lập kế hoạch và quản lýhiệu quả hơn tại các khu vực ven biển xa xôi hẻo lánh
Katharine Vincent (2004) [27] đã tạo ra một chỉ số để đánh giá thửnghiệm mức độ tương đối của dễ TDBTT về mặt xã hội đối với sự thay đổinguồn nước do tác động của BĐKH và cho phép so sánh chéo giữa các nước
ở châu Phi Một chỉ số tổng hợp TDBTT về mặt xã hội được tính bằng cáchlấy trung bình của năm chỉ số phụ thành phần, đó là các chỉ số về sự giàu có
và ổn định về mặt kinh tế, cơ cấu dân số, ổn định thể chế và chất lượng cơ sở
hạ tầng công cộng, sự kết nối toàn cầu và sự phụ thuộc vào tài nguyên thiênnhiên Kết quả chỉ ra rằng thông qua việc sử dụng các dữ liệu hiện tại, Niger,Sierra Leone, Burundi, Madagascar và Burkina Faso là những nước dễ bị tổnthương nhất ở châu Phi
USEPA - Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (United State EnvironmentProtection Agency, 2006) [32] định nghĩa tính tổn thương của một hệ thống là
Trang 13mức độ tổn thất của hệ thống đó dưới tác động của một áp lực nào đó từ bênngoài hay bên trong hệ thống Trong các báo cáo của Ủy ban liên chính phủ
về biến đổi khí hậu (IPCC), khái niệm này vẫn được sử dụng khác nhau quacác thời kỳ
Trên thực tế, IPCC đã đưa ra các khái niệm khác nhau về TDBTT đốivới BĐKH qua các năm
Năm 1992, TDBTT được định nghĩa như mức độ mà một hệ thốngkhông có khả năng đối phó với những hậu quả của BĐKH và nước biển dâng.Năm 1996, báo cáo lần thứ 2 (SAR) [23] của IPCC đã định nghĩa TDBTT làmức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; không chỉ phụthuộc vào độ nhạy cảm của hệ thống mà còn phụ thuộc vào năng lực thíchứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới Định nghĩa này bao gồm sựphơi lộ, mức độ nhạy cảm, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại cácmối nguy hiểm do ảnh hưởng của BĐKH
Năm 2001, báo cáo lần thứ 3 (TAR) [24] của IPCC đã định nghĩa tính
dễ bị tổn thương là mức độ một hệ thống tự nhiên hoặc xã hội bị nhạy cảmvới các thiệt hại do BĐKH gây ra TDBTT là một hàm của mức độ nhạy cảmcủa một hệ thống đối với những thay đổi của khí hậu (mức độ mà một hệthống sẽ ứng phó với một sự thay đổi của khí hậu, bao gồm những tác động
có lợi và có hại), năng lực thích ứng (mức độ mà sự điều chỉnh trong thựctiễn, quá trình thực hiện, hoặc cơ cấu có thể giảm nhẹ hoặc bù lại được nhữngthiệt hại tiềm ẩn hoặc tận dụng được những cơ hội tạo ra từ sự thay đổi khíhậu đó), và mức độ phơi lộ của hệ thống với các nguy cơ khí hậu
Năm 2007, báo cáo lần thứ 4 (AR4) [25] của IPCC đã định nghĩa tính
dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH là mức độ một hệ thống bị nhạy cảmhoặc không thể chống chịu trước các tác động có hại của BĐKH, bao gồmdao động khí hậu và các hiện tượng khí hậu cực đoan TDBTT là một hàm
Trang 14của các đặc tính, cường độ và mức độ (phạm vi) của các biến đổi và dao dộngkhí hậu mà hệ thống đó bị phơi lộ, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứngcủa hệ thống đó Theo định nghĩa mới nhất này, khi các biện pháp thích ứngđược tăng cường thì TDBTT theo đó sẽ giảm đi.
Trong luận văn, định nghĩa của IPCC lần thứ 4 (2007) [25] về tính dễ bịtổn thương do tác động của biến đổi khí hậu là cơ sở để áp dụng và bổ sungcách đánh giá tính dễ bị tổn thương cho rừng ngập mặn tại địa điểm nghiêncứu
2.2 Nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu
2.2.1 Lịch sử nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu trên thế giới
Trên thế giới, tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu đã được nghiêncứu ở nhiều quy mô khác nhau, như đối với một vùng lãnh thổ/khu vực (đớiven biển, hệ thống đảo ), một hệ sinh thái, một hệ thống tự nhiên hay mộtcộng đồng người Trên nhiều lĩnh vực như kinh tế - xã hội, môi trường, tựnhiên, thiên tai và đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực BĐKH Tính dễ bị tổnthương trong các nghiên cứu cụ thể được xem xét trong những hoàn cảnh vànguyên nhân rất đa dạng như sự BĐKH toàn cầu, sự biến động giá cả hànghóa trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế,chiến tranh, khủng bố, những tai biến thiên nhiên, suy thoái môi trường…
Khi nghiên cứu về tính dễ tổn thương có 2 phương pháp tiếp cận chính:
“Tiếp cận theo tác động” và “Tiếp cận theo tổn thương” Tiếp cận theo tácđộng liên quan đến vấn đề đánh giá tiềm năng ảnh hưởng của biến đổi khí hậuđối với hệ thống các thành phần theo các kịch bản khác nhau; tiếp cận theo tổnthương bằng việc đánh giá nhạy cảm xã hội, khả năng thích ứng bẳng cácthông tin nghiên cứu về tác động Trong hai phương pháp tiếp cận này, phươngpháp tiếp cận theo tổn thương thường phù hợp hơn; phương pháp tiếp cận theo
Trang 15tác động thì không đáp ứng được quá trình tạo điều kiện thuận lợi cho thíchứng xã hội do sự không chắc chắn và các vấn đề về quy mô Để so sánh rõ néthơn giữa hai phương pháp tiếp cận trong việc đánh giá tác động của BĐKH,nhóm tác giả thuộc tổ chức “Modelling and Simulation Society of Australiaand New Zealand” đã ứng dụng phương pháp đánh giá theo tác động cho vùngcảng Western của Victoria và ứng dụng phương pháp đánh giá theo tổn thươngcho vùng biển Sydney Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong cả hai phương pháptiếp cận đều cung cấp những thông tin hữu dụng và có thể sử dụng ở tầm quốc
tế Tuy nhiên đối với phương pháp tiếp cận tổn thương cho phép đa dạngnguồn thông tin, bao gồm cả các chỉ số về khả năng thích ứng, các chỉ số dễlượng hóa ngay cả khi mối quan hệ giữa các biến số khác nhau và không đượcxác định rõ Khó khăn nhất là việc chuyển đổi và lượng hóa các biến số trongđánh giá tổn thương (ví dụ so sánh tổn thương về vấn đề nước biển dâng,không xác định được chi phí –lợi ích trong lĩnh vực quản lý), phương pháp tiếpcận theo tổn thương chỉ mang tính chất bán lượng hóa Trái lại, phương phápđánh giá theo tác động có tiềm năng cung cấp thông tin được lượng hóa rấtchính xác Tuy nhiên thuận lợi cơ bản của cách tiếp cận đánh giá theo tổnthương là việc xây dựng và tách biệt rõ mối quan hệ của hệ thống phức tạp củacác nhân tố phơi nhiễm, nhạy cảm, khả năng thích ứng Vì vậy, trong cácnghiên cứu của các nhà khoa học gần đây thường kết hợp cả hai phương phápđánh giá để đưa ra những mô hình cho từng khu vực nghiên cứu
Lịch sử nghiên cứu TDBTT được ghi nhận từ hơn 20 năm qua và đặcbiệt được quan tâm nhiều từ những năm 90 của Thế kỷ XX, thể hiện trong cáccông trình của Watts, M.J và Bohle, H.G (1993); Blaikie và nkk (1994);Adams, R.H (1995); Adger, W.N 91996); Cục Quản lý đại dương và khíquyển quốc gia Mỹ – NOAA (1999); Sander Evan der Leeuw và Chr.Aschan-Leygonie (2000); Adger, W.N và Kelly, P.M (2001); Poul Mathieu
Trang 16(2001); Holger Hoff (2001) Vào cuối Thế kỷ XX, một số mô hình về tổnthương và phương pháp đánh giá TDBTT dựa trên các thông số được lượnghóa có hệ thống đã được định hình trên thế giới như phương pháp của NOAA,phương pháp của Cutter Các mô hình này tập trung vào nghiên cứu xây dựngcác bản đồ về phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và mật độ phân bố cácđối tượng dễ bị tổn thương, từ đó thành lập bản đồ đánh giá TDBTT Để làmđược điều đó phải có một cơ sở dữ liệu tin cậy, chi tiết, và được thu thập mộtcách có hệ thống nhờ sự phối hợp của rất nhiều cơ quan khác nhau (khoa học
tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội) Các phương pháp này đãchứng tỏ được tính ưu việt của chúng trong việc dự báo TDBTT do những taibiến tiềm tàng, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp hạn chế, giảm thiểu rủi ro
và thiệt hại và là cơ sở quan trọng trong nghiên cứu TDBTT
Các công trình nghiên cứu TDBTT do BĐKH của IPCC (2007) [25] đãchỉ ra 7 yếu tố quan trọng khi đánh giá TDBTT, đó là:
1) Cường độ tác động
2) Thời gian tác động
3) Mức độ dai dẳng và tính thuận nghịch của tác động
4) Mức độ tin cậy trong đánh giá tác động và TDBTT
5) Năng lực thích ứng
6) Sự phân bố các khía cạnh của tác động và TDBTT
7) Tầm quan trọng của hệ thống khi gặp nguy hiểm
Các yếu tố này có thể được sử dụng kết hợp với việc đánh giá những hệthống có mức độ nhạy cảm cao với các điều kiện về khí hậu như đới ven biển, hệsinh thái, các chuỗi thức ăn Kết quả của nghiên cứu này có giá trị rất cao trongđiều kiện hiện nay do phù hợp với xu thế của BĐKH đang diễn ra trên toàn cầu
và có thể áp dụng được tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới
Áp dụng các mô hình đã có rất nhiều công trình nghiên cứu tính dễ bịtổn thương của do biến đổi khí hậu được áp dụng tại Việt Nam Tuy nhiên các
Trang 17nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn lại rất ít.
2.2.2 Lịch sử nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Năm 1994, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADP) [11] đã xếp Việt Nam,đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong nhóm quốc gia cónguy cơ tổn thương cao do tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu và nướcbiển dâng
Năm 1999, Adger [12] và cộng sự đã nghiên cứu TDBTT ở khía cạnh
xã hội và khả năng phục hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi ở huyệnGiao Thuỷ, tỉnh Nam Định Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sự đổi mới vềkinh tế bắt đầu từ giữa thập kỷ 80 đã làm tăng tính bất công bằng trong thunhập và phúc lợi địa phương gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của ngườidân địa phương khi phải đối mặt với cả sự thay đổi về thể chế tổ chức vànhững ảnh hưởng của sự BĐKH
Hiệp định khung về Biến đổi Khí hậu của Liên hiệp quốc (UNFCCC,2003) [2] đã dẫn chứng “Thông báo Đầu tiên của Việt Nam về Biến đổi Khíhậu” (SRV, MONRE 2003) cho biết trong suốt 30 năm vừa qua, mực nướcquan trắc dọc theo bờ biển Việt Nam có dấu hiệu gia tăng, Bộ Tài nguyên vàMôi trường ước tính đến năm 2050 mực nước biển sẽ gia tăng thêm 33 cm vàđến năm 2100 sẽ tăng thêm 1 mét Với nguy cơ này, Việt Nam là đất nướcchịu tổn thương mạnh mẽ của biến đổi khí hậu theo dự đoán sẽ chịu tổn thấtmỗi năm chừng 17 tỉ USD (chiếm 80% tổng sản phẩm nội địa GDP)
Năm 2005, nghiên cứu về TDBTT tại đới ven biển Hải Phòng do LêThị Thu Hiền thực hiện đã thành lập được bản đồ TDBTT Trong công trìnhnghiên cứu này, khu vực có TDBTT cao tập trung ở khu vực khu nội thành
cũ, khu vực nuôi trồng thuỷ hải sản, rừng phòng hộ ven biển và khu bảo tồnsan hô Kết quả của nghiên cứu này đã góp phần vào việc quản lý tổng hợp và
Trang 18phát triển bền vững đới ven biển Hải Phòng.
Đề tài “Nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương của đới duyên hảiNam Trung Bộ làm cơ sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch sử dụng đấtbền vững” đã được Mai Trọng Nhuận (2004) [5] và nhóm nghiên cứu thực hiệntrong giai đoạn 2001-2002 Trong công trình này, lần đầu tiên các tác giả đã xâydựng được phương pháp luận và quy trình đánh giá TDBTT cho đới duyên hải.Qua đó, bước đầu thiết lập được quy trình công nghệ thành lập bản đồ TDBTTcủa tài nguyên và môi trường đới duyên hải Nam Trung Bộ Các nghiên cứu này
đã góp phần quan trọng trong công tác giảm thiểu thiệt hại do tai biến, bảo vệ tàinguyên và môi trường, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, lãnh hải ven bờ miềnTrung, Nam Trung Bộ nói riêng và ven bờ Việt Nam nói chung
Cùng với đó, trong bối cảnh BĐKH đang là vấn đề quan tâm của toàn
xã hội, Mai Trọng Nhuận (2004) [5] đã có những nghiên cứu tổn thương doBĐKH (áp dụng cho thành phố Hạ Long, cửa sông Hồng, Chân Mây - LăngCô) Trên cơ sở đó, tập thể tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm sửdụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai
và thích ứng với BĐKH vùng như quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyênmôi trường (với các mô hình phát triển kinh tế bền vững như nông nghiệp,nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái, khai thác khoáng sản sạch,…), giảipháp quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường, giải pháp giảm thiểu thiệt hạitai biến do BĐKH và giải pháp giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng
Một số nghiên cứu khác như đánh giá TDBTT do lũ lụt, chủ yếu tậptrung vào đánh giá sự mất mát trong lĩnh vực nông nghiệp (FAO, 2004) [20].Giảm thiểu TDBTT do lũ lụt và bão ở tỉnh Quảng Ngãi và khả năng phục hồicủa cộng đồng dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long do tai biến thiên nhiên(chính phủ Úc hỗ trợ thực hiện năm 2004-2009)…
Trang 19Năm 2008, tại hội thảo ở Quảng Ninh về “Địa chất biển Việt Nam vàphát triển bền vững” Nguyễn Thị Minh Ngọc (2008) [3] đã trình bày báo cáo
“Đánh giá mức độ tổn thương của vịnh Tiên Yên – Hà Cối (tỉnh QuảngNinh), phục vụ quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên – môi trường”
Năm 2009, Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường [9] đãtriển khai dự án “Điều tra, đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên - môitrường, khí tượng thủy văn biển Việt Nam; Dự báo thiên tai, ô nhiễm môitrường tại các vùng biển” gồm nhiều hợp phần, trong đó có “Điều tra, đánhgiá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường vùng biển và đớiven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp quản lý phát triển bền vững” Gầnđây các yếu tố gây tổn thương (các yếu tố tự nhiên và các hoạt động nhânsinh), các đối tượng bị tổn thương (dân cư, cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp,khu đô thị, các loại tài nguyên…) và khả năng ứng phó của hệ thống kinh tế
xã hội đối với BĐKH cũng được đề cập đến trong một số công trình nghiêncứu khác Có thể nhận thấy rằng trong thời gian qua chủ đề của những nghiêncứu về tổn thương do BĐKH chủ yếu nhằm vào các đối tượng ở vùng đồngbằng và biển ven bờ Rất ít gặp những nghiên cứu về tổn thương ở miền trung
du và đặc biệt rất ít các nghiên cứu về tính tổn thương của hệ sinh thái rừngngập mặn đối với biến đổi khí hậu
Năm 2012, Bộ Tài Nguyên và Môi trường đã thực hiện và xuất bản
“Các kịch bản nước biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro do thiên tai tạiViệt Nam” [2] Những phát hiện chính của nghiên cứu này đó là việc xâydựng được cơ sở dữ liệu về các kịch bản nước biển dâng, tác động của nướcbiển dâng và xác định tính dễ bị tổn thương do nước biển dâng
Năm 2011, với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế UNDP, Viện Khoa họcKhí tượng Thủy văn và Môi trường [32] đã triển khai dự án “Tăng cườngnăng lực quốc gia ứng phó với BĐKH ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tác động
Trang 20và kiểm soát phát thải khí nhà kính” trên địa bàn các tỉnh Bình Định, BìnhThuận và Cần Thơ, trong đó nhiệm vụ đánh giá tác động, TDBTT do BĐKH
ở huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất biện pháp thích ứng là mộthợp phần của dự án trên
“Đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với lĩnh vực nước và vệ sinh môitrường tại tỉnh Bến Tre” thực hiện bởi AECOM Asia và kết thúc năm 2011[11] Nghiên cứu này nêu tổng quan về TDBTT do BĐKH tại tỉnh Bến Tre,
và xác định những huyện dễ bị tổn thương nhất đối với các lĩnh vực như tàinguyên nước, nghèo đói, các hệ thống sinh kế và cơ sở hạ tầng và dịch vụ cấpnước sạch và vệ sinh môi trường
“Nghiên cứu tác động của BĐKH đến Đồng bằng sông Cửu Long và đềxuất các giải pháp thích ứng”, dự án do Ngân hàng Phát triển Châu Á ADBtài trợ (2011) [11] với 2 giai đoạn, giai đoạn 1 tập trung vào việc đánh giá cáctác động và TDBTT do BĐKH đối với 3 lĩnh vực chính tại 2 tỉnh Kiên Giang
và Cà Mau, đó là: Năng lượng và Công nghiệp, Giao thông vận thải và Quyhoạch đô thị, Nông nghiệp và Nuôi trồng Thủy sản Giai đoạn 1 kết thúc năm
2011 Giai đoạn 2 bắt đầu năm 2012 và kết thúc năm 2013, tập trung vào việcxác định các biện pháp thích ứng nhằm giảm thiểu các tác động của BĐKH vàlựa chọn ra những dự án ưu tiên để thu hút vốn đầu tư
“Nghiên cứu Đánh giá TDBTT đối với BĐKH của thành phố Cần Thơ”thuộc gói thầu Tư vấn xác định các phương án thích ứng và phòng ngừa tácđộng của Biến đổi khí hậu cho Thành phố Cần Thơ, dự án Tăng cường nănglực quốc gia ứng phó vớI biến đổi khí hậu ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tácđộng và kiểm soát phát thải khí nhà kính” (thuộc Viện Khoa học Khí tượngThủy văn và Môi trường) (2012) [2] Nghiên cứu này tập trung đánh giáTDBTT do BĐKH đối với các lĩnh vực cụ thể của TP Cần Thơ như dân cư,
Trang 21nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, cơ sở hạ tầng và vấn đề vệ sinh môitrường Mức độ tổn thương ở hiện tại và tương lai (ứng với các mốc thời giannăm 2020, năm 2050 và năm 2100) sẽ được đánh giá.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đánh giá TDBTT của một hệthống kinh tế - xã hội - môi trường do BĐKH và khả năng chống chịu, thíchứng của nó được áp dụng vào Việt Nam Dù với những cách tiếp cận khácnhau nhưng cũng đều xem xét tới cả những yếu tố bên trong và bên ngoài hệthống trong việc đánh giá TDBTT do BĐKH Nhìn chung hiện nay, Việt Nam
đã có khá nhiều nghiên cứu về đánh giá TDBTT do BĐKH nhưng lại có rất ítcác nghiên cứu đánh giá về TDBTT của rừng ngập mặn
Các hệ sinh thái rừng ngập mặn là đối tượng dễ bị tổn thương do tácđộng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng Rừng ngập mặn bị tácđộng của thủy triều xảy ra trên bờ biển trầm tích độ dốc thấp, nơi mà nếu thờigian ngập lụt gia tăng thì sức khỏe rừng, năng suất và chất lượng rừng bị ảnhhưởng Điều này có thể trầm trọng hơn do gió và sóng tác động của cơn bãokhắc nghiệt Tăng không khí và nhiệt độ nước biển cùng với tăng cườngcarbon dioxide trong khí quyển có thể làm thay đổi các quy trình trong rừngngập mặn của sự hô hấp, quang hợp và năng suất rừng Những thay đổi vềlượng mưa và độ ẩm ảnh hưởng đến quá trình đầu vào phù sa, nước ngầm và
độ mặn, và dẫn đến thay đổi năng suất và độ cao của bùn Các phản ứng củarừng ngập mặn ở vùng ven biển khác nhau do tác động biến đổi khí hậu tùythuộc vào vị trí, tác động của thủy triều, chế độ mặn, trầm tích và bồitụ Đánh giá tính dễ tổn thương của tác động biến đổi khí hậu đối với rừngngập mặn bằng sự tổng hợp của các yếu tố khác nhau, và cho phép các hànhđộng thích ứng phù hợp được ưu tiên để ứng phó với biến đổi khí hậu Cácnghiên cứu trước đây chỉ tập trung nghiên cứu vào các yếu tố ảnh hưởng đếnrừng ngập mặn như nhiệt độ, lượng mưa, sự bồi tụ, nước biển dâng hay các
dự đoán phản ứng của rừng ngập mặn trong điều kiện biến đổi khí hậu
Trang 22Có các nguyên nhân gây tổn thương của rừng ngập mặn như sau
Theo kết quả nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu đối với hệ sinh tháirừng ngập mặn Việt Nam cho thấy, có 6 yếu tố sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sựsinh trưởng và phát triển của rừng ngập mặn từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng
dễ bị tổn thương của hệ sinh thái nhạy cảm này đó là: (i) nhiệt độ không khí;(ii) lượng mưa; (iii) gió mùa Đông Bắc; (iv) bão; (v) triều cường; và (vi) hoạtđộng của con người (Phan Nguyên Hồng, 1993) [6]
Ngoài ra, cũng có sự liên quan gián tiếp giữa tính dễ tổn thương dobiển đổi khí hậu và hệ sinh thái rừng ngập mặn thông qua sự thay đổi về mựcnước biển Một số yếu tố có thể tác động ngay, trong lúc các yếu tố khác cóthể tác động sau đó, như gió mùa Đông Bắc, sự tăng cường của dòng chảysông, mưa lớn ở địa phương, sự tích tụ phù sa và các tác động của con người(Phan Nguyên Hồng, 1993) [6] Đây là các yếu tố ảnh hưởng đến các chỉ sốđánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái rừng ngập mặn trong điều kiệnkhí hậu cũng như các tác động của con người như ảnh hưởng đến diện tíchrừng ngập mặn, chất lượng rừng ngập mặn…
- Gió mùa Đông Bắc góp phần quan trọng làm tăng mực nước biển ởViệt Nam Gió mùa xuất hiện vào mùa khô, từ tháng 11 năm trước đến tháng 4năm sau, vào thời kỳ thủy triều cao nhất trong năm (tháng 10 đến tháng 12).Kết quả là nước mặn xâm nhập sâu vào đất liền, đặc biệt là ở đồng bằng sôngCửu Long Theo các tài liệu của Ủy ban Sông Mê Kông Việt Nam (1993), khitốc độ gió là 5 m/s thì nước biển tăng cao 10 cm, khi tốc độ gió tới 10 m/s thìnước biển tăng lên 20 cm; còn khi không có gió thì nước biển chỉ tăng 4 cm.Nước mặn, lợ vào đến đâu thì các loài cây ngập mặn theo dòng nước vào sâutrong nội địa đến đó Điều này là cơ sở để giải thích số lượng cây ngập mặncũng như diện tích cây ngập mặn tăng lên hay giảm đi trong điều kiện gió mùa
- Sự tăng dòng chảy của sông cũng là một nguyên nhân, nhưng thường
Trang 23chỉ xảy ra vào mùa mưa và chỉ ảnh hưởng trong thời gian ngắn Đặc biệt,nước biển dâng cao nhất trong những ngày có mưa bão kết hợp với triềucường, gây ra thiệt hại to lớn về tài sản của cộng đồng ven biển, làm cho bờbiển bị xói lở, kể cả những vùng có các dải RNM phòng hộ Ở vùng núi, dorừng nguyên sinh bị suy thoái nghiêm trọng, nên xảy ra lũ quét, trượt lở đấtkhi có mưa lớn Diện tích rừng ngập mặn sẽ bị suy giảm trong điều kiện khíhậu gió, bão ảnh hưởng đến tính bền vững của hệ sinh thái rừng ngập mặn.
- Tác hại của con người từ việc phá RNM, đắp đập để trồng lúa, đắp bờcác đầm nuôi tôm tràn lan trong vùng bãi triều đã ngăn cản sự vận động củathủy triều, qua đó, ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của các loàicây ngập mặn, làm mất nơi dinh dưỡng của hải sản và động vật vùng triều,làm thay đổi dòng chảy, giảm sự phân tán nước ở các bãi triều và vùng venbiển Việc sử dụng nước ngầm để điều chỉnh độ mặn trong các vùng nuôi tômrộng lớn cũng như sử dụng lãng phí nước trong sinh hoạt đã dẫn đến sự suygiảm nghiêm trọng nguồn nước ngầm cần thiết cho các loài cây ngập mặn vàcác sinh vật sống trong đất bùn và đồng thời ảnh hưởng đến cấu trúc địa chấtcủa vùng ven biển (Phan Nguyên Hồng và cs., 2007) [8]
- Nước biển dâng cùng với gió mùa, bão, triều cường đã làm xói lở bờbiển Ở phía Đông bán đảo Cà Mau, gió mùa Đông Bắc (gió chướng) cùngvới triều cường đã làm xói lở hàng chục km từ Ghềnh Hào xuống đến xómĐất Mũi, mỗi năm có chỗ mất 20-30 m chiều rộng, như ở cửa sông Bồ Đề,Rạch Gốc, khu vực Khai Long…, làm đổ các cây RNM, trong đó có nhiều
Mắm biển (Avicennia marina) lâu năm Triều cường đưa cát vào bờ, làm cho
nhiều loài cây ngập mặn có rễ thở trên mặt đất bị vùi lấp và cây chết đứng(Phan Nguyên Hồng và cs., 1999) [6]
- Nước biển dâng đã tạo điều kiện cho một số loài cây ngập mặn xâmlấn sâu vào đất nội địa, đất sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là ở Quảng Bình và
Trang 24miền Tây Nam Bộ, từ đó ảnh hưởng đến sản lượng lương thực và đa dạngsinh học Một số loài động thực vật nước ngọt bị biến mất và thay thế vào đó
là các loài nước lợ
- Nước biển dâng cũng ngăn cản sự bồi tụ các bãi triều, ngăn cản sự táisinh tự nhiên của các loài cây ngập mặn tiên phong như mắm, bần chua
Biểu hiện rõ ràng nhất của biến đổi khí hậu là nóng lên của trái đất từ
đó làm tăng nhiệt độ không khí và đại dương, sự tan băng trên diện rộng vàqua đó là mức tăng mực nước biển trung bình toàn cầu Biến đổi khí hậu tácđộng lên tất cả các thành phần môi trường bao gồm cả các lĩnh vực của môitrường tự nhiên, môi trường xã hội và sức khoẻ con người tác động đến độnhạy cảm, khả năng thích ứng của các thành phần, đó các chỉ số quan trọng đểđánh giá tính dễ bị tổn của hệ sinh thái rừng ngập mặn do sự thay đổi của cácđiều kiện tự nhiên Biến đổi khí hậu tác động mạnh mẽ vào cuộc sống conngười, con người lại là những tác nhân quan trọng tác động đến sự bền vững,
độ nhạy cảm của rừng ngập mặn từ đó liên quan mật thiết đến tính dễ bị tổnthương rừng Chính vì vậy xét đến khía cạnh biến đổi khí hậu tác động đếnđời sống con người cũng chính là xét đến sự gián tiếp tác động đến tính dễ bịtổn thương của biến đổi khí hậu gây ra đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn
Điều đó có nghĩa là để thích ứng với BĐKH cần phải biết BĐKH đã và
sẽ biến đổi như thế nào, tác động ra làm sao đến con người và các hệ sinh thái
tự nhiên khác Đặc biệt phải nhấn mạnh đến vai trò của hệ sinh thái rừng ngậpmặn trong việc giảm thiểu cũng như tác động đến biến đổi khí hậu toàn cầu
Từ đó sẽ giảm thiểu tính dễ bị tổn thương cho chính hệ sinh thái cũng như conngười Tuy nhiên, diện tích RNM hiện nay suy giảm một cách đáng báo độngtrên thế giới cũng như ở Việt Nam
Rừng ngập mặn phân bố chủ yếu ở các vùng cửa sông, ven biển nhiệtđới và một vài loài ở vùng á nhiệt đới.Ước tính năm 1997, toàn thế giới có
Trang 25khoảng 181.000 km2 hệ sinh thái rừng ngập mặn, nhưng theo một ước tínhgần đây thì con số này hiện nay giảm xuống dưới 150.000 km2 (FAO, 2004)[20], khu vực có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất là Châu Á với diện tíchkhoảng 77169 km2 và Châu Mỹ với diện tích khoảng 43161 km2 (Spalding et
al 1997) Quốc gia có diện tích rừng ngập mặn lớn nhất là Indonesia (4.25 x
104 km2; Spalding et al 1997), thứ hai là Brazil (1.34 x 104 km2; Spalding et
al 1997), Nigeria (1.05 x 104 km2; Saenger and Bellan 1995), and Australia(1.00 x 104 km2; Robertson and Duke 1990)
Khoảng 35% diện tích rừng ngập mặn đã bị mất đi trong 2 thập kỉ vừaqua, nhưng điều này nhận được rất ít sự quan tâm của cộng đồng, chủ yếu sựbiến mất của rừng ngập mặn được đề cập trong các tạp chí và sách báochuyên ngành Sự suy giảm về chất lượng, số lượng và sự quan tâm chưađúng mức tới vai trò cũng như ảnh hưởng của rừng ngập mặn tới biến đổi khíhậu toàn cầu làm tăng khả năng tổn thương của hệ sinh thái quan trọng này
Ở Việt Nam, theo IUCN đánh giá hệ sinh thái rừng ngập mặn đã mất
đi khoảng 50% diện tích rừng ngập mặn ban đầu và là một trong các quốcgia mất rừng ngập mặn nhanh nhất trên thế giới cùng với các nước Ấn Độ,Philippin
Theo kết quả kiểm kê rừng toàn quốc, diện tích rừng ngập mặn tính đếnngày 21/12/1999 là 156.608 ha, trong đó diện tích rừng ngập mặn tự nhiên là59.732 ha chiếm 38,1% và diện tích rừng ngập mặn trồng là 96.876 ha chiếm61,95% Theo Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn (2008) [1], hiện nay
cả nước chỉ còn khoảng trên 209741 ha tập trung chủ yếu ở vùng ven biểnNam Bộ (128 537 ha)
Muốn dự đoán được tác động cũng như giảm thiểu ảnh hưởng của biếnđổi khí hậu thì chúng ta cần đánh giá được tính dễ bị tổn thương do biến đổikhí hậu gây ra đối với hệ sinh thái có vai trò quan trọng như rừng ngập mặn
Trang 26đối với biến đổi khí hậu và nước biển dâng Vì vậy, cần tiếp tục các nghiêncứu về tính tổn thương của rừng ngập mặn một cách toàn diện trước các nguy
cơ biến đổi khí hậu trong tương lai
Vì vậy, đây là hướng nghiên nghiên cứu cần tiếp tục nghiên cứu sâu vàtoàn diện trong tương lai
2.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu
2.3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Sông Lèn là một phân lưu phía bắc của Sông Mã tại Thanh Hóa, ViệtNam Sông được tách ra từ sông Mã tại địa phận xã Vĩnh An, Vĩnh Lộc và xã
Hà Sơn, huyện Hà Trung, chảy theo hướng đông đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửaSung (Lạch Sung) nằm giữa hai xã Nga Thủy, Nga Sơn và Đa Lộc, Hậu Lộc.Sông Lèn là ranh giới tự nhiên của các huyện Hà Trung, Nga Sơn (thuộc tảngạn) với huyện Hậu Lộc (thuộc hữu ngạn)
Sông Lèn có tổng chiều dài khoảng 34 km, chảy cắt qua quốc lộ1A tại cầu Đò Lèn, cách Hà Nội khoảng 130 km về hướng nam Quốc lộ 1Abắc ngang sông Lèn bằng cây cầu Đò Lèn Ven sông có diện tích rừng ngậpmặn khá lớn được trải dài qua hai huyện Hậu Lộc và Nga Sơn
Tuy nhiên trong phạm vi luận văn chúng tôi nghiên cứu tập trung tạirừng ngập mặn ven sông Lèn chủ yếu tại xã Đa Lộc
2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên của xã Đa Lộc
Đa Lộc là xã thuộc vùng đồng bằng ven biển của của huyện Hậu Lộc,cách thị trấn Hậu Lộc khoảng 18 km về phía Đông, có trục tỉnh lộ 5 chạy quathuận lợi cho giao lưu với các xã lân cận và với vùng
Diện tích tự nhiên toàn xã năm 2010 là 1352,82 ha
Tổng dân số năm 2010 là: 8244 người; mật độ dân số 609 người/km2
Đa Lộc có địa hình khá bằng phẳng, độ cao chênh lệch ít, sản xuất chủyếu là, trồng lúa, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, có hệ thống tưới tiêu
Trang 27chủ động thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp, hình thành các vùng trồnglúa nước, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung Ngành nghề tiểu thủ côngnghiệp, dịch vụ chủ yếu là kinh doanh cung cấp hàng hóa tiêu dùng, cácngành nghề truyền thống đang được khôi phục và phát triển.
Về cơ sở hạ tầng, hàng năm, ngân sách Nhà nước, địa phương, các nguồntài trợ xã hội, và của nhân dân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong xã ngày càngnhiều, đặc biệt là việc tự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phúc lợi công cộng, nhà
ở và các cơ sở kinh tế của nhân dân
2.3.1.2 Đặc điểm khí hậu thời tiết
Thời tiết khí hậu xã Đa Lộc có các đặc trưng của vùng khí hậu đồngbằng tỉnh ven biển tỉnh Thanh Hoá, chịu ảnh hưởng của vùng khí hậu nhiệtđới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều Chia ra làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa bắt đầu
từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, mùa khô kéo dài 5 tháng từ tháng 12 đếntháng 4 năm sau (Số liệu tại trạm quan trắc khí tượng Hậu Lộc)
Đặc biệt vào những tháng có gió Tây Nam khô nóng (tháng 4-7), độ ẩmkhông khí tối thấp tuyệt đối xuống rất thấp (61% tại tháng 7) Đồng thời trongthời gian gió Tây Nam phát triển mạnh lượng bốc hơi nước rất nhanh (98,3-138,2mm vào tháng 5; 6; 7) Đây là yếu tố cực đoan đối với cây trồng, vật nuôicủa vùng quy hoạch; trong quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp cần quan tâmđến thời điểm này làm cơ sở để xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợpnhất
Gió mùa Đông Bắc thổi vào mùa đông, thổi theo đợt, mỗi đợt kéo dài 3
- 4 ngày, tốc độ gió trung bình cấp 3, cấp 4 Vào mùa đỉnh điểm (tháng 12, 1,2) tốc độ gió cao nhất có thể lên đến cấp 6, 7 Gió mùa Đông Bắc có thời gianhoạt động từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau
Đặc điểm thời tiết khi có gió mùa Đông Bắc thường kéo theo mưaphùn, đây là điều kiện thuận lợi cho cây trồng nông nghiệp, song đối với cây
Trang 28trồng lâm nghiệp sẽ hạn chế quá trình quang hợp, hạn chế khả năng sinhtrưởng, phát triển và khả năng ra hoa kết quả của cây trồng.
Gió Tây Nam thổi vào mùa hè theo từng đợt 2 - 3 ngày có khi kéo dàivài tuần lễ Gió Tây Nam khô, nóng thổi từ tháng 5 đến tháng 7 Khi có gióTây Nam nhiệt độ không khí thường lên cao, khô và nóng ảnh hưởng đến quátrình sinh trưởng, phát triển của cây trồng vật nuôi
Chủ yếu là gió bão và gió mùa đông bắc gây ra những đợt rét đậm kéodài, sương muối, sương giá thường xuất hiện Xã Đa Lộc thuộc vùng venbiển, hàng năm từ tháng 5 - 10 phải hứng chịu 2-3 cơn bão, với sức gió có khilên tới cấp 11; 12 và giật trên cấp 12 gây nên sự tàn phá nặng nề cho của cảivật chất, con người Điển hình là cơn bão số 6 tháng 9 năm 1980, cơn bão số
2 ngày 5 tháng 7 năm 1981, gần đây cơn bão số 6, 7 năm 2005 gây thiệt hạilớn cho người dân trong vùng lập quy hoạch
Trong những năm qua, thời tiết khí hậu có nhiều diễn biến phức tạp,gây rất nhiều khó khăn trong sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp vàthuỷ sản Sản xuất nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng của gió Tây Nam khônóng vào mùa hè, mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc gây ranhững đợt rét đậm và kéo dài Sự chênh lệch nhiệt độ giữa 2 mùa lớn, dễ gây
ra nhiều dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi ảnh hưởng tới năng suất cũngnhư hiệu quả sản xuất nông nghiệp, gây thiệt hại lớn về kinh tế
Đa Lộc có hệ thống sông Lèn chảy bao quanh phía Bắc và Tây Bắc xã và
ao hồ nuôi trồng thủy sản với tổng diện tích 185,25 ha, hàng năm cung cấplượng nước tưới phục vụ nông nghiệp, đồng thời vừa cải thiện được môi trường
Nhìn chung vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa chịu ảnh hưởng của tínhchất nhật triều, nhưng khi vào huyện Hậu Lộc nói chung và Đa Lộc nói riêngtính chất nhật triều giảm Hàng tháng có từ 8 - 12 ngày có 2 lần nước lớn, và
2 lần nước ròng (bán nhật triều) trong một ngày đêm Độ lớn nhật triều biển
Trang 29Với những yếu tối của thủy văn sông, hải văn biển đã có những tácđộng lớn đến hệ thống rừng ngập mặn phòng hộ ven biển, ảnh hưởng đến sựphát triển của rừng cũng như chất lượng rừng Gần đây rừng phòng hộ venbiển Đa Lộc có chất lượng và phát triển tương đối tốt, giảm thiểu được thiêntai đối với người dân trong vùng.
2.3.1.3 Thuận lợi và khó khăn
Điều kiện tự nhiên và thời tiết là một trong những yếu tố tác động chínhtới nền sản xuất nông nghiệp ở xã Đa Lộc Điều này sẽ quyết định đến đờisống kinh tế của nhân dân xã Sự phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết thì khi thiêntai xảy ra sự tổn thương đến nền nông nghiệp là rất lớn, ngoài những tác độngtrực tiếp của thiên tai tới rừng ngập mặn thì tình hình các ngành kinh tế kháccũng sẽ quyết định gián tiếp tới sự phát triển cũng như bảo tồn rừng ngậpmặn Đặc biệt nền nông nghiệp là thu nhập chính của người dân xã Đa Lộc
Địa hình bằng phẳng là điều kiện thuận lợi cho sản xuất, trồng lúa, pháttriển nông nghiệp cũng như định cư của con người
Thủy văn và bão lũ có tác động trực tiếp tới nuôi trồng Là một xã venbiển sẽ chịu nhiều thiệt hại hơn khi xảy ra thiên tai Đây là sự khó khăn chungcho những xã nghèo ven biển và của Đa Lộc nói riêng
Trang 30Khi nền kinh tế chủ đạo bị ảnh hưởng người dân sẽ tìm đến các nguồnlợi kinh tế khác để thay thế điều đó chính là áp lực lên rừng ngập mặn Sựkhai thác vượt mức cho phép của các sinh vật rừng ngập mặn cũng như sựchặt phá rừng ngập mặn làm đầm nuôi tôm, nuôi ngao là thực trạng đã diễn ratrong những năm gần đây ở xã Đa Lộc nói riêng và trên cả nước nói chung.
2.3.2 Kinh tế - xã hội
2.3.2.1 Dân số
Theo số liệu thống kê tại xã, dân số xã Đa Lộc năm 2012 là 8.244người, tương ứng với 1.984 hộ gia đình Trong đó, nam là 4.056 người chiếm49,2%, nữ là 4.188 người chiếm 50,8% Lao động trong độ tuổi là 3.792người Tỉ lệ tăng dân số trung bình hàng năm là 0,8% (Nguồn: Tổng hợp sốliệu tại xã Đa Lộc năm 2012)
Bình quân 1 hộ gia đình có khoảng 4,15 người, trong tổng số hộ gia đìnhtrên, tính theo cơ cấu ngành kinh tế thì số hộ làm ngành nghề nông nghiệp,thuỷ hải sản chiếm khoảng 70% năm 2012
Dựa vào kết quả này có thể đưa ra việc điều chỉnh cơ cấu nghề nghiệpsao cho phù hợp nhất để tạo thu nhập thay thế nhằm giảm thiểu áp lực khaithác nguồn lợi của các hộ ngư dân trong các vùng RNM này
2.3.2.2 Lao động
Tổng số lao động năm 2012 là 3.792 người, nguồn lao động chủ yếucủa xã tập trung ở ngành nông nghiệp – thuỷ hải sản; sau đó là ngành dịch vụ-thương mại và TTCN - xây dựng và ngành nghề khác Nhìn chung, kể từ năm
2005 trở lại đây xu hướng cơ cấu lao động ở các ngành đang dần dần thayđổi Tuy nhiên sự thay đổi diễn ra chậm, lao động trong ngành Nông nghiệp
và thủy hải sản còn chiếm tỷ lệ lớn (70%) lao động
Đến năm 2012 phần lớn lao động trong xã là chưa qua đào tạo, chủ yếulao động ngành nông nghiệp - thuỷ hải sản, lượng này chiếm khoảng 70%.Sau đó là lao động đã qua đào tạo nghề chiếm khoảng 30% Nhìn chung về
Trang 31trình độ lao động hàng năm, kể từ năm 2005 cho đến nay, số lượng lao độngqua đào tạo tăng nên không nhiều.
Trình độ học vấn của người tham gia lao động khai thác thủy sản rấtkhác nhau Ngoài ra, kết quả điều tra còn cho thấy, tỷ lệ những người học trêncấp 3 hoặc đại học chỉ tập trung vào cán bộ hoặc nhóm người hành chínhhoặc quản lý nguồn lợi thuỷ sản, hoặc ban quản lý rừng ngập mặn Điều này,
sẽ dẫn đến những hạn chế nhất định về nhận thức của người dân về rừng ngậpmặn, cũng như việc bảo tồn, phát triển rừng ngập mặn trong tương lai
2.3.2.3 Tình hình sản xuất các ngành kinh tế
Trong cơ cấu kinh tế của xã Đa Lộc, nông nghiệp vẫn chiếm vị trí chủđạo trong nền kinh tế trong đó ngành mũi nhọn là khai thác hải sản và nuôitrồng thủy hải sản và trồng trọt
Trong đó cơ cấu thu nhập trong ngành nông nghiệp là:
- Trồng trọt: 36,36%,
- Chăn nuôi 20,00%,
- Nuôi trồng và khai thác thủy hải sản 43,64%
Dưới đây là bảng hiện trạng sử dụng đất năm 2012 tại xã Đa Lộc
Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 tại xã Đa Lộc
Trang 323 Đất chưa sử dụng 40,58 3,00
Nguồn: Bộ phận địa chính xã Đa Lộc
Việc khai thác thủy hải sản chủ yếu là khai thác tự nhiên, số lượngthấp Phần lớn sản lượng thủy hải sản thu được từ nuôi trồng tại các ao, hồcủa người dân thầu của xã hoặc tại các vùng đất ngập mặn chưa được trồngrừng và khu vực bờ biển bên ngoài giáp ranh với nước biển Thủy hải sảnđược nuôi trồng chủ yếu là: ngao, sò, ốc,…diện tích khá lớn ngoài bờ biển.Tại các ao hồ, chủ yếu nuôi tôm, cua, cá, rong biển, nhưng khi hết hạn chínhquyền xã sẽ thu hồi để xen canh trồng rừng và nuôi trồng thủy, hải sản
2.3.2.4 Thuận lợi và khó khăn
Theo các hộ trồng ngao cho biết nếu thiên nhiên thuận lợi và không bịảnh hương của bão thì với diện tích 7 ha có thể đem lại thu nhập đến 600 triệuđồng mỗi năm, đây là nguồn thu chủ yếu của người dân nuôi thủy hải sản tạiđây Tuy nhiên, Đa Lộc là vùng hay xảy ra mưa bão, việc nuôi trồng củangười dân bị ảnh hưởng rất lớn, nhiều vụ phải thu hoạch sớm hoặc bị mấttrắng gây bất lợi đến đời sống và an sinh xã hội Chính vì vậy việc trồng, bảo
vệ rừng kết hợp với nuôi trồng thủy sản là rất quan trọng trong việc khắc phụcbiến đổi khí hậu, bảo vệ đời sống người dân và đem lại nguồn thu nhập chongười dân, thúc đẩy sự phát triển, đảm bảo đời sống của người dân
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài phân tích các khả năng bị tác động bởi biến đổi khí hậu của hệsinh thái rừng ngập mặn tại ven cửa sông Lèn, tỉnh Thanh Hóa Từ đó đưa rađánh giá về tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực
Nghiên cứu là cơ sở đề xuất các biện pháp bảo vệ, phát triển rừng ngậpmặn, đảm bảo duy trì các chức năng của hệ sinh thái rừng ngập mặn
3.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Trang 33- Đối tượng nghiên cứu: Tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn vencửa sông Lèn xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
- Phạm vi nghiên cứu: Rừng ngập mặn ven cửa sông Lèn tại xã Đa Lộc,huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
4 LUẬN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA LUẬN VĂN
- Biến đổi khí hậu toàn cầu tác động đến tất cả các mặt của tự nhiên vàcon người Trong đó có những tác động cực đoan đến sự phát triển của rừngngập mặn trên thế giới nói chung và sự phát triển của rừng ngập mặn xã ĐaLộc, huyện Hậu Lộc nói riêng
- Việc ngăn ngừa, giảm thiểu những yếu tố tiêu cực đến rừng ngập mặnđầu tiên cần đưa ra những đánh giá về tính dễ bị tổn thương thì mới có thể cónhững giải pháp phù hợp, cụ thể cho từng địa phương, từng vùng
- Tính dễ tổn thương của rừng ngập mặn được đánh giá dựa trên cấutrúc, phản ứng của rừng ngập mặn trước sự tác động của tự nhiên và conngười Điều này đã được chứng minh trong các mô hình, đánh giá, nghiên cứukhoa học trước đó Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tôi đưa ra một sốchỉ tiêu phù hợp với điều kiện tình hình rừng ngập mặn xã Đa Lộc dựa trênnhững chỉ tiêu đánh giá của Ellison (2012) [18]
- Bảng đánh giá và cho điểm tính dễ bị tổn thương là cơ sở để đánh giátính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn được xây dựng cho những đặc điểmriêng của một vùng, một địa phương cũng như những đặc điểm chung trongbối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đánh giá tính dễ bị tổn thương, tuynhiên Lynch et al [19] đã tổng hợp và đưa ra 4 cách tiếp cận, đó là:
1) tiếp cận rủi ro (rủi ro tự nhiên hay nguy cơ)
2) tiếp cận tính dễ bị tổn thương
3) tiếp cận khả năng phục hồi (khả năng thích ứng)
Trang 34- Diện tích phân bố hay các đặc điểm tỷ lệ cây chết, sự tái sinh, sự sinhtrưởng phát triển và thành phần loài cây ngập mặn có thể thay đổi do tácđộng trực tiếp, gián tiếp của BÐKH Sự thu hẹp giới hạn phân bố, suy giảmnăng suất và sinh trưởng là dấu hiệu của tính dễ bị tổn thương tăng lên vàgiảm khả năng thích ứng.
- Hệ thống quản lý, bảo vệ rừng ngập mặn yếu kém, sự tham gia hạnchế của các bên liên quan vào quản lý rừng ngập mặn và cộng đồng địaphương gia tăng áp lực lên rừng ngập mặn do các sinh kế và chiến lược thíchứng không thích hợp có thể làm tăng tính dễ bị tổn thương đối với BÐKHcho các hệ sinh thái rừng ngập mặn
Dữ liệu thu thập được phân tích và cho điểm theo phương pháp củaEllison (2012) [18], để đánh giá tính dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu của
hệ sinh thái rừng ngập mặn
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổnghợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọnlọc, từ đó đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Đó là các tàiliệu thu thập được về các vấn đề như: đặc điểm địa hình, kinh tế xã hội tại khuvực nghiên cứu, hiện trạng, biến động diện tích rừng ngập mặn tại địa điểmnghiên cứu, sự thay đổi khí hậu, mực nước biển trong những năm gần đây và xuthế biến động khí hậu trong tương lai và vai trò và sự tham gia của cộng đồngtrong bảo vệ phát triển RNM Từ đó, đưa ra các phân tích luận điểm để đánh giá
Trang 35tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái rừng ngập mặn đối với biến đổi khí hậu tạiven cửa sông Lèn, xã Đa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa (bản đồ 1).
5.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Các phương pháp nghiên cứu thực địa nhằm lựa chọn được khu vựcnghiên cứu điển hình, mang tính đại diện và thu thập bổ sung các số liệu, tàiliệu thực tế tại khu vực nghiên cứu điển hình đó Cung cấp cơ sở để đánh giátính dễ bị tổn thương dựa vào cấu trúc rừng ngập mặn tại địa phương
5.2.1 Phương pháp nghiên cứu cấu trúc của hệ sinh thái rừng ngập mặn
Trước tiên thiết lập các tuyến khảo sát vuông góc với đường bờ biển Ghichép ranh giới phân bố của các loài, sự tác động của tự nhiên và con người (xói
lở, gãy đổ do bão, chặt phá…) dọc tuyến khảo sát Tại trung tâm của mỗi vùngphân bố của loài, lựa chọn 1 điểm quan sát và ghi chép loài chủ yếu, loài ít gặp
và mức độ tái sinh trong vòng bán kính 10-15 m, sau đó tiến hành lấy số liệu
5.2.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn
- Tuyến điều tra: Lập tuyến điều tra theo tuổi rừng ngập mặn ven cửasông Lèn tại xã Đa Lộc (bản đồ 2)
- Vị trí đánh dấu trên bản đồ (bản đồ 2) là vị trí các tuyến điều tra Mỗituyến khảo sát 3 ô mỗi ô có kích thước 10m*10m được khảo sát theo loạirừng và tuổi rừng, mỗi ô cách nhau 300m Số liệu được thu thập một lần vàotháng 9 năm 2014
Trang 36Bản đồ 1 Địa điểm nghiên cứu
Bản đồ 2 Vị trí nghiên cứu và các tuyến điều tra
- Các chỉ tiêu đo đạc trên ô tiêu chuẩn để đánh giá cấu trúc bền vữngcủa rừng ngập mặn từ đó xác định khả năng bị tổn thương của hệ sinh thái
Trang 37rừng đối với điều kiện biến đổi khí hậu Các chỉ tiêu được thu thập đó là: sốlượng loài, mật độ của cây, diện tích ngang thân…
+ Loài: xác định những loài cây có trong ô tiêu chuẩn cụ thể, đếm sốlượng cây của từng loài
+ Mật độ: số lượng cây của từng loài đếm được / diện tích ô tiêu chuẩnTính toán mật độ cây được sử dụng công thức
Mật độ cây = N
S Với N là tổng số cây
S là diện tích ô tiêu chuẩn (m2)
Công thức trên có thể áp dụng cho từng loài đối với những ô tiêu chuẩn
có phân bố của nhiều loài Tuy nhiên, rừng ngập mặn ở xã Đa Lộc chủ yếu có
sự phân bố của một loài
Tần số tương đối = T*100
N (%) Với T là tần số gặp của loài+ Cây tái sinh: đếm và phân loại số cây tái sinh của từng loài (cây cóchiều cao < 60cm)
+ Đường kính: đo đường kính thân cây tại vị trí cách mặt đất 30cm, đốivới cây có thân nhiều nhánh tiến hành đếm số nhánh và đo nhánh có đườngkính lớn nhất
Đường kính thân trung bình d
N
(cm)
Với d là đường kính của thân cây
d là tổng đường kính thân đo được ở ô tiêu chuẩn
Diện tích ngang thân của 1 cây * 2
d S
Số liệu thực địa ta thu được là chu vi của thân cây nên có thể biến đổi
Trang 38công thức tính diện tích ngang thân của cây và công thức tính diện tích ngangthân của ô tiêu chuẩn theo chu vi như sau :
C
d
Với C là chu vi thân cây
Diện tích ngang thân của ô tiêu chuẩn
2
* 4
4* *
C S
5.2.1.3 Nghiên cứu tham gia của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng đóng vai trò quan trọng đến diện tích, chấtlượng hệ sinh thái rừng ngập mặn là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tính dễ bịtổn thương Để có những số liệu xác thực về mối quan hệ của cộng đồng đếntính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn chúng tôi sử dụng 2 hình thức
+ Phỏng vấn trực tiếp thông qua các câu hỏi chuẩn bị sẵn (Phụ lục)+ Phát phiếu điều tra (Phụ lục)
Đối tượng: dân cư trong phạm vi nghiên cứu
5.2.2 Đánh giá tính dễ bị tổn thương
5.2.2.1 Đánh giá tính dễ bị tổn thương
Các chỉ tiêu được trình bày sẽ bao gồm cả các yêu tố tiếp xúc, tínhnhạy cảm, cũng như khả năng thích ứng của rừng ngập mặn đối với BĐKH
Trang 39Tuy nhiên, tùy điều kiện thực tế và đặc thù của mỗi hệ sinh thái rừng ngậpmặn mà một số hoặc toàn bộ các chỉ tiêu có thể được thực hiện.
Xét tại khu vực nghiên cứu rừng ngập mặn tại xã Đa Lộc cơ sở dữ liệu
về các chỉ tiêu thuộc đặc điểm sinh thái học rừng ngập mặn, sự thay đổi diệntích phân bố, sự thay đổi bề mặt trầm tích, sự gia tăng mực nước biển là cácyếu tố đánh giá cấu trúc rừng dễ bị tổn thương hay không, các nhân tố tácđộng như hoạt động của con người khai thác trực tiếp, gián tiếp, độ hiểu biếtcủa người dân… được sử dụng để phân tích, đánh giá và cho điểm phân cấptính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn theo bảng dưới đây (bảng 2)
Trang 40Bảng 2 Tính dễ bị tổn thương của rừng ngập mặn theo từng chỉ tiêu đánh giá
1 Diện tích ngang thân
(cm 2 /m 2 ) >25 15-25 15-10 10-5 <5
2 Sự thay đổi diện tích
ngang thân Tăng
Không thay đổi Giảm nhẹ
Giảm tương đối mạnh
Giảm mạnh
3 Độ đa dạng thực vật
Rất nhiều (từ 8 loài trở lên)
Nhiều
(6-8 loài)
Trung bình (từ 3-6 loài)
Ít (từ 1- 3 loài) Không có loài nào
4 Sự tái sinh Tất cả các
loài
Hầu hết các Loài
Một số loài Vài loài Không loài nào
5 Khoảng độ cao phân
Không thay đổi Giảm ít Giảm nhiều
9 Thay đổi về độ ẩm
không khí
Ẩm ướt hơn
Không thay đổi
Khô hơn, không đáng kể
Khô hơn nhiều
Khô hơn rất nhiều
10 Sự thu hẹp giới hạn
phân bố (phía biển) Không Ít Trung bình Đáng kể Rất đáng kể
11 Sự suy giảm diện
tích rừng ngập mặn
Không hoặc rất ít (>
80%)
Ít (60 – 80
%)
Trung bình (40 – 60 %)
Đáng kể (20 – 40
%)
Rất đáng kể (<20%)
12 Sự tác động của tự
nhiên/con người
Không có dấu hiệu Vừa phải
Tương đối mạnh Mạnh Rất mạnh
13 Cơ chế bảo vệ rừng
ngập mặn Tốt Khá Trung bình Kém Yếu
14 Khả năng quản lý
của cộng động Tốt Khá Trung bình Kém Yếu
15 Sự tham gia của các
bên liên quan Tốt Khá Trung bình Kém Yếu