Các kiến thức trên được cụ thể hoá qua hai loại bài : Loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành • Loại bài hình thành kiến thức được cấu trúc theo 3 phần : I Nhận xét
Trang 1
1 Tên sáng kiến : Rèn thể loại văn miêu tả lớp 4
2 Ngời viết : Nguyễn Huy Hoàng
3 Trình độ chuyên môn: Cử nhân Cao đẳng
4 Nơi công tác: Trờng Tiểu học Xuân Châu
Huyện xuân trờng tỉnh nam định–
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến: Cấp huyện
6 Giải pháp:
6.1 Điều kiện, hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Thực tế dạy học cho thấy: dạy tập làm văn là việc rốn luyện cho học sinh khả năng tổ chức giao tiếp, tổ chức lời núi ngay từ khi học sinh học sinh bắt đầu đi học, đõy là một việc làm hết sức khú khăn mà khụng phải giỏo viờn nào cũng thực hiện được Thường thỡ giỏo viờn nào cũng dạy đỳng, đủ quy trỡnh cỏc phõn mụn như tập đọc, luyện từ và cõu…, cú nhiều giỏo viờn cũn dạy rất tốt cỏc phõn mụn này Nhưng với phõn mụn tập làm văn thỡ rất hiếm khi cú giỏo viờn nào cú đủ dũng cảm chọn nú làm phõn mụn hội giảng, cũng cú rất ớt giỏo viờn cú khả năng dạy một giờ tập làm văn sinh động, hấp dẫn Trong thực tế, giỏo viờn thường chưa quan tõm, chưa chỳ trọng lắm đến phõn mụn này, thường chỉ hướng dẫn qua loa cho học sinh về nhà tự viết… Cũn việc học thỡ sao?: Ngoài SGK tiếng Việt thỡ hiện nay cú rất nhiều loại sỏch tham khảo cho HS, giỳp cho HS cú cú cỏi nhỡn đa dạng, phong phỳ hơn Nhưng những cuốn sỏch tham khảo của phõn mụn tập làm văn lại thường đưa ra cỏc bài văn mẫu hoàn chỉnh nờn khi làm văn cỏc em thường dựa dẫm, ỉ lại vào bài mẫu, cú khi cũn sao chộp y nguyờn bài văn mẫu vào bài làm của mỡnh Cỏch cảm, cỏch nghĩ của cỏc em khụng phong phỳ mà thường đi theo lối mũn khuụn sỏo, tẻ nhạt Một thực tế nữa đú là học sinh lớp 4 tuy cỏc em đó được tiếp xỳc và thực hành cỏc bài tập làm văn ở lớp 2 và lớp 3 xong cỏc em vẫn viết văn theo kiểu cụng thức cứng nhắc, cõu văn chỉ dừng ở mức độ cú đủ chủ ngữ, vị ngữ rất ớt những cõu văn cú sử dụng cỏc biện phỏp nghệ thuật, bài văn thiếu sinh động, hấp dẫn Từ những lý do khỏch quan và chủ quan trờn, để khắc phục những hạn chế trong việc dạy tập làm văn ở tiểu học, gúp phần nõng cao chất
Trang 2
lượng dạy học trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài : “Một số biện pháp dạy tập làm văn - thể loại văn miêu tả lớp 4”
6.2 Gi¶i ph¸p
1 Thể loại văn miêu tả:
-Đặc điểm: Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng về đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác quan trực tiếp của mình Bài văn miêu tả là thể loại văn bản mang tính chất nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, tính cá thể của người viết Ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ giàu sức gợi tả, gợi cảm
và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ
- Kết cấu: Kết cấu bài văn miêu tả cũng tuân thủ kết cấu 3 phần:
Mở bài: Giới thiệu đối tượng miêu tả, thể hiện tình cản, quan hệ của
người miêu tả với đối tượng miêu tả
Thân bài: Tái hiện, sao chụp chân dung của đối tượng miêu tả ở những
góc nhìn nhất định
Kết luận: Nêu những nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ trực tiếp của
người miêu tả và của mọi người nói chung đối với đối tượng miêu tả
Như vậy, bài văn là một văn bản gồm ngôn từ, nội dung chứa trong ngôn
từ chính là văn Văn và ngữ luôn sóng đôi với nhau: văn cần đến ngữ để biểu hiện, ngữ cần đến văn để nói lên ý nghĩa.Văn là nghệ thuật của ngôn từ, văn là cái đẹp,
có người lại nói văn học là nhân học, văn học là tình cảm, đạo đức lý tưởng, là tình yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên và con người Văn có được nhờ cảm xúc của tâm hồn, nó làm cho tâm hồn con người thêm phong phú và sâu sắc
2 Cấu trúc chương trình tập làm văn lớp 4:
Học kỳ I Học kỳ II Cả năm
- Kể chuyện
- Miêu tả:
+ Khái niệm miêu tả
+ Miêu tả đồ vật
+ Miêu tả cây cối
+ Miêu tả con vật
- Các loại văn khác:
+ Viết thư
+ Trao đổi ý kiến
+ Giới thiệu hoạt động
+ Tóm tắt tin tức
+ Điền vào giấy tờ in sẵn
* Tổng số:
19
1 6
3 2 1
32 tiết
4 11 8
1 3 3 30tiết
19
1 10 11 8
3 2 2 3 3
62 tiết
Như vậy, ta thấy số tiết học về văn miêu tả là 30 tiết trong tổng số 62 tiết tập làm văn của cả năm học, rõ ràng là văn miêu tả chiếm gần nửa số tiết học cả
Trang 3
năm ( Không kể những tiết ôn tập ).Trong đó văn miêu tả kiến thức được trang bị cho học sinh bao gồm:
- Thế nào là miêu tả?
- Quan sát để miêu tả cho sinh động
- Trình tự miêu tả ( đồ vật, con vật, cây cối )
- Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả ( đồ vật, con vật, cây cối )
Các kiến thức trên được cụ thể hoá qua hai loại bài : Loại bài hình thành kiến thức và loại bài luyện tập thực hành
• Loại bài hình thành kiến thức được cấu trúc theo 3 phần :
(I) Nhận xét : Bao gồm một số câu hỏi, bài tập gợi ý học sinh khảo sát văn
bản để tự rút ra một số nhận xét về đặc điểm loại văn, kiến thức cần ghi nhớ
(II) Ghi nhớ : Gồm những kiến thức cơ bản rút ra từ phần nhận xét
(III) Luyện tập : Gồm từ 1 đến 3 bài tập thực hành đơn giản nhằm giúp học
sinh củng cố và vận dụng kiến thức tiếp nhận trong bài học
• Loại bài luyện tập thực hành Chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện các kỹ
năng tập làm văn, do vậy nội dung thường gồm 3, 4 bài tập nhỏ hoặc 1 đề bài tập làm văn kèm theo gợi ý thực hành luyện tập theo hai hình thức : nói, viết
3 Quy trình giảng dạy :
(A)Kiểm tra bài cũ : Yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức cần ghi nhớ hoặc làm
bài tập đã thực hành ở tiết trước ( hoặc giáo viên nhận xét kết quả chấm bài tập làm văn, nếu có)
(B)Dạy bài mới
( 1) Giới thiệu bài : Dựa vào nội dung và mục đích yêu cầu của bài dạy cụ
thể, giáo viên có thể dẫn dắt, giới thiệu bài bằng những cách khác nhau, sao cho thích hợp
(2) Hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức và luyện tập
* Đối với loại bài hình thành kiến thức :
(a) Hướng dẫn học sinh nhận xét : Dựa theo câu hỏi, bài tập gợi ý của mục I (Nhận xét) trong SGK, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận diện đặc điểm của loại văn thông qua việc khảo sát văn bản, thảo luận, trả lời câu hỏi nhằm tự tìm ra những điểm cần ghi nhớ ( được diễn đạt ngắn gọn, súc tích ở mục II trong SGK) (b) Hướng dẫn học sinh ghi nhớ : Giáo viên yêu cầu học sinh nhớ kỹ mục II ( ghi nhớ ) trong SGK, sau đó có thể nhắc lại để học thuộc và nắm vững
(c) Hướng dẫn học sinh luyện tập : Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện bài tập ở mục III ( Luyện tập ) trong SGK theo trình tự các thao tác : Đọc và nhận hiểu yêu cầu của bài tập ; thực hành luyện tập theo từng yêu cầu của bài tập ( có thể làm thử một phần bài tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, sau đó trao đổi, thảo luận theo cặp hoặc theo nhóm ) ; nêu kết quả trước lớp để giáo viên nhận xét, đánh giá nhằm củng cố kiến thức và hình thành kỹ năng theo yêu cầu của bài học
* Đối với loại bài luyện tập thực hành :
Đây là loại bài chủ yếu nhằm mục đích rèn luyện các kỹ năng làm văn Nội dung bài học thường gồm 3, 4 bài tập hoặc 1 đề bài tập làm văn
Trang 4
Dựa vào mục đích yêu cầu của bài dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện từng bài tập trong SGK theo trình tự các thao tác đã nêu ở mục (c) của loại bài hình thành kiến thức, hoặc hướng dẫn học sinh lần lượt thực hiện từng nội dung gợi ý trong SGK để luyện tập các kỹ năng tập làm văn dưới hình thức nói, viết theo đề bài cho trước
(3) Củng cố, dặn dò
Giáo viên giúp học sinh nhắc lại những điểm chính của nội dung bài học hoặc yêu cầu luyện tập thực hành ; nhận xét, đánh giá chung về kết quả tiết học ( biểu dương bài làm hay, động viên học sinh học tốt )
Dặn dò học sinh thực hiện công việc tiếp theo ( học bài cũ, chuẩn bị cho bài mới)
THỰC TRẠNG VIỆC DẠY TẬP LÀM VĂN - THỂ LOẠI VĂN MIÊU TẢ
LỚP 4 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC xu©n ch©u
1 §èi víi gi¸o viªn vµ c¬ së vËt chÊt.
+ Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho việc soạn - giảng còn hạn chế Nhất
là tài lệu tham khảo, đầu sách phục vụ công tác giảng dạy và sách nghiệp vụ còn rất hạn chế Giáo viên chưa có tủ sách riêng cho mình nên hầu hết mỗi giáo viên lên lớp chỉ dựa vào sách giáo khoa và sách bài soạn là chủ yếu, rất ít giáo viên có các loại sách tham khảo khác để tự mở rộng kiến thức bài giảng mà tập làm văn lại đòi hỏi phải đọc nhiều, biết nhiều
+ Giáo viên tiểu học phải dạy hầu hết các môn , phải chuẩn bị nhiều lĩnh vực chuyên môn khác nhau, hiện nay giáo viên lại phải dạy 2 buổi/ ngày nên Bởi vậy giáo viên không thể có nhiều thời gian nghiên cứu sâu cho từng phân môn, do
đó việc chuẩn bị kế hoạch bài học chỉ mang hình thức chiếu lệ
+ Chương trình và sách giáo khoa mới kiến thức khá nhiều, nhất là với việc dạy tập làm văn lớp 4 – chương trình, sách giáo khoa và phương pháp hoàn toàn đổi mới so với trước đây và cũng rất khác so với lớp 2, 3 Lớp 2, 3 là giai đoạn đầu của tiểu học, kiến thức lớp 3 tuy có tăng nhưng phương pháp thì gần như lớp 2 nên giáo viên tiếp cận cũng dễ dàng hơn Lên lớp 4 kiến thức tăng cao hơn hẳn, trước đây mỗi kiểu bài của thể loại văn miêu tả thường được cấu trúc dưới dạng các đề bài cho trước, mỗi đề bài lại được học trong 4 – 5 tiết: Quan sát tìm ý, lập dàn bài, làm bài miệng, làm bài viết, trả bài Chương trình mới được cấu trúc khác hẳn: mỗi kiểu bài được học từ 8 – 11 tiết trong đó thường có 1 tiết lý thuyết chung, 1 tiết cho cấu tạo từng kiểu bài, 1tiết cho quan sát đối tượng miêu tả, 2- 3 tiết luyện tập xây dựng đoạn văn, 1- 2 tiết luyện tập xây dựng đoạn mở bài và kết bài, 1tiết kiểm tra và 1 tiết trả bài Rõ ràng chương trình mới không có sự gò bó,
áp đặt học sinh phải miêu tả cùng một đối tượng nào cho trước mà tuỳ theo từng vùng, từng nơi, tuỳ từng em có thể lựa chọn đối tượng miêu tả miễn là trong cùng kiểu bài ( tả con vật hay tả cây cối, tả đồ vật), như vậy sẽ phát huy được tính độc lập, sáng tạo của học sinh
2 Tình hình chất lượng học tập môn Tiếng Việt và phân môn tập làm văn của học sinh Trêng TiÓu häc Xu©n Ch©u nh sau:
Trang 5
BẢNG CHẤT LƯỢNG MÔN TIẾNG VIỆT
Khối
Số
học
sinh
Chất lượng môn tiếng Việt
( Nguồn: Báo cáo sơ kết học kỳ I năm học 2008-2009)
Qua bảng thống kê ở trên ta thấy, chất lượng môn tiếng Việt của cũng tương đối cao, đa số học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản Song ở đây ta cần chú ý đến chất lượng môn Tiếng Việt của học sinh khối Hai, Ba, Bốn vµ N¨m
Ta thấy chất lượng của khối Hai, Ba gần như ngang nhau, còn khối Bốn chất lượng lại thấp hơn hẳn Qua xem bài làm của học sinh và khảo sát tình hình học tập lớp của các em học sinh lớp 4 tôi thấy hầu hết các em nắm được kiến thức cơ bản của các phân môn luyện từ và câu, chính tả nhưng các em chưa biết vận dụng kiến thức của các phân môn này để làm bài tập làm văn Chương trình phân môn tập làm văn lớp 4 hiện đang học thể loại bài miêu tả, nhìn chung các em đã nắm được cấu trúc một bài văn miêu tả nhưng bài làm của các
em còn viết theo một lối mòn khuôn sáo, kém hấp dẫn, ít cảm xúc và nghèo hình ảnh, đặc biệt là các em chưa biết sử dụng các biện pháp tu từ, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá,…
Tôi đã cho khảo sát chất lượng làm văn của học sinh hai lớp 4B và 4Cđể làm cơ sở kiểm chứng thực nghiệm sau này:
Đề bài: Em hãy miêu tả một dụng cụ học tập của em mà em yêu thích nhất
Chú ý mở bài theo kiểu mở rộng.
Kết quả cụ thể như sau:
Lớp HSSố Điểm Giỏi Điểm Khá Điểm TB Điểm dưới TB
Kết quả trên cho thấy, hai lớp 4B và 4C có số học sinh gÇn b»ng như nhau, chất lượng làm văn cũng gần tương đương nhau, bài làm có điểm khá, giỏi rất ít, chủ yếu là điểm trung bình, điểm dưới trung bình còn chiếm trên 25%
Từ thực trạng việc dạy học phân môn tập làm văn nói chung và việc dạy học làm văn miêu tả ở lớp 4 nói riêng tôi thấy rất cần thiết phải có những biện pháp sáng tạo trong dạy văn miêu tả lớp 4 góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở tiểu học
Trang 6
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ LỚP 4:
1 Giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó tìm ra hướng đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp:
Chúng ta đã biết, tâm lý chung của học sinh tiểu học là luôn muốn khám phá, tìm hiểu những điều mới mẻ Trong con mắt trẻ thơ, với cái nhìn trong trẻo của mình thì thì sự vật hiện tượng nào trong cuộc sống cũng đầy bí ẩn Các em muốn tìm hiểu, khám phá: Tại sao cùng là một sự vật hôm nay là thế này, ngày mai lại là thế khác? Để trả lời câu hỏi đó trước hết người giáo viên phải giúp các
em nhận thức được sự đa dạng, phong phú của các sự vật hiện tượng và sự sinh động của cuộc sống Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em cách quan sát, cách tư duy về đối tượng miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát sự vật hiện tượng ở nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các
em sẽ có cách cảm, cách nghĩ sâu sắc khi miêu tả
Ở tuổi học sinh tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự bắt đầu của một quá trình Do đó những tri thức để các em tiếp thu phải được sắp xếp theo một trình tự nhất định Bởi văn chương không phải là phép tính cộng đơn thuần của các chi tiết mà nó đòi hỏi phải có một sự cảm nhận tinh tế Sự cảm nhận
ấy bắt đầu từ óc quan sát tốt, từ sự nhạy bén của trí nhớ, từ sự cảm nhận vẻ đẹp của sự vật qua những rung cảm của tâm hồn sẽ kích thích cho trí tưởng tượng của các em hoạt động mạnh Trí tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi bấy nhiêu
Mọi suy nghĩ của các em đều rất hồn nhiên, trong sáng Một tiếng lá rơi, một ngọn gió nhẹ cũng rất dễ tạo nên những rung động trong tâm hồn các em Chính vì vậy mà những gì càng gần gũi, dễ hiểu bao nhiêu thì việc tiếp thu của các
em càng nhanh chóng bấy nhiêu Hơn nữa nhận thức của các em còn ở mức độ đơn giản nên giáo viên cần hướng để các em chọn đối tượng miêu tả gần gũi, quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của các em
Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải giàu cảm xúc, tạo nên cái “hồn”, chất văn của bài làm.Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn nuôi dưỡng ở các em tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện
2 Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu tả ngay từ tiết đầu tiên của thể loại bài này:
Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mỹ, dù miêu tả bất kỳ đối tượng nào, dù có bám sát thực tế đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh lại những sự vật hiện tượng một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức phong phú Đó là sự miêu tả thể hiện được cái mới, cái riêng biệt của mỗi người
Trong văn miêu tả, ngôn ngữ sử dụng phải là ngôn ngữ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, giàu nhịp điệu âm thanh, đây là một trong những điều quan trọng để phân biệt văn miêu tả với những miêu tả trong sinh học, địa lý và các thể loại văn khác
Từ việc hiểu rõ đặc điểm của thể loại văn miêu tả, hiểu rõ con đường mình cần đi và đích mình cần tới, chắc chắn học sinh sẽ thận trọng hơn khi chọn lọc từ
Trang 7
ngữ, sẽ gọt giũa kỹ hơn từng lời, từng ý trong bài văn và như vậy chất lượng bài làm của các em sẽ tốt hơn
3 Cung cấp vốn từ và giúp học sinh biết cách dùng từ đặt câu, sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả là hết sức cần thiết.
Muốn một bài văn hay, có “hồn’, có chất văn thì các em phải có vốn từ ngữ phong phú và phải biết cách lựa chọn từ ngữ khi miêu tả cho phù hợp Chính
vì vậy giáo viên cần chú ý cung cấp vốn từ cho các em khi dạy tập đọc, luyện từ
và câu và cả trong khi dạy các môn khác hay trong những buổi nói chuyện, trong các tiết sinh hoạt Hướng dẫn các em lập sổ tay văn học theo chủ đề, chủ điểm, khi
có một từ hay, một câu văn hay các em ghi vào sổ tay theo từng chủ điểm và khi làm văn có thể sử dụng một cách dễ dàng Giáo viên cũng cần khuyến khích các
em đọc sách báo để tìm hiểu thêm thông tin tư liệu, có thể xây dựng tủ sách dùng chung trong lớp để các em trao đổi sách báo cho nhau và em nào cũng được đọc Hàng tuần hoặc hàng tháng giáo viên có thể tổ chức cho các em những cuộc thi vui: thi xem ai đọc được nhiều sách báo nhất ( kể tên những đầu sách và những tên bài mình đã đọc), thi tìm từ ngữ theo chủ đề ( học sinh tự chọn một chủ đề bất kỳ
và nêu những từ ngữ thuộc chủ đề đó mà mình đã sưu tầm được),…Sau những cuộc thi, những buổi trao đổi như thế chắc chắn vốn từ ngữ của các em sẽ tăng lên, khả năng giao tiếp của các em cũng sẽ khá hơn, điều này giúp ích rất nhiều cho việc làm văn của các em
Sau khi các em đã có vốn từ phong phú, giáo viên tiếp tục rèn cho các em cách lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh và có sử dụng cá biện pháp nghệ thuật đã học Giáo viên cần tiến hành theo mức độ yêu cầu tăng dần, bước đầu chỉ yêu cầu học sinh đặt câu đúng, sau yêu cầu cao hơn là phải đặt cầu có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá, có dùng những từ láy, từ ngữ gợi tả hình ảnh, âm thanh hay những từ biểu lộ tình cảm
Ví dụ: * Miêu tả một chú gà trống Một em đặt câu:
- Chú gà nhà em có bộ lông màu đỏ tía
Giáo viên có thể cho các em nhận xét: Câu văn đã dủ chủ ngữ, vị ngữ, đã
rõ nghĩa Sau đó đặt câu hỏi: Em nào đặt câu khác hay hơn để miêu tả bộ lông của chú gà trống? - Học sinh có thể đặt câu:
- Chú trống choai thật oai vệ, chú khoác trên mình bộ lông màu đỏ tía,
chen lẫn màu vàng sẫm như một chiếc áo sặc sỡ của những chàng công tử
Em khác lại có thể so sánh ngắn gọn hơn:
- Chú khoác trên mình một bộ lễ phục màu tía rực rỡ như một võ tướng.
* Hay khi miêu tả con mèo:
Một học sinh tả cái đuôi chú mèo:
- Chú ta có cái đuôi thon dài như một cái măng ngọc Giáo viên hỏi: Em
nào nhận xét cách đặt câu của bạn? Học sinh có thể nhận xét : bạn đã sử dụng biện pháp so sánh để so sánh cái đuôi mèo như một cái măng ngọc
Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm đôi tìm câu khác để miêu tả cái đuôi của chú mèo sao cho sinh động hơn:
- Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trước chống lên, đăm chiêu
nhìn và nghe ngóng, cái đuôi mềm mại, phe phẩy như làm duyên.
Trang 8
- Hay: Cái đuôi dài trắng điểm đen phe phất thướt tha cùng với tấm thân
thon dài mềm mại, uyển chuyển trông thật đáng yêu
Như vậy cùng là miêu tả về bộ lông của chú gà trống, cái đuôi của chú mèo nhưng những câu văn có sử dụng biện pháp so sánh, nhân hoá, có dùng những từ gợi tả, gợi cảm như các câu trên thì hiệu quả khác hẳn, ta cảm thấy miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút người đọc người nghe
* Nghệ thuật so sánh:
- Miệng cười như thể hoa ngâu, Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
- Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa
- Người rực rỡ như một mặt trời cách mạng
Mà đế quốc là loại rơi hốt hoảng
Đêm tàn bay chập choạng dưới chân Người
- Sợi bông trong quả đầy dần, căng lên; những mảnh vỏ tách ra cho các múi bông nở đều, chín như nồi cơm chín đội vung mà cười., trắng loá Cây gạo như treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới
* Nghệ thuật nhân hoá:
- Bác nồi đồng hát bùng bong
Bà chổi loẹt quẹt lom khom trong nhà
- Cổng trường dang tay đón các bạn nhỏ
- Bông hoa duyên dáng tươi cười trong nắng sớm
- Mùa xuân, sân trường khoác chiếc áo mướt xanh màu lá
Khi đọc cho học sinh những câu văn, câu thơ như vậy, ban đầu tôi cho các em thảo luận và phát hiện các biện pháp nghệ thuật được các tác giả sử dụng, sau đó cho các em nêu tác dụng của các biện pháp nhgệ thuật đó, có thể phân tích để các em hiểu cái hay cái đẹp trong từng câu văn, câu thơ Làm như vậy, dần dần nhiều ngày tích luỹ lại các em sẽ có vốn từ phong phú và sẽ học được cách miêu tả sinh động của các tác giả, biết vận dụng khi làm văn
4 Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp tất cả những phân môn thuộc môn tiếng Việt, vì vậy muốn dạy tốt tập làm văn cần dạy tốt các phân môn khác
- Ta có thể thấy, mỗi bài tập đọc là những đoạn văn mẫu mực cả về câu, từ
cả về cách cách diễn đạt, những văn bản trong các bài tập đọc đạt yêu cầu lời hay,
ý đẹp, dạy tốt tập đọc sẽ tạo điều kiện cho học sinh tăng thêm vốn từ và biết được khả năng thể hiện của của tiếng Việt trong mọi trường hợp rất phong phú, học sinh
sẽ học tập được cách dùng từ, viết câu, diễn đạt
Trong dạy tập đọc chủ yếu là rèn cho học sinh các kỹ năng, trong đó có kỹ năng văn hay còn gọi là kỹ năng cảm thụ:
Làm cho học sinh thấy được cái hay, cái đẹp trong ngôn từ văn bản: âm thanh, gieo vần, cách dùng từ, đặt câu, những biện pháp tu từ ( ví von, so sánh, nhân hoá, từ láy, từ gợi tả, gợi cảm, )
Khám phá ý nghĩa trong mỗi đơn vị ngôn từ, biết cách giải nghĩa từ nhất là nghĩa của từ trong từng văn cảnh – ý nhĩa xung quanh nó tạo nên nghĩa của từ:
Ví dụ: Sông Hồng bận chảy
Trang 9
Chiếc xe bận chạy
Bận : bận rộn, nhiều việc, việc nọ kế tiếp việc kia, trong văn cảnh này từ bận là từ dành cho con người được sử dụng cho những đối tượng không phải là
con người như sông Hồng, chiếc xe đó chính là biện pháp nhân hoá mà tác giả sử
dụng nhằm nói mọi sự việc hướng tới con người, vì con người
Hay trong bài “Chú chuồn chuồn nước” : “Ôi chao! Chú chuồn chuồn
nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên lơng chú lấp lánh Bốn cái cánh mỏng như giấy bóng, Cái đầu tròn và hai con mắt long lanh như thuỷ tinh.Thân chú nhỏ và thon dài như màu vàng của nắng mùa thu.”
Tác giả đã mở đầu bài văn bằng một tiếng reo thích thú, một lời trầm trồ ca ngợi: “Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao!” Tình cảm chứa đựng trong câu mở đầu đã chi phối nội dung cả đoạn, những câu sau với những tính từ miêu tả, những hình ảnh so sánh gợi lên cái đẹp trong sáng, hấp dẫn của chú chuồn chuồn nước Nó khiến cho người đọc những dòng chữ ấy phải thốt lên tiếng reo, lời thán phục như tác giả đã viết
- Với luyện từ và câu, học tốt phân môn này sẽ giúp các em có vốn
từ ngữ phong phú, biết viết đúng các kiểu câu và biết sử dụng các biện pháp tu từ khi viết văn, học tốt luyện từ và câu sẽ gúp các em tránh được những lỗi về cấu tạo ngữ pháp, lỗi về nghĩa và lỗi về dấu câu
Ví dụ : Khi học về câu kể Ai là gì? học sinh hiểu tác dụng, cấu tạo của kiểu câu này, biết nhận ra nó trong đoạn văn và từ đó học sinh biết đặt câu kể Ai là gì ?
để giới thiệu hoặc nêu nhận định về một người, một vật:
Chích bông là con chim rất đáng yêu.
Hoa đào, hoa mai là bạn của mùa xuân.
Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam.
- Nội dung của bài văn có hấp dẫn, có lôi cuốn được người đọc hay không một phần phụ thuộc vào hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, đó chính là chữ viết Vì vậy muốn có bài làm văn hấp dẫn thì giáo viên cần chú ý rèn kỹ năng viết cho học sinh trong các giờ chính tả Chính tả giúp học sinh viết đúng, viết nhanh, viết đẹp và trình bày rõ ràng, sạch sẽ
- Nếu như tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng viết cho học sinh thì phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói, hay nói cách khác là kỹ năng sản sinh văn bản dưới dạng nói cho học sinh Kể chuyện vừa bồi dưỡng tình cảm, giúp học sinh biết quý trọng người tốt, phê phán cái xấu, vừa giúp học sinh học tập cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện
Ví dụ: Khi học sinh học bài kể chuyện Con vịt xấu xí, các em sẽ học được
cách miêu tả của An- đéc- xen khi miêu tả hình dáng và tâm trạng của thiên nga
qua các từ ngữ: xấu xí, nhỏ xíu, quá nhỏ, yếu ớt, buồn lắm, dài ngoẵng, gầy guộc,
vụng về, vô cùng sung sướng, Qua câu chyện học sinh cũng có được lời khuyên:
Ai cũng có những cái đẹp riêng, ta phải biết nhận ra cái đẹp của người khác, phải luôn yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau Từ đó học sinh biết yêu thương, giúp đỡ bạn
bè và mọi người xung quanh
Nói tóm lại, các phân môn của tiếng Việt tuy mỗi phân môn có nội dung riêng, phương pháp riêng nhưng chúng không hoàn toàn độc lập với nhau mà luôn
bổ sung cho nhau, kiến thức của phân môn này hỗ trợ cho việc học những phân
Trang 10
môn khác Với phân môn tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của những phân môn khác, muốn học tốt tập làm văn học sinh cần học tốt các phân môn còn lại
5 Hướng dẫn học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài:
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thường thu hút người đọc, người nghe chú ý cách đặt vấn đề và cách cảm nghĩ về vấn đề
mà người viết trình bày, Chính vì vậy việc rèn luyện cho học sinh xây dựng đoạn văn mở bài và kết bài là rất cần thiết
- Đoạn văn mở bài: Có hai cách mở bài mà học sinh được học đó là mở
bài trực tiếp và mở bài gián tiếp Không nhất thiết phải gò bó học sinh làm mở bài theo cách nào mà để cho các em tự chọn cho mình cách mở bài hợp lý nhất và phù hợp với khả năng của từng em Mở bài gián tiếp có thể xuất phát từ một vấn
đề khác rồi mới dẫn vào vấn đề mình cần nói tới, có thể bắt đầu bằng những câu thơ, những câu hát, nhưng phải bám sát vào yêu cầu của đề, không lan man, xa
đề, không rườm rà Giáo viên có thể cho học sinh làm việc nhóm đôi hoặc cá nhân
tự nêu cách vào bài của mình, sau đó cho các bạn khác nhận xét Chẳng hạn với
bài tả con mèo, một học sinh mở bài: “Hè vừa rồi, mẹ em đi chợ mua được một
con mèo tam thể Chú ta là thành viên thứ năm của gia đình em, nay đã được bốn tháng.”
Giáo viên nêu câu hỏi: đây là cách vào bài nào? ( trực tiếp) – Giáo viên
nêu yêu cầu để học sinh nêu cách mở bài khác sinh động hơn: “Nhà em từ lâu đã
không có một chú chuột nào dám bén mảng tới vì có một chú lính gác cừ khôi, đó chính là chú Mướp Mướp ta đã được một năm tuổi, nó thật hiền dịu nhưng cũng thật tinh nhanh, nó như người bạn thân của em.”
Hay với đề bài miêu tả cây đa cổ thụ nơi làng quê, học sinh mở bài như sau:
“Ở đầu làng em có một cây đa cổ thụ có dễ phải hàng trăm năm tuổi Cả
làng gọi đó là cây đa ông Đài, vì ông Đài là người trồng ra nó, nhưng ông Đài là
ai, sống và chết từ bao giờ thì cả làng không ai nhớ cả.”
Học sinh khác lại viết: “Từ bến đò phía xa em đã nhìn thấy làng em
Phải qua một cánh đồng bao la, một con đường liên xã dài hơn hai cây số, em đã nhìn thấy làng quê yêu dấu: cây đa cổ thụ in bóng xanh thẫm trên bầu trời Mỗi lần đi xa về, em cảm động tưởng như cây đa làng quê đang giơ tay vẫy chào, đón đợi.” Từ các cách mở bài khác nhau cho các em nhận xét và tìm ra ý đúng, ý hay
để mở bài một cách hợp lý nhất
- Đoạn văn kết bài: Kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong bài văn nhưng
lại rất quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của người viết với đối tượng miêu tả Thực tế cho thấy học sinh thường hay liệt kê cảm xúc của mình làm phần kết luận khô cứng, gò bó, thiếu tính chân thực Chủ yếu các em thường làm kết bài không mở rộng, kết bài như vậy không sai nhưng chưa hay, chưa hấp dẫn người đọc.Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải gợi ý để học sinh biết cách làm phần kết bài có mở rộng bằng cảm xúc của mình một cách tự nhiên thông qua những câu hỏi gợi mở, sau đó cho các em nhận xét, sửa sai và chắt lọc
để có được những kết bài hay
Ví dụ: