tìm hiểu nội dung từng đoạn sẽ giúp HS viết văn có bố cục rõ ràng, biết cách trình bày bài văn một cách mạch lạc, không lộn xộn.Trong tiết dạy Luyện từ và câu GV cần quan tâm tới việc mở
Trang 1I THỰC TRẠNG VIẾT VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 4-5 TRONG TRƯỜNG
Như trên đã nói muốn viết được bài văn hay phải có khả năng quan sát tinh tế , khả năng phát hiện và khả năng cảm nhận Ngoài ra cần phải có óc tưởng tượng, kỹ năng dùng từ chính xác, viết câu đúng và có hình ảnh.Tuy nhiên hiện nay trong khá nhiều bài viết của các em còn rập khuôn theo bài hướng dẫn tìm ý và dàn ý mẫu của giáo viên Bài viết của các em còn có những nét chung giống nhau, thiếu sự sáng tạo và chưa giàu hình ảnh
Thống kê chất lượng 27 bài kiểm tra Tập làm văn của của học sinh lớp 4A năm học 2009-2010 đề bài" Hãy tả lại một cây mà em thấy thích nhất" Kết quả như sau:
II NGUYÊN NHÂN
Qua dự giờ thăm lớp và trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy kết quả viết văn của học sinh chưa cao là do các nguyên nhân sau:
1.Về phía giáo viên
- Giáo viên chưa mạnh dạn tìm tòi, nghiên cứu nhiều biện pháp, chưa thực sự gây được hứng thú, tính tích cực của học sinh
- Giáo viên thiếu tin tưởng vào HS nên đã hướng dẫn quá kĩ, quá tỉ mỉ dẫn đến việc HS lười suy nghĩ, lười động não, không huy động khả năng vốn
có của mình khiến cho bài văn trống rỗng thiếu tình cảm của cá nhân và đặc biệt là không có sự sáng tạo
- Các phân môn của Tiếng việt và môn học khác chưa thực sự đạt hiệu quả trong việc trang bị hiểu biết, đặc biệt là phát triển khả năng suy nghĩ và
Trang 2- Chưa biết phối hợp nhiều giác quan khi quan sát
III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC
VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌCC SINH LỚP 4 -5
1 Trang bị cho HS những kiến thức về văn miêu tả
1.1 Thế nào là miêu tả?
- Miêu tả là dùng lời văn hay nét vẽ mà thể hiện sự vật
- Văn miêu tả là loại văn căn cứ vào những điều quan sát, ghi chép, cảm nhận được về đối tượng ( đồ vật, cây cối, loài vật, con người…) dùng ngôn ngữ để vẽ ra hình ảnh chân thựccủa đối tượng đó, trình bày theo một bố cục hợp lí và diễn đạt bằng lời văn sinh động, khiến cho người đọc, người nghe cùng thấy, cùng cảm nhận như mình
- Đối tượng của văn miêu tả là là những cảnh vật, đồ vật, con vật, cây cối, con người quen thuộc quen thuộc xung quanh chúng ta Vì vậy khi miêu
tả cần tập trung tả những nét tiêu biểu của đối tượng miêu tả Để bài văn được sinh động và hấp dẫn hơn với người đọc ta có thể lồng vào đó những câu bình luận thể những cảm xúc mạnh mẽ khác nhau
1.2 Cách quan sát khi miêu tả.
- Để có một bài văn chân thực sinh động thì khâu quan sát thực tế không thể thiếu được
a) Quan sát theo trình tự nhất định hợp lí
+Quan sát bao quát đối tượng
+ Quan sát từng bộ phận: từ ngoài vào trong, từ trên xuống dưới, từ xa đến gần,
b) Quan sát bằng nhiều giác quan
+ Mắt để nhìn hình dáng, kích thước, màu sắc,…
+ Tay để sờ, mó, nắn,gõ, đo đạcxem đối tượng mềm, nhẵn hay sù sì, + Tai để nghe âm thanh đối tượng phát ra tiếng động hoặc âm thanh phát ra từ đối tượng khác liên quan đến đối tượng
+ Mũi để ngửi hương thơm,mùi,
Trang 31.3 Ngôn ngữ trong bài văn miêu tả
- Ngôn ngữ trong bài văn miêu tả cần chính xác, cụ thể, giàu hình ảnh
và có những nét riêng biệt.Do đó khi viết cần lựa chọn từ ngữ gợi cảm có hình ảnh và mang lại cho đối tượng tả những gì đúng với thực tế vốn có của nó mà lại phải có những nét khác biệt với những đối tượng khác
1.4 Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả
Bài văn phải có cấu tạo rõ 3 phần( Mở bài, thân bài, kết bài) Đoạn văn cũng cần có câu mở đoạn và câu kết đoạn Giữa các đoạn phải có câu chuyển đoạn hoặc từ ngữ có tác dụng nối để nối đoạn nọ với đoạn kia
Như chúng ta đã biết, muốn làm tốt các bài văn phải có vốn văn học đáng kể mà ở lứa tuổi nhỏ thì điều này thật không dễ Nếu HS không có vốn kiến thức văn học thì bài văn sẽ nghèo nàn, khô khan thiếu hình ảnh Vì vậy
GV làm sao để các em cảm nhận đối tượng miêu tả một cách tự nhiên, bằng chính vốn từ ngữ và sự hiểu biết của mình.Công việc này đòi hỏi người GV phải kiên trì, chịu khó và kiên nhẫn.Chúng ta có thể rèn luyện và bổ sung những kỹ năng này qua một số phân môn của môn Tiếng Việt Cụ thể như sau:
Nội dung các bài Tập làm văn lớp 4-5 thường gắn với các chủ điểm đang học ở các bài Tập đọc Quá trình hướng dẫn HS thực hiện các kỹ năng phân tích đề, quan sát, tìm ý,nói, viết đoạn văn hoặc bài văn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng vốn hiểu biết về cuộc sống theo chủ điểm đang học.Việc phân tích dàn bài, tìm ý cho đoạn văn góp phần phát triển năng lực phân tích, tổng hợp của HS
Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát triển nhờ các biện pháp so sánh, nhân hoá khi học văn kể chuyện
Trong các tiết Tập đọc GV chú ý phần đọc diễn cảm là đã giúp học sinh tìm hiểu và đặt mình vào tâm trạng nhân vật Qua việc phát hiện đoạn và
Trang 4tìm hiểu nội dung từng đoạn sẽ giúp HS viết văn có bố cục rõ ràng, biết cách trình bày bài văn một cách mạch lạc, không lộn xộn.
Trong tiết dạy Luyện từ và câu GV cần quan tâm tới việc mở rộng vốn
từ ngữ giúp HS hiểu kỹ thêm từ theo chủ đề ,hiểu thêm các thành ngữ ,tục ngữ Tìm được nhiều và hiểu nghĩa các từ đồng nghĩa,trái nghĩa Trong các tiết học về câu GV thường xuyên quan tâm sửa câu văn cho HS sao cho có hình ảnh
Ví dụ:
HS viết "Chiếc bút chì của em vỏ ngoài có kẻ sọc."
GV hướng dẫn HS sửa lại là:
Chiếc bút chì của em khoác chiếc áo kẻ sọc tuyệt đẹp. Hoặc :
Anh bút chì khoác chiếc áo kẻ sọc trên mình trông đĩnh đạc và đáng yêu làm sao!
*Một số cách sử dụng từ ngữ trong viết văn tả cảnh;
a Sử dụng từ láy:Từ láy trong tiếng việt thường có giá trị gợi tả, biểu cảm rất lớn Chính vì vậy khi sử dụng từ láy trong viết văn tả cảnh sẽ làm cho người đọc, người nghe cảm thụ và hình dung được một cách cụ thể, tinh tế và sống động hơn
Ví dụ : Hương thơm ngào ngạt toả ra từ những bông lúa còn non.
b Sử dụng tính từ tuyệt đối: Đó là những tính từ chỉ có tiếng thứ nhất
có nghĩa, còn tiếng thứ hai được tạo ra từ các hình tượng có tác dụng chỉ các sắc thái khác nhau của tính chất do tiếng thứ nhất biểu thị như: đỏ mọng, đặc sệt, trong suốt Trong bài văn miêu tả thì tính từ tuyệt đối là yếu tố ngôn ngữ không thể thiếu bởi vì các sự vật, hiện tượng, hoạt động chỉ trở nên sinh động, cụ thể và có hồn khi chúng gắn liền với các đặc diểm, thuộc tính riêng vốn có của chúng, mà tính từ tuyệt đối lại là từ có khả năng biểu thị những sắc thái riêng biệt của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Đường vào làng em được rải nhựa phẳng lì, dài hơn năm cây số.
c Sử dụng biện pháp so sánh:So sánh thể hiện sự nhận thức chính xác, mới mẻ, gợi những hình ảnh đẹp đẽ, sinh động thể hiện sâu sắc thái độ, tình cảm của con người trước đối tượng miêu tảvà làm đẹp ngôn từ của người sử dụng.Trong văn miêu tả nhờ có so sánh để tạo nên hình ảnh sống động, gợi hình, gợi cảm tạo ra cách nói mới mẻ, làm cho cách diễn đạt trở nên phong phú, uyển chuyển, tăng sức mạnh biểu cảm cho lời nói
Ví dụ:Hoàng hôn dần buông như ai đó rắc những tia nắng cuối cùng
trên mặt biển xanh êm đềm
Trang 5d Sử dụng biện pháp nhân hoá: Nhân hoá là biện pháp miêu tả sinh động, hấp dẫn các sự vật, hiện tượng; thể hiện kín đáo tình cảm, cảm xúc và cách nói hình ảnh về sự vật, hiện tượng Nhân hoá trong bài văn miêu tả được dùng để miêu tả cảnh vật, đồ vật, con vật một cách sống động, có hồn Sử dụng biện pháp nhân hoá sẽ tăng thêm sự mềm mại, uyển chuyển, trữ tình trong diễn đạt.
Ví dụ: Ngày mai thôi, những bông phượng đỏ rực kia sẽ không còn
được khoe với các bạn học sinh cái màu sắc tươi rói của mình nữa.
e Sử dụng biện pháp ẩn dụ: Ẩn dụ là một phương tiện tu từ có tác dụng tạo ra những hình ảnh nghệ thuật, gợi nên những cảm xúc lạ lùng cho người đọc, người nghe bằng những cảm giác về một sự vật nào đó giống như cảm giác đang trước đối tượng miêu tả
Ví dụ: Chao ôi, trông con sông,vui như thấy nắng giòn tan sau kì mưa
dầm.
g Lựa chọn từ và thay thế từ: Mỗi chi tiết miêu tả, thường chỉ có một từ ngữ, một hình ảnh thích hợp , nên việc lựa chọn từ ngữ miêu tả cần phải dựa trên những cơ sở về nội dung cần biểu đạt, sự biểu hiện thái độ, tình cảm của người viết trước đối tượng cần miêu tả Đó là việc cần thể hiện chính xác nhất nội dung cần biểu đạt, thích hợp với việc biểu hịên thái độ, tình cảm của người viết, phù hợp hơn cả với các từ cùng có mặt trong ngôn bản
Ví dụ:Nếu viết:Đường làng em vào ngày mùa lúc nào cũng đông vui
nhộn nhịp Ta sẽ cảm thấy câu văn chưa có sức thuyết phuc người đọc, người
nghe Vì vậy cần lựa chọn các từ ngữ để thay thế sao cho câu văn trở nên sinh
động và hấp dẫn hơn
Ví dụ: "Ngày mùa đến, từ sáng sớm đến tối khuya, trên con đường làng
quen thuộc ấy, lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười nói vui vẻ của các cô, các bác
xã viên."
Như vậy với việc thay thế từ ngữ thích hợp ta đã đưa người đọc, người nghe đắm chìm trong cảnh ngày mùa thật đông vui, nhộn nhịp
3 Nâng cao năng lực viết câu bằng việc phân tích và chữa câu sai
Chữa câu sai có tác dụng tích cực đối với việc rèn kỹ năng viết câu đúng cho học sinh Theo lí thuyết hoạt động lời nói, giai đoạn cuối của hoạt động sản sinh lời nói là kiẻm tra kết quả Phát hiện, phân tích và chữa lỗi trong bài viết chính là kiểm tra kết quả của quá trình viết Việc làm này một mặt giúp học sinh loại bỏ lỗi viết câu trong bài làm của mình, hình thành kĩ năng viết đúng
ở các em; mặt khác , giúp giáo viên nắm được trình độ của học sinh, từ đó có biện pháp dạy học thích hợp
3.1 Cách chữa câu sai
Trang 6a Nguyên tắc chữa câu sai
Một câu sai thường có nhiều cách chữa, nhưng không phải các cách chữa đều tốt như nhau Yêu cầu của việc chữa câu sai là phải làm sao cho câu chữa có nội dung, cấu trúc gần với câu cũ và liên kết tốt với các câu hữu quan Điều đó
có nghĩa là không được tuỳ tiện thêm bớt từ ngư , đặc biệt là thực từ, bời vì việc làm này thường kéo theo sự thay đổi về nội dung, thậm chí cả về cấu tạo câu Cũng cần tránh thay đổi trật tự từ, bời lẽ việc làm đó có thể khiến cấu trúc câu thay đổi, và khiến câu không còn liên kết được với các câu khác Cần gợi
ý để học sinh chữa câu bằng nhiều cách, sau đó đưa từng câu mới hình thành vào ngữ cảnh và chọn cách chữa có nội dung, cấu trúc gần với câu ban đầu và liên kết chặt chẽ với các câu khác trong bài nhất
b Các bước phân tích lỗi, chữa câu sai
Để việc chữa câu đạt hiệu quả,nên tiến hành thao tác chữa câu theo các bước chủ yếu sau:
- Phát hiện và phân tích lỗi: Tìm các thành phần chính, phụ trog câu, xem câu có đúng cấu tạo hay không, phân tích xem nội dung câu có tường minhvà logíc không, có gắn với mục đích ói, phù hợp với tình huống giaotiếp hay không,
- Phỏng đoán nguyên nhân gây ra lỗi: Do nhầm lẫn các thành phần câu,
do không hiểu nghĩa của từ, do không nắm được cấu trúc câu, do đưa ra cách nối khẩu ngữ vào văn viết, do không dùng dấu câu hay dùng dấu câu không đúng quy tắc,
- Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lỗi để chữa câu sao cho bám sát nội dungvà cấu trúc câu cũ, đảm bảo liên kết với các câu khác trong bài, vừa tiết kiệm từ
3.2.Một số ví dụ về lỗi và cách chữa lỗi viết câu thường gặp trong bài viết của học sinh
Căn cứ vào cơ chế mắc lỗi và phạm vi lỗi trong lời nói, có thể chia lỗi viết câu trong bài viết của học sinh thành 2 loại: lỗi trong câu ( lỗi câu rời ) và lỗi ngoài câu ( lỗi trong văn bản)
Lỗi trong câu có thể được phát hiện và chữa khi câu đứng biệt lập Kiểu lỗi này biều hiện thành 2 dạng chủ yếu là lỗi về cấu tạo và lỗi về nội dung Một số lỗi về cấu tạo xuất hiện với tần số cao, có cùng cơ chế hình thành , do vậy có thể quy về những dạng tiêu biểu Trái lại lỗi về nội dung lại khá phức tạp và khó đưa về các dạng chung Theo kết qủa tìm hiểu của tôi, lỗi về nội dung thường đi kèm với lỗi khác, như lỗi về từ hoặc lỗi về cấu tạo câu, thậm chí còn là hệ quả của việc dùng từ sai hoặc viết câu không đúng cấu tạo Với
Trang 7những câu như vậy, việc chữa lỗi dùng từ hay lỗi về cấu tạo câu không đồng thời cùng giải quyết được các vấn đề về nội dung.
Lỗi ngoài câu là những lỗi chỉ có thể phân tích và chữa được một cách hiệu quả khi đặt câu trong ngữ cảnh hay tình huống nói năng Các lỗi này cũng khá đa dạng, tuy nhiên, có một số lỗi có tần số xuất hiện tương đối cao là sắp xếp câu không đúng trật tự, dùng từ liên kết không đúng, không dùng dấu câu hoặc dùng dấu câu không đúng chức năng
a Lỗi câu rời
Có hai kiểu lỗi câu rời là lỗi về cấu tạo và lỗi về nội dung Trong bài làm của các em, các lỗi về cấu tạo câu chiếm tỉ lệ tương đối cao và có thể quy
về một số dạng phổ biến Các câu sai thuần tuý về nội dung chiếm tỉ lệ thấp hơn Vì câu sai về nội dung rất đa dạng, khó quy về các dạng điển hình nên việc chữa các câu sai loại này không có hiệu quả" làm mẫu " rõ như chữa câu sai về cấu tạo
Từ những nhận xét trên đây, tôi cho rằng, khi hướng dẫn học sinh lớp 4-5 chữa câu sai, trước hết nên chú ý tới các câu sai về cấu tạo Bởi vì, chỉ cần chữa một số câu sai cấu tạo điển hình, học sinh có thể theo mẫu mà chữa được nhiều câu sai tương tự Mặt khác, do mối quan hệ đi đôi giữa cấu tạo và nội dung của câu, khi đã hiểu rõ cấu tạo câu, viết được câu đúng cấu tạo ngữ pháp, học sinh cũng hạn chế bớt những câu " có vấn đề " về nội dung trong bài viết của mình
Có 2 loại câu sai cấu tạo là câu thiếu thành phần và câu thừa thành phần
*Câu thiếu thành phần:
Ví dụ1: Trong bài làm làm văn phần kết bài của một học sinh lớp 5 đã
viết: " Qua những việc làm của mẹ cho em thấy mẹ là người giàu lòng nhân
hậu và hết lòng yêu thương con trẻ."
Câu trên rất điển hình cho dạng câu thiếu chủ ngữ do người viết nhầm trạng ngữ với chủ ngữ Muốn chữa câu này giáo viên yêu cầu các em xác định thành phần chính phụ của câu để phát hiện lỗi sai trong câu( thiếu chủ ngữ, chỉ
có trạng ngữ và vị ngữ ) Để câu có đủ thành phần cần bổ sung chủ ngữ, hoặc
"cải tạo" để câu đủ thành phần.Giáo viên có thể giúp học sinh đưa ra cách sửa như sau:
Cách 1: Tạo nòng cốt mới cho câu để có câu mới như sau: Qua những
việc làm của mẹ, em thấy mẹ là người giàu lòng nhân hậu và hết lòng yêu thương con trẻ.
Cách 2; Chuyển trạng ngữ thành chủ ngữ để có câu như sau: Những
việc làm của mẹ cho em thấy mẹ là người giàu lòng nhân hậu và hết lòng yêu thương con trẻ.
Trang 8Ví dụ 2: Trong bài văn tả người, một học sinh viết : " Mẹ em, người
bạn lớn mà vô cùng thân thiết với em."
Trường hợp này cái sai của người viết là mang lối nói không chuẩn mực của khẩu ngữ vào bút ngữ Đây là câu giới thiệu thuộc mẫu: " Ai là gì? " Cách chữa đơn giản nhát là thêm từ là vào trước "người bạn " để có câu đúng Cũng
có thể cho rằng nguyên nhân tạo ra c©u sai là do ngườiviết nhầm thành phần chú thích của chủ ngữ là vị ng÷ của câu theo cách phân tích này,câu trên chưa
có vị ngữ, và việc cần làm để có câu đúng là thêm cho câu trên một vị ngữ thích hợp.Có thể giúp học sinh sửa như sau:
Cách 1: Mẹ em là người bạn lớn mà vô cùng thân thiết với em.
Cách 2: Mẹ em, người bạn lớn mà vô cùng thân thiết với em, luôn chỉ
bảo cho em điều hay lẽ phải.
Như vậycó thể nói rằng muốn chữa câu thiếu thành phần, cần phải thêm thành phần " thiếu" cho câu ở đây, cần hiểu thao tác "thêm" theo nghĩa rộng:
có thể là bổ sung thành phần câu còn thiếu,hoặc cải biến một thành phần câu vốn giữ chức năng khác thành thành phần còn thiếu trong câu
* Câu thừa thành phần:
Không phổ biến bằng câu thiếu thành phần, song cũng không phải là hiếm trong bài viết của học sinh Nguyên nhân chủ yếu gây ra loại lỗi này cũng là do các em mang thói quen của lời nói miệng vào bài viết
b Lỗi câu trong văn bản
Câu sai trong văn bản là những câu để riêng lẻ thì hoàn toàn bình thường về cấu tạo cũng như về nội dung tuy nhiên, khi đặt trongbài, trong đoạn,chúng bộc lộ ' vấn đề"không ổn Với những câu như vậy,cần xem xét và chữa câu trong ngữ cảnh
* Lỗi về trật tự câu
Ví dụ: Trong bài văn tả một con vật mà em yêu thích, một học sinh viết:
" Con mèo nhà em nặng khoảng 1,5 kg Lông nó màu tro Em nhớ có một lần,
nó ra vườn chuối, thấy con chuột béo vàng Nó rón rén, co mình lại nấp vào gốc chuối Mắt nó nhìn con chuột rồi bất chợt lao vụt tới chỗ con chuột, trong giây lát, nó đã tóm gọn con chuột vào miệng.Đầu nó to bằng cái nắm đấm của
em Mắt nó tròn xoe, rất tinh nghịch."
Nếu đứng riêng lẻ mỗi câu trong đoạn văn trên đều đúng cấu tạo Tuy nhiên, khi xem xét cả đoạn, ta thấy có một số câu được sắp xếp theo thứ tự không hợp lí,lẽ ra phải nêu hết các chi tiết về hình dáng của con mèo rồi mới miêu tả hoạt động của nó, nhưng người viết đã miêu tả hoạ tđộng khi chưa tả xong hình thức Chính cách sắp xếp chi tiết như vậy đã phá vỡ mạch lạc của bài văn Với lỗi cụ thể này, giáo viên cần sử dụng câu hỏi gợi mở để học sinh
Trang 9tách riêng những chi tiết nói về hoạt động của con mèo, sau đó hướng dẫn các
em sắp xếp các chi tiết đó theo một trật tự thích hợp, kết quả đúng sẽ là: Con
mèo nhà em nặng khoảng 1,5 kg Lông nó màu tro Đầu nó to bằng cái nắm đấm của em Mắt nó tròn xoe, rất tinh nghịch Em nhớ có một lần, nó ra vườn chuối, thấy con chuột béo vàng Nó rón rén, co mình lại nấp vào gốc chuối Mắt nó nhìn con chuột rồi bất chợt lao vụt tới chỗ con chuột, trong giây lát,
nó đã tóm gọn con chuột vào miệng.
Như vậy, để hạn chế lỗi này, cần chú ý hướng dẫn học sinh biết cách quan sát, tìm ý, lựa chọnvà sắp xếp ý, lập dàn bài trước khi viết, bởi vì nguyên nhân sâu xa của lỗi này không thuộc về kỹ năng viết câu, mà thuộc về kĩ năng lập dàn ý
*Lỗi về từ liên kết
Khi viét văn, học sinh hay dùng sai từ liên kết, đặc biệt là từ xưng hô hoặc từ thay thế Chẳng hạn trong cùng một bài viết lúc xưng em, lúc lại xưng tôi hoặc mình; có khi thay cho một từ có nội dung số nhiều lại dùng đại từ số
ít và ngược lại
Ví dụ: Trong bài văn miêu tả khu vườn nhà em, một học sinh viết: " Có
không biết bao nhiêu là bướm trắng rủ nhau đến chơi ở vườn cải Nó hợp thành từng đàn, bay rập rờn trên cành hoa."
Trong đoạn văn trên học sinh đã sử dụng đại từ số ít để thay thế cho cụm từ có ý nghĩa số nhiều Cách sử dụng từ như vậy đã tạo ra logíc trong bài viết Với lỗi này cần giúp học sinh phát hiện ra từ thay thế và từ được thay thế không tương hợp để học sinh lựa chọn lại đại từ số nhiều thích hợp để thế vào
vị trí của từ nó
*Lỗi về dấu câu
Các lỗi về dấu câu bắt nguồn từ việc học sinh chưa thực sự hiểu đầy đủ
về vai trò, tác dụng của mỗi loại dấu câu Khi viết bài, có trường hợp học sinh không hề dùng dấu câu, cũng có trường hợp dùng dấu câu một cách tuỳ tiện Điều này làm cho lời nói của các em trở nên rói rắm về cấu tạo và mơ hồ về nội dung
- Không dùng dấu câu
Ví dụ:Xuân về cây cối trong vườn như có thêm sức sống mới cây nhãn
xanh tuơi mơn mởn bụi chuối đẻ thêm nhiều cây con cô hoa hồng khoe những bông hoa đỏ thắm chị cúc khoác trên mình chiếc váy vàng rực rỡ
Trong đoạn viết trên các mục đích miêu tả không hề được thể hiện, bởi
vì dấu câu hoàn toàn vắng mặt Chính điều này đoạn văn các em viết trở nên rối rắm về cấu trúc và tối tăm về lôgíc Với lỗi này cần hướng dẫn các em xác định danh giới các ý, sau đó sử dụng dấu câu thích hợp để ngăn cách các ý
Trang 10- Dùng dấu câu không đúng chức năng: tức là dùng dấu chấm vào chỗ của dấu phẩy tạo ra câu chỉ có thành phần phụ và không có nòng cốt.
Ví dụ: Để đứng vững trước gió mưa Cây bàng có những chùm rễ to
khoẻ cắm sâu vào lòng đất.
Với lỗi này giáo viên cần gợi ý để các em thấy quan hệ giữa câu sai và câu đúng ngay sau đó: Câu sai nêu mục đích của sự việc đựơc nói đến của câu đứng sau, từ đó các em sẽ phát hiện ra câu sai chính là thành phần trạng ngữ của câu đứng sau và dấu câu ở đây phải là dấu phẩy.Câu mới là một câu đơn
có trạng ngữ: Để đứng vững trước gió mưa, cây bàng có những chùm rễ to
khoẻ cắm sâu vào lòng đất.
4.Rèn luyện kỹ năng viết văn trên cơ sở quy trình sản sinh ngôn ngữ
Sau khi HS đã có kiến thức, có vốn từ ngữ GV tiến hành rèn cho HS kỹ năng viết văn
4.1.Giúp HS nắm chắc quy trình sản sinh ngôn bản
Khi tạo lập một văn bản văn miêu tả cần qua các bước sau:
- Định hướng văn bản ( Nhận diện văn bản miêu tả; phân tích đề văn miêu tả)
-Tìm ý và lập dàn ý( xác định dàn ý của bài văn miêu tả đã cho; quan sát đối tượng;tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả)
- Diễn đạt thành văn bản (Xây dựng đoạn văn miêu tả; liên kết các đoạn văn thành bài văn miêu tả)
- Kiểm tra, sửa chữa văn bản( đối chiếu văn bản miêu tả nói, viết của bản thânvới mục đích và yêu cầu diễn đạt; sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt)
4.2.Rèn luyện tạo mở bài gián tiếp và kết bài mở rộng
ở lớp 4 HS đã được làm quen với dạng mở bài gián tiếp và kết bài mở rộng.Dạng này nếu HS biết viết thì sẽ rất hay ,có khả năng lôi cuốn người đọc Vì vậy GV nên khuyến khích HS viết mở bài ,kết bài theo dạng này Muốn vậy GV cần hướng dẫn HS làm quen dần với dạng này bằng phương pháp rèn luyện theo mẫu trong phần Tập làm văn miêu tả bằng cách :
+GV giới thiệu một bài văn miêu tả có mở bài gián tiếp hoặc kết bài
mở rộng
+Phân tích mẫu
- GV dùng câu hỏi : Đoạn nào là đoạn mở bài hoặc kết thúc bài văn để
HS nhận biết đoạn mở bài gián tiếp hoặc kết bài mở rộng