Năm 1990 nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người Tổ chức giáo dục,khoa học và vănhố Liên hợp quốc UNESCO đã suy tơn Người là “Anh hùng giải phĩng dân tộc,nhà văn hốlớn” - Sự nghiệp: Sin
Trang 1GIÚP ÔN THI TỐT NGHIỆP VÀ ĐẠI
HỌC NĂM 2008.
MÔN VĂN 12.
PHẦN I: TÁC GIA VĂN HỌC VIỆT NAM.
Câu hỏi:1 Trình bày những nét chính về cuộc đời,sự nghiệp sáng tác văn chương của
Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh
2 Quan điểm sáng tác văn học của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.( Tại sao sinhthời Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh khơng cĩ ý định chọn văn chương làm sự nghiệp chính nhưngNgười đã để lại một số lượng sáng tác đồ sộ-hãy giải thích)
3 Nét chính về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh
Định hướng trả lời:
Câu 1: Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là danh nhân văn hố,nhà chính trị,nhà hoạt động
cách mạng lỗi lạc đồng thời cũng là nhà báo,nhà văn nhà thơ lớn cĩ vị trí đặc biệt quan trọng tronglịch sử văn học dân tộc
- Tiểu sử: Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890 tại Nam Đàn –Nghệ An
,trong một gia đình giàu truyền thống khoa bảng,một làng quê cĩ nhiều truyền thống vănhố,truyền thống yêu nước lâu đời.Lớn lên là lúc đất nước ta nằm trong vịng tay nơ lệ của Thựcdân Pháp,nhiều cuộc đấu tranh nổ ra nhưng đều thất bại.1911 Người ra đi tìm đường cứu nước, saunhiều năm đi nhiều nước trên thế giới của các châu lục Á,Phi,Mỹ La Tinh Nguyễn Ái Quốc-HồChí Minh đã tìm ra được con đường để giải phĩng dân tộc.1930 Người thành lập Đảng cộng sảnViệt nam.1945 Người đọc Bản Tuyên ngơn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hồ
Từ đĩ về sau Người luơn cống hiến hết mình cho Đảng ta,nhà nước ta
Năm 1990 nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Người Tổ chức giáo dục,khoa học và vănhố Liên hợp quốc (UNESCO) đã suy tơn Người là “Anh hùng giải phĩng dân tộc,nhà văn hốlớn”
- Sự nghiệp: Sinh thời Hồ Chí Minh khơng xem văn chương là sự nghiệp chính của mình
mà xác định văn chương là vũ khí sắc bén cho nhà cách mạng nên Người đã để lại một sự nghiệpvăn học đồ sộ,phong phú,đa dạng về thể loại,đặc sắc về phong cách sáng tạo, được viết bằng nhiềuthứ tiếng khác nhau trên ba lĩnh vực chủ yếu:
- Văn chính luận: Mục đích sáng tác để hoạt động cách mạng ,đấu tranh chống lại kẻ thù
qua từng chặng đường lịch sử khác nhau Từ những nănm 20 của thế kỉ XX các tác phẩm chínhluận với bút danh Ngyễn Ái Quốc đăng trên báo “Người cùng khổ”,”Nhân đạo”,”Đời sống thợthuyền” đã ảnh hưởng lớn đến cơng chúng Pháp và các nước thuộc địa.Tiêu biểu là tác phẩm “ Bản
án chế độ thực dân Pháp”
“Tuyên ngơn Độc lập” là văn kiện cĩ giá trị lịch sử lớn lao phản ánh khát vọng Độc lập,Tự
do của dân tộc “Tuyên ngơn Độc lập” cĩ giá trị pháp lí,giá trị lịch sử ,giá trị nhân đạo,giá trị nghệthuật cao nhằm đề cao Chân-Thiện-Mỹ của con người.Đây là áng văn chính luận hay cĩ cấu trúcchặt chẽ,lí lẽ sắc bén,ngơn từ chính xác…
“Lời kêu gọi tồn quốc kháng chiến”là áng văn chính luận hào hùng tha thiết làm rungđộng hàng triệu trái tim yêu nước “Di chúc” là lời căn dặn thiết tha chân tình đối với đồngchí,đồng bào vừa mang tính chiến lược trong sự phát triển của đất nước thấm đậm chủ nghĩa nhânđạo,nhân văn cao cả
Trang 2- Truyện và kí: Truyện ngắn của Hồ Chí Minh thường ngắn gọn ,cốt truyện sáng tạo,kết
cấu độc đáo Mỗi truyện đều có một tư tưởng riêng hấp dẫn ,ý tưởng thâm thuý ,giàu chất trítuệ.Tiêu biểu: “Pari”, “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”, “Con rồng tre”, “Vi hành”, “Những trò lốhay là Va ren và Phan Bội Châu””…
Ngoài ra Hồ Chí Minh còn có những tác phẩm kí đặc sắc: “Nhật kí chìm tàu”, “Vừa điđường vừa kể chuyện”…
- Thơ ca: Đây là lĩnh vực nổi bật nhất có giá trị sáng tạo của Hồ Chí Minh.Thơ ca của Hồ
Chí Minh có nhiều đóng góp lớn cho nền Văn học Việt Nam hiện đại “Nhật kí trong tù” –tập thơviết bằng chữ Hán (gồm 133bài) thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ cách mạng, tâm hồncủa con người “đại trí,đại nhân,đại dũng” Tập thơ kết hợp lối viết vừa cổ điển,vừa hiện đại,vừthép vừa tình…Thơ Hồ Chí Minh(86 bài) Thơ chữ Hán Hố Chí Minh(36 bài) đã tạo nên sự thànhcông trong sáng tác của Người
Câu 2: Quan điểm sáng tác văn học của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh sinh thời không có ý định xây dựng cho mình một sự nghiệp văn chương vàNgười không bao giờ thừa nhận mình là nhà văn nhà thơ hay người nghệ sĩ Nhưng do tài năngnghệ thuật cũng như nhiệm vụ cách mạng yêu cầu Người đã sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị.Nóiđến quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh người đọc sẽ thấy được sự đa dạng và thống nhất
1.Văn học phục vụ cho sự nghiệp cách mạng: Hồ Chí Minh đã từng nói: “Cái bút là vũ khísắc bén,bài báo là tờ hịch cách mạng”.Là nhà cách mạng vĩ đại rất yêu văn nghệ Hồ Chí Minh xemvăn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng Người
đã xác định rõ vai trò to lớn của người nghẹ sĩ trong đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển xãhội.Tinh thần đó được thể hiện rõ trong bài “cảm tưởng đọc thiên gia thi”:
“Nay ở trong thơ nên có thépNhà thơ cũng phải biết xung phong”
Chất thép chính là xu hướng cách mạng tiến bộ,là vũ khí sắc bén chống lại quân thù theoquan niệm của Người nhà văn nhà thơ đòng thời là chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh
2 Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến đối tượng thưởng thức và tiếp nhận văn chương.Mỗisáng tác của Người bao giờ cũng nhằm một mục tiêu cụ thể Người xác định rõ: Viết cho ai(đốitượng),viết để làm gì(mục đích),viết cái gì(nội dung),viết như thế nào(hình thức).Bởi vậy ta khônglấy làm ngạc nhiên khi sáng tác của Hồ Chí Minh đa dạng:lúc làm văn,lúc làm thơ ,lúc viết tiếngHán,lúc viết tiếng Pháp,lúc tiếng Việt…ngòi bút mang đậm màu sắc cổ điển nhưng rất hiện đại
3 Hồ Chí Minh luôn chú trọng đến tính chân thật của văn chương.Theo quan niệm củaNgười “văn chương phải miêu tả cho hay,cho chân thật,cho hùng hồn” Tác phẩm phải phản ánhđược những đề tài mang tính hiện thực cao,ca ngợi những tấm gương “người tốt việc tốt,người thậtviệc thật”đồng thời phê phán nhũng thói hư tật xấu.Nhà văn luôn chú ý đến hình thức biểu hiệntrách lối viết cầu kì xa lạ bệnh hình thức.văn chương luôn phát hu và giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt.Quan điểm nghệ thuật trong sáng tác của Hồ Chí Minh “thể hiện chân thật,tâm hồntrong sáng,lối sống cao đẹp của người Việt Nam đẹp nhất,vĩ đại nhất”(Lê Duẩn)
Câu 3: Nét chính về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh.
Tác phẩm của Hồ Chí Minh Có phong cách đa dạng mà thống nhất kết hợp sâu sắc giữachính trị và văn chương,giữa tư tưởng và nghệ thuật,giữa truyền thống và hiện đại.Mỗi loại hìnhvăn học đều có phong cách riêng ,độc đáo, hấp dẫn và có giá trị bền vững.Hồ Chí Minh là ngườiđầu tiên sử dung sáng tạo thành công thể văn chính luận hiện đại
- Văn chính luận của Hồ Chí Minh bộc lộ tư duy sắc sảo,giàu tri thức văn hoá ,gắn liềngiữa lí luận và thực tiễn mang tính chiến đấu cao Các tác phẩm đều có lập luận chặt chẽ ,lời lẽ
Trang 3hùng hồn giàu sức thuyết phục.(Ví dụ: Tuyên ngôn Độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến,Dichúc…
- Truyện và kí của Hồ Chí Minh được viết với ngòi bút rất chủ động vàsáng tạo,lối kể chân thực tạo không khí gần gũi ,có khi là giọng điệu sắc sảothâm thuý và tinh tế.Cốt truyện đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâuxa.Chính Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho nền văn xuôi cáh mạng
- Thơ ca của Hồ Chí Minh có phong cách đa dạng ;nhiều bài cổ thi hàmsúc uyên thâm,đạt chuẩn mực cao về nghệ thuật ; những bài thơ hiện đại đượcNgười vận dụng nhiều thể thơ phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng
(Lưu ý :Học sinh vận dung cả ba câu trả lời để làm câu này có hiệu quả hơn)
Câu hỏi: 1 Trình bày sự nghiệp sáng tác thơ của nhà thơ Tố Hữu.( Hoặc con đường thơ
của nhà thơ Tố Hữu;hoặc nội dung các tập thơ của nhà thơ Tố Hữu)
2 Trình bày phong cách nghệ thuậ của nhà thơ Tố Hữu
Định hướng trả lời:
1 Tố Hữu(1920-2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành ,sinh tại Huế trong một giađình nhà nho nghèo Bố là người thích sưu tầm ca dao tục ngữ ,mẹ thuộc rất nhiều làn điệu dân camiền Trung và rất giàu tình thương con Sớm có ảnh hưởng lớn từ quê hương ,gia đình đã tạo cho
Tố Hữu một phong cách thơ dạt dào cảm xúc,hơn nữa nhà thơ được kết nạp vào Đảng rất sớm (khimới 18 tuổi)và suốt một đời phấn đấu cho lí tưởng cách mạng nên Tố Hữu được xem là “con chimđầu đàn cho dòng văn học cách mạng”.Con đường đến với thơ của Tố Hữu gắn liền với sự nghiệpcách mạng.Các chặng đường phát triển của lịch sử dân tộc gắn liền với tư tưởng và nghệ thuậttrong thơ Tố Hữu
a “Từ ấy”( 1937-1946) : Đây là mười năm hoạt động sôi nổi,say mê từ giác ngộ qua thử
thách đến trưởng thành của người thanh niên cách mạng trong một giai đoạn lịch sử đầy biếnđộng.Từ ấy gồm ba phần:
- “Máu lửa” :là tiếng reo vui náo nức của một tâm hồn trẻ đang “băn khoăn tìm kiếm lẻ yêu
đời”.Nhà thơ đứng về phía nhân dân lao động,ca ngợi vẻ đẹp của họ,kêu gọi họ đấu tranh chông sự
áp bức Giọng thơ thiết tha,chân thành,lãng mạn trong trẻo…
- “ Xiềng xích” :ghi lại quá trình đấu tranh của người chiến sĩ cách mạng trong nhà tù thực
dân.Đồng thời, thể hiện sự trưởng thành vững vàng của người thanh niên cộng sản qua nhữngchặng đường thử thách gian lao…
- “Giải phóng” : thể hiện niềm vui khi giành độc lập,cảm hứng lãng mạn dâng trào trước sự
đổi đời của dân tộc…
b “Việt Bắc” (1947-1954): chặng đường thơ của Tố Hữu trong cuộc kháng chiến chống
Pháp,thơ hướng vào quần chúng kháng chiến với một nghệ thuật thơ giàu tính dân tộc và đạichúng.Hình ảnh anh vệ quốc quân,chú bộ đội,người công nhân,bà mẹ Việt Bắc,cháu bé Lượm,BácHồ dã được tác giả thể hiện rất thành công
-“Việt Bắc” là bản hùng ca của cuộc kháng chiến chống Pháp,phản ánh những chặng
đường gian lao và anh dũng của dân tộc “Việt Bắc” là một trong những tác phẩm xuất sắc của vănhọc kháng chiến chống Pháp
c “Gió lộng” (1955-1961) : Thể hiện niềm vui,niềm tự hào tin tưởng ở công cuộc xây
dựng CNXH ở miền Bắc,tình cảm với miền Nam và ý chí thống nhất tổ quốc,tinh thần đoàn kếtquốc tế…
Trang 4“Gió lộng” thể hiện rõ khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn dồng thời thể hiện rõ
cái tôi trữ tình già dặn,sâu sắc hơn.(Ví dụ: Bài ca xuân 1961,Mẹ Tơm )
d “Ra trận”(1962-1971), “Máu và hoa”(1972-1977):là chặng đường thơ Tố Hữu trong
những năm kháng chiến chống Mĩ quyết liệt và hào hùng của dân tộc cho đến ngày toàn thắng Làkhúc ca ra trận,mệnh lệnh tiến công,đồng thời cũng là lời kêu gọi,cổ vũ cả dân tộc chiến đấu.Nhiềubài thể hiện thành cong hình ảnh Hồ Chí Minh (Ví dụ: Bác ơi,Nước non ngàn dặm,Máu và hoa…)
e “Một tiếng đờn”(1992); “Ta với ta”( 1996): khuynh hướng trữ tình chính trị với sự nhạy
cảm về vấn đề thời sự đã làm cho giọng thơ trầm lắng đậm chất suy tư…
2 Phong cách nghệ thuật của nhà thơ Tố Hữu:
Tố Hữu là con chim đầu đàn cho dòng văn học cách mạng,thơ của ông luôn gắn với cácchặng đường phát triển của lịch sử dân tộc.Phong cách nghệ thuật trong thơ Tố Hữu đa dạngnhưng rất thống nhất
a Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản ,thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng trữ
tình chính trị: Tố Hữu là một thi sĩ đồng thời cũng là một chiến sĩ,ông sáng tác thơ nhằm phục vụcho sự nghiệp cách mạng,cho lí tưởng của Đảng Thơ ông là tiếng gọi đấu tranh ,là bài ca về tìnhcảm lớn,lẽ sống lớn ,niềm vui lớn của dân tộc Việt Nam hơn nửa thế kỉ qua Mọi sự kiện ,vấn đềlớn của đời sống cách mạng ,lí tưởng chính trị,những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạycảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài,cảm hứng nghệ thuật thực sự “Tố Hữu đã đưa thơchính trị lên đến trình độ là thơ rất đỗi trữ tình”(Xuân Diệu).(Ví dụ: Từ ấy, Việt Bắc, Bác ơi…)
b Thơ Tố Hữu gắn liền với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn: Cái tôi trong thơ
Tố Hữu là cái tôi nhân danh cộng đồng, nhân danh Đảng và dân tộc Nhân vật trữ tình trong thơ TốHữu là con người thể hiện tập trung ở phẩm chất giai cấp ,dân tộc mang tầm vóc l;ịch sử,tầm vócthời đại.Cảm hứng trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn đó là niềm vui của đất nước của lịch
sử (Ví dụ: Gió lộng,Ra trận,Chào xuân 67,68…)
c Thơ Tố Hữu có giọng điệu tâm tình,ngọt ngào tha thiết: Thừa hưởng truyền thống quê
hương ,xứ Huế êm đềm thơ mộng nơi có những làn điệu dân ca ngọt ngào say đắm lòng người,nơi
có nhạc cung đình…Đồng thời thừa hưởng lòng say mê thơ ca của cha và các câu ca dao tục ngữ,câu hát của mẹ Xuất phát từ quan niệm “thơ là chuyện đồng điệu ,là tiéng nói đồng ý,đồngtình,đồng chí…”.Thơ Tố Hữu có giọng điệu rất riêng dễ gần với mọi người
d Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc : Xuất phát từ quan niệm sáng tác :thơ gắn liền với
nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng vì vậy phải vận dụng thành công các thể thơ truyền thống củadân tộc Tố Hữu đã sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ dân tộc như lục bát,song thất lục bát,bốnchữ,năm chữ,bảy chữ và luôn sáng tạo làm phong phú thêm thể loại thơ này.Thơ Tố Hữu trở nên
dễ thuộc,dễ nhớ và rất thân quen với tâm hồn người Việt.Các biện pháp tu từ,các lối so sánh,cácphép chuyển nghĩa được nhà thơ vận dụng biến chuyển linh hoạt.Thơ Tố Hữu rấ giàu nhạc điệu,donhà thơ biết phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt.(Ví dụ: Mẹ Tôm,Hoan hô chiến sĩĐiện Biên…)
Bài 3: TÁC GIA NGUYỄN TUÂN
Câu hỏi: 1.Trình bày những nét chính về con người của nhà văn Nguyễn Tuân( Hoặc đặc điểm về
con người của Nguyễn Tuân )
2.Phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Tuân.(Bao gồm cả Sự nghiệp sáng tác)
PHẦN II NHẬT KÍ TRONG TÙ(HỒ CHÍ MINH) Câu hỏi : 1 Trình bày nét chính về :hoàn cảnh sáng tác,nội dung và nghệ thuật tập “Nhật kí trong
tù”của Hồ Chí Minh
Trang 52 Thiên nhiên trong tập “Nhật kí trong tù”.
3 Giá trị nhân đạo trong tập “Nhật kí trong tù”
4 Phân tích hoặc bình giảng các bài thơ: Chiều tối(Mộ),Giải đi sớm(Tảo giải),Mới ra tù tậpleo núi(Tân xuất ngục học đăng sơn)
* Phân tích,bình giảng bài “Chiều tối”
Gợi ý:
Mở bài(HS tự làm)
HCM - một người luôn yêu đời, say mê cuộc sống, luôn nhạy cảm với thời gian “Chiềutối” xuất phát từ cảnh thời gian buổi chiều, qua hình ảnh cánh chim trở về chốn ngủ, chòmmây đang lẽ loi trôi giữa bầu trời Trên chặng đường đày ải mệt mỏi, gian lao vậy mà hồn thơvẫn rộng mở bức tranh thiên nhiên vẫn được vẽ nên bằng thơ:
“Quyện … trên không”
(Chim mỏi … tầng không)Câu thơ giống như bức tranh tuyệt tác được vẽ theo lối cổ điển, trên tấm lụa bằng ngôntừ, lời thơ uyên bác, bức tranh ấy làm cho độc giả liên tưởng đến thi ca cổ điển:
“ Chủng điểu cao phi tận Cô vân độc khứ nhàn”
(Lý Bạch)
“Chim hôm thoi thót về rừng”
(Nguyễn Du)
“Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” (Thanh Quan)
Ở đây cánh chim bay không phải trong trạng thái bình thường mà bay chầm chậm, baymãi miết tới nơi rừng xanh quen thuộc Với lối chấm phá theo bút pháp tượng trưng: tả ít gợinhiều, lấy động tả tỉnh, lấy cái nhỏ bé để diễn tả cái bát ngát mênh mông Cánh chim, ángmây chiều thể hiện nỗi cô đơn mệt mỏi gợi ta liên tưởng đến số phận con người Các từ
“quyện”, “cô” “mạn mạn” như tô điểm cho cảnh vật thêm buồn vắng và quạnh hiu Sự sốngđang chùng lại trước vũ trụ Cánh chim mệt mỏi, chòm mây trôi lửng lơ cũng giống như nhàthơ mệt mỏi bước trên đường đày không biết đâu là chỗ đứng chân qua đêm
Trong cảnh giải đi: “Năm mươi ba cây số mỗi ngày”, người tù mệt mỏi, tâm hồn và tâmtrạng đồng điệu với thiên nhiên, quay về với thiên nhiên Cánh chim, chòn mây mang nặngtâm hồn thi sĩ: Bầu trời có chim, có mây nhưng lẻ loi đơn chiếc Cảnh buồn, người buồn nhưngtrong nỗi buồn đó ẩn chứa một khát vọng tự do như cánh chim bay trên bầu trời cao rộng.Hai câu sau cũng nói lên sự vận động tuần hoàn của thời gian, bóng tối dần dần chuyểngiao, nhường chỗ cho ánh sáng để rồi ánh hồng vút lên
“ Sơn thôn … hồng”
Trang 6(Cô em … rực hồng)Bức tranh thiên nhiên, cánh chim, mây trời giờ đây đã nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạtấm áp, gần gũi, quen thuộc trên mặt đất, với hình ảnh một xóm núi cô gái trong công việc laođộng bên bếp lửa gia đình mình Câu thơ dịch sát nghĩa nhưng không thể hiện được ý tứ tinh vi,không thể hiện được cái hồn các nguyên tắc Chữ tối thừa ra làm cho thời gian đột ngột chuyểnmạnh, cảnh vật chuyển nhanh làm mất đi cái biên độ nhập nhòa giữa sáng, tối, giữa sự sống vàcõi u tịch Trong nguyên tác cấu trúc liên hoàn “ma bao túc - bao túc ma”đã kéo dài cái biênđộ ấy làm thành giai đoạn chờ đợi, lo âu để rồi “ánh hồng” rực rỡ xóa tan đi mọi bóng đêm Hình ảnh cô em xóm núi xay ngô miệt mài nơi rừng vắng đã đập vào nhãn tuyến người tùlúc mệt mỏi cô đơn làm cho cảm xúc trào dâng thành những vần thơ tuyệt mỹ Chất liệu bàithơ giờ đây đã đổi thay màu sắc cổ điển Phong vị đường thi được thay thế bằng cái nhìn hiệnđại Thông thường phải là bếp lạnh lò tăn biểu trưng cho sự cô đơn, lẻ loi, buồn vắng mới phùhợp với hoạt cảnh người tù, với thiên nhiên ở trên Nhưng ở đây tác giả đặt vào một ánh hồnglàm thay đổi gam màu cổ điển, biến bài thơ có thêm sức sống mới Khi bóng tối ngày tànbuông xuống nhưng không gian không hề tăm tối, con người đã thắp lên ngọn lửa, đã tạo nênánh sáng để sưởi ấm thiên nhiên, sưởi ấm cõi lòng Trong cảnh ngộ nỗi buồn của riêng mìnhBác vẫn tìm đến niềm vui Niềm vui ấy xuất phát từ lao động Đó là tình yêu, là sự sống hướngđến ánh sáng tương lai, đến hơi ấm tình người.
Bài thơ kết thúc là một niềm tin bất diệt vào cuộc sống, niềm lạc quan hướng tới cuộcđời tự do, bình dị, một hạnh phúc gia đình đoàn tụ của “ánh hồng” ấy chính là chất thép - là ýchí - là ngọn lửa thắp sáng trái tim người chiến sĩ - nghệ sĩ, vượt lên tất cả mọi hoàn cảnh khókhăn
”Chiều tối” cũng như nhiều bài thơ khác trong tập NKTT luôn mượn hình ảnh “mây, gió,trăng, hoa tuyết nói sông” trong phong cách đường thi để nói đến tâm hồn con người Toát lêntoàn bộ bài thơ là tấm lòng rộng mở “nâng niu tất cả chỉ quên mình” hướng đến ánh sángtương lai Bài thơ như hiện lên bức chân dung một con người “đại trí,đại nhân, đại dũng” đúngnhà thơ Hoàng Trung Thông ca ngợi:
“Ngục tối trái tim càng cháy lửaGông xiềng không khoá nỗi lời ca”
• Phân tích, bình giảng bài Giải di sớm:
Gợi ý:
GIẢI ĐI SỚM
Tảo Giải Giải đi sớm được ghi lại một lần trong 18 lần chuyển lao vô cùng gian khổ mà Bác phảinếm trải Qua đó,ta thấy hình ảnh tuyệt đẹp mang cốt cách thi nhân - chiến sĩ của người tù
Trang 7Hai câu đầu là thời điểm cuộc chuyển lao diễn ra nửa đêm về sáng.
“Nhất khứ … thu san”
(Gà gáy … lên ngàn)Dùng tiếng gà gáy để chỉ thời điểm lên đường,trong suốt “mười bốn trăng tê tái gôngcùm” ấy thấy biết bao lần HCM bị “Giải đi sớm” Đã bao lần Người phải chịu đau khổ về vậtchất lẫn tinh thần.Nhưng lạ lùng thay sau những lần như vậy tư thế hiên ngang, cốt cách củacon người vĩ đại vẫn được hiện lên Câu thơ chưa xuất hiện hình ảnh người tù mà đó là hìnhảnh thiên nhiên,cuộc sống quen thuộc Tiếng gà gáy như có ý nghĩa báo hiệu một ngày mới,báo hiệu sự sinh sôi nảy nở Tiếng gà gáy một lần, đêm chuyển canh trời chưa sáng Tiếng gàgáy, cái âm thanh quen thuộc ấy lại vang lên nơi đất khách quê người, gợi trong lòng người tùbao nỗi niềm thương cảm nhớ nhung Trăng, sao ở đây được nhân hóa: Chòm sao đã ôm ấpnâng vầng trăng lên đỉnh núi thu Một nét vẻ tạo hình trong trạng thái động của thiên nhiênlàm cho cảnh trăng sao càng trở nên hữu tình Trong khổ ải người tù không cảm thấy cô đơnmà thả hồn ra bầu trời mênh mông hướng về núi thu,để tận hưởng vẻ đẹp của vũ trụ Trongnguyên tác từ “quần” là “bầy” gợi ta ấn tượng đông vui hơn chữ “chòm” trong bản dịch.Từ
“ủng” không hẳn là đưa mà con có nghĩa “ôm ấp”… Tất cả như gợi lên một cảm giác khônggian vừa cao rộng, vừa yên tỉnh hoạt động Câu thơ như hiện lên một tư thế ,tầm nhìn của thisĩ: Nhìn cao vời vợi, tư thế lạc quan, ung dung tự tại Trăng sao là bạn đồng hành của người đitrên chặng đường gian khổ Một nét chấm phá theo lối cổ điển: lấy động tả tỉnh, lấy ngoạicảnh để tả tâm cảnh
Phải có một tình yêu đời tha thiết, một bản lĩnh phi thường, một hồn thơ dạt dào tình yêuthiên nhiên, người tù mới làm chủ được hoàn cảnh để cảm thụ vẽ đẹp thiên nhiên một cách tự
do “Một nét vẽ, một câu thơ đầy ánh sáng trong một cuộc đời đầy tối tăm và cayđắng”(Nguyễn Đăng Mạnh)
Hai câu sau là hình ảnh “chinh nhân” bất chấp hoàn cảnh hướng về ánh sáng mà đi tới
Chinh nhân……….trận trận hàn(Người đi ……….gió bàn)Đêm khuya gió lạnh đến thấu xương Cái giá lạnh của trời Bắc trong đêm thu như len tận
da thịt Thế mà ở đây gió cứ từng trận từng trận lạnh (trận trận hàn) Điệp từ “trận trận” nhưnhấn mạnh cảm giác nặng nề bởi từng đợt gió liên tiếp đang quất vào mặt Lẽ thường tình conngười phải sợ phải run trước làn gió ghê người ấy Nhưng ở đây HCM lại khác,với vai trò làmột tù nhân, thế mà tác giả đã gọi bằng những cách gọi trang trọng: “chinh nhân” “chinh đồ”.Rõ ràng là đang phủ nhận hoàn cảnh thực tại khẳng định tư thế tự do đường đường chính chínhtrên con đường lớn Chữ “nghiêng diện” càng tô đậm tư thế hiên ngang bất khuất của chinhnhân trên con đường đi Hai chữ “trận” trong hình ảnh “trận trận hàn” cũng làm nổi bật tư thếhiên ngang của người tù chiến sĩ Giọng điệu bài thơ đối lập với hoàn cảnh không phải tiếngkhóc đi đày mà đó là khúc ca hoành tráng của con người trên con đường hướng đến tự do.Với bốn câu thơ tác giả như vẽ ra trước mắt độc giả một bức tranh thiên nhiên Bức tranhấy có trăng sao, có tiết trơiø, có con người Ngôn ngữ giản dị súc tích không phô trương màu mè.Âm hưởng bài thơ tươi sáng lạc quan hào hùng phóng khoáng Tứ thơ như vượt lên hoàn cảnhhướng tới bầu trời tự do bằng một hồn thơ mang đậm cốt cách Đường thi: tả ít gợi nhiều, lấy
Trang 8không gian để miêu tả thời gian, dùng cái tỉnh lặng để nói chuyện động, nói bóng tối mà gợi raánh sáng… Câu thơ như giúp người đọc suy nghĩ bao điều.
II Phần 2 bài thơ tứ thơ thay đổi,thời gian thay đổi làm cho lòng người cũng thay đổi theotối của màn đêm đã nhường chỗ cho ánh sáng ,ngày mới lại bắt đầu:
“Đông phương … nhất không”
(Phương Đông… sạch không)Cảnh vật, màu sắc không chỉ đã chuyển đổi nhanh chóng Từ cảnh đêm tối, tiếng gà gáynhư loãng vào cái không gian giá lạnh, bầu trời chuyển sang màu hồng Tất cả bóng tối đượcxua tan, một đêm thu lạnh lẽo thực sự trôi qua Sau này trong bài thơ “Đi thuyền trên sôngĐáy” Bác viết:
“Thuyền về trời đã rạng đôngBao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi”
Ở đây một cảnh đẹp cũng là một niềm vui được mở ra Niềm vui của con người trên conđường đi tìm chân lý, từ bóng tối chuyển dần lên ánh sáng trong tư thế lạc quan ung dung tự tạicủa nhà thơ - người chiến sĩ vĩ đại
Hai câu cuối toát lên phong thái một cốt cách thi nhân rất đẹp:
“ Noãn khí … gia nồng”
( Hơi ấm … thêm nồng)Còn nói gì thêm về nét đẹp con người, trong câu thơ ấy? “chinh nhân” giờ đây đã trởthành “hành nhân” thư thái ung dung trên con đường rộng của mình Trước cảnh vật của vũ trụbao la, một không khí ấm áp Người như quên đi tất cả mọi đau khổ, tấm lòng ấm lên, vui lêncùng cảnh vật Cảm hứng thi sĩ tuôn trào trong hơi ấm nồng nàn của vũ trụ Hơi ấm ấy nhưtiếng reo vui sảng khoái
Bất cứ ai khi ngồi ngắm cảnh buổi sáng có ánh nắng, có hơi ấm là chuyện thường nhậthàng ngày Nhưng đặt vào trong hoàn cảnh tác giả: bị lao tù đau khổ, đói rét … thì thật là thú
vị Trong cô đơn ,trong cái lạnh giá của thiên nhiên, hơi ấm lòng người hiện lên,cảm xúc thìnhững dạt dào Bài thơ kết thúc không phải là một hình ảnh người tù mà đó là một thi sĩ đangsảng khoái trước sự biến đổi đẹp đẻ của thiên nhiên,đang nồng nàn cảm hứng thơ Cái hứng ởđây không phải khởi sinh từ màu hồng của thiên nhiên mà nó có từ lúc đêm khuya giá lạnh.Lúc chuyển lao vất vả một cảm hứng lãng mạn được toát lên Phải chăng đây là những vần thơthép, ý chí đấu tranh, tinh thần vượt lên tất cả của người chiến sĩ vĩ đại HCM Bài thơ ngời lênphong thái ung dung, tâm hồn thi sĩ lạc quan của con người “Vật chất tuy đau khổ, không naonúng tinh thần”
Giải đi sớm là một bài thơ đặc sắc mang phong vị Đường thi quen thuộc với hình ảnh
“mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi sông” Nhưng rất hiện đại trong hình ảnh tù nhân - khách tiêntrên con đường xa ung dung, lạc quan và yêu đời trên bước hành trình từ bóng tối đi đến tươnglai ánh sáng Bài thơ giúp ta khám phá ra được vẻ đẹp tâm hồn của: người tù - thi sĩ - chiến sĩHCM,đúng như lời của nhà thơ Tố Hữu:
“Mười bốn trăng tê tái gông cùm
Trang 9Ôi thân yếu mắt mờ tóc bạcMà thơ bay … cánh lạc ung dung”
(Tố Hữu)
• Phân tích ,bình giảng bài thơ “Mới ra tù tập leo núi”:
Gợi ý:
MỚI RA TÙ TẬP LEO NÚI
(TÂN XUẤT NGỤC HỌC ĐĂNG SƠN)
“Mười bốn trăng tê tái gông cùmÔi thân yếu mắt mờ tóc bạcMà thơ bay … cánh lạc ung dung”
(Tố Hữu)Mười bốn trăng trong nhà tù Tưởng Giới Thạch dường như thể xác HCM bị suy nhược đirất nhiều Nhưng tinh thần của con người “đại trí, đại nhân, đại dũng” vẫn còn ngời sáng Khiđược trao trả tự do Bác vẫn cố gắng luyện tập từng bước một lên núi cao, vẫn ung dung tự tại,lạc quan tin tưởng Hồn thơ vẫn rộng mở qua bài: “Tân xuất ngục …… san ”
“Vân ủng……… cố nhân”
( Núi ấp ……… Xưa) Thú chơi tao nhã quen thuộc của người xưa thường “yên sơn thưởng nguyệt”(lên núingắm trăng) Lên núi cao để thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên, để bày tỏ cõi lòng “Thơ HồChí Minh thiên nhiên độc chiến một địa vị danh dự” thì hình ảnh núi sẽ có phần lớn trong danhdự ấy Bài thơ “Mới ra từ tập leo núi” cũng mở đầu bằng hình ảnh thiên nhiên cũng núi nonquen thuộc Nhưng leo núi ở đây là “học”, sau mười bốn trăng tê tái gông cùm, chân yếu, mắtmờ, tóc bạc phải tập đi từng bước một vậy mà hồn thơ tươi trẻ, cảm hứng thiên nhiên vẫn đượcthoát lên:
“Vân ủng……….vô trân”
Bức tranh được cấu tạo từ ba hình ảnh thông dụng “mây, núi, nước” lấy từ chất liệu củathi ca cổ điển Nhà thơ đang đứng một tư thế rất cao trong cái nhìn bao quát cảnh thiên nhiên.Trong tư thế nhìn ngang thấy mây núi trùng điệp rất gợi tình Các điệp từ “vân”, “sơn” đượcxếp đặt trong một tư thế rất độc đáo: hai chữ “vân” đóng khép hai đầu vây lấy hai chữ “sơn”liền nhau ở giữa tạo nên một tư thế giao hoà quấn quýt Từ “ủng” như một biện pháp nhânhoá làm cho cảnh thiên nhiên trở lên sống động, ấm áp tình người Phải chăng khi mới ra tùsau những ngày dài cô đơn mòn mỏi tác giả muốn gửi gắm khát khao tình yêu thương ? Có lẽ
vì thế mà từ trên cao nhìn thấy lòng sông trong vắt kia nhà thơ muốn soi tận đáy lòng mình.Một sự so sánh rất hay lòng sông như tấm gương để nhà thơ soi rõ lòng mình - Dùng thiênnhiên để thanh lọc tâm hồn Lòng sông cạnh núi non hùng vĩ vẫn giữ được sự trong sáng nhưgương không chút bụi trần.Cũng giống như tấm lòng Hồ Chí Minh, qua bao năm tháng tù đày,sống gần bùn nhơ của cuộc đời lần đầu tiên Hồ Chí Minh đứng giữa trời đất mênh mông để suy
Trang 10xét chính mình Người xưa từng nói “người nhân ưa núi, kẻ trí ưa nước” Bác Hồ được kết hợpcảhai Lòng sông như gương trong vắt không chút bụi trần đem lại tươi mát cho đời,cũng giốngnhư tấm lòng Bác,một tấm lòng trong sáng tuyệt vời trải rộng niềm tin,hy vọng cho cả dân tộc.
Tấm lòng ấy luôn luôn rộng mở, trong sáng mang hương sắc cho đời.(HS có thể lấy những câu thơ trong tập “Nhật kí trong tù” để chứng minh cho nỗi khổ và tâm hồn của Bác nhằm làm sáng rõ,sâu sắc luận điểm này)
Hai câu thơ đã thể hiện rõ cái thần thái của một bậc “tiên phong đạo cốt” lấy thiên nhiênlàm điểm tựa cho tâm hồn và phần nào còn thấp thoáng tư cách của một chiến sĩ cộng sản kiêntrinh một lòng gắn bó với đồng chí, đồng bào.Từ nơi đất khách trên đỉnh núi Tây Phong Ngườikhông lúc nào không hướng về tổ quốc, hướng về đồng chí đồng bào đang chiến đấu vì độc lậptự do:
“Bồi hồi ………cố nhân”
(mỗi hội ……….bạn xưa)Tứ thơ được bộc lộ rõ, chất liệu của câu thơ được lấy từ thơ cổ Đề cái “Đăng cao ức hữu”(lên cao nhớ bạn) ta từng thấy rõ trong thi pháp Đường thi Lý Bạch từng lên cao để dõi ánhmắt theo người bạn thân thiết của mình đang ra đi về phí Tây càng xa,càng xa mãi “Cố nhântây từ Hoàng Hạc lâu-Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu-Cô phàm viễn ảnh bích không tận-Duy khiến Trường Giang thiên tế lưu” Tuy nhiên tiếng thơ là tiếng lòng của thi sĩ,tâm trạngcủa Hồ Chí Minh mang sắc thái riêng Chữ “bồi hồi” được đặt ở đầu câu gắn với bước châncủa kẻ cô độc như hữu hình hóa một tâm trạng khó tả từ bên trong vọng ra Ơû đây cảnh đẹp,tình buồn người chạnh nhớ quê hương Tâm hồn Bác đang hướng đến “Nam Thiên” đang nhớtới quốc dân đồng bào, nhớ bạn cũ, nhớ đất mẹ thân yêu Nỗi nhớ ấy luôn canh cánh tronglòng kể cả lúc đau khổ tại tù lao nỗi nhớ vẫn trào dâng:
“Ngày đi bạn tiễn đến bên sôngHẹn bạn về khi lúa đỏ đồngNay gặt đã xong cày đã khắpQuê người tôi vẫn chốn lao lung”
(Nhớ bạn)Trong thơ đường ta cũng từng bắt gặp đề tài “nhớ bạn” Nhưng đến đây ta lại thấy mộttâm hồn đa sầu, đa tình, đa cảm đúng như lời của Phạm Văn Đồng “vì giàu tình cảm nênNgười mới đi làm cách mạng”
(HS có thể mở rộng thêm:chất thép,chất tình;cổ điển hiện đại trong bài thơ)
PHẦN 3: TRUYỆN-VĂN XUÔI
Trang 112 Nghệ thuật châm biến của truyện ngắn Vi Hành.
3 Phân tích nội dung chiến đấu được thể hiện một cách nghệ thuật trong truyện ngắn ViHành ?
4 Bình giảng truyện ngắn Vi Hành
5.Phân tích nhân vật Khải Định
Gợi ý:
Truyện ngắn “Vi Hành” của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng pháp trong thời kỳ nhà vănhoạt động ở Pari vào những năm 20 của thế kỷ XX Bằng nghệ thuật hài hước phương Tây kếthợp với lối châm biếm đã kích của Phương Đông nhà văn đã sáng tạo nên một thiên truyệnđộc đáo nhằm vạch trần chân tướng của tên Vua bù nhìn có nhiều hành vi xấu xa làm nhục
“quốc thể” Tính độc đáo ấy thể hiện toàn diện ở các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm
Truyện ngắn hướng vào một vấn đề thời sự, một câu chuyện có thật Năm 1922 thực dânPháp đưa tên vua bù nhìn Khải Định sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Véc Xây Đây làthủ đoạn chính trị của thực dân Pháp muốn lừa gạt nhân dân Việt Nam và nhân dân Pháp:Rằng An Nam thuộc địa đã quy phục lại Pháp, rằng tình hình đông dương đã êm dịu lắm, ngườidân Pháp hãy ủng hộ chính phủ tập trung đầu tư khai thác tài nguyên và khai hóa văn minh xứsở này Sự thật này được giới báo chí lên tiếng nhiều Tuy viết dưới dạng truyện ngắn nhưngtác giả tường thuật trực tiếp như một bản tin, một thiên phóng sự hóa hư cấu nên một câuchuyện nghệ thuật khắc họa bản chất và sự thật nhân vật Khải Định một cách tinh tế
Câu tứ truyện thể hiện ở ngay nhan đề Vi hành,lấy câu chuyện trang nghiêm của các bậcĐế Vương thuở xưa nhưng chứa một nội dung hoàn toàn ngược lại nhằm giễu cợt tên vua bùnhìn Kẻ đang vi hành trên thủ đô Pa ri hào hoa tráng lệ kia không phải là một bậc minh quânchí lớn mà là một tên tay sai tầm thường đi vi hành để thỏa mãn dục vọng cá nhân Làm chongười đọc “tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi” Nhan đề có hàm ý mĩa mai,châm biếm
Cách dựng truyện của Nguyễn Ái Quốc Trong Vi Hành rất đặc biệt hiện đại Vừa đơngiản vừa tinh vi,giọng văn biến chuyển linh hoạt làm cho người đọc đi từ bất ngờ này đến bấtngờ khác Câu chuyện được kể dưới hình thức một bức thư Đây là một thể văn thông thườngtrong giao tiếp cuộc sống Tuy nhiên có hai điều đặc biệt là hai nhân vật tôi và cô em họ vàcâu chuyện trao đổi giữa họ là hư cấu 100% Bức thư không mang lại nội dung trao đổi tâmtình mà kể một sự việc ngẩu nhiên tình cờ bất gặp trên chuyến đi của người viết Cấu trúc bứcthư cũng không mang bố cục thông thường mà chỉ thông qua đối thoại đàm tiếu Mở đầu bứcthư không phải là lời thăm hỏi mà là một đoạn đối thoại đột ngột: “Chính lão ta, không phảichính lão ta …” Một chuỗi câu vừa khẳng định, vừa phủ định nối tiếp nhau để mở màn cho câuchuyện bán tín bán nghi về ông vua đang vi hành
Câu chuyện tiếp tục bằng một chuỗi nhầm lẫn,từ nhầm lẫn này đến nhầmlẫn khác Mộtông vua so sánh ngang một thằng hồ Nhà cách mạng An Nam vô tình cũng biến thành mộtông vua Sự thật thì chẳng đời nào có chuyện nhầm lẫn quá đáng như vậy Từ tình huống bịa ramột cách lô gic tác giả đã dần dần mở ra các khía cạnh của sự thật một cách thuyết phục.Những nhầm lẫn kia chính là do các hành vi đầy xấu xa của khải định Hắn vi hành chỉ để thựchiện mục đích các nhân Một con người chẳng có chút lòng nhan trái lại mặt mũi thì ngây ngô,điệu bộ thì lúng ta lúng túng, quần áo thì lố lăng chẳng khác thằng “ngợm”: “Cái chụp đèn
Trang 12chụp lên cái đầu quấn khăn, cái ngón tay thì đeo đầy những nhẫn” Chưa hết, còn bao nhiêunét xấu khác: “cái mặt bủng như vỏ chanh” đeo lên người đủ cả bộ lụa là, đủ cả hạt cườm làmcho thiên hạ phải bật cười
Đó là sự thật về Khải Định có thể cho phép ai trực tiếp hoặc công khai lên án Nhưng ởđây nhà văn đã khéo léo giấu kín cái chủ quan của mình mà để cho người Tây tự đưa ra bànluận trên đất Tây Do đó câu chuyện mang lại những hiệu quả nghệ thuật cao hơn Nhân vậtchính không hiện diện trong truyện một cách trực tiếp mà vẫn lộ nguyên hình Mặt khác là đốitượng đang bị đàm tiếu mua vui cho nên nhân vật từ vai sang trọng bị hạ thấp đến mức “đángkhinh bỉ”
Để tấn công một cách hiệu quả vào đối tượng nhà văn đã sáng tạo một lối dẫn chuyệnhài hước nghệ thuật châm biếm sâu cay Nghệ thuật dẫn chuyện căn bản trong tác phẩm là sửdụng lối đối thoại đàm tiếu, toàn bộ câu chuyện là những mẫu đối thoại lệnh lạc dài dòng đểdồn chứa thông tin nhạo báng đối tượng một cách không thương tiếc Đôi nam nữ, chuyệnnhầm lẫn vẻ ngoài của Khải Định với một người dân châu Á đã bàn tán đàm luận đủ thứchuyện Với những tràng cười hả hê qua hàng loạt những chi tiết nhầmlẫn độc đáo Phơi lưngtrước tiếng cười biếm họa,hoàng đế trở thành kiểu nhân vật trò chơi Và luật chơi vừa phóngtúng vừa nghiệt ngã của thể trào phúng Khải Định trong con mắt người Pháp trở thành mộtcon rối,một trò chơi giải trí “rẻ tiền” một vai hề làm vui mắt họ
Bên cạnh lối đối thoại đàm tiếu tác giả còn nhân cơ hội xen vào những đoạn ngoại đề vềcâu chuyện Vua Thuấn ở nước tàu, vua Pi e ở nước Nga Họ vi hành mang lại niềm vui chomọi người mang ánh sáng văn minh cho đến cho xã hội Còn Khải Định vi hành hoàn toànngược lại Một loạt những câu hỏi lấp lửng giả vờ của tác giả “phải chăng là, hay là…” làm chongòi bút châm biến của tác giả càng sâu cay đó là cách nói vừa kín đáo vừa thâm thúy Ngoàicách nói mĩamai tác giả còn sử dụng lối viết tạt ngang Trong khi bám sát đối tượng là KhảiĐịnh tác giả còn tận dụng cơ hội mở rộng sang bọn quan thầy Pháp Tác giả gọi bọn mật thámlà bọn “bán đế giày” và biến chúng thành tên hộ giá cho nhà cách mạng Với ngòi bút linhhoạt lúc nói ngược lúc nói xuôi NAQ đã tấn công trực diện vào bọn vua quan bù nhìn bán nướcvà bọn thực dân cướp nước xấu xa
Sức hấp dẫn của toàn bộ thiên truyện còn thể hiện ở cách tổ chức ngôn ngữ hài hước vàgiọng văn hóm hỉnh Để cho Khải Định xuất hiện trước mắt người Pháp một cách lố lăng nựccười tác giả viết “một anh vua đến thật đúng lúc khi mà cái kho giải trí của chúng ta sắp cạnráo như B.Đ.D vậy” Tác giả nói bóng gió lấp lửng xa xôi,nhưng rất sâu cay làm rõ đầy đủ tấtcả những hành vi mờ ám của tên vua bù nhìn và bọn thực dân cướp nước
Truyện ngắn Vi Hành là một minh chứng hùng hồn cho tính chiến đấu sắc bén trong ngòibút đầy tính sáng tạo của NAQ Truyện được viết nhằm mục đích chính trị rõ ràng nhưng vẫnlà tác phẩm văn chương đích thực Cách vận dụng linh hoạt biến chuyển làm cho những sựkiện thời sự đưa vào không bị khô khan mà đầy thuyết phục Truyện ngắn Vi hành tiêu biểucho phong cách nghệ thuật của HCM: Giản dị hàm súc giàu tính hài hước Truyện vừa mangtính sôi nỗi kiểu Phương Tây vừa mang tính thâm trầm sâu lắng kiểu Phương Đông Vẻ đẹpcủa hai nền văn hóa Đông - Tây được kết tinh thể hiện độc đáo trong truyện ngắn này
Trang 13TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP
Hồ Chí Minh
II.Thực hành:
1 Phân tích tác phẩm “Tuyên Ngôn Độc Lập”
2 Phân tích nghệ thuật viết văn chính luận trong “Tuyên Ngôn Độc Lập” của Hồ ChíMinh
Gợi ý:
Cách Mạng tháng 8 - 1945 thành công đã chấm dứt 80 năm nô lệ dưới ách thực dân vàhơn 1000 thống trị của XHPK Mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Độc lập - Tự do - Hạnhphúc cho dân tộc Việt Nam Ngày 2 - 9 - 1945tại Quảng Trường Ba Đình-Hà Nội trước mộttriệu người dân trong nước, cùng đông đảo phóng viên báo chí nước ngoài Chủ tịch Hồ ChíMinh đã trịnh trọng tuyên bố bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủcộng hòa Bản Tuyên Ngôn Độc Lập không chỉ có giá trị lịch sử to lớn mà còn mang phongcách nghệ thuật độc đáo giàu sức thuyết phục trong văn chính luận của HCM
Tuyên Ngôn Độc Lập là một áng văn chính luận nhưng là một áng văn chính luận đặcbiệt Ngoài những lý lẽ,bằng chứng “không ai chối cãi được” TNĐL còn là bài ca ca ngợi chíanh hùng cách mạng, là hùng khí thiêng liêng của dân tộc
Mở đầu bản Tuyên Ngôn tác giả trích dẫn trực tiếp những lời bất hủ trong bản TuyênNgôn Độc Lập của Mỹ và Tuyên Ngôn Nhân quyền, Dân quyền của Pháp thể kỷ XVIII làmtựa đề:
“Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không aicó thể xâm phạm được Trong cái quyền ấy có quyền được sống, tự do và mưu cầu hạnhphúc”
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn tự do bình đẳng về quyềnlợi”
Cách dẫn như vậy bản TNĐL đã đặt vấn đề đối thoại mang tính quốc tế Trong hoàn cảnhcách mạng mới thành công, chính quyền còn non trẻ Đứng trước nguy cơ tái xâm lượccủaThực dân Pháp và những âm mưu gây chiến tranh của đế quốc Mỹ Chủ tịch Hồ Chí Minhđã thay mặt dân tộc khẳng địng cái quyền mà chính tổ tiên người Mỹ, người Pháp đã đưa racông bố với thế giới về sự xâm phạm chân lý của chúng Đó là nghệ thuật “lấy gậy ông đậplưng ông” một cách khéo léo Trong tranh luận không gì thú vị và đích đáng hơn là dùng chínhlý lẽ đối thủ để thuyết phục và hạ gục đối thủ Cách đặt vấn đề như vậy có nghĩa là đặt cuộccách mạng nước ta và bản Tuyên Ngôn của ta ngang hàng với hai cuộc cách mạng và hai bảnTuyên Ngôn vĩ đại của Pháp,Mỹ- sánh ngang tầm Quốc tế
Một cách kín đáo trong Tuyên Ngôn đó là gợi lại ý chí đấu tranh kiên cường anh dũng,gợi lại niềm tự hàodân tộc có trong truyền thống Đó là bài thơ thần của Lý Thường Kiệt nămxưa trên bờ Sông Như Nguyệt “Nam quốc sơn hà Nam đế cư-Tiệt nhiên định phận tại thiên
Trang 14thư-Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm-Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư” Và âm vang của tácphẩm“Bình Ngô Đại Cáo” sau 10 năm kháng chiến chống đuổi quân Minh “Từ Triệu, Đinh,Lý, Trần bao đời gây lên độc lập Cùng Hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế mộtphương”… Một nước nhỏ đã từng xưng “đế”, một nước nhỏ đã từng làm khiếp vía quân thù.Một lần nữa bản Tuyên Ngôn đã gợi lên hồn thiêng sông núi, âm vang về niềm tự hào như cònvang mãi.
Để củng cố vị trí Cách mạng của dân tộc bản Tuyên Ngôn nêu rõ: “Dân tộc ta đánh đổcác xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nước Việt Nam độc lập” Đó cũng làyêu cầu đặt ra cho cuộc Cách mạng nước Mỹ năm xưa Đấu tranh giải phóng dân tộc thuộc địaBắc Mỹ ra khỏi thực dân Anh Bản Tuyên Ngôn cũng viết “Dân tộc ta đã đánh dổ chế độ quânchủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa” Đây cũng là tinh thần cơ bản củacuộc Cách mạng Nhân quyền, Dân quyền của Pháp thế kỷ XVIII
Bên cạnh vấn đề pháp quyền mang tính nhân loại nói chung đó tác giả Tuyên ngôn đã cụthể hóa thành vấn đề dân tộc “Lời bất hủ ấy ở bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 ở nước Mỹđã suy rộng ra câu ấy có nghĩa là : “Tất cả các dân tộc trên thế giớ sinh ra đều có quyền bìnhđẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Ýù kiến suy rộng ranày đã tấn công thẳng vào luận điệu khai hóa của chủ nghĩa thực dân cách nói ấy không chỉkhẳng định ý chí độc lập dân tộc mà còn có giá trị thức tỉnh nhân loại ý thức về nỗi nhục màchủ nghĩa Đế quốc đã áp đặt trên thế giới Nhờ đó mà TNĐL của HCM có giá trị Quốc tế làđòn đánh trực diện đuổi chủ nghĩa thực dân
Bản TNĐL đã đưa ra một hệ thống lập luận chặt chẽ hùng hồn đanh thép với những cứliệu rõ ràng vạch trần tội ác của chủ nghĩa Thực dân và gương cao ngọn cờ chính nghĩa củacuộc Cách mạng dân tộc.Trong khi Thực dân Pháp muốn khoe khoang và tiếp tục chiêu bàikhai hóa thì TNĐL đã vạch trần hành động trái hẳn với đạo lý và chính nghĩa mà chúng đưa ra.Trong 80 năm xâm lược nước ta chúng đã thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ chia rẽ đồng bàodân tộc ta, tắm các phong trào yêu nước của dân tộc ta trong biển máu, thi hành chính sách ngudân, đầu độc mọi người bằng các tệ nạn xã hội, bằng rượu cồn thuốc phiện… vơ vét cả vật chấtcủa ta, làm cho con người Việt Nam ngày càng kiệt quệ về vật chất suy nhược về tinh thần.Trong khi Thực dân Pháp muốn kể công bảo hộ thì bản Tuyên Ngôn đã hùng hồn vạchtrần tội ác của chúng vì trong 5 năm chúng hai lần bán nước ta cho Nhật.Trong khi thực dânPháp muốn hợp pháp hóa việc tái chiếm Đông Dương thì bản Tuyên Ngôn đã vạch ra ý đồ bấthợp pháp của chúng: “Sự thực là từ mùa thu năm 1940 nước ta đã trở thành thuộc địa của Nhậtchứ không phải là của Pháp nữa Khi Nhật đầu hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta nổidậy dành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sự thật là dân ta đã dànhđộc lập từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp”
Luận điểm này mang ý nghĩa pháp lý cực kỳ quan trọng,trước tình thế chính quyền Cáchmạng còn non trẻ Nó sẽ dần đến một luận điểm đầy thuyết phục “Bởi thế cho nên chúng tôi,lâm thời chính phủ Việt Nam mới đại diện cho toàn dân Việt Nam tuyên bố thoát ly hẳn quanhệ với Thực dân pháp xóa bỏ những hiệp ước mà Pháp đã Pháp đã ký với Việt Nam, xóa bỏtất cả những đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” Sức mạnh chính nghĩa là sức mạnhsự thật,lý lẽ không gì thuyết phục hơn là lý lẽ của sự thật Vì thế khi viết TNĐL Chủ tịch HCMluôn láy đi láy lại hai chữ “sự thật”, “sự thật là” Cuối cùng Người khẳng định “Nước Việt
Trang 15Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và thực sự trở thành một nước tự do độc lập” Đấy làđiệp khúc nối tiếp nhau tăng âm hưởng hào hùng của bản Tuyên ngôn.
Còn đối với đồng bào trong nước, bản tuyên ngôn đã dùng lý lẽ chứng cứ khẳng địnhchắc chắn quyền làm chủ đất nước của dân tộc ta “Nếu Thực dân Pháp có tội phản bội đồngminh, hai lần bán rẻ Đông Dương cho Nhật thì dân tộc Việt Nam mà đại diện là Việt Minh đãđứng lên chống Nhật cứu nước và cuối cùng dành được chủ quyền từ tay Phát xít Nhật”
Nếu Thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn phản động của chúng ở hành động thẳng taykhủng bố Việt Minh thì nhân dân ta vẫn giữ thái độ khoan hồng và nhân đạo đối với kẻ thù đãthất thế “Sau vụ biến động ngày 9/3 Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biênthùy , lại cứu cho người pháp ra khỏi nhà giam Nhật bảo vệ tính mạng và tài sản của họ”
“Một dân tộc gan góc, bền bỉ đấu tranh kiên cường anh dũng, dân tộc đó phải được tự do,dân tộc đó phải được độc lập” Tinh thần ấy phải được khẳng định rõ trong bản TNĐL: Hướngđộc lập tự do là cái quyền đã có, cần có và mãi sẽ có
Nếu “Bình Ngô Đại Cáo” xưa kia là một “áng thiên cổ hùng văn” thì cũng có thể gọiTNĐL của HCM như vậy Tất nhiên bản Tuyên ngôn không còn ra đời trong thời kỳ văn –sử-triết bất phân, để đưa vào bài chính luận những hình tượng hào hùng của bài Cáo ngày xưa.Ngày nay văn chính luận phải vận dụng thật hùng biện đòi hỏi một hệ thống lập luận chặt chẽ,những luận điểm bằng chứng thuyết phục Đằng sau đó mang tầm tư tưởng, tầm văn hoá lớnđược đúc kết trong những trang văn ngắn gọn trong sáng,đúc kết kinh nghiệm của nhiều thế kỷđấu tranh vì độc lập tự do và nhân quyền của dân tộc và nhân loại Bản TNĐL là một sự đónggóp vĩ đại trong sự nghiệp của nhà Cách mạng, nhà yêu nước, nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh
2 Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao sau Cách Mạng được thể hiện như thế nào qua tácphẩm Đôi Mắt
3 Phân tích nhân vật Hoàng trong truyện ngắn Đôi Mắt
4 So sánh cách nhìn của Hoàng và Độ
Gợi ý:
Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, là biểu tượng phong phú cho nghệ thuật Trong hội họa nétbút “điểm nhãn” là linh hồn nghệ thuật vẻ chân dung Trong văn chương đôi mắt là biểutượng hấp dẫn cho văn nghệ sĩ nơi đó đã diễn tả được những suy nghĩ của con người Ca daotừng viếtù “Mắt thương nhớ ai-Mắt không ngủ yên” Đôi mắt hiện về trong trăn trở suy tư, trongtiếng gọi ái tình của nhà thơ TaGo “Đôi mắt băn khoăn của em buồn ” Quang Dũng từng viết
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới …” Nam Cao cũng nói đến đôi mắt đó là cách nhìn của haivăn nghệ sĩ Hoàng và Độ và cũng là tuyên ngôn nghệ thuật mới của nhà văn sau CM
Trang 16Toàn bộ “Đôi mắt” là hình tượng hóa quan điểm sáng tác nghệ thuật chân chính của mộtnhà văn CM trong đó cơ sở quan trọng là cái nhìn đúng, cái nhìn toàn diện có chiều sâu đối vớicuộc sống con người mà trung tâm là quần chúng lao động Cái nhìn ấy là thước đo nhân cáchcủa nhà văn Đôi mắt -cái nhìn nghệ thuật đối với cuộc sống và con người của nhà văn đượcNam cao thể hiện qua câu chuyện gặp gỡ giữa hai nhân vật chính Độ và Hoàng Cốt lõi câutruyện khá đơn giản xoay quanh cuộc đến thăm của Độ đang làm công tác tuyên truyền khángchiến đến thăm nhà Hoàng- một nhà văn đàn anh giàu có từng sống ở Hà Nội nay cùng giađình tản cư về nông thôn sống gần những người nhà quê tích cực kháng chiến Độ đến thămHoàng với mục đích vận động kháng chiến Anh được tiếp đãi chu đáo nhưng khi thấy cáchnhìn của văn sĩ Hoàng khác mình anh đành “giữ kín trong lòng”.
Đây là hai cách nhìn đối lập trước hiện thực cuộc sống Những người dân quê đi theo cáchmạng và làm cách mạng với những ưu khuyết điểm của họ Họ có hai mặt tốt xấu cùng songsong tồn tại Dưới đôi mắt lệch lạc của Hoàng quần chúng lao động, những người nông dântoàn là “ngu đần , lỗ mãng, ích kỷ, tham lam bần tiện vừa ngốvừa nhặng xị” Anh em cha conchẳng tốt với nhau Ông thanh niên, bà phụ nữ bây giờ lại càng nhố nhăng Viết chữ quốc ngữsai vần mà hay nói chuyện chính trị rối cả lên Hoàng đã bộc lộ tất cả những thành kiến củamình với tầng lớp trụ cột cách mạng Khi trò chuyện với Độ anh ta quan sát khai thác triệt để,những ngây ngô của họ biến họ thành những kẻ “đáng khinh bỉ” Chẳng hạn như những tục lệkiên kị cổ hủ của nông thôn những người ơ ûnhờ, không được sinh đẻ trong nhà, chuyện tò mòhàng xóm được anh ta cố tình khai thác triệt để đến tàn nhẫn Rồi chuyện dốt nát dẫn đến máymóc trong cách hỏi đường, cách tuyên truyền mà anh ta quy cho là lôi thôi rắc rối…
Chỉ khai thác những thói hư tật xấu ấy làm cho chàng trí thức mất hết niềm tin vào tươnglai cách mạng Theo Hoàng những người nông dân đốt nát, xấu xa vừa ngố vừa nhặng xị ấykhông thể làm cách mạng được mà cách mạng chỉ tin cậy vào vai trò cá nhân xuất chúng Vớicách “nhìn đời một phía” Hoàng đã hùng hồn phát biểu tư tưởng sai lầm của mình “ấy đây tôi
bi quan lắm Cứ quan sát kỹ thì rất nản Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ vì tôi tin vào ông cụ …HCM đáng lẽ phải cứu một nước như thế nào kia mới xứng tài” Với cái nhìn này vô tình đãbiến Hoàng thành một kẻ kỳ thị dân tộc, coi thường quần chúng mang nặng tư tưởng sùng báicá nhân Hoàng không thấy được cái vĩ đại của một lãnh tụ là sự kết tinh dựa trên sức mạnhđoàn kết quần chúng Điều này đã đẩy Hoàng xa rời dần với quần chúng nhân dân.Hoàng cótài bình luận bộc lộ thái độ theo kiểu chê bai một cách nồng nhiệt đến trắng trợn Đồng minhvới mình là người vợ cùng quan điểm cùng nhìn đời một phía
Trong cốt lõi vấn đề những điều Hoàng nói ra đều có thực ngay cả những nhân xét chínhxác về khuyết điểm của quần chúng: “Không thể chối được rằng họ có nhiều cái ngố khôngchịu được Tôi thấy có nhiều ông tự vệ cả vệ quốc quân nữa cứ táy máy nghịch súng lay lựuđạn làm chết người như bỡn…Nhưng mà thôi nước mình đã vậy Suốt đời không được mó đếnkhẩu súng thì làm gì mà biết bắn Họ đánh mãi rồi cũng biết cứ thế thì cho họ đi đánh Tây đi.Nhưng tai hại là người ta muốn cho họ làm ủy ban nọ ủy ban kia thế mới chết người ta chứ.Nói ví dụ ngay như cái thằng chủ tịch ủy ban khu phố Hà Nội lúc chưa đánh nhau nó là anhchàng bán cháo lòng Bán cháo lòng thì chỉ biết đánh tiết canh chư biết làm ủy ban thế nào màbắt nó làm ủy ban” Những nhược điểm ấy là hậu quả đáng tiếc cho sự nghiệp cách mạng Tuynhiên Hoàng không thấy đựơc chiều sâu triết lý của nó trong thời kỳ đầu dân tộc ta đang ở
Trang 17trình độ thấp kém,giặc đói,giặc dốt hoành hành, hạn chế này có thể khắc phục được Hoàngchỉ đứng trong vỏ ốc cá nhân mà nhận xét
Đối lập với cái nhìn mặc cảm của Hoàng là cái nhìn biện chứng của nhân vật Độ trongđôi mắt nhân ái và độ lượng Cũng như Hoàng Độ cũng thấy những người dân quê có sự dốtnát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương Nhưng quan trọng hơn là Độ nhìnthấy được bản chất tốt đẹp của con người nhà quê Độ đã từng ngã ngửa người ra khi thấy họcùng làm cách mạng và làm cách mạng một cách hăng hái lắm Độ cũng thấy người dân quê
“răng đen mắt toét” gọi lựu đạn là nựu đạn, hát tiếng quân ca như người buồn ngủ cầu kinh.Nhưng ra trận thì xung phong can đảm lắm Kể cả những hiện tượng mà Độ có cảm giác nhưhọ là những người hèn nhát bị lính ghẹo vợ ngay trước mặt cũng đành im thin thít Nhưng anhcũng ngạc nhiên thần phục vì chính họ lại có mặt tại mặt trận một cách gan dạ với kỳ tíchkhông ngờ Với cái nhìn đúng Độ đã thấy được người dân quê thật sự là anh hùng là niềm tincách mạng.Nếu đôi mắt Hoàng chỉ toàn thấy những mặt trái của người nông dân dẫn đến tháiđộ khinh bỉ thì Độ có thể thông cảm cho quần chúng làm cho anh càng tin yêu vào sự nghiệpcách mạng
Sự khai thác hai đôi mắt, hai cái nhìn tại thái độ ấy đã giải thích từ nhân cách, điệu sốngcủa từng nhà văn Trong tác phẩm bằng hồi tưởng của Độ,Nam Cao đã vạch rõ nhân cách điệusống của Hoàng điều đó đã tạo ra cái nhìn sai lầm của nhân vật.Trong quá khứ Hoàng là mộtcon người kém về nhân cách là bậc văn sĩ đàn anh cũng là tay chợ đen tài tình Hoàng luônchơi bạn và đá bạn sau lưng Trong lúc cả nước đói khát gia đình Hoàng vẫn phong lưu “conchó nhà anh không nhịn ăn bữa nào”ù Sau cách mạng Hoàng vẫn thói quen ấy,ở nơi tản cư với
“căn nhà ba gian sạch sẽ,trồng hoa nuôi chó quý,hút thuốc thơm,ăn mía ướp hoa bưởi,đọc Tamquốc chí trước khi đi ngủ…”.Cung cách sinh hoạt ấy không xấu nhưng không hợp vì cả nướcđang lo “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”,lo chuẩn bị kháng chiến trường kì,vô tình đã đẩyHoàng xa rời với quần chúng.Điều đáng phê phán ở nhân vật là ở nhà quê nhưng Hoàng luônđóng cửa kín suốt ngày,xa rời người nông dân.Hoàng chỉ giao lưu với hạng “trí thức nửamùa,cặn bã”
Khác với Hoàng, Độ là một nhà văn trí thức ngày ngày hòa bình vào nông dân vào quầnchúng cách mạng Độ khoác ba lô đi kháng chiến, làm cán bộ tuyên truyền ăn nghỉ với quầnchúng mà vẫn thấy hạnh phúc Nam Cao đã cho độc giả thấy được hai nhân cách dẫn đến haiđôi mắt hai cái nhìn chi phối đến cái tâm và cái tài của nhà văn Hoàng từng là một nhà vănbậc đàn anh Tuy nhiên cái tâm của anh ta lệnh lạc mất cả nguồn cảm hứng nghệ thuật Ngượclại Độ đã nhận thức sâu sắc cái tài và cái tâm của nhà văn đã soi sáng cho chân lý nghệ thuật Đôi Mắt từ khi ra đời đến nay luôn có giá trị cho những ai đã và đang cầm bút Trongthời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều nhà văn có hình tượng xa rời quần chúng.Đôi Mắt lúc này như ánh sáng soi đường cho cái tài và cái tâm của Nghệ sĩ Đôi Mắt là tuyênngôn nghệ thuật của Nam Cao là chân lý của văn chương, chân lý ấy có giá trị đến cả hômnay Khi cuộc sống ngày càng phát triển kinh tế thị trường, cuộc sống chạy đua với khoa họckỹ thuật yếu tố cần thiết của nhà văn, nhà thơ là cái tâm và cái tài như Văn Sĩ Độ trong tácphẩm