Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Technoimport ).
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam là một đất nước đang trong giai đoạn phát triển, đi lên từ mộtnền kinh tế nghèo nàn lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật yếu kém do phải gánhchịu hậu quả nặng nề của chiến tranh Việc tự mình tạo ra máy móc thiết bịphục vụ sản xuất nhằm đáp đứng nhu cầu trong nước gặp rất nhiều khó khăn.Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã đề ra những chính sách và bước điphù hợp cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà cụ thể làcho phép hay chỉ định một số doanh nghiệp trong nước nhập khẩu các thiết bịmáy móc toàn bộ từ nước ngoài về để phát triển nền sản xuất yếu kém trongnước
Việc Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tham gia vào hoạt độngxuất nhập khẩu, trong đó có hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ, đồng nghĩavới việc tạo điều kiện cho họ có cơ hội thâm nhập vào thị trường thế giới Tuynhiên, thị trường thế giới với với tính năng động vốn có của nó đã tạo ra môitrường cạnh tranh hết sức khốc liệt với đầy rẫy những khó khăn thách thứccho các doanh nghiệp Việt Nam Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải hết sứcnhạy bén trong mọi vấn đề của sản xuất kinh doanh, phải không ngừng nângcao hiệu quả kinh doanh thông qua việc đảm bảo chi phí cá biệt ở mức thấpnhất, có như vậy doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này trong quá trình pháttriển nền kinh tế đất nước cũng như sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp nên em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Technoimport )” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp Nội dung chính của
đề tài này gồm 3 chương:
Chương I: Giới thiệu khái quát về công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn
bộ và kỹ thuật
Trang 2Chương II: Thực trạng hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại công tyXNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Technoimport).
Chương III: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nhập nhập khẩuthiết bị toàn bộ tại Technoimport
Do trình độ, thời gian còn hạn chế, nguồn tài liệu và thông tin còn hạnhẹp nên bài viết này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Bởi vậy, emrất mong nhận được sự đánh giá, góp ý chân thành của các thày cô giáo, cácbạn sinh viên để bài viết này được hoàn thiện hơn
Nhân đây, em xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới Cô giáo, ThSNguyễn Ngọc Điệp, người đã trực tiếp hướng dẫn em tận tình trong suốt quátrình thực hiện và hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này
Em cũng xin chân thành cảm ơn Quý công ty Technoimport, đặc biệt làcác cô chú trong phòng XNK 5 đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quátrình thực tập để em có được những thông tin phục vụ cho bài viết này
Trang 3CHƯƠNG I GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU THIẾT BỊ TOÀN BỘ VÀ KỸ THUẬT
I Quá trình hình thành và phát triển của công ty
1 Thông tin chung về công ty
Công ty Xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (gọi tắt làTECHNOIMPORT) có tên tiếng anh: Vietnam National Complete Equipmentand Technics Import – Export Corporation
Tiền thân của công ty là Cục kiêm Tổng công ty nhập khẩu thiết bịtoàn bộ và trao đổi kỹ thuật, thành lập ngày 28 tháng 1 năm 1959 theo Quyếtđịnh số 63/BNT ngày 28/1/1959 của Bộ Ngoại thương trước đây và bây giờ là
Tổng giám đốc: Ông Vũ Chu Hiền
Từ một tổ chức nhỏ ban đầu, bao gồm một số cán bộ chủ chốt thuộcphòng viện trợ và phòng thiết bị của Bộ Ngoại Thương, ngày nayTechnoimport đã trở thành một doanh nghiệp lớn thuộc Bộ Công Thươngtổng số cán bộ công nhân viên lên đến 90 người với tổng số vốn là hơn 30 tỷđồng (năm 2007) Ngoài trụ sở chính tại Tràng Thi, Hà Nội, Technoimportcòn có mạng lưới các chi nhánh tại các thành phố lớn của Việt Nam là Thànhphố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và có văn phòng đại diện tại nhiềunước trên thế giới như: Cộng hoà Liên Bang Nga, Pháp, Mỹ, Úc, Thụy Điển,Hungari, Cuba, Singapore, Ý
Trang 4Chức năng nhiệm vụ của công ty
Nhiệm vụ của Công ty là chuyên xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, máymóc, thiết bị phụ tùng, vật tư, dịch vụ kỹ thuật và nhiều loại hàng hoá phục vụcho mọi nghành, mọi địa phương trong cả nước
Nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình liên tục diễn ra từ đàm phán kýkết hợp đồng cho đến khâu lắp ráp, vận hành chạy thử cho ra sản phẩm Nhậpkhẩu thiết bị toàn bộ khác với nhập khẩu các loại máy móc hay hàng hoáthông thường, nó yêu cầu nhà nhập khẩu đảm bào tính hiệu quả của sản phẩmđầu ra Các quy trình thủ tục nhập khẩu dài hơn các mặt hàng khác Việc đàmphán ký kết, thanh toán phụ thuộc hoàn toàn vào đặc trưng này Thôngthường đối với một thiết bị toàn bộ, nhà nhập khẩu phải tiến hành rất nhiềukhâu, từ khâu tham gia đấu thầu nhập khẩu (do thiết bị toàn bộ có giá trị lớn,việc sử dụng, ứng dụng phải được cấp phép của rất nhiều bộ nghành) đếnkhâu đàm phán ký kết hợp đồng mua bán với khách hàng nước ngoài, cuốicùng giai đoạn ký kết hợp đồng, chuyển giao dây chuyền, lắp đặt, vận hành,hướng dẫn sử dụng, đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra và cuối cùng là giaiđoạn bảo hành thiết bị
Có thể nói để hoàn thành một hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ, cảdoanh nghiệp nhập khẩu, hãng sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu, doanhnghiệp sử dụng cuối cùng đều có liên quan trong hợp đồng Bởi vậy, việc kýkết hợp đồng không chỉ diễn ra giữa người nhập khẩu và xuất khẩu mà còn có
sự tham gia của người sản xuất và người sử dụng cuối cùng Mỗi bên đều phảithực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình trong thời gian hiệu lực của hợp đồng.Nếu không toàn bộ dây chuyền thiết bị sẽ không phát huy hết khả năng sảnxuất vốn có gây thất thu cho doanh nghiệp và toàn bộ xã hội nói chung Dovậy, việc gắn kết trách nhiệm pháp lý của các bên trong hợp đồng là rất cầnthiết, là đặc trưng của nghiệp vụ nhập khẩu thiết bị toàn bộ
Trang 5Hơn nữa, trong toàn bộ quy trình nhập khẩu thiết bị, các bên tham giaphải hoàn tất trách nhiệm của mình, không xao lãng, phung phí làm mất tínhhiệu quả của dây chuyền thiết bị Vì đây không chỉ là tài sản riêng của doanhnghiệp mà nó còn có ảnh hưởng đến trình độ phát triển lực lượng nói chung
và tính cạnh tranh nói riêng Do vậy việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ không thểtràn lan, đại trà mà phải do doanh nghiệp có uy tín, kinh nghiệm tiến hành đểđảm bảo tính hiệu quả cao của dây chuyền nhập về
2 Quá trình phát triển của công ty được chia thành 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: từ năm 1959 đến năm 1989
Đây là thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế đất nước sau chiến tranh,giai đoạn 1959 – 1989 Technoimport đã nhập khẩu hơn 500 công trình thiết bịtoàn bộ trong phạm vi cả nước, trong số đó nhiều công trình trọng điểm cótầm quan trọng lâu dài đối với đời sống kinh tế xã hội của đất nước, và tronggiai đoạn từ 1990 đến nay là gần 200 công trình thiết bị máy móc, góp phầnxây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước thông qua việc nhập khẩu hàngloạt các công trình thiết bị toàn bộ như: Các nhà máy nhiệt điện và thuỷ điện,đường dây và trạm biến thế, mỏ than, nhà máy cơ khí chế tạo, các nhà máyluyện cán thép, nhà máy xi măng, nhà máy phân bón, hoá chất, nhà máy sợi,nhà máy dệt, nhà máy giấy, nhà máy in, công trình thuỷ lợi, y tế, thông tin,bưu chính viễn thông, các trường đại học, bảo tàng, cung văn hoá, và rấtnhiều hạng mục công trình phục vụ cho các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội,
an ninh quốc phòng của đất nước Technoimport đã trở thành một thươnghiệu quen thuộc với các ngành, địa phương và chủ đầu tư trong cả nước
Giai đoạn 2: từ năm 1989 đến nay
Đây là thời kỳ đổi mới, Công ty đã tiến hành hoạt động hạch toán kinhdoanh theo cơ chế thị trường với nhiều loại hình kinh doanh phong phú và đađạng Technoimport là một doanh nghiệp thương mại hoạt động trong lĩnh
Trang 6vực xuất nhập khẩu với ngành nghề kinh doanh: xuất nhập khẩu và nhận uỷthác xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, máy móc vật tư, phương tiện vận tải vàcác loại hàng công nghiệp, hàng tiêu dùng; nhận uỷ thác giao nhận, vậnchuyển nội địa hàng công trình hàng hoá xuất nhập khẩu đến mọi địa điểmtheo yêu cầu của khách hàng; kinh doanh nội địa các loại hàng hoá nói trên;cung cấp dịch vụ tư vấn về đầu tư và thương mại; hợp tác đầu tư, liên doanh,liên kết với các tổ chức kinh tế khác; ký hợp đồng xuất khẩu lao động đi cácnước, tiếp tục phát huy thế mạnh truyền thống và kinh nghiệm nhiều nămtrong lĩnh vực xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật, coi trọng công tác
tư vấn đầu tư thương mại phục vụ các địa phương và các nghành trong việchiện đại hoá và đầu tư chiều sâu các công trình hiện có, tính toán hiệu quả đầu
tư và nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật cho các dự án mới, mở rộng và đadạng mặt hàng xuất nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu thị trường, gắn kinh doanhvới sản xuất để tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu, tăng cường hợp tác, liên kếtvới các tổ chức trong và ngoài nước
Các mặt hàng kinh doanh hiện nay của Technoimport rất đa dạngphong phú:
+ Mặt hàng xuất khẩu của Technoimport bao gồm: máy móc thiết bị,khoáng sản, lâm sản được nhà nước cho phép, than đá, rau quả, hàng thủ công
mỹ nghệ, cao su cũng như các sản phẩm bằng cao su và chứa cao su, nông sảncũng như nông sản đã chế biến, tơ tằm, sợi các loại
+ Các mặt hàng nhập khẩu bao gồm: Vật liệu xây dựng, sản phẩm hoáchất phân bón, vật tư nuôi trồng thuỷ sản, thiết bị y tế thiết bị thí nghiệm, máymóc thiết bị lẻ, thiết bị vận tải, dây chuyền công nghệ, nhiên liệu, kim loại,nguyên liệu sản xuất, hàng công nghiệp tiêu dùng, và thiết bị toàn bộ
Với những thành tích và đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp xây dựng,phát triển kinh tế đất nước, Technoimport đã vinh dự được chủ tịch nước tặng
Trang 7thưởng huân chương lao động hạng ba năm 1963, huân chương lao động hạngnhì năm 1984, hai lần được nhận huân chương lao động hạng nhất năm 1989
và năm 1997 Ngoài ra công ty còn được Chính phủ tặng cờ thi đua “ Là đơn
vị dẫn đầu ngành thương mại” liên tục trong những năm 1996, 1997, 1998,
1999, 2000, và cờ thi đua của Bộ Thương mại về thành tích trong 10 năm đổimới, bằng khen của Tổng cục an ninh, bằng khen của UBND thành phố Hànội
Bước vào thế kỷ 21, lấy mục tiêu công nghiệp hoá – hiện đại hoá đấtnước làm phương hướng kinh doanh xuất nhập khẩu, Technoimport tiếp tụcphát huy vai trò và trách nhiệm của mình nhằm phục vụ tốt hơn nữa mọi nhucầu của khách hàng trong và ngoài nước
II Đặc điểm chủ yếu của công ty
1 Đặc điểm về sản phẩm
Thiết bị toàn bộ là một tập hợp máy móc, thiết bị vật tư dùng riêng chomột dự án có trang bị công nghệ, có thống số kỹ thuật được mô tả và quy định
cụ thể trong thiết kế dự án dùng để sản xuất ra một loại sản phẩm cụ thể
Nội dung của hàng hóa là thiết bị toàn bộ, trong buôn bán quốc tế thiết
bị được hiểu là tập hợp những máy móc và dụng cụ cần thiết cho việc thựchiện quá trình công nghệ nhất định Nhiều trường hợp đó chỉ là những công
cụ linh kiện cho một dây chuyển sản xuất đi kèm với các tài liệu kỹ thuật.Những thiết bị nhập về này luôn được nhà sản xuất tách rời nhau, chẳng hạnnhững máy móc thiết bị chính cho một dây chuyền sản xuất sau đó mới đếnlinh kiện bổ trợ, tài liệu hướng dẫn vận hành cuối cùng là lắp ráp, vận hành,chạy thử do các chuyên gia của nhà máy sản xuất tiến hành Khi hệ thống vậnhành tốt nhà sản xuất mới chính thức bàn giao lại cho người mua cuối cùng
Thông thường việc mua bán thiết bị toàn bộ còn kèm theo việc chuyểngiao công nghệ mà đối tượng của nó là các bằng phát minh, sáng chế, bí quyết
Trang 8kỹ thuật, giấy phép sử dụng phát minh sáng chế Do thiết bị toàn bộ đa dạng,nhiều chủng loại nên việc mua bán thiết bị toàn bộ cũng đa dạng với nhiềuhình thức tiến hành Nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình liên tục diễn ra từđàm phán ký kết hợp đồng cho đến lắp ráp, vận hành, chạy thử cho ra sảnphẩm Nhập khẩu thiết bị toàn bộ khác với nhập khẩu các loại máy móc hayhàng hóa khác, nó yếu cầu nhà nhập khẩu đảm bảo tính hiệu quả của sảnphẩm đầu ra Do thiết bị toàn bộ có giá trị lớn, việc sử dụng, ứng dụng phảiđược cấp phép của rất nhiều bộ nghành, nó ảnh hưởng đến trình độ phát triển,khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong nước nên nhập khẩu thiết bị toàn bộkhông thể tran lan, đại trà mà phải do doanh nghiệp có uy tín, có kinh nghiệmtiến hành đảm bảo việc nhập khẩu đạt được hiệu quả cao.
Là một Công ty được Bộ Công Thương giao nhiệm vụ chính là nhậpkhẩu các thiết bị toàn bộ và kỹ thuật nhằm phục vụ cho công cuộc côngnghiệp hoá hiện đại hoá hiện đại hoá đất nước, do đó hoạt động nhập khẩu vàđặc biệt là hoạt động nhập khẩu uỷ thác đóng vai trò rất quan trọng trong hoạtđộng kinh doanh của Công ty
Biểu 1: Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu của công ty
NVL sản xuất Hàng tiêu dùng
(Nguồn : Báo cáo tổng kết cơ cấu hàng xuất nhập khẩu năm 2007)
Thiết bị toàn bộ là nhóm hàng chủ yếu của Công ty, với doanh số luônchiếm vị trí cao nhất, 50,0% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, nó thể hiện rõ
Trang 9nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã giao cho Công ty trong giai đoạn côngnghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Với bề dầy kinh nghiệm, Công ty rấtthận trọng trong việc nhập khẩu các thiết bị, dây chuyền, tránh nhập nhữngcông nghệ lạc hậu, lỗi thời.
Nhóm mặt hàng chủ lực thứ hai là thiết bị lẻ, maý móc phụ tùng (chiếm24,5%) và nguyên liệu sản xuất (chiếm 15,0%) mà Công ty nhập khẩu chocác nhà máy, xí nghiệp trong cả nước, hầu hết là theo các hợp đồng nhập khẩu
uỷ thác Kinh doanh các mặt hàng này theo hình thức uỷ thác có ưu điểm làkhông mất vốn mà vẫn thu được lợi nhuận, bên cạnh đó thị trường lại được
mở rộng thêm
2 Đặc điểm về thị trường nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
Thị trường là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưỏng tới hiệuquả nhập khẩu thiết bị toàn bộ Là thị trường có tính chất một chiều: các nướcđang phát triển bao giờ cũng ở địa vị người mua và các nước phát triển làngười bán Do tính chuyển giao kỹ thuật công nghệ bao giờ cũng theo hướng
từ nước phát triển nhất sang nước phát triển kém hơn, sau đó đến các nướcđang phát triển, cuối cùng là các nước kém phát triển
Gần đây có xu hướng chuyển giao thiết bị toàn bộ và kỹ thuật trong nội
bộ các nước phát triển với nhau Điều này do quá trình quốc tế hoá ngày càngcao, sâu sắc, hợp tác và đầu tư lẫn nhau giữa các nước phát triển diễn ra càngnhiều, việc lập các liên doanh, đặt các chi nhánh ở các lãnh thổ để thâm nhập
và chiếm lĩnh thị trường cơ sở để phát triển việc chuyển giao thiết bị toàn bộ,khoa học và kỹ thuật
Về vấn đề thị trường, đặc biệt thị trường nhập khẩu luôn là vấn đề nangiải, bức xúc đòi hỏi phải tập trung giải quyết Trước khi chuyển sang cơ chếthị trường, Công ty chỉ có quan hệ chủ yếu với các nước Liên xô cũ và cácnước Đông Âu Sau khi Liên Xô cũ và một loạt các nước xã hội chủ nghĩa
Trang 10Đông Âu tan rã, Công ty đã có nhiều cố gắng và bước đầu đạt được một sốthành công trong việc mở rộng và thâm nhập thị trường, đến nay Công ty đã
có quan hệ với 68 nước trên thế giới và hàng trăm khách hàng Khu vực nhậpkhẩu chính của Công ty là: Pháp, Đức, Vương quốc Bỉ, Hà Lan, Mỹ, CH.Séc,Nhật Bản, Thái Lan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Italia, Úc, Singapore, Tây BanNha, Indonesia, Trung Quốc, Anh, Ucraina, Nga, Ai-Xơ-Len, Thụy Điện, Đàiloan, Malaysia, Áo, Ấn Độ, Đan Mạch, Phần Lan, Nauy, Slovakia, Mexico,Hungarie, Canada, Thụy Sĩ, Philippine, Brasil Sau đây là bảng kim ngạchnhập khẩu theo thị trường một số nước chủ yếu của Công ty từ năm 2003 đếnnăm 2007
Bảng 1: Kim ngạch nhập khẩu theo thị trường
Nước
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Triệu USD Triệu USD
So vớinămtrước
(%)
Triệ u USD
So vớinămtrước
(%)
Triệu USD
So vớinămtrước
(%)
Triệu USD
So vớinămtrước
Trang 11(Nguồn: Phòng kế hoạch tài chính)
Các máy móc thiết bị nhập từ các nước như Hàn Quốc, Đài Loan hoặcTrung Quốc thường không phải là loại hiện đại song có một ưu điểm là giá
hạ hơn so với các thiết bị nhập ở các nước công nghiệp tiên tiến Thiết bị toàn
bộ nhập khẩu từ các nước công nghiệp phát triển thường là thiết bị trong cácnghành cơ khí chính xác, sản xuất gạch men, luyện thép, luyện kim, dầu khí,thiết bị viễn thông
3 Đặc điểm về lao động
Là một doanh nghiệp thương mại nên Technoimport không có nhiềulao động như doanh nghiệp sản xuất
Bảng 2: Cơ cấu lao động theo tính chất lao động
Bảng 3: Cơ cấu lao động theo giới tính
TT Giới tính Số lượng (người) Tỉ trọng (%)
(Nguồn : Phòng tổ chức cán bộ)
Trang 12Bảng 4: Bảng theo dõi số lượng cán bộ tại các phòng ban năm 2006
Trang 134 Bộ máy tổ chức quản lý của công ty
Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của công ty
Qua sơ đồ, ta thấy bộ máy tổ chức của Công ty được bố trí theo cơ cấutrực tuyến - chức năng Cơ cấu tổ chức quản lý và cơ cấu thực hiện các dịch
Tổng giám đốc
Các phó tổng giám đốc
Các phòng chức năng Các phòngnghiệp vụ
Trung tâm tư
Phòng kế hoạch tài chính
Phòng xuất nhập khẩu 1
Phòng xuất nhập khẩu 2
Phòng xuất nhập khẩu 3
Phòng xuất nhập khẩu 4
Phòng xuất nhập khẩu 5
Phòng xuất nhập khẩu 6
Phòng xuất nhập khẩu 7 Các đơn vị
trực thuộc
Trang 14vụ của Công ty có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện côngviệc Thông tin của lãnh đạo cấp cao nhanh chóng được truyền đạt cho cán bộ
cấp dưới và nhanh chóng có được thông tin phản hồi
4.1 Các bộ phận quản trị của Công ty
Đứng đầu bộ máy quản trị là tổng giám đốc có quyền quyết định điềuhành hoạt động của Công ty theo đúng kế hoạch, chính sách pháp luật của nhànước và chịu trách nhiệm trước tập thể lao động về kết quả kinh doanh củacông ty Giúp việc cho tổng giám đốc là 2 phó tổng giám đốc:
- Phó tổng giám đốc phụ trách quản lý các phòng chức năng giúp thammưu cho tổng giám đốc về các công tác quản lý tài chính, hành chính và tổchức cán bộ Các phòng chức năng trực thuộc sự phó tổng giám đốc này là:
+ Phòng Kế hoạch tài chính: gồm 1 kế toán trưởng kiêm trưởng phòng
kế toán 3 phó phòng và 6 nhân viên khác Giữ vai trò giám đốc đồng tiền chomọi hoạt động của Công ty, thực hiện theo cơ chế hạch toán tập trung Mọivấn đề liên quan đến tài chính dưới bất kỳ hình thức nào đều phải qua phòng
kế hoạch tài chính trước khi trình lãnh đạo phê duyệt
+ Phòng Tổ chức cán bộ: gồm 2 thành viên Là đơn vị chức năng thammưu cho Tổng giám đốc về tổ chức bộ máy tổ chức, quản lý nhân sự về mọimặt và giải quyết các vấn đề có liên quan khác dướp sự chỉ đạo trực tiếp củaTổng giám đốc
+ Thứ ba, phòng Hành chính quản trị: gồm 1 trưởng phòng và 13thành viên, là đơn vị có nhiều bộ phận, với nhiều chức năng nhưng có chungmột mục đích là phục vụ cho hoạt động kinh doanh của công ty được thuậnlợi và có hiệu quả
- Phó tổng giám đốc kinh doanh phụ trách quản lý các vấn đề liên quantới các nghiệp vụ và dịch vụ của Công ty Các phòng trực thuộc gồm:
Trang 15+ Phòng XNK 1: Chức năng chính là nhập khẩu thiết bị thông tin, thiết
bị phụ tùng cho các nhà máy luyện kim và cơ khí, an ninh quốc phòng
+ Phòng XNK 2: Chức năng chính là kinh doanh ôtô, xe máy, xăm lốp + Phòng XNK 3: Hoạt động nhập khẩu chủ yếu các công trình hoáchất, phân bón, các mặt hàng về khoáng sản dầu khí, địa chất
+ Phòng XNK 4: Nhập khẩu chủ yếu thiết bị máy móc, phụ tùng,nguyên liệu cho các công trình thuỷ lợi
+ Phòng XNK 5: Chủ yếu nhập khẩu thiết bị máy móc, phụ tùng,nguyên liệu cho các công trình văn hoá xã hội, công nghiệp nhẹ và côngnghiệp thực phẩm
+ Phòng XNK 6: Hoạt động chủ yếu là nhập khẩu công trình vật liệuxây dựng, thiết bị vật liệu xây dựng, thiết bị vật tư nghành cấp thoát nước,nghành chiếu sáng, trang trí nội thất, thiết bị văn phòng
+ Phòng XNK 7: Hoạt động nhập khẩu các loại thiết bị máy móc khácnhau, chủ yếu thiết bị và nguyên liệu sản xuất cho các nhà máy bia, thiết bịthông tin liên lạc, thiết bị thi công
4.2 Các đơn vị trực thuộc
- Trung tâm tư vấn và đầu tư thương mại: Nhiệm vụ là tham mưu choTổng giám đốc, cho các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, cho các chi nhánh
về những vấn đề liên quan đến hoạt động của Công ty Cung cấp các dịch vụ
tư vấn như: Soạn thảo hồ sơ mời thầu, xét thầu và soạn thảo, đàm phán ký kếthợp đồng
- Trung tâm xuất nhập khẩu và hợp tác lao động quốc tế: Chức năngchính là xuất nhập khẩu lao động
- Chi nhánh Công ty tại Hải Phòng: Hoạt động tất cả các lĩnh vực xuấtnhập khẩu của Công ty nhưng hoạt động chủ yếu là giao nhận vận tải
Trang 16- Chi nhánh Công ty tại Đà Nẵng: hoạt động kinh doanh nhập khẩu khuvực miền Trung và hoạt động giao nhận vận tải tại cửa khẩu Đà Nẵng
- Các chi nhánh văn phòng ở nước ngoài: Tìm hiểu, nghiên cứu thịtrường nước ngoài, giúp giao dịch với đối tác thuận lợi và mở rộng thị trường
III Hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây.
1 Kết quả kinh doanh của công ty trong những năm gần đây
Trước những năm 90, Technoimport là doanh nghiệp độc quyền trongnhập khẩu thiết bị toàn bộ Là một doanh nghiệp nhà nước, với ưu thế độc
quyền chỉ có Technoimport mới được phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ, Công
ty đã nhập khẩu hơn 500 công trình thiết bị toàn bộ trong phạm vi cả nước
Ngày nay, dù có sự biến động lớn về kinh tế, tiền tệ, đổi mới về cơ chế quản
lý, phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường, mất đi ưu
thế độc quyền, song Technoimport đã đứng vững và kinh doanh có hiệu quả
Bảng 5: Tình hình tài sản có và tài sản nợ từ năm 2003 – 2007
(%)
Tỷ đồng
So vớinămtrước
(%)
Tỷ đồng
So vớinămtrước
(%)
Tỷ đồng
So vớinămtrước
(%)
Tổng tài sản 137,19 153,04 111,6 150,39 98,3 160,50 106,7 165,93 103,4
Tổng nợ phải
trả 105,25 120,74 114,7 117,23 97,1 127,26 108,6 130,84 102,8Vốn lưu động 27,98 28,43 101,6 28,78 101,2 29,14 101,3 28,44 97,6
Doanh thu 155,30 170,51 109,8 152,71 89,6 156,23 102,3 159,86 102,3
Lợi nhuận
trước thuế 0,40 0,80 200,0 1,63 203,7 0,46 28,2 0,45 97,8Lợi nhuận
( Nguồn : Báo cáo tài chính năm 2006 )
Trang 17Theo bảng tóm tắt tài sản có và tài sản nợ trên thì doanh thu trong 3năm 2003, 2004, 2005 không có sự thay đổi lớn Năm 2004 có tăng 15 tỷ
tướng ứng tăng 9,8% so với năm 2003 nhưng năm 2005 lại giảm đi 10,4% so
với năm 2004, chỉ đạt 152,71 tỷ Lợi nhuận sau thuế lại có sự thay đổi đáng
kể: từ năm 2003 đến năm 2005 tăng 0,89 tỷ, năm 2004 đạt 62 triệu tăng
129,6% so với năm 2003, năm 2005 tăng 87,1% so với năm 2004 tướng ứng
là 0,54 tỷ Điều này cho thấy năm 2005 công ty hoạt đông khá hiệu quả Sang
đến năm 2006 thì doanh thu đạt 156,23 tỷ cao hơn so với năm 2005 là 2,3%
nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm 71,6% và tình trạng này tiếp tục diễn ra
trong năm 2007 khi doanh thu tiếp tục tăng 3,6 tỷ (tăng tướng ứng 2,3%) so
với năm trước nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm 3%, chỉ đạt được 32 triệu
Trong nội bộ Công ty có sự chênh lệch khá cao giữa các phòng kinh doanh và
các chi nhánh trong Công ty, chi nhánh trong thành phố Hồ Chí Minh có
doanh thu cao nhất Công ty, tiếp theo là trung tâm xuất nhập khẩu lao động và
hợp tác quốc tế, sau đó là phòng xuất nhập khẩu 5 và đến các chi nhánh,
(thực hiện) 121.031.708 148.342.028 107.436.611 130.723.033 115.065.930Xuất nhập khẩu
(kế hoạch) 95.001.341 102.023.403 97.433.749 111.300.000 103.943.929Thực hiện so với
( Nguồn : báo cáo tổng kết kế hoạch kim ngạch xuất nhập khẩu )
Trang 18Qua bảng tình hình xuất nhập khẩu trên, trong cả 4 năm 2003, 2004,
2005, 2006, 2007 Công ty đều hoàn thành vượt mức kế hoạch được giao, làmtròn nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước, bảo toàn và phát triển vốn do nhànước cấp Năm 2003, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt mức 127,4% tăng 27,4%tương ứng là 26.030.367 USD so với kế hoạch đề ra Đặc biệt, năm 2004 đánhdấu sự thành công vượt bậc của công ty với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạtmức 145,4% tương ứng đạt 148.342.029 USD, tăng 45,4% so với mức kế hoạch,tương ứng tăng 46.318.626 và điều này cũng thể hiện rõ khi cả doanh thu và lợinhuận đều tăng lên đáng kể Năm 2005, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 110,3%tương ứng đạt 107.438.112 USD cũng vượt mức kế hoạch đề ra, tăng 10,3%tương ứng tăng 9.944.362 USD, tuy không tăng bằng năm 2004 nhưng lợinhuận lại nhiều hơn chứng tỏ trong năm 2005 Công ty hoạt động có hiệu quảhơn năm 2004 Năm 2006, tuy tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 117,5%tương ứng đạt 130.723.033 USD tăng so với kế hoạch đặt ra 17,5% tương ứngtăng 19.423.033 USD, tổng kim ngạch tăng nhưng lợi nhuận lại giảm sút so vớinăm 2005 Năm 2007 kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục giảm so với năm 2006nhưng vẫn tăng so với kế hoạch chứng tỏ Công ty đã lường trước được nhữngkhó khăn và có kế hoạch phù hợp
Cũng qua những số liệu, có thể dễ dàng nhận ra sự chênh lệch giữa nhậpkhẩu và xuất khẩu Nhập khẩu chiếm tỷ trọng lớn, vượt trội so với xuất khẩutrong tương quan xuất nhập khẩu của Công ty, nhập khẩu chiếm 95,5% 96,1%;94,9%; 94,8%; 94,3% lần lượt các năm 2003, 2004, 2005, 2006, 2007 trongtổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty Trong đó chủ yếu là kết quả củahoạt động nhập khẩu uỷ thác cho thấy thế mạnh cũng như hoạt động chủ lựccủa Công ty Tuy xuất khẩu có phần khiêm tốn hơn nhiều so với nhập khẩu,song kim ngạch xuất khẩu đang tăng dần lên một cách rõ rệt, điều này khẳngđịnh phương hướng của Công ty trong tương lai là tăng cường hoạt động xuất
Trang 19khẩu theo hướng tích cực hơn Những kết quả trên cho thấy Công ty đã chuẩn
bị khá kỹ cho kế hoạch cổ phần hóa vào năm 2008 tới đây
2 Cơ cấu mặt hàng và thị trường xuất khẩu
Tuy không phải là hoạt động chủ lực của Công ty nhưng mặt hàng xuấtkhẩu của Công ty rất đa dạng và phong phú như máy móc thiết bị, khoángsản, lâm sản được nhà nước cho phép, rau quả, than đá, hàng thủ công mỹnghệ, vật liệu xây dựng, hàng công nghiệp tiêu dùng, cao su, các sản phẩmbằng cao su, các sản phẩm chứa cao su, nông sản, nông sản đã chế biến, tơtằm, sợi các loại Trong đó:
Biểu 2: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của công ty:
(Nguồn : Báo cáo tổng kết cơ cấu hàng xuất nhập khẩu năm 2007)
(Bao gồm: hành sấy, tiêu đen, ống hút, mây tre, than gáo dừa, gốm sứ
mỹ nghệ…)
Nhìn vào bảng trên, chúng ta có thể thấy, mặt hàng xuất khẩu chủ yếucủa công ty là cao su, chiếm 57,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu còn cácmặt hàng khác chiếm tỷ trọng không nhiều Trong những năm gần đây, công
ty đã đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu và hoạt động này đã mang lại nguồn thu
Trang 20đáng kể, ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh củacông ty
Khu vực xuất khẩu chính của Công ty là các thị trường: Hàn Quốc,Đức, Nhật Bản, Hà Lan, Pháp, Úc, Thái lan, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Cambodia,Đài Loan, Philipine, Ba Lan…
3 Tư vấn đầu tư và thương mại
Bên cạnh hoạt động xuất nhập khẩu đựơc coi là lĩnh vực kinh doanhchủ lực, công ty cũng chú trọng đến việc cung cấp dịch vụ về tư vấn đầu tư vàthương mại như: tư vấn soạn thảo hồ sơ mời thầu và soạn thảo - đàm phán -
ký kết hợp đồng thương mại cho các dự án Một số các dự án mà Công ty đãtham gia tư vấn như nhà máy nước Lạng Sơn, Cao Bằng, Hoà Bình, Lào Cai,Vũng Tàu, Sơn La, Sơn Tây; nhà máy xi măng Hoàng Mai, Tam Điệp; nhàmáy đường Kiên Giang, Minh Hải… Đây là lĩnh vực kinh doanh đem lạinguồn thu đáng kể cho doanh nghiệp với doanh thu năm 2007 đạt 3,8 tỷVNĐ1 mà hoạt động này lại không phải sử dụng đến vốn kinh doanh Chính
vì vậy, trong thời gian vừa qua, công ty đã và đang chú trọng đến lĩnh vựckinh doanh này
1 Bản thuyết minh Báo cáo tài chính năm 2007 của công ty.
Trang 21CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ TOÀN BỘ TẠI CÔNG TY
I Đánh giá hiệu quả hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ của Công ty những thành tựu đạt được và những vấn đề còn tồn tại
1 Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ của Việt Nam cũng như của Công ty thời kỳ trước 1990
Sau khi giành được độc lập, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh đã không ngừng nỗ lựcquyết tâm xây dựng đất nước Trải qua cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, nềnkinh tế Việt Nam ở buổi ban đầu còn vô cùng nghèo nàn, lạc hậu và hết sứcthiếu thốn, cơ sở vật chất hầu như ở con số không Từ đầu những năm 1950,
đã có một số ít công trình thiết bị toàn bộ được nhập khẩu về Việt Nam thôngqua việc ký kết biên bản hợp tác song phương giữa hai chính phủ, song quátrình nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật chỉ thực sự bắt đầu khi Tổng công
ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Technoimport) ra đời năm
1959 Đây là doanh nghiệp Nhà nước đầu tiên được thành lập để hoạt độngtrong lĩnh vực tư vấn về kình tế, đồng thời cũng là doanh nghiệp duy nhấtđược Nhà nước giao nhiệm vụ nhập khẩu các công trình thiết bị toàn bộ chotất cả các Bộ ngành, địa phương, kể cả cho an ninh quốc phòng trong suốtmột thời gian dài từ 1959 – 1988 Trong suốt thời kỳ bao cấp, thiết bị toàn bộđược nhập về theo các Hiệp định vay nợ viện trợ hoặc thương mại Trong cácquy định này rõ số vốn vụ thể cấp cho từng công trình và phân công đơn vịxuất nhập khẩu của cả hai bên Việc tiến hành giao dịch với bạn hàng nàohoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước và được quy định sẵn trong các Hiệp định
Trang 22thương mại, vay nợ song phương hoặc đa phương được ký kết giữa Chính phủViệt Nam với Chính phủ nước ngoài.
Trong thời kỳ này, bạn hàng cung cấp thiết bị toàn bộ và kỹ thuật choViệt Nam chủ yếu là các công ty kinh doanh xuất nhập khẩu của các nướcĐông Âu, đứng đầu là Liên Xô (cũ), ngoài ra còn có một số công ty của cácnước Tây Âu và Bắc Âu như Đức, Thụy Điển, Phần Lan
Việc tìm kiếm thị trưòng để nhập khẩu không là vấn đề phải quan tâmnhiều nhất trong thời kỳ này Các bạn hàng quen thuộc và các khu vực thịtrưòng lâu năm đã được quy định rõ trong các hiệp định Chính vì vậy, thaycho các cuộc đàm phán về thương mại, đơn vị chuyên trách chỉ phải lập đơnhàng đúng hạn như đã ghi trong hợp đồng cũng theo biểu thời gian đã đượcquy định trong các hiệp định đó
Bảng 7: Cơ cấu nhập khẩu thời kỳ 1986 – 1990
(Nguồn: Tổng cục thông kê, 1990)
Với bối cảnh như vậy, vốn để nhập khẩu thiết bị toàn bộ chủ yếu là từcác nguồn như vốn viện trợ không hoàn lại, tín dụng chính phủ, tín dụng củacác tổ chức quốc tế cho vay thông qua các hiệp định cấp chính phủ hoặc thoảthuận quốc tế, tín dụng ngân hàng, tín dụng xuất khẩu thoả thuận và ký kếttrong hợp đồng mua bán dưới sự bảo đảm của Ngân Hàng Ngoại ThươngViệt Nam và nguồn vốn dự trữ của Nhà nước hoặc vốn tự có của các doanhnghiêp (dù rằng chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong giai đoạn này)
Trang 23Căn cứ vào các nguồn vốn vay và viện trợ nói trên cùng với nguồn vốnngân sách, Nhà nước sẽ cân đối và cấp vốn cho đơn vị chuyên trách tiến hànhnhập khẩu Những năm cuối thập kỷ 70, Công ty đã nhập một số lượng lớncông trình thiết bị, máy móc góp phần xây dựng cơ sở vất chất kỹ thuật chođất nước từ các nguồn vốn vay và viện trợ của nhiều nước và các tổ chứcquốc tế (cả tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa), từ đó có được sự tin tưởngcủa Nhà nước, của các chủ đầu tư trong nước cũng như các đối tác nướcngoài Từ sau năm 1978 – 1979, một loạt các nước (chủ yếu là các nước tưbản chủ nghĩa) và tổ chức quốc tế như Quỹ tiền tệ quốc tê (IMF), Ngân hàngThế giới (WB) đã ngừng cấp vốn vay và viện trợ cho Việt Nam, chỉ cóLiên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác lại tăng cường trợ cấp ODA với
ưu đãi lớn Vì thế, nhìn chung cơ cấu bạn hàng và thị trường vẫn không thayđổi nhiều (chủ yếu vẫn là Liên Xô và các nước Đông Âu)
Thời kỳ 1986 – 1990 là thời kỳ mà nguồn tài trợ cho Việt Nam chủ yếu
từ các nước SEV, chiếm tới 70% nguồn viện trợ ghi qua ngân sách nhà nước,đại bộ phân từ Liên Xô cũ dưới hình thức nhập khẩu công trình thiết bị toàn
bộ Tính đến 1990, Việt Nam đã nhận được 12,6 tỷ Rúp chuyển nhượng ODA
từ Liên Xô, trong đó thời điểm nhiều nhất đạt tới 1800 triệu Rúp chuyểnnhượng, gồm gần 100 dự án thuộc nhiều lĩnh vực
Bảng 8: Cơ cấu thị trường thiết bị toàn bộ của Công ty 1987 - 1989
Trang 24(Nguồn: Báo cáo tồng kết của Công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ
và kỹ thuật và tổng cục thống kê 1990)
Với các nguồn vốn vay nước ngoài khác, trong những năm này Công ty
đã nhập khẩu gần 500 công trình thiết bị toàn bộ cỡ lớn và nhỏ phục vụ cho
sự nghiệp xây dựng đất nước, trong đó có thể kể đến các công trình như: Cácnhà máy thủy điện Hoà Bình, Trị An; các trạm biến thế và đường dây 110KV,220KV; các mỏ than Cẩm Phả; các công trình thủy lợi và thông tin bưu chínhviễn thông
Sự hỗ trợ của Liên Xô và một số nước Đông Âu có ý nghĩa hết sứcquan trọng đối với sự nghiệp khôi phục và phát triển kinh tế cũng như bảo vệ
Tổ quốc Hiệu quả của sự hợp tác ấy càng rõ rệt trong hoàn cảnh nước ta phảiđối phó với chiến tranh, khắc phục hậu quả, khôi phục và phát triển sản xuất.Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hiệu quả hợp tác lẽ ra đã lớn hơn nhiều nếunhư không có những khiếm khuyết nhất định trong các mặt sau:
+ Sự hợp tác một chiều khiến cho nền kinh tế phụ thuộc Do vây, đếnnăm 1991 khi Liên Xô và Đông Âu tan rã đã gây không ít khó khăn cho côngcuộc phát triển kinh tế của Việt Nam, có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quảhoạt động của Công ty, điều này cũng thật dễ hiểu khi Công ty đã dựa quánhiều vào Nhà nước
+ Cơ chế hợp tác mang nặng tính bao cấp đã làm cho những dự ánchương trình hợp tác kém hiệu quả, kém phát huy tác dụng gây ra những hiệuquả mà giờ đây nền kinh tế vẫn đang phải gánh chịu Nhiều khi các bên chorằng bản chất của nhập khẩu thiết bị toàn bộ trong giai đoạn này là nhận việntrợ không hoàn lại nên tinh thần trách nhiệm của bên xuất khẩu không cao,không nghiêm chỉnh trong thực hiện hợp đồng, chất lượng của công trình thiết
bị toàn bộ không đảm bảo, trình độ kỹ thuật lạc hậu so với thế giới Một sốcông trình thiết bị toàn bộ vay nợ của Liên Xô có luận chứng kỹ thuật và thiết
Trang 25kế thiếu chính xác, tinh toàn không đồng bộ thiếu cân đối vốn trong nước,việc xây dựng kéo dài Khi xây dựng song lại không đủ khả năng đưa vàohoạt động hiệu quả do thiết bị công nghệ lạc hậu
+ Người nhập khẩu đã vấp phải nhiều khó khăn trong quá trình nhậpkhẩu thiết bị toàn bộ trong giai đoạn này Nhìn chung, Công ty luôn ở thế bấtlợi là bị chào giá cao Hiện tượng này là do sự không thông nhất giữa cácnước trong việc định giá công trình thiết bị toàn bộ, có nơi thì chào giá thiết bịcủa mình sản xuất căn cứ vào giá của sản phẩm cùng loại được sản xuất ở cácnước khác; một số nước lại tỏ ra tùy tiện trong việc định giá bán theo lợinhuận của họ Điều này đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác đàm phán kýkết giá cả, nhiều hợp đồng đã phải đàm phán căng thẳng mà vẫn không đi đếnthoả thuận
+ Ngoài vấn đề về giá, còn rất nhiều những tồn tại khác, kết quả của tệlàm ăn quan liêu bao cấp Thời gian thực hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bịtoàn bộ thường bị kéo dài, có khi vượt cả thời gian quy định từ 1 – 2 năm.Thời gian dành cho khâu khảo sát thị trường từ 2 – 3 năm, trong khi cũng vớimột công trình như vậy, các nước tư bản chỉ cần thực hiện trong vài thánghoặc nhiều nhất là một năm Việc cấp vốn đôi khi thường vô cùng phức tạpnhưng hợp đồng nhập khẩu ký với các nước xã hội chủ nghĩa lại rất ngắn gọnđơn giản, chỉ 2 – 3 trang, nhiều lắm là 10 trang Trong hợp đồng đôi khi phía
ta buộc phải chấp nhận những điều khoản hết sức vô lý như thời hạn giaohàng thường được quy định một các rất chung chung mơ hồ : “Thời hạn giaohàng từ 1985 đến 1987 ” Những quy định kiểu này làm cho phía ngườinhập khẩu Việt Nam bị động, không biêt chính xác lúc nào sẽ nhận đượchàng Nhiều khi nhà xưởng, bộ máy hành chính đã xây dựng hoàn chỉnh songvẫn phải đợi 1 – 2 năm, gây ra thiệt hại lãng phí lớn cho ngân sách Nhà nước
Trang 26Mặc dù còn rất nhiều tồn tại và khó khăn trong quá trình nhập khẩuthiết bị toàn bộ và kỹ thuật của Công ty nhưng cũng đã có rất nhiều công trìnhthiết bị toàn bộ trong số hơn 500 công trình lớn nhỏ được nhập khẩu trongthời gian này đã và đang đóng góp có hiệu quả cho phát triển kinh tế ViệtNam hiện nay Tuy rằng trình độ khoa học kỹ thuật của đội ngũ cán bộ côngnhân kỹ thuật của Công ty được đào tạo trong thời gian này còn chưa cao sovới trình độ thế giới nhưng cũng đã giúp nước ta qua được một chặng đườngkhời đầu cần thiết để tiến vào những lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao hơn.
2 Hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ của Công ty từ sau 1990 đến nay – Giai đoạn trưởng thành và lớn mạnh của Công ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật
Kể từ khi sau năm 1990, cùng với chính sách đổi mới nền kinh tế, thịtrường thiết bị toàn bộ cũng bước sang một giai đoạn hoạt động sôi nổi hơnbao giờ hết Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước rất chú trọng quantâm tới vấn đề cải tiến kỹ thuật mua sắm thiết bị nhằm đẩy mạnh tiến trìnhcông nghệ hóa, hiện đại hóa đất nước Cho đến nay, nguồn vốn phục vụ chomục tiêu này được Công ty huy động từ các nguồn lợi nhuận để lại, vốn khấuhao cơ bản, tín dụng dài hạn của ngân hàng, vốn ngân sách Nhà nước, vốnvay nước ngoài
Trong đó, các nguồn vốn từ lợi nhuận để lại và vốn khấu hao cơ bản chỉchiếm một tỷ lệ hết sức nhỏ bé do trong thời gian qua số doanh nghiệp Nhànước làm ăn đạt mức lãi đáng kể là rất ít Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp,tín dụng dài hạn của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn đầu
tư cho máy móc thiết bị Nguyên nhân là do môi trường kinh doanh nói chung
và tín dụng ngân hàng nói riêng còn nhiều bất trắc rủi ro nên không phảidoanh nghiệp nào cũng được vay vốn trung hạn và dài hạn Vì vậy, để có đủsức nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, cùng với quá trình đẩy
Trang 27mạnh cổ phần hóa, việc biến các nguồn lực nước ngoài thành một phần nộilực là một nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội trong sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong giai đoạn này nguồn vốn nước ngoài đã thực sự góp phần quantrọng đối với các hợp đồng nhập khẩu của Công ty khi bối cảnh trong nước vàđặc biệt là quốc tế có nhiều thuận lợi với những sự kiện nổi bật như:
Tháng 02/1994, Mỹ xóa bỏ lệnh cấm vận chống Việt Nam
Tháng 08/1994, Thượng viện Mỹ bãi bỏ lệnh cấm viện trợ cho ViệtNam áp dụng từ hơn 2 thập kỷ qua
Ngày 27/05/1995, Việt Nam gia nhập hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á (ASEAN)
Năm 1997, gia nhập tổ chức kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương(APEC)
Từ 10/12/2001, hiệp định thương mại Việt – Mỹ bắt đầu có hiệu lực
Năm 2003, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh ViệtNam bắt đầu thực hiện lộ trình hội nhập AFTA, đồng thời đạt đượcnhiều tiến bộ trong các cuộc đàm phán chuẩn bị cho việc gia nhậpWTO vào năm 2005, ký Hiệp định Khuyến khích và bảo hộ đầu tư vớiNhật Bản, ký Hiệp định Hàng không với Hoa Kỳ… Các hoạt động đốingoại cũng sôi động trong năm 2003, đặc biệt là các cuộc hội thảo ViệtNam – châu Phi đã thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác song phương và
đa phương giữa Việt Nam và các nước trên nhiều lĩnh vực, góp phầnnâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế
Gần đây,
Năm 2005, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội Việt Nam khóa XI đã thôngqua 3 bộ luật quan trọng là Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và LuậtĐấu thầu Với những ưu điểm như cởi mở, thuận tiện, minh bạch và
Trang 28đơn giản hơn, giới bình luận hy vọng điều này sẽ tạo bước đột phá lớnlàm năng động hóa môi trường kinh doanh của Việt Nam, tạo cơ sởpháp lý quan trọng để hướng mọi nguồn lực trong nước và quốc tế vàotiến trình phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước.
Năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Đồng thời, Mỹ cũng đã thôngqua Quy chế Quan hệ Thương mại bình thường vĩnh viễn (PRNT) vớiViệt Nam Ngày 20/12 Tổng thống Mỹ G.Bush đã ký ban hành đạo luật
cả gói HR 6111, trong đó có PNTR với Việt Nam Đây là dấu mộc sonmới trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, báo chí quốc tế đồng loạt đưatin và coi đây là một bước ngoặt lịch sử Đây không chỉ là một quy chếthương mại để bảo đảm các doanh nghiệp hai nước được hưởng đầy đủcác quy định của WTO Việc thông qua PNTR đã đóng lại một quy chếphân biệt đối xử của Mỹ từ thời chiến tranh lạnh, đối với các nước khối
xã hội chủ nghĩa và đã áp dụng lên Việt Nam từ 32 năm trước đây.Với những sự kiện đó, quá trình tiếp cận đến luồng vốn quốc tế củaViệt Nam cũng như của Công ty đã gạt bỏ được những trở ngại chủ yếu nhất,
mở ra triển vọng mới sáng sủa cho việc huy động nguồn lực bên ngoài Nhờ
đó, cơ cấu nhập khẩu máy móc thiết bị toàn bộ của Việt Nam đã có sự biếnchuyển tốt trong những năm vừa qua
Trang 29Bảng 9: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam 2003 – 2007
Năm
Kim ngạchxuẩt nhập khẩu
Kim ngạchxuất khẩu
Kim ngạchnhập khẩuTỷ
USD
So vớinăm trước(%)
TỷUSD
So vớinăm trước(%)
TỷUSD
So vớinăm trước(%)
Nhìn bảng trên ta thấy có sự thay đổi vị trí giữa các loại mặt hàng, tỉtrọng nhập khẩu máy móc thiết bị đã tăng mạnh đều chỉ có năm 2004 có giảmchút ít so với 2003 (giảm 2,1%) Sự thay đổi này có sự đóng góp rất lớn củaCông ty xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật
Trang 30Trong những năm gần đây, để tăng doanh thu và đa dạng hoá sản xuất,Công ty có mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình sang lĩnh vực tư
vấn và một số lĩnh vực khác nhưng hoạt động xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ
và kỹ thuật vẫn chiếm ưu thế Chúng ta có thể nhìn thấy kết quả hoạt động
kinh doanh xuất nhập khẩu của công ty qua bảng dưới đây:
Bảng 11: Kim ngạch xuất nhập khẩu của công ty
(đơn vị: Triệu USD )
Chỉ tiêu
Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Giá trị
Tỉ trọng
(%)
Giá trị
Tỉ trọng
(%)
Giá trị
Tỉ trọng
(%)
Giá trị
Tỉ trọng
(%)
Giá trị
Tỉ trọng
( Nguồn: Báo cáo công tác các năm từ 2003 đến 2007 của công ty )
Từ bảng tổng kết trên đây có thể thấy, kim ngạch xuất nhập khẩu củacông ty có khá nhiều biến động trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm
2007; cụ thể, năm 2003 đạt 121,03 triệu USD nhưng đến năm 2005 giảm
xuống còn 107,44 triệu USD, đến năm 2006 thì tăng khá mạnh (130,72 triệu
USD) nhưng chỉ đạt 115,06 triệu USD vào năm 2007 Cũng theo bảng trên,
kim ngạch nhập khẩu của công ty mà chủ yếu là nhập khẩu thiết bị toàn bộ
vẫn chiếm tỷ trọng cao và khá ổn định qua các năm Điều này thể hiện sự hiệu
quả trong việc thực hiện các hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ và kỹ thuật
của Công ty Với việc nước ta đã gia nhập WTO, ngày càng nhiều doanh
nghiệp tham gia vào thị trường nhập khẩu thiết bị toàn bộ nên thị trường bị
chia nhỏ dẫn đến kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của công ty cũng có sự
Trang 31biến động nhưng với sự nỗ lực của mình Công ty vẫn thực hiện tốt các hợpđồng nhập khẩu của mình, điều này tạo thêm được sự tin tưởng từ phía cácđối tác giúp nâng cao hiệu quả việc thực hiện nhập khẩu của công ty tronggiai đoạn tới Bên cạnh đó, Công ty đang gia tăng mọi nỗ lực để chuẩn bị tiếntới cổ phần hoá thành công vào năm 2008 nên một số hoạt động của công ty
bị ngưng lại Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc giảm kim ngạchnhập khẩu của Technoimport, nó thể hiện rõ bằng giá trị kim ngạch xuất nhậpkhẩu năm 2007 chỉ là 115,06 tỷ
Về xu hướng biến động của kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu chúng
ta có thể theo dõi ở hình dưới đây:
Biểu 3: Giá trị kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu qua các năm của Công ty
Giá trị ( Triệu USD )
( Nguồn: Báo cáo công tác các năm từ 2003 đến 2007 của công ty)
Trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2007, kim ngạch nhậpkhẩu của công ty luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu với giá trị trung bình qua các năm là 118,5 triệu USD, trong khi kimngạch xuất khẩu trung bình chỉ đạt 5,8 triệu USD Từ biểu đồ trên chúng ta cóthể thấy rằng, kim ngạch xuất khẩu của Công ty đã tăng lên trong mấy năm
Trang 32gần đây, chỉ có năm 2004 là tỉ trọng nhập khẩu có giảm so với năm 2003 Sở
dĩ có được kết quả này là do trong những năm gần đây, công ty đã chú trọng
vào việc khuyến khích các phòng xuất nhập khẩu tham gia vào hoạt động xuất
khẩu mà đi đầu trong hoạt động này là các phòng XNK 4, phòng XNK 5 và
phòng XNK 6 Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu của Công ty nhìn chung còn
mang tính chất nhỏ lẻ và mang tính thời vụ Trong thời gian tới công ty cần có
các biện pháp nhằm đẩy mạnh hơn nữa lĩnh vực kinh doanh này
Như đã nói ở trên, mặt hàng nhập khẩu chủ lực của Technoimport làthiết bị toàn bộ và kỹ thuật Chính vì vậy, mặt hàng này luôn chiếm giá trị và
tỷ trọng lớn trong cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu của công ty Điều này được
thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây:
Bảng 12: Kim ngạch nhập khẩu thiết bị toàn bộ
theo cơ cấu hàng nhập khẩu
(đơn vị: Triệu USD)
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Thiết bị lẻ 28,32 23, 4 34,71 23, 4 24,60 22, 9 28,10 21, 5 28,19 24, 5NVL sản xuất 21,42 17, 7 30,26 20, 4 14,72 13, 7 16,34 12, 5 17,26 15, 0Hàng tiêu dùng 8,84 7,3 12,47 8,4 17,73 16,
5 11,77 9,0 12,08
10, 5
(Nguồn: Phòng Kế hoạch- Tài chính )
Từ bảng tổng hợp trên đây có thể thấy được, mặt hàng nhập khẩu chủlực của công ty vẫn là thiết bị toàn bộ Tuy nhiên, giá trị nhập khẩu của mặt
hàng này qua các năm lại không ổn định So với năm 2003 và năm 2004, năm
Trang 332005 giá trị nhập khẩu thiết bị toàn bộ giảm mạnh chỉ đạt được 50,39 triệuUSD tương ứng giảm 29% so với năm 2004 và giảm 19,9% so với năm 2003.Năm 2006, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này có xu hướng tăng mạnh, cóthể đây là kết quả của quá trình quốc tế hóa khi nước ta đang trong quá trìnhđàm phán trở thành thành viên của WTO, giá trị đạt được là 74,51 triệu USDtăng 47,8% so với năm 2005 Sang năm 2007, kim ngạch mặt hàng này lạigiảm, chỉ còn 27,53 triệu USD, giảm 22,8% so với năm 2006 Sở dĩ có điềunày là vì công ty phải cạnh tranh với nhiều công ty trong nước khác cùng kinhdoanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ Ngoài ra, kim ngạch các mặt hàng thiết bị
lẻ, nguyên vật liệu sản xuất và hàng tiêu dùng cũng chiếm một tỷ trọng nhấtđịnh trong tổng kim ngạch các mặt hàng nhập khẩu của công ty Việc nhậpkhẩu các mặt hàng này không tốn nhiều chi phí như thiết bị toàn bộ mà thờigian thực hiện hợp đồng lại ngắn nên công ty vẫn chú trọng để quay vòng vàtăng thêm vốn cho việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ Tuy nhiên, kim ngạchnhập khẩu các mặt hàng này cũng rất thất thường, chứng tỏ công ty đangđứng trước một số khó khăn cần phải phải khắc phục
Đánh giá hiệu quả nhập khẩu thiết bị toàn bộ của công ty
Bảng 13: Hiệu quả sử dụng chi phí, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
của hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ
STT Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
1 DT thuần từ NK( Triệu VNĐ ) 6.608 6.792 7.816 8.964 9.368
2 Tổng chi phí NK ( Triệu VNĐ ) 4.956 4.654 4.830 6.279 7.674
3 Lợi nhuận ròngNK (Triệu VNĐ) 1.652 2.138 2.986 1.749 1.694
Trang 345 Hệ số sinh lờicủa chi phí (%) 0,33 0,46 0,62 0,28 0,22
(Nguồn: Tổng hợp Báo cáo công tác năm và Báo cáo tháng hoạt động
nhập khẩu hàng hoá từ năm 2003 đến năm 2007 của công ty) Qua bảng trên đây, ta thấy hiệu quả sử dụng chi phí nhập khẩu thiết bị
toàn bộ của công ty còn khá lớn Điều này thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất phícòn tương đối cao, cụ thể: năm 2003 là 75%, năm 2004 giảm xuống còn68,5%, năm 2005 tỷ suất phí có giảm nhưng vẫn tương đối cao 61,7% và cácnăm 2006, 2007 lần lượt là 70,0% và 81,9% cho thấy mức chi phí cho việcnhập khẩu mặt hàng này còn chiếm một tỷ lệ cao trong tổng doanh thu thuđược Một trong những yêu cầu của hoạt động quản trị sản xuất kinh doanh làphải giảm được đến mức tối đa tỷ suất phí nhằm đảm bảo yêu cầu tiết kiệm vàtăng tích luỹ vào lợi nhuận Thế nhưng, chỉ tiêu này ở Technoimport vẫn chưa
hề giảm được trong suốt quãng thời gian từ năm 2003 đến năm 2007 mà còn
có phần tăng nhanh vào các năm 2006, 2007 Điều này cho thấy, việc quản lýchi phí nhập khẩu thiết bị toàn bộ - hoạt động mang lại doanh thu chính chocông ty vẫn chưa hiệu quả
Bên cạnh chỉ tiêu tỷ suất phí, hệ số sinh lời cũng góp phần vào việcphân tính hiệu quả sử dụng chi phí của công ty Chỉ tiêu này phản ánh mức lợinhuận thu được từ một đơn vị chi phí cho hoạt động nhập khẩu Chỉ tiêu nàycàng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp càng cao
Nhìn vào bảng trên, chúng ta thấy hệ số sinh lời của Technoimport làtương đối thấp, chỉ có năm 2005 là đạt được 0,62% còn các năm khác làtương đối thấp Năm 2003, chỉ tiêu này đạt 0,25%, nghĩa là cứ bỏ ra1.000.000 VNĐ thì công ty thu về được 2.500 VNĐ Năm 2004 là 0,46% và
có chiều hướng giảm mạnh vào các năm sau, cụ thể là năm 2006 và năm 2007
tỷ lệ tương ứng của chỉ tiêu này lần lượt 0,28% và 0,22% Điều này nói lên làcông ty đang gặp vấn đề trong việc quản lý và sử dụng vốn
Trang 35Hiện nay, ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia vào thị trườngnhập khẩu thiết bị toàn bộ trong khi nhu cầu về mặt hàng này lại không tăngnhanh Chính vì vậy, công ty cần phải quản lý và sử dụng chi phí một cáchhợp lý nhất nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu
Tuy nhiên khi đánh giá hiệu quả nhập khẩu vẫn lưu ý tới những mặt tồntại của công tác nhập khẩu thiết bị toàn bộ trong giai đoạn này trong đó có thể
kể đến:
- Trình độ của đội ngũ cán bộ thẩm định kỹ thuật và công nghệ nhậpkhẩu cũng như chất lượng máy móc thiết bị nhập về còn hạn chế, chính sáchđầu tư cho nhập khẩu máy móc thiết bị công nghệ cao còn chưa thật đúng dẫnđến hiệu quả nhập khẩu thiết bị không cao Theo đánh giá thì trình độ côngnghệ máy móc nói chung ở trong nước rất thấp, so với các nước tiên tiến trênthế giới, máy móc thiết bị hiện tại lạc hậu từ 2 – 4 thế hệ so với thế giới vàđược hình thành từ nhiều nguồn, pha trộn của nhiều nước, nhiều thế hệ kỹthuật khác nhau (chỉ tính riêng những thiết bị chủ yếu đã do gần 20 nước sảnxuất dẫn đến tiêu hao nhiều năng lượng và nhiên liệu, gây ô nhiễm môitrường, chất lượng sản phẩm thấp, khả năng xuất khẩu kém)
- Công tác nhập khẩu thiết bị toàn bộ trong thời gian qua tuy đã khắcphục được một số khó khăn nảy sinh trong giai đoạn trước song do cơ chếthay đổi, những khó khăn mới cũng nảy sinh Không chỉ chịu sự tác động củacác chính sách của nước bạn, mỗi khi tiến hành ký kết dự án và nhập khẩucông trình thiết bị toàn bộ giờ đây Công ty đang phải chạy theo những vănbản, những quy định pháp lý mới liên tục được ban hành để điều chỉnh hoặc
có liên quan tới hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ mà tính nhất quán củachúng so với hệ thống các văn bản trước hầu như không có hay không toàndiện Điều đó đã gây rất nhiều khó khăn cho những người phải trực tiếp hoạtđộng trong lĩnh vực này, gây khó khăn cho chủ đầu tư và các bên liên quan
Trang 36trong quá trình triển khai dự án, và dẫn tới hiệu quả nhập khẩu thiết bị khôngđược như đã định.
Việc phân tích và đưa ra con số cụ thể của các chỉ tiêu nêu trên đã chochúng ta có một cái nhìn khái quát và tương đối chính xác về hiệu quả sửdụng chi phí cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn
bộ và kỹ thuật của Technoimport Và để khắc phục thực trạng nêu trên, Công
ty cần tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm tháo gỡ những khó khăn còn tồntại
II Quy trình nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại công ty
Hình thức nhập khẩu thiết bị toàn bộ chủ yếu tại Công ty là nhập khẩu
uỷ thác, chính vì vậy chúng ta đi vào xem xét, nghiên cứu, phân tích hoạt động nhập khẩu uỷ thác tại Công ty
Trước hết, để tiến hành hoạt động nhập khẩu uỷ thác các khách hàngtrong nước (chủ đầu tư) phải gửi đến cho Công ty một đơn đặt hàng, trong đónêu rõ tên hàng, quy cách, số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng dự kiến,phương thức thanh toán, các yêu cầu bảo hành, vận hành, chạy thử và các yêucầu khác Trong trường hợp nhập khẩu bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước,nguồn vốn ODA thì cần có thêm các văn bản:
- Giấy phép hoặc quyết định đầu tư
- Văn bản phê duyệt kết quả đấu thầu
- Hồ sơ dự thầu, biên bản mở thầu, biên bản đánh giá chọn thầu
Đối với hình thức chọn thầu khác (chào hành cạnh tranh) thì phải cóchào hàng cạnh tranh ít nhất 3 bản, bảng phân tích chọn chào hành và quyếtđịnh chọn nhà thầu
- Luận chứng kinh tế, kỹ thuật (báo cáo khả thi) cùng văn bản phêduyệt
- Giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư (nếu dự án thuộc diện ưu đãi)
Trang 37Sau khi đã có trong tay đơn hàng và các văn bản, tài liệu cần thiết cóliên quan, Công ty sẽ tiến hành các nghiệp vụ cụ thể sau:
Do đặc trưng của nhập khẩu thiết bị toàn bộ đòi hỏi lượng vốn lớn vàthời gian thực hiện thường dài nên hình thức nhập khẩu chủ yếu của công ty
là nhập khẩu uỷ thác Công ty đứng ra nhập khẩu thay cho các doanh nghiệp
có nhu cầu nhưng không có khả năng hoặc không được quyền nhập khẩu trựctiếp và thu phí uỷ thác Sau khi nhận được đơn đặt hàng và tài liệu kỹ thuật,công ty sẽ tiến hành các bước cụ thể sau:
1 Nghiên cứu thị trường
Trên cơ sở những yêu cầu mà nhà đầu tư đặt ra, công ty tiến hànhnghiên cứu thị trường trong và ngoài nước Việc nghiên cứu thị trường trongnước để biết được mức giá của mặt hàng cùng loại và những thông tin về mã
số thuế, thuế suất và phụ thu của mặt hàng đó Nghiên cứu thị trường nướcngoài để tìm hiểu tình hình sản xuất, giá cả, uy tín, chất lượng của nhà cungcấp thiết bị toàn bộ cũng như điều kiện địa lý, tập quán thương mại, quan hệthương mại của nước đó với Việt Nam Đây là một khâu quan trọng giúpcông ty có được danh sách những công ty thích hợp nhất, từ đó đưa ra quyết
định quan trọng trong việc lựa chọn đối tác giao dịch
2 Gọi chào hàng
Sau khi nghiên cứu kỹ thị trường trong và ngoài nước, công ty phát thưgọi chào hàng về việc cung cấp thiết bị toàn bộ cho các hãng đã tìm hiểu từbước trên, trong đó nêu rõ các thông số kỹ thuật của thiết bị, tiêu chuẩn về sảnphẩm do thiết bị làm ra, công nghệ, thời gian giao hàng, phương thức thanhtoán
3 Lựa chọn đối tác giao dịch
Kể từ khi nhận được chào hàng từ phía đối tác nước ngoài, công tycùng với chủ đầu tư nghiên cứu, xem xét, lựa chọn đối tác tốt nhất đáp ứng
Trang 38được đầy đủ các yêu cầu của chủ đầu tư, đồng thời có thuận lợi cho phía ViệtNam nhất về kỹ thuật, công nghệ, giá cả, điều kiện thanh toán, giao hàng, bảohành
4 Lập phương án kinh doanh
Trên cơ sở kết quả thu thập được, các phòng nghiệp vụ xuất nhập khẩutiến hành lập phương án kinh doanh, trong đó bao gồm các nội dung như phântích tình hình hàng hoá, thị trường và khách hàng, đánh giá những khó khăncũng như thuận lợi và lên kế hoạch sử dụng vốn, tính toán các chi phí, đề racác mục tiêu hành động cụ thể
Sau khi phương án kinh doanh được lập xong và trình lên Tổng giámđốc phê duyệt, công ty tiến hành đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng
5 Đàm phán và ký kết hợp đồng
- Lập dự thảo hợp đồng: Với những đối tác có quan hệ lần đầu, cảTechnoimport và đối tác đều lập dự thảo hợp đồng rồi gửi cho nhau xem xét.Còn với những đối tác đã có quan hệ làm ăn lâu năm, việc làm này thường docông ty đảm nhiệm Việc lập dự thảo hợp đồng càng chi tiết, đầy đủ và chínhxác càng thuận lợi cho việc đàm phán và ký kết hợp đồng sau này
- Đàm phán hợp đồng: Việc đàm phán ký kết hợp đồng tạiTechnoimport có thể được tiến hành qua thư, fax hay gặp gỡ trực tiếp Nhưngcho dù bằng hình thức nào đi nữa thì nội dung đàm phán cũng liên quan đếncác vấn đề cơ bản như: giá cả, vận chuyển, thanh toán, bảo hành
- Ký hợp đồng ngoại thương: Sau khi việc đàm phán được hoàn tất,Technoimport và phía đối tác nước ngoài tiến hành ký kết hợp đồng ngoạithương Hợp đồng được ký kết phải quy định cụ thể các điều khoản: Tênhàng, quy cách phẩm chất, giá cả, giao hàng, thanh toán Bên cạnh đó, hợp
Trang 39đồng còn quy định cụ thể từng phần công việc, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗibên trong quá trình chuyển giao
6 Ký hợp đồng uỷ thác
Hợp đồng uỷ thác được ký kết giữa chủ đầu tư và Technoimport, trong
đó quy định cụ thể các điều khoản liên quan đến hàng hoá và nghĩa vụ tráchnhiệm của mỗi bên Ngoài ra, trong hợp đồng còn nêu rõ mức phí uỷ thácthông thường khoảng 1% nhưng không được thấp hơn 150USD
7 Thực hiện hợp đồng
Sau khi việc ký hợp đồng ngoại thương và hợp đồng uỷ thác được hoàntất, công ty tiến hành ký quỹ mở L/C bằng tiền đặt cọc của chủ đầu tư,thường là 10% trị giá hợp đồng ngoại thương Khi hàng hoá và chứng từ củangười bán đã về, công ty tiến hành nhận chứng từ đi mở tờ khai hải quan, nộpthuế các loại rồi tiến hành nhận hàng và giao ngay cho chủ đầu tư kèm theohoá đơn bán hàng
Công ty tiến hành thanh lý hợp đồng với ngân hàng và chủ đầu tư saukhi khách hàng nội địa đã thanh toán tiền hàng Cuối cùng, công ty hạch toánhợp đồng uỷ thác và lưu hồ sơ
Kết quả hoạt động nhập khẩu uỷ thác của Công ty trong những năm gần đây
Bảng 14: Kim nghạch nhập khẩu và nhập khẩu ủy thác 2003 - 2007
(đơn vị: USD)
Chỉ tiêu Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007Nhập khẩu 115.627.975 142.600.207 101.982.538 123.887.116 108.501.129Nhập khẩu ủy thác 83.447.553 121.893.081 79.733.057 119.733.557 96.534.450
(Nguồn: Báo cáo nhập khẩu ủy thác năm 2007
Trang 40– phòng Kế hoạch tài chính)
Trong những năm đầu cơ chế thị trường, Công ty đứng trước nhiều khókhăn do nhu cầu thiết bị toàn bộ, vốn là mặt hàng nhập khẩu ủy thác chínhcủa công ty giảm mạnh, nhiều hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ thực hiệncòn gặp nhiều khó khăn do sự biến động về chính trị ở các nước Đông Âu vàLiên Xô cũ
Biểu 4: Biểu đồ so sánh giá trị kim ngạch nhập khẩu và nhập khẩu uỷ thác qua các năm của Công ty
Giá trị ( Triệu USD )
96.53
121.89
119.73
0 20