Hiện nay, trong công cuộc đổi mới của khoa học - công nghệ cùng với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường, các công ty phải tự quyết định cho mình ba vấn đề trọng điểm giúp cho sự tồn tại và phát triển của Công ty đó là: Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất nh¬ư thế nào? Họ phải tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đảm bảo các yếu tố đầu vào, quá trình sản xuất và đưa ra sản phẩm theo yêu cầu thị tr¬ường. Nhưng yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của công ty trên thị trường là tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm. Quá trình tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng trong chu kì sản xuất ra sản phẩm và là khâu quyết định sự thành công về chiến lược tung ra sản phẩm mới của doanh nghiệp. Chỉ khi sản phẩm đ¬ược tiêu thụ thì công ty mới có thể bù đắp đư¬ợc chi phí sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận để có thể đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng quy mô, hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục với hiệu quả ngày một cao hơn. Công ty thực hiện tốt công tác tiệu thụ sản phẩm sẽ không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, khẳng định vị trí của mình trên thị trường. Vì vậy, công tác tiêu thụ sản phẩm luôn được các công ty đặt lên vị trí hàng đầu bởi sự tác động mạnh mẽ của nó tới các hoạt động khác trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Duy Tân là công ty đang rất thành công trong việc tổ chức mua bán, tiêu thụ vật liệu xây dựng, vật tư, thiết bị ngành điện, phụ tùng ô tô, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước. Để có được thành công đó, một phần là do toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty rất quan tâm và coi trọng công tác tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh những thành công đáng kể thì công tác tiêu thụ sản phẩm của công ty còn gặp không ít khó khăn và còn có nhiều hạn chế cần đ¬ựơc khắc phục. Nhận thức đ¬¬ựơc tầm quan trọng của vấn đề tiêu thụ sản phẩm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, em đã quyết định lựa chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Duy Tân” làm đề tài tốt nghiệp của mình.
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, trong công cuộc đổi mới của khoa học - công nghệ cùng với
sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của nền kinh tế thị trường, các công ty phải
tự quyết định cho mình ba vấn đề trọng điểm giúp cho sự tồn tại và phát triểncủa Công ty đó là: Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào?
Họ phải tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc đảm bảo các yếu
tố đầu vào, quá trình sản xuất và đưa ra sản phẩm theo yêu cầu thị trường.Nhưng yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của công ty trên thị trường
là tổ chức công tác tiêu thụ sản phẩm
Quá trình tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng trong chu kì sảnxuất ra sản phẩm và là khâu quyết định sự thành công về chiến lược tung rasản phẩm mới của doanh nghiệp Chỉ khi sản phẩm được tiêu thụ thì công tymới có thể bù đắp được chi phí sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận để
có thể đảm bảo cho quá trình tái sản xuất mở rộng quy mô, hoạt động sản xuấtkinh doanh diễn ra liên tục với hiệu quả ngày một cao hơn Công ty thực hiệntốt công tác tiệu thụ sản phẩm sẽ không ngừng mở rộng quy mô sản xuất, tăngkhả năng cạnh tranh, khẳng định vị trí của mình trên thị trường Vì vậy, côngtác tiêu thụ sản phẩm luôn được các công ty đặt lên vị trí hàng đầu bởi sự tácđộng mạnh mẽ của nó tới các hoạt động khác trong quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Duy Tân là công ty đang rấtthành công trong việc tổ chức mua bán, tiêu thụ vật liệu xây dựng, vật tư, thiết
bị ngành điện, phụ tùng ô tô, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trongnước Để có được thành công đó, một phần là do toàn thể cán bộ công nhânviên trong công ty rất quan tâm và coi trọng công tác tiêu thụ sản phẩm
Bên cạnh những thành công đáng kể thì công tác tiêu thụ sản phẩm củacông ty còn gặp không ít khó khăn và còn có nhiều hạn chế cần đựơc khắcphục Nhận thức đựơc tầm quan trọng của vấn đề tiêu thụ sản phẩm đối vớihoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, em đã quyết định lựa chọn đề tài:
Trang 2“Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Duy Tân” làm đề tài tốt
nghiệp của mình
Chuyên đề gồm ba phần chính :
Chương 1: Cơ sở lý luận về tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tình hình hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công
ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Duy Tân
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiêu thụ sản phẩm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Duy Tân
Trang 3CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát chung về tiêu thụ sản phẩm trong doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm về tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối trung gian giữa một bên là sản phẩm sảnxuất và phân phối với một bên là tiêu dùng và là khâu lưu thông hàng hóa Nóquyết định sự thành công của cả một quá trình sản xuất ra sản phẩm, dịch vụ.Quá trình tiêu thụ là quá trình diễn ra sự trao đổi mua bán các sản phẩm, dịch vụgiữa một bên là người mua, một bên là người bán và được trao đổi trên thịtrường Các nghiệp vụ sản xuất ở các khâu bao gồm: chủng loại sản phẩm, gắnnhãn hiệu sản phẩm, bao bì sản phẩm, sản phẩm mới, chuẩn bị các lô hàng đểbán và vận chuyển theo yêu cầu khách hàng Để thực hiện các quy trình liênquan đến giao nhận và sản xuất sản phẩm hàng hóa đòi hỏi phải tổ chức hợpđồng ký kết lao động trực tiếp ở các kho hàng và tổ chức tốt công tác nghiên cứuthị trường, nghiên cứu nhu cầu về mặt hàng về chủng loại sản phẩm của doanhnghiệp
Như vậy, tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về tổ chức kinh tế
và kế hoạch nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường
Nó bao gồm các hoạt động: Tạo nguồn, chuẩn bị hàng hóa, tổ chức mạng lướibán hàng, quảng cáo, xúc tiến bán hàng, tuyên truyền, bán hàng cá nhân,marketing trực tiếp, marketing gián tiếp cho đến các dịch vụ sau bán hàng
1.1.2 Vai trò của công tác tiêu thụ đối với doanh nghiệp
Ngày nay, song song với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thịtrường và sự thành công của Công ty thì các nhà quản trị ngày càng chú trọnghơn đến công tác tiêu thụ sản phẩm Họ đã nhận thức được quá trình tiêu thụsản phẩm không những là cơ sở mà còn là điều kiện để công ty có thể tồn tại
Trang 4và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt của nền kinh tếthị trường Tiêu thụ sản phẩm giai đoạn đánh dấu thành quả hoạt động củatoàn bộ công ty và là bước ngoặt mới cho công ty để có thể khẳng định được
vị trí, thế mạnh, khả năng tài chính của công ty so với các đối thủ cùng ngành
Để có thể tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá của công ty mình lên tầm cao hơn,
mà bất kì công ty hay nhà sản xuất nào đều hướng tới mục tiêu quan trọng vàmang tính quyết định đó là khách hàng Mục tiêu của công tác tiêu thụ là bánhết sản phẩm, dịch vụ của công ty với doanh thu tối đa và chi phí bỏ ra là thấpnhất có thể Do vậy, ngày nay tiêu thụ sản phẩm không còn là khâu đi sâu vàosản xuất nữa, nó chỉ được thực hiện khi đã sản xuất được sản phẩm, mà tiêuthụ phải chủ động đi trước một bước không chờ sản phẩm sản xuất ra rồi mớiđem tiêu thụ Tiêu thụ có thể được tiến hành trước quá trình sản xuất, songsong đồng thời với quá trình sản xuất và có tác động mạnh mẽ, quyết định rấtlớn đến quá trình sản xuất của doanh nghiệp Chúng ta thấy rằng đối với bất
kỳ công ty nào từ công ty sản xuất đến các công ty thương mại, dịch vụ như :viễn thông, giải trí, du lịch, ngân hàng và ngay cả trường học thì tiêu thụ hànghoá và dịch vụ mà công ty cung cấp là điều hết sức quan trọng, nó quyết địnhrất lớn đến sự thành bại của công ty đó
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng củasản phẩm hàng hoá Qua tiêu thụ sản phẩm chuyển từ hình thức hiện vật sanghình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn Có tiêu thụ mới cóvốn để tiến hành tái sản xuất mở rộng Nếu tiêu thụ sản phẩm nhanh chóng,hiệu quả thì sẽ làm tăng nhanh tốc độ luân chuyển của đồng vốn, nâng caohiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Tiếp đến, mục tiêucuối cùng của tất cả các công ty tham gia hoạt động kinh doanh đều là lợinhuận Lợi nhuận là động lực thúc đẩy mọi hoạt động của doanh nghiệp Chỉthông qua quá trình tiêu thụ công ty mới thu được vốn, chi phí bỏ ra tronghoạt động sản xuất kinh doanh và phần lợi nhuận cho sự hoạt động nỗ lực củamình Do đó, tiêu thụ sản phẩm là khâu quyết định rất lớn đến sự tồn tại và
Trang 5phát triển của doanh nghiệp, đó là kết quả cuối cùng cho cả quá trình hoạtđộng của doanh nghiệp.
Thông qua tiêu thụ tính chất hữu ích của sản phẩm mới được xác địnhmột cách hoàn toàn Nhờ có tiêu thụ mà công ty mới chứng tỏ được năng lựccủa mình trên thị trường Khẳng định được thế mạnh của sản phẩm và dịch vụ
mà mình cung cấp, tạo được chỗ đứng và chiếm thị phần trên thị trường Nhờvào quá trình tiêu thụ sản phẩm của công ty được lưu thông trên thị trường vàgây được sự chú ý của khách hàng về những tính năng sử dụng của nó Việckhách hàng ưu tiên tiêu dùng sản phẩm của công ty là một bước thành cônglớn của doanh nghiệp, nó được đánh dấu bằng khối lượng sản phẩm của công
ty được tiêu thụ nhiều hay ít
Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối trung gian giữa một bên là công ty mộtbên là khách hàng Nó chính là thước đo, là cơ sở đánh giá sự tin cậy và ưathích của khách hàng đối với doanh nghiệp, đối với các sản phẩm mà công tycung cấp Qua đó, công ty có thể gần gũi hơn với khách hàng, hiểu rõ và nắmbắt nhu cầu khách hàng Đề ra những phương thức và sản phẩm thoả mãn nhucầu của khách hàng tốt hơn để từ đó sản phẩm được tiêu thụ nhiều hơn và đạtđược lợi nhuận cao hơn
1.2 Nội dung của hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp 1.2.1 Nghiên cứu và dự báo thị trường
1.2.1.1 Nghiên cứu thị trường
* Nghiên cứu cầu về sản phẩm
Cầu về một loại sản phẩm phản ánh một bộ phận cầu có khả năng thanhtoán của thị trường về sản phẩm đó Nghiên cứu cầu thị trường nhằm xác địnhđược những dữ liệu về cầu trong hiện tại và trong thời gian tương lai xác địnhnào đó
Để nghiên cứu cầu có thể phân thành hai loại: Đó là cầu về dịch vụ vàcầu về sản phẩm Trên cơ sở đó chia sản phẩm thành vật phẩm tiêu dùng hay
tư liệu sản xuất, dịch vụ thành nhiều loại khác nhau Về bản chất, nhiều nhà
Trang 6quản trị cho rằng dịch vụ thuộc phạm trù vật phẩm tiêu dùng.
Trong nghiên cứu thị trường nói chung và nghiên cứu cầu sản phẩm nóiriêng cần phải nghiên cứu cầu sản phẩm thay thế Những sản phẩm thay thế sẽđặt giới hạn cho giá cả và lợi nhuận tương lai của thị trường Khả năng thaythế của sản phẩm càng cao, giá cả và lợi nhuận có xu thế giảm xuống Tiến bộkhoa học kỹ thuật luôn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra sản phẩmthay thế này
Việc thường xuyên nghiên cứu thị trường nhằm xác định những thayđổi của cầu do tác động của các nhân tố: mốt, thị hiếu, độ tuổi, thu nhập vàmong muốn của người tiêu dùng Đồng thời nghiên cứu thị trường cũng phảigiải thích về những phản ứng của người tiêu dùng, của đối thủ cạnh tranh tr-ước những nỗ lực Marketing của doanh nghiệp Ngoài ra nghiên cứu thị trư-ờng còn giải thích rõ sự thay đổi do sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế,nguyên nhân mất mùa hay suy thoái
* Nghiên cứu cung cạnh tranh
Nghiên cứu cung cạnh tranh để hiểu rõ các đối thủ cạnh tranh hiện tại
và tiềm ẩn Sự thay đổi trong tương lai của họ gắn với khả năng mở rộng haythu hẹp quy mô của các công ty cũng như khả năng thâm nhập hay rút khỏithị trường của công ty hiện có Nghiên cứu cung phải xác định được số lượngcác đối thủ cạnh tranh, phân tích các nhân tố có ý nghĩa với chính sách tiêuthụ, Marketing của đối thủ cạnh tranh như thị phần trương trình sản xuất,chính sách giá cả, chính sách khác biệt hoá sản phẩm, quảng cáo, bán hàng,xúc tiến bán hàng của doanh nghiệp Trong thực tế trước hết phải quan tâmnghiên cứu đến những đối thủ cạnh tranh mạnh, chiếm thị phần lớn Tuynhiên cũng cần phải chú ý rằng không phải mọi công ty cùng sản xuất cungứng một loại sản phẩm đều là đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Vì khảnăng cạnh tranh còn phụ thuộc vào các yếu tố khu vực, điều kiện giao thông,cũng như các yếu tố gắn với khả năng giao lưu thương mại khác
Trang 7* Nghiên cứu mạng lưới tiêu thụ
Tốc độ tiêu thụ sản phẩm không chỉ phụ thuộc vào quan hệ cung cầu
mà còn phụ thuộc vào việc mạng lưới tiêu thụ Việc tổ chức mạng lưới tiêuthụ có thể phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật, chiến lược kinh doanh,chính sách và kế hoạch tiêu thụ Khi nghiên cứu mạng lưới tiêu thụ chỉ cầnchỉ rõ những ưu điểm và nhược điểm của từng kênh phân phối sản phẩm củacông ty và đối thủ cạnh tranh, phải biết lượng hoá ảnh hưởng của từng nhân tố
đế kết quả tiêu thụ cũng như phân tích các hình thức bán hàng cụ thể của công
ty cũng như đối thủ cạnh tranh
dự đoán phải công phu hơn
1.2.1.2.1: Điều tra ý định mua của khách hàng
Dự đoán là nghệ thuật đoán trước những điều khách hàng sẽ làm trongnhững điều kiện nhất định nào đó điều này có nghĩa là cần phải quan sátkhách hàng Những quan sát này đặc biệt có giá trị nếu người mua có những ýđịnh khá rõ ràng, sẽ thực hiện nó và trình bày cho người phỏng vấn biết.Thông thường công ty sẽ tiến hành điều tra để tổng hợp ý định mua của kháchhàng qua các bảng câu hỏi điều tra, rồi tập hợp những câu trả lời của kháchhàng để đưa ra dự đoán
Trang 8Ví dụ, để thăm dò ý định mua của khách hàng, người ta có thể đặtnhững câu hỏi:
Trong vòng một năm tới bạn có ý định mua xe máy không?
Khả năng muatrung bình
Khả năngmua khá
Nhiều khảnăng mua
Chắcchắn mua
1.2.1.2.2 Tổng hợp ý kiến của lực lượng bán hàng
Nếu không thể thực hiện được việc phỏng vấn khách hàng, công ty cóthể yêu cầu đại diện bán hàng của mình đánh giá Mỗi đại diện bán hàng sẽước tính xem mỗi khách hàng hiện có và tiềm năng sẽ mua bao nhiêu sảnphẩm của công ty theo từng chủng loại ít có doanh nhgiệp nào sử dụngnhững dự đoán của lực lượng bán hàng mà không điều chỉnh ít nhiều Nhữngđại diện bán hàng có thể có những ý kiến thiên lệch hoặc rất lạc quan hoặc rất
bi quan về việc tiêu thụ sản phẩm, tuỳ thuộc vào hiệu quả bán hàng của mình
Giả sử những sai lệch đó có thể khắc phục được, thì việc cho nhân viênbán hàng tham gia dự đoán sẽ có một số lợi ích Các đại diện bán hàng có thể
am hiểu rõ hơn những xu hướng phát triển so với bất kì môt nhóm nào khác.Tham gia vào quá trình dự đoán các nhân viên bán hàng có thể tin tưởng hơnvào các hạn mức tiêu thụ của mình và nỗ lực hơn để hoàn thành hạn mức đó
1.2.1.2.3 Ý kiến của nhà chuyên môn
Các doanh nhgiệp cũng có thể tham khảo các dự đoán của các nhàchuyên môn như các đại lý, nhà bán lẻ, nhà bán buôn, các công ty tư vấnMarketing và các hiệp hội thương mại
Các công ty cũng có thể mời một nhóm các chuyên gia đặc biệt để thựchiện dự báo nhất định nào đó Các chuyên gia này trao đổi quan điểm, ý kiếnvới nhau để đi tới một đánh giá tâp thể nào đó Hoặc công ty có thể yêu cầu
Trang 9họ đưa ra các đánh giá riêng của từng người, rồi một chuyên gia phân tích sẽtổng hợp lại thành đánh giá chung.
1.2.2 Xây dựng chiến lược sản phẩm
1.2.2.1 Quyết định về nhãn hiệu
Nhãn hiệu là tên gọi, thuật ngữ, chữ viết, biểu tượng, hình vẽ hay là sựphối hợp giữa chúng, được dùng để xác nhận hàng hoá hay dịch vụ của mộtngười bán hay một nhóm người bán để phân biệt chúng với hàng hoá và dịch
vụ của các đối thủ cạnh tranh
Các bộ phận cơ bản của nhãn hiệu:
+ Tên nhãn hiệu: là bộ phận của nhãn hiệu mà người ta có thể đọc được + Dấu hiệu của nhãn hiệu: bao gồm biểu tượng, hình vẽ, màu sắc hay
kiểu chữ đặc thù Đó là những bộ phận của nhãn hiệu mà ta có thể nhận biếtđược nhưng không thể đọc được
+ Dấu hiệu của hàng hoá: là nhãn hiệu hay bộ phận của nó được luật
pháp bảo vệ về mặt pháp lý vì có thể loại trừ sự làm giả Nó bảo vệ quyềnriêng của người bán trong việc sử dụng tên nhãn hiệu hoặc biểu tượng
Quyết định gắn nhãn hiệu:
Trước đây phần lớn các hàng hoá không có tên nhãn hiệu, nhưng cùngvới sự phát triển của kinh tế thị trường trong những năm gần đây vấn đề gắnnhãn hiệu hàng hoá ở nước ta đã được phần lớn các công ty lưu ý hơn Việcgắn nhãn hiệu cho hàng hoá có ưu điểm là thể hiện được lòng tin hơn củangười mua đối với nhà sản xuất khi họ dám khẳng định sự hiện diện của mìnhtrên thị trường qua nhãn hiệu, làm căn cứ cho việc lựa chọn của người mua.Đặc biệt nó chính là cơ sở để chống hàng giả
Quyết định về chủ của nhãn hiệu:
+ Tung sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của chính nhà sản xuất.+Tung sản phẩm ra thị trường dưới nhãn hiệu của nhà trung gian
+ Vừa là nhãn hiệu của nhà sản xuất, vừa là nhãn hiệu của nhà trung gian
Quyết định về đặt tên của nhãn hiệu
Trang 10Khi quyết định tên cho sản phẩm mà mình cung cấp công ty có thểthông qua một trong các quyết định sau:
+ Tên nhãn hiệu riêng biệt
+ Tên nhãn hiệu đồng nhất cho tất cả các loại hàng hoá
+ Tên nhãn hiệu tập thể cho các họ hàng hoá
+ Tên thương mại của công ty kết hợp với tên nhãn hiệu riêng biệt củahàng hoá
Quyết định về mở rộng giới hạn sử dụng nhãn hiệu.
Mở rộng giới hạn sử dụng tên nhãn hiệu là bất kì một mưu toan nàohướng vào việc sử dụng một tên nhãn hiệu đã thành công gắn cho một mặthàng cải tiến hay một hàng hoá mới để đưa ra thị trường
Việc mở rộng giới hạn sử dụng nhãn hiệu đã thành công có ưu điểm làtiết kiệm được chi phí để tuyên truyền quảng cáo so với đặt tên nhãn hiệukhác cho sản phẩm mới và sản phẩm cải tiến, đồng thời đảm bảo cho hànghoá được khách hàng nhận biết nhanh hơn thông qua nhãn hiệu đã quenthuộc Nhưng nếu sản phẩm mới không được ưa thích thì lại có thể làm giảm
uy tín của bản thân nhãn hiệu đó cho tất cả các hàng hoá
1.2.2.2 Quyết định về bao bì sản phẩm
Bao bì hàng hoá là một yếu tố không thể thiếu trong tiêu thụ hàng hoá.Một số loại hàng hoá bao bì lại đóng vai trò quyết định trong việc tiêu thụ vàđồng thời nó cũng thể hiện chất lượng của hàng hoá
Bao gói được cấu thành bởi bốn yếu tố là: lớp tiếp xúc với hàng hoá, lớpbảo vệ lớp tiếp xúc, bao bì vận chuyển, nhãn hiệu và các thông tin mô tả hàng hoá
Ngày nay bao gói trở thành một công cụ khá đắc lực của Doanh nghiệptrong doanh nghiệp bởi vì bao bì góp phần tạo ra hình ảnh về công ty và nhãnhiệu, tạo khái niệm và ý niệm về sự cải tiến hàng hoá, mặt khác mức giàusang và khả năng tiêu dùng ngày càng tăng cùng với sự phát triển của hệthống các cửa hàng tự phục vụ và tự chọn ngày càng tăng do đó bao bì hànghoá sẽ có thể hấp dẫn và lôi kéo người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm
Trang 111.2.2.3 Quyết định về dịch vụ đối với khách hàng
Một trong những yếu tố cấu thành nên hàng hoá hoàn chỉnh là dịch vụkhách hàng
- Quyết định về hệ thống dịch vụ tổng hợp:
Nhà kinh doanh thường phải nghiên cứu người tiêu dùng để hiểu rõ cóthể chào mời khách hàng những dịch vụ chủ yếu nào vầ tầm quan trọng tươngđối của từng loại dịch vụ đó
- Bộ phận làm dịch vụ phục vụ khách hàng:
Do tính chất quan trọng của việc cung ứng dịch vụ với tính chất cạnhtranh, nhiều công ty đã thành lập những bộ phận khá mạnh để giải quyết cácđơn khiếu nại và góp ý của khách hàng, giải quyết các vấn đề bán chịu, cungứng vật tư và thông tin Ví dụ có những công ty đã dành những đường điệnthoại riêng miễn phí để giải quyết nhanh chóng các khiếu nại và thắc mắc củakhách hàng Thông qua những ý kiến đóng góp của khách hàng, bộ phận dịch
vụ khách hàng có thể đa ra đề nghị thay đổi kết cấu và hệ thống kiểm tra sảnphẩm, cách bán hàng Việc giữ chân các khách hàng hiện có vẫn rẻ hơn là việc thuhút những khách hàng mới hay những ý đồ lấy lại khách hàng đã mất Việc cungứng các dịch vụ cho khách hàng cần được phối hợp với nhau nhằm đảm bảo chongười tiêu dùng hài lòng và tạo ra sự trung thành của họ đối với công ty
1.2.2.4 Quyết định về chủng loại và danh mục sản phẩm
- Chủng loại sản phẩm: là một nhóm sản phẩm có liên quan chặt chẽ
Trang 12đến nhau do giống nhau chức năng hay do bán chung cùng một nhóm kháchhàng, hay thông qua cùng một kiểu tổ chức thương mại hay trong khuôn khổcùng một dãy giá.
- Quyết định về bề rộng của chủng loại sản phẩm.
Bề rộng của chủng loại sản phẩm là sự phân giải về số lượng các mặthàng thành phần theo một tiêu thức nhất định ví dụ như theo kích cỡ, theocông suất
- Quyết định phát triển chủng loại hàng hoá:
Phát triển hướng xuống dưới
Phát triển hướng lên trên
Phát triển theo hai hướng
Một công ty đang hoạt động ở phần giữa của thị trường có thể quyếtđịnh phát triển hàng hoá của mình đồng thời theo cả hai hướng lên trên vàxuống dưới
Việc mở rộng chủng loại sản phẩm hàng hoá có thể thực hiện bổ sungnhững hàng hoá mới trong khuôn khổ hiện có Nguyên nhân dẫn đến cần bổsung chủng loại hàng có thể là do mong muốn thu thêm lợi nhuận, muốn tậndụng được năng suất sản xuất dư thừa
Bổ sung các hàng hoá quá mức sẽ làm giảm lợi nhuận, bởi vì các mặthàng bắt đầu cản trở việc tiêu thụ các sản phẩm của nhau, còn người tiêu dùngthì lúng túng Vì vậy, khi sản xuất các sản phẩm mới công ty phải nắm chắcrằng sản phẩm mới phải khác hẳn những sản phẩm đã sản xuất
1.2.2.5 Thiết kế và Marketing về sản phẩm mới
Theo quan điểm Marketing sản phẩm có thể là những sản phẩm mới vềnguyên tắc, sản phẩm mới cải tiến từ các sản phẩm hiện có hoặc những nhãnhiệu mới do kết quả nghiên cứu, thiết kế thử nghiệm của công ty Nhưng dấuhiệu quan trọng nhất để khẳng định sản phẩm mới hay không đó là sự thừanhận của khách hàng
Trong điều kiện này đòi hỏi các công ty phải thường xuyên đưa ra thị
Trang 13trường những sản phẩm mới, đồng thời phải biết cách quản lý sản xuất chúngtrong điều kiện thị hiếu luôn thay đổi, những biến đổi công nghệ và tình hìnhcạnh tranh Trong suốt thời gian tồn tại mọi sản phẩm hàng hoá đều trải quacác giai đoạn: giai đoạn tung ra thị trường, giai đoạn tăng trưởng, giai đoạnchín muồi và giai đoạn suy thoái.
Do những thay đổi của môi trường bên ngoài như: khoa học công nghệ,tình hình cạnh tranh Người tiêu dùng mong muốn và chờ đợi sử dụng nhữngsản phẩm mới và hoàn hảo hơn Các đối thủ cạnh tranh thì nỗ lực tối đa đểcung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm mới đó Vì thế mỗi công typhải có chương trình đưa ra sản phẩm mới của mình Công ty có thể có đượcsản phẩm mới bằng hai cách Một là, có thể kiếm ở ngoài, tức là mua toàn bộcủa công ty nào đó mua bằng sáng chế hoặc giấy phép sản xuất hàng hoá củangời khác Thứ hai là tự thành lập một bộ phận tự nghiên cứu và thiết kế
1.2.3 Xây dựng chính sách giá cả
1.2.3.1 Phương pháp định giá
- Tính giá theo phương pháp chi phí bình quân:
Đây là phương pháp tính giá đơn giản nhất là tính thêm một khoảntăng vào giá thành của hàng hoá Phương pháp này vẫn được sử dụng rất phổbiến
- Tính giá dựa trên cơ sở phân tích điều kiện hoà vốn và đảm bảo lợi nhuận mục tiêu:
Một trong những phương pháp hình thành giá cả trên cơ sở chi phí làphương pháp tính có đảm bảo lợi nhuận mục tiêu Phương pháp này đòi hỏicác phương án giá khác nhau, ảnh hưởng của chúng đối với khối lượng tiêuthụ cần thiết để vượt qua mức hoà vốn và thu được lợi nhuận mục tiêu, cũngnhư phân tích xác xuất để đạt được tất cả những điều đó với từng mức giáhàng hoá có thể
- Xác định giá trên cơ sở giá trị cảm nhận:
Công ty định giá của sản phẩm căn cứ vào cảm nhận của người mua
Trang 14chứ không phải căn cứ vào chi phí để sản xuất ra sản phẩm Khi sử dụng ương pháp này công ty phải phát hiện những ý niệm giá trị nào đó có trong ýthức của người tiêu dùng về hàng hoá của đối thủ cạnh tranh Nếu công ty đặtgiá hàng hoá quá cao so với giá trị cảm nhận của khách hàng thì hàng hoá củacông ty đó sẽ tiêu thụ chậm trên thị trường và ngược lại
ph Xác định giá cả của hàng hoá căn cứ vào mức giá hiện hành:
Khi xác định giá cả dựa vào mức hiện hành chủ yếu công ty dựa vàogiá của đối thủ cạnh tranh và ít quan tâm đến các chỉ tiêu chi phí hay nhu cầu.Công ty có thể định giá thấp hoặc cao hơn giá của đối thủ cạnh tranh chính.Phương pháp hình thành giá trên cơ sở mức giá hiện hành được áp dụng kháphổ biến trong trường hợp khó định lượng được tính co giãn của cung cầu.Nguyên nhân là công ty cho rằng mức giá hiện hành là sự thể hiện quyết địnhsáng suốt của tập thể của ngành Ngoài ra họ còn cho rằng lấy giá theo giáhiện hành có nghĩa là duy trì trạng thái cân bằng bình thường trong ngành
- Xác định giá trên cơ sở đấu thầu kín:
Phương thức hình thành giá cạnh tranh được áp dụng trong những ường hợp các công ty đang giành nhau nhận đấu thầu trong quá trình đấuthầu Trong những tình huống như vậy công ty xuất phát từ những dự kiến giáchào hàng của đối thủ cạnh tranh chứ không phải từ mối tương quan giá cả đó
tr-và các chỉ tiêu chi phí hay nhu cầu Công ty muốn giành được hợp đồng thìcần đặt giá thấp hơn giá của các công ty khác Nhưng giá đó không thể thấphơn giá thành, nếu không công ty sẽ chuộc lấy thất bại về mặt tài chính
1.2.3.2 Các chiến lược về giá
- Xác định giá cho sản phẩm mới:
Xác định giá cho sản phẩm mới thực sự: khi công ty tung ra thị trườngmột sản phẩm mới có bằng sáng chế khi xác định giá cả cho nó có thể chọnhoặc là chiến lược “hớt phần ngon” hoặc là chiến lược bám chắc thị trường.Chiến lược hớt phần ngon là chiến lược mà khi tung sản phẩm mới ra thịtrường công ty thường đặt cho sản phẩm mới mức giá cao mà chỉ có một
Trang 15phần thị trường chấp nhận được, sau khi làn sóng tiêu thụ sản phẩm bắt đầuchậm lại công ty bắt đầu giảm giá để thu hút lớp khách hàng tiếp sau chịu đư-
ợc giá mới Ngược lại một số công ty lại xác định cho sản phẩm mới của mìnhmột mức giá tương đối thấp với hy vọng thu hút được nhiều người mua vàgiành được thị phần lớn thông qua chiến lược bám chắc thị trường Việc xácđịnh giá thấp sẽ được thuận lợi trong những điều kiện sau: thị trường rất nhạycảm về giá và giá thấp sẽ góp phần mở rộng thị trường; Khi tăng khối lượngsản xuất các chi phí về sản xuất cũng như phân phối sản phẩm sẽ giảm; Giá
hạ không hấp dẫn đối với những đối thủ cạnh tranh hiện có và tiềm ẩn
Xác định giá cho sản phẩm mới - nhái lại
- Xác định giá cho danh mục hàng hoá:
Quan điểm hình thành giá cả thay đổi nếu hàng hoá là một phần của danhmục hàng hoá Trong trường hợp này công ty đã cố gắng xây dựng một hệ thốnggiá đảm bảo thu lợi nhuận tối đa cho toàn bộ danh mục hàng hoá Việc tính giákhông đơn giản, vì những mặt hàng khác nhau có liên quan với nhau theo góc độnhu cầu và chi phí và gặp phải những mức độ cạnh trạnh khác nhau Việc xácđịnh giá trong trường hợp này có thể xảy ra bốn tình huống:
+ Xác định giá cho chủng loại hàng hoá
+ Xác định giá cho hàng hoá phụ thêm
+ Xác định giá cho những phụ tùng bắt buộc
Trong một số ngành công nghiệp người ta sản xuất cái gọi là phụ tùngbắt buộc, tức là những thứ dùng để sử dụng với những hàng hoá chính (Ví dụnhư: xăng xe, lưỡi dao bào) Những nhà sản xuất thường định giá thấp chonhững sản phẩm chính ( xe máy, bàn dao cạo) nhưng lại định giá cao đối vớinhững phụ tùng bắt buộc
+ Xác định giá cho những sản phẩm phụ của sản phẩm:
Khi sản xuất các sản phẩm thường kèm theo những sản phẩm phụ.Những sản phẩm phụ không có giá trị, nhưng để vứt bỏ nó thì phải tốn không
ít tiền, nên tất cả những điều đó đều ảnh hưởng đến mức giá của hàng hoá
Trang 16chính Người sản xuất luôn tìm kiếm thị trường cho những sản phẩm phụ vàthường sẵn sàng bán chung với giá bất kỳ nếu nó bù đắp được chi phí vậnchuyển và bảo quản Điều này cho phép giảm giá sản phẩm chính làm cho nó
có khả năng cạnh tranh hơn
- Các chiến lược điều chỉnh giá cơ bản:
+ Định giá hai phần:
Các công ty dịch vụ ( điện thoại, khu vui chơi giải trí ) thường sử dụngcách định giá hai phần Một phần cho mức giá chuyển quyền sử dụng hànghoá đó ở mức tối thiểu, phần thứ hai của giá là phần trả cho những tiêu dùngvượt quá mức tối thiểu
+ Định giá trọn gói:
Với cách định giá này, thay vì việc bán những sản phẩm riêng lẻ, ngườibán sẽ tập hợp những sản phẩm thành “bộ” hoặc “trọn gói” theo nguyên tắcgiá cả gói luôn nhỏ hơn tổng số tiền mua hàng theo phương thức riêng rẽ
+ Định giá theo nguyên tắc địa lý:
Định giá theo nguyên tắc địa lý là cách thức mà công ty định giá bánsản phẩm của mình theo nguyên tắc địa lý Họ có thể lựa chọn một trong cáccách định giá là: xác định giá FOB hay giá CIF; Xác định giá thống nhất baogồm cả chi phí vận chuyển; hoặc áp dụng giá bán cho từng khu vực
* Chiết giá và bớt giá:
+ Chiết giá cho số lượng mua lớn: là việc giảm giá cho những người
mua với khối lượng mua lớn trong một thời gian nhất định Loại chiết khấunày khuyến khích người mua gia tăng khối lượng hàng hoá và tập trung muanhiều lần vào một người bán
+ Chiết khấu chức năng (chiết khấu thương mại): là chiết giá người sản
xuất áp dụng cho các thành viên trong kênh phân phối Phần chiết giá này phảibao gồm hai bộ phận: chi phí mà các thành viên trong kênh phân phối phải bỏ ra
để tiến hành các hoạt động phân phối hàng hoá theo chức năng của họ và lãi thoảđáng cho những nỗ lực và gánh chịu rủi ro của những thành viên trong kênh
Trang 17+ Chiết khấu thời vụ: là việc giảm giá cho những khách hàng mua hàng
hoá và dịch vụ trái vụ Loại chiết khấu này cho phép người sản xuất duy trìmức bán hàng trong suốt cả năm
+ Chiết giá khuyến khích thanh toán băng tiền mặt và thanh toán
nhanh: Đó là việc giảm giá cho những khách hàng thanh toán nhanh bằng tiền
mặt và thanh toán nhanh cho các hoá đơn mua hàng Mục đích của chiết giánày là khuyến khích khách hàng thanh toán nhanh, giảm chi phí thu hồi nợ và
nợ khó đòi ở người mua
+ Bớt giá: Đó là việc giảm giá bán so với biểu giá đã quy định Nó
đư-ợc áp dụng trong trường hợp như bán lại hàng cũ mua hàng mới, bớt giá đểgiải phóng hàng chậm luân chuyển, thưởng cho các đại lý tham gia vào cácchương trình hỗ trợ tiêu thụ
- Định giá khuyến mại
Định giá khuyến mại là hình thức điều chỉnh giá tạm thời (thực hiệntrong thời gian nhất định) nhằm hỗ trợ các hoạt động xúc tiến bán Có một sốhình thức xúc tiến bán phổ biến như sau:
+ Định giá lỗ để lôi kéo khách hàng
+ Định giá cho những đợt bán hàng đặc biệt
+ Giá trả góp: thực chất là hình thức tài trợ tài chính cho khách hàngvới lãi suất thấp
+ Bán hàng theo phiếu mua hàng: giảm giá cho những khách hàng cóphiếu mua hàng
+ Chiết giá về tâm lý: lúc đầu giá bán cao sau đó đa giá bán thấp
- Định giá phân biệt
Các công ty có thể điều chỉnh mức giá cơ bản để phù hợp cho vớinhững điều kiện khác biệt của khách hàng, của sản phẩm hoặc của các yếu tốkhác chứ không phải là chi phí Khi áp dụng mức giá phân biệt công ty sẽ ápdụng những mức giá khác nhau cho từng khách hàng đối với cùng một loạisản phẩm Một số hình thức giá phân biệt:
Trang 18+ Định giá theo khách hàng.
+ Định giá theo địa điểm
+ Định giá theo hình ảnh
+ Định giá lúc cao điểm, lúc thấp điểm
- Thay đổi giá
Trong nhiều trường hợp do biến đổi của môi trường kinh doanh, cáccông ty buộc thay đổi giá của mình, nghĩa là phải chủ động thay đổi ngay cảmức giá cơ bản
+ Chủ động cắt giảm giá: Các công ty buộc phải cắt giảm giá của mìnhkhi phải đối mặt với những tình huống sau: do thừa năng lực sản xuất, tỷ phầnthị trường giảm sút, khống chế thị trường bằng cách bán hạ giá
+ Chủ động tăng giá: Có nhiều trường hợp công ty chủ động tăng giá.Tuy phải đối mặt với những rủi ro của việc tăng giá, song thành công nó sẽđem lại cho công ty sự ổn định hoặc gia tăng lợi nhuận Các tình huống dẫnđến việc chủ động tăng giá của các công ty là do lạm phát chi phi, do cầu tăngquá mức so với cung
- Đối phó lại với việc thay đổi của giá của đối thủ cạnh tranh (lựa chọn các phản ứng về giá cạnh tranh).
Để đối phó với việc thay đổi giá của đối phương, trước khi phản ứngcông ty cần phải xem xét các vấn đề: tại sao đối thủ cạnh tranh lại đổi giá, đốithủ cạnh tranh dự định thay đổi giá tạm thời hay lâu dài, hậu quả gì xảy đếnvới lợi nhuận và thị phần của công ty nếu như công ty không đối phó, cónhững cách đối phó nào công ty có thể áp dụng, phản ứng của đối thủ cạnhtranh tiếp theo là gì Sau đó tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh mà công ty có thểlựa chọn một số phương pháp sau: giảm giá bán sản phẩm với giá thấp hơnđối thủ cạnh tranh( chỉ áp dụng khi công ty có đủ năng lực tài chính và không
vi phạm pháp luật); giữ nguyên giá thúc đẩy các hoạt động Marketing-mix đểgiữ khách hàng như: đẩy mạnh quảng cáo, khuyến mãi; nâng giá cùng với cảitiến chất lượng, mẫu mã sản phẩm, vây hãm hình ảnh của công ty cạnh tranh,
Trang 19phương án này chỉ tỏ ra hiệu quả khi khách hàng ít nhạy cảm về giá và ưathích sản phẩm có chất lượng cao.
1.3.4 Chính sách phân phối sản phẩm
Chính sách phân phối rộng rãi: Công ty bán sản phẩm qua nhiều trung
gian thương mại ở mỗi cấp độ phân phối Trong trường hợp này công ty cố gắngđưa sản phẩm và dịch vụ tới càng nhiều người bán lẻ càng tốt Thường được sửdụng cho sản phẩm và dịch vụ thông dụng, đặc biệt là hàng hoá tiêu dùng
Phân phối lựa chọn: đó là chính sách của việc chỉ lựa chọn những người
phân phối hoặc cơ sở tiêu thụ có khả năng tốt nhất phục vụ cho nhà sản xuất
Phân phối độc quyền: Là chính sách phân phối ngược lại với phân phối
rộng rãi Việc này thường đi đôi với bán hàng độc quyền
Nội dung của quảng cáo phải nói lên những điều đáng mong ước và thú
vị về sản phẩm Nó cũng cần nói lên những khía cạnh độc đáo và khác biệt sovới sản phẩm khác Công ty cần phân tích tính chất trên trong nội dung thôngđiệp quảng cáo của mình
Phương tiện quảng cáo: Công ty có thể sử dụng nhiều phương tiện
quảng cáo khác nhau như: báo, tạp chí, đài, ti vi, ngoài ra công ty còn có thểquảng cáo qua catologue, qua truyền miệng, bao bì, telephonemarketing,computermarketing Mỗi phương tiện đều có những lợi thế và hạn chế nhất
Trang 20định vì vậy công ty cần xem xét kỹ trước khi quyết định phương tiện sử dụngtrong quảng cáo của mình.
+ Xúc tiến bán (khuyến mại)
Xúc tiến bán hàng còn gọi là khuyến mãi có tác động trực tiếp và tích cựcđến việc tăng nhanh doanh số bằng những lợi ích vật chất bổ sung cho ngườimua thực chất đây là công cụ kích thích thúc đẩy các khâu: cung ứng phân phối
và tiêu dùng đối với một hoặc một nhóm hàng hoá của doanh nghiệp
Nhiệm vụ đối với xúc tiến bán hàng là: đối với người tiêu dùng thìkhuyến khích họ tiêu dùng nhiều hơn, mua với số lượng lớn và mở ra kháchhàng mới; đối với các thành viên trung gian khuyến khích các thành viên nàytăng cường hoạt động phân phối hơn, đẩy mạnh các hoạt động mua bán, củng cố
và mở rộng kênh phân phối liên tục, nhằm mở rộng tiêu dùng cho sản phẩm
Phương tiện xúc tiến bán hàng có các nhóm công cụ :
Nhóm công cụ tạo nên lợi ích trực tiếp thúc đẩy người tiêu dùng baogồm hàng mẫu, phiếu thử , gói hàng chung, quà tặng
Nhóm công cụ thúc đẩy hoạt động trung gian trong kênh phân phốibao gồm tài trợ về mặt tài chính khi mua hàng (là khoản tiền được giảm khimua hàng của công ty trong một thời gian nhất định), hàng miễn phí (lànhững lô hàng tặng cho các nhà buôn khi họ mua hàng tới một khối lượng nàođó) cũng có thể dùng tiền mặt hay quà tặng cho các nhà phân phối hoặc lựclượng bán hàng của công ty để họ đẩy mạnh tiêu thụ
Hội nghị khách hàng, hội trợ và triển lãm thương mại, các công ty ường tổ chức các hội nghị, hội thảo khách hàng để giúp cho công ty tiếp cậnkhách hàng và công chúng
th-+ Tuyên truyền quan hệ công chúng
Tuyên truyền là việc sử dụng những phương tiện truyền thông đạichúng truyền tin không mất tiền về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ và về chínhcông ty tới khách hàng hiện tại và tiềm năng nhằm đạt đợc mục tiêu cụ thểcủa doanh nghiệp
Trang 21Nội dung tuyên truyền bao gồm : tuyên truyền cho sản phẩm, tuyên truyềnhợp tác, vận động hành lang, tuyên truyền về xử lý những vụ việc bất lợi.
+ Bán hàng cá nhân
Bán hàng cá nhân là công cụ hiệu quả nhất ở giai đoạn hình thành sự
-ưa thích và niềm tin của khách hàng và giai đoạn ra quyết định mua trong quátrình mua hàng Bán hàng cá nhân đòi hỏi sự giao tiếp của hai hay nhiều ng-ười Hai bên có thể nghiên cứu trực tiếp nhu cầu và đặc điểm của nhau, đồngthời có sự linh hoạt trong giao tiếp cho phù hợp Bán hàng trực tiếp hìnhthành nên nhiều mối quan hệ phong phú và đa dạng, từ quan hệ mua hàngthông thường đến quan hệ thân mật, thuỷ chung gần gũi giữa công ty vàkhách hàng mà công ty thiết lập theo quan điểm Marketing Quá trình bánhàng bao gồm những khâu sau: thăm dò và đánh giá, tiền tiếp xúc, tiếp xúc,giới thiệu và chứng minh, xử lý những từ chối, kết thúc, theo dõi
+ Marketing trực tiếp
Marketing trực tiếp cố gắng kết hợp cả ba yếu tố quảng cáo, xúc tiếnbán, bán hàng cá nhân để đi đến bán hàng trực tiếp không qua trung gian.Những công cụ của Marketing trực tiếp là: Marketing bằng catalogue, quađiện thoại, trên truyền hình, trên truyền thanh tạp chí và báo, computermarketing
Các quyết định Marketing trực tiếp: xác định mục tiêu, xác định kháchhàng mục tiêu, lựa chọn chiến lược chào hàng, thử nghiệm các yếu tốMarketing trực tiếp, đánh giá kết quả của chiến dịch Marketing
Trang 22CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG TIÊU THỤ SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN THƯƠNG MẠI DUY TÂN
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH TM Duy Tân
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Lịch sử hình thành và phát triển của công ty Trách nhiệm hữu hạn
thương mại Duy Tân
Công tyTrách nhiệm hữu hạn thương mại Duy Tân có giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh số: 040200091 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dươngcấp lần đầu ngày 12 tháng 05 năm 2006 Công ty thuộc công ty TNHH hoạtđộng theo luật công ty và các quy định hiện hành khác của Nhà nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Công ty TNHH Duy Tân là công ty TNHH TM do hai thành viên thànhlập với tổng vốn góp là hai tỷ đồng
Giá trịvốn góp( tr.đ )
Phần vốngóp(%)
1 Lê Thế Bền
Thôn Lôi Động, Xã Cộng Hoà,Huyện Chí Linh, Tỉnh HảiDương
2 Lê Thị Linh
Thôn Lôi Động, Xã Cộng Hoà,Huyện Chí Linh, Tỉnh HảiDương
- Ngành nghề Kinh Doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn Duy Tân :
+ Mua bán vật liệu xây dựng, vật tư, thiết bị ngành điện nước, thiết bị phụtùng ô tô và máy móc các loại
+ Gia công các sản phẩm cơ khí
+ Sửa chữa bảo dưỡng ôtô, xe máy
+ Vận tải hàng hoá và hành khách bằng ôtô
Trang 23 Giới thiệu về công ty
Tên giao dịch: Công ty Trách nhiệm hữu hạn thương mại Duy Tân
Tên công ty viết tắt: Duy Tân Co ,Ltd
Hình thức pháp lý: Công ty Trách Nhiệm Hữu Hạn
Người đại diện theo pháp luật của công ty: Lê Thế Bền
Chức danh: Giám đốc
Giới tính: Việt Nam
Chứng minh nhân dân số: 143006169 Ngày cấp: 10/ 12/ 1999Nơi cấp: Công an tỉnh Hải Dương
Trụ sở chính: Thôn Lôi Động, Xã Cộng Hoà, Huyện Chí Linh, TỉnhHải Dương
Điện thoại: 03203.882.097
Vốn điều lệ: 2.000.000.000 đồng
Lĩnh vực hoạt động: Kinh Doanh
Số công nhân của công ty :
ĐVT: Người
trực tiếp
Lao độnggián tiếp
Quản lýVăn Phòng
Láixe
BảovệNgườ
Trang 24Qua bảng số liệu trên ta thấy độ tuổi của công ty chủ yếu là sử dụngnhững người lao động trong độ tuổi lao động Trình độ lao động của công ty cònchưa cao Số lượng lao động có trình độ đại học còn thấp chỉ chiếm 3,33% trongtổng số lao động của công ty Trình độ Cao Đẳng của công ty chiếm 2%, trình
độ Trung Cấp chiếm 1,33%, khi đó trình độ nghề chiếm tới 52%, trình độ sơ cấpchiếm 1,33%, trình độ thợ chiếm 2%, trình độ phổ thông chiếm 30% còn lại 8%
là đội ngũ bảo vệ và lái xe của công ty Như vậy, ta thấy trình độ lao động củacông ty còn chưa cao Trình độ Đại học và Cao đẳng còn chiếm tỷ lệ thấp Đâycũng là một trong những vấn đề còn bất cập về nguồn nhân lực trong công ty.Tuy vậy, đứng trước vấn đề này công ty đã có những biện pháp nhằm nâng caochất lượng và trình độ nguồn lao động của người lao động trong công ty
Năm 2006, Khi mới thành lập công ty đã trải qua một số khó khăn nhấtđịnh nhưng với sự cố gắng và lỗ lực của ban Giám đốc cùng các cán bộ côngnhân viên trong công ty nên hoạt động kinh doanh của công ty vẫn giữ được
sự tăng trưởng đều đặn hàng năm, quy mô của công ty ngày càng mở rộng,mặt hàng kinh doanh của công ty cũng phong phú và đa dạng hơn Khi đócông ty đã dần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước ngày một tốt hơn
Từ năm 2007, nhanh chóng nắm bắt được nhu cầu của thị trường trongxây dựng công trình, nhà cửa để đáp ứng nhu cầu đó công ty tập trung vàocung ứng vật liệu xây dựng mà trọng tâm là sắt, thép, xi măng Như vậy, công
ty ngày càng mở rộng phạm vi kinh doanh không chỉ ở tỉnh Hải Dương màcòn đi tới các Tỉnh, Thành phố lân cận và dần thâu tóm được một lượng lớnnhà phân phối và có được những khách hàng trung thành
Đến năm 2010, quy mô kinh doanh của công ty ngày một lớn hơn Banquản lý công ty đã tập trung vào phát triển mạnh mẽ công tác marketing trongkhâu tiêu thụ sản phẩm Là một công ty thương mại các sản phẩm mà công typhân phối luôn được đảm bảo đúng về nguồn gốc, về chất lượng và các điềukiện khác mà khách hàng được hưởng Chính vì vậy, sản phẩm của công tyluôn được khách hàng ưa chuộng và tin cậy Đó là một động lực thúc đẩy quátrình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanhcủa công ty
Trang 252.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
2.2.1 Đặc điểm về hoạt động kinh doanh của công ty
Công ty đã chú trọng trong công tác xây dựng tổ chức được bộ máyquản lý gọn nhẹ và hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu kinh doanh, phát huy tối đanăng lực hiện có, đồng thời gắn kết các bộ phận trong công ty lại với nhau đểhoàn thành những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ nhất định của công ty.Hiện nay, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH Thương mạiDuy Tân được tổ chức như sau:
Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Trách nhiệm hữu hạn
thương mại Duy Tân.
Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban trong công ty :
Giám đốc công ty
Hội đồng thành viên cử một người làm giám đốc công ty hoặc thuêngười ngoài làm giám đốc công ty Giám đốc là người đại diện cho công tytrước cơ quan pháp luật và tài phán
Ban Giám đốc
Phòng kinh doanh, tiếp thị
Phó
Giám
đốc
Phòng nhân
sự, hành chính
Phòng dịch vụ
Phòng
kế toánHội đồng thành viên
Trang 26Giám đốc là người đứng đầu ban giám đốc và là người điều hành hoạtđộng kinh doanh của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên
về thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được giao
- Giám đốc công ty có quyền:
+ Tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng thành viên
+ Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày củacông ty
+ Tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và kế hoạch đầu tư của công ty.+ Ban hành quy chế quản lý nội bộ của công ty
+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công
ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Chủ tịch của công ty
+ Kiến nghị phương án sử dụng lợi nhuận hoặc xử lý các khoản thua lỗtrong kinh doanh
+ Tuyển dụng lao động
+ Các quyền khác ghi trong hợp đồng lao động hoặc quyết định bổnhiệm làm giám đốc
+ Kiến nghị phương án bố trí cơ cấu tổ chức của công ty
+ Trình báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Hội đồng thành viên
- Giám đốc có nghĩa vụ:
+ Thực hiện quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, phải
mẫ cán vì lợi ích hợp pháp của công ty
+ Không được nạm dụng quyền hạn, sử dụng tài sản của công ty để thulợi riêng cho bản thân, cho người khác Không đươc tiết lộ bí mật của công tytrừ trường hợp được hội đồng thành viên chấp nhận
+ Giám đốc không được phép cản trở và có nghĩa vụ tạo điều kiện thíchhợp cho hoạt động của hội đồng thành viên
Phó giám đốc công ty :
Phó giám đốc do giám đốc đề cử và phải được hội đồng thành viênchấp nhận và nhất trí Phó giám đốc là người giúp việc cho Giám đốc Trừthường hợp vi phạm pháp luật, điều lệ hoặc trong kinh doanh thua lỗ, phógiám đốc có thể bị hội đồng thành viên công ty bãi chức trước thời hạn
Phó giám đốc công ty có quyền điều hành những hoạt động kinh doanh vàthực hiện trách nhiệm của mình hoặc những hoạt động được giám đốc uỷ quyền
Phó giám đốc công ty có quyền đại diện cho công ty trước cơ quan nhànước và tài phán khi được uỷ quyền bằng văn bản Phó giám đốc chịu trách