MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Là giáo viên trực tiếp giảng dạy chương trình SGK ngữ văn THCS, để phầnnào giúp các giáo viên nâng cao hiệu quả các giờ dạy văn bản nhật dụng và đểhọc sinh yêu thích
Trang 1Tên đề tài:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
VÀO GIẢNG DẠY CÁC VĂN BẢN NHẬT DỤNG
TRONG MÔN NGỮ VĂN THCS
I- PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
I.1.1 Cơ sở lí luận
Thế giới ngày nay đang chứng kiến những đổi thay to lớn trong mọi hoạtđộng phát triển kinh tế - xã hội nhờ những thành tựu của công nghệ thông tin(CNTT) CNTT đã góp phần quan trọng cho việc tạo ra những nhân tố năngđộng mới, cho quá trình hình thành nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin
Có thể nói, khi công nghệ thông tin càng phát triển thì việc phải ứng dụngcông nghệ thông tin vào tất cả các lĩnh vực là một điều tất yếu Trong lĩnh vựcgiáo dục đào tạo, CNTT bước đầu đã được ứng dụng trong công tác quản lý,một số nơi đã đưa tin học vào giảng dạy, học tập Tuy nhiên, so với nhu cầu thựctiễn hiện nay, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở các trường nước ta còn rấthạn chế Chúng ta cần phải nhanh chóng nâng cao chất lượng, nghiệp vụ giảngdạy, nghiệp vụ quản lý, không nên từ chối những gì có sẵn mà lĩnh vực CNTTmang lại, nên biết cách tận dụng nó, biến nó thành công cụ hiệu quả cho côngviệc của mình, mục đích của mình
Đối với giáo dục và đào tạo, công nghệ thông tin có tác dụng mạnh mẽ, làmthay đổi nội dung, phương pháp dạy và học CNTT là phương tiện để tiến tới
“xã hội học tập” Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc
đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho
CNTT Bộ giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu “đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong
giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng dẫn học CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới”
Vấn đề phương pháp dạy học (PPDH) trong nhà trường phổ thông ở nước
ta đã được xã hội quan tâm ngay từ những năm 1970 Đến đầu thập kỷ 90 vấn đềPPDH và đổi mới PPDH được đặt ra và phát động nhiều lần trong ngành giáodục nhưng trên thực tiễn giáo dục ở nhà trường vẫn chưa đạt hiệu quả cao Đến
1 GV: Nguyễn Thanh Minh - Trường PTDT Nội trú
Trang 2những năm 1995 - 1996, 2000 - 2001 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát độngphong trào đổi mới PPDH được thể hiện trong chỉ thị nhiệm vụ năm học hàngnăm: Chỉ thị số 29/ 2001/ CT - BGD & ĐT ngày 30/ 7/ 2001 của Bộ trưởng Bộ
GD & ĐT về việc tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trongngành Giáo dục giai đoạn 2001 - 2005 đã chỉ rõ:
- Các bộ môn không chuyên về CNTT cần đổi mới nội dung chương trìnhgiảng dạy, phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học theo hướng tăngcường áp dụng CNTT Các ngành khoa học, các ngành công nghệ cần tăngcường dạy lập trình để có thể tạo ra các phần mềm chuyên ngành
- Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học tin học theohướng đảm bảo các kiến thức cơ bản, tính cập nhật của chương trình nhằm hỗtrợ cho dạy và học các môn học khác trong nhà trường
- Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo ở tất cả các cấphọc, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ đắclực nhất cho đổi mới PPDH, học tập ở tất cả các môn học
Đồng thời năm học 2008- 2009 là năm học gắn liền với chủ đề “Ứng dụng
công nghệ thông tin vào giảng dạy”.Thực hiện chủ đề trên, hầu hết các bộ môn
trong nhà trường ở các cấp học, bậc học, ngành học đều chú trọng ứng dụngCNTT vào đổi mới PPDH
Phải nói rằng, hiện nay với sự phát triển như vũ bão về lĩnh vực CNTT,nước ta đã từng bước tiếp cận và ứng dụng những thành tựu trong lĩnh vực cònkhá mới mẻ này Tuy vậy, việc ứng dụng CNTT vào việc dạy học ở nước ta vẫncòn hạn chế so với các quốc gia trên thế giới Vì vậy việc đổi mới PPDH và ứngdụng CNTT góp phần vào việc đổi mới PPDH là việc làm cần thiết và quantrọng của ngành giáo dục trong giai đoạn hiện nay Nhưng làm thế nào để ứngdụng CNTT hiệu quả trong các tiết dạy, đặc biệt là đối với bộ môn Ngữ văn nóichung và việc giảng dạy các VBND trong phân môn Văn nói riêng đó là vấn đề
mà bất cứ một giáo viên Ngữ văn nào cũng gặp phải khi có ý định đưa CNTTvào giảng dạy
Như chúng ta đã biết Văn học là loại hình nghệ thuật bằng ngôn từ, đượchình thành nhờ những cảm xúc thẩm mĩ của nhà văn Đến với văn chương tanhư sống lại những trang đời, ta đồng điệu tri âm cùng người nghệ sĩ … và trướcthực tế hiện nay, học sinh không thích học môn Ngữ văn Vì vậy, vai trò củamôn này dần dần mờ nhạt Chính vì vậy, chương trình Ngữ văn hiện hành đãđưa các văn bản nhật dụng vào giảng dạy, đây là kiểu văn bản mới mẻ trongchương trình SGK THCS, cho nên việc giảng dạy và học tập phần văn bản này
gặp không ít khó khăn, không những thế nhiều ý kiến cho rằng : Chất “văn”
trong văn bản nhật dụng không nhiều, nếu không chú ý dễ biến giờ Ngữ văn
Trang 3thành bài thuyết minh về một vấn đề sinh học, lịch sử hay pháp luật, dẫn đếnhiệu quả các tiết dạy và học loại văn bản này chưa cao
Mặt khác, yêu cầu truyền thông cập nhật của các chủ đề nhật dụng đòihỏi các hình thức dạy học đáp ứng cung cấp và khai thác thông tin nhanh vàphong phú tới người học Sách giáo khoa, bảng đen, phấn trắng, thậm chí cảmáy chiếu hắt (overhead) – Các phương tiện dạy học truyền thống ấy là cần thiếtnhưng tự chúng chưa thể đáp ứng hết được các yêu cầu của dạy học VBND màchỉ có việc thu thập thông tin, thiết kế và trình chiếu trên các phương tiện dạyhọc điện tử hiện đại mới là các phương tiện tạo hiệu ứng tích cực nhất trong dạyhọc VBND
I.1.2 Cơ sở thực tiễn
I.1.2.1 Về phía giáo viên
Thời gian gần đây, phong trào thi đua soạn bài giảng điện tử để đổi mớicách dạy và học đã được nhiều GV hưởng ứng tích cực Đây được coi là conđường ngắn nhất để đi đến đích của chất lượng dạy học trong các nhà trường,tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại:
- Hiện nay việc ứng dụng CNTT trong dạy và học môn Ngữ văn nói riêng
và các môn học nói chung đã áp dụng một vài năm nhưng chưa thật triệt để
- Một số giáo viên vẫn còn quen với cách dạy cũ
- Nhiều giáo viên ngại sử dụng CNTT do tốn thời gian, công sức
- Còn có giáo viên chưa sử dụng thành thạo một số phần mềm vi tính Dovậy nhiều giáo viên rất ngại làm chủ kỹ thuật phức tạp của máy tính
- Một số giáo viên đã ứng dụng CNTT vào dạy học, tuy nhiên trong quátrình giảng dạy vẫn còn nặng về hình thức, mang nặng tính chất trình diễn.Nhiều giáo viên còn tham cung cấp các loại thông tin, phim, ảnh làm mất thờigian nhưng hiệu quả giờ dạy không cao
I.1.2.2 Về phía học sinh
- Trên thực tế, hầu hết học sinh đều say mê, thích thú được học những giờhọc có ứng dụng CNTT Song, bên cạnh đa số học sinh tiếp cận nhanh chóngvới phương pháp học mới này vẫn còn những tồn tại cần khắc phục sau:
+ Một số học sinh chưa thật thích nghi với phương pháp học hiện đạinày, chỉ thụ động ngồi nghe, xem phim, ảnh và sôi nổi bình luận hoặc say sưanghe thầy giáo giảng quên cả việc ghi bài
Trang 4+ Một số học sinh gặp khó khăn trong việc ghi chép bài: không biết lựachọn thông tin, nội dung chính để ghi vào bài học, ghi chậm hoặc không đầyđủ
I.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Là giáo viên trực tiếp giảng dạy chương trình SGK ngữ văn THCS, để phầnnào giúp các giáo viên nâng cao hiệu quả các giờ dạy văn bản nhật dụng và đểhọc sinh yêu thích giờ học văn, đồng thời hoà nhập với thực tế qua một số các
hình ảnh trực quan trên máy chiếu, tôi đã lựa chọn đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy các văn bản nhật dụng trong môn Ngữ văn THCS”.
I.3 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
I.3.1 Thời gian
Từ năm học 2006– 2007 tôi đã mạnh dạn ứng dụng CNTT vào giảng dạy
và áp dụng thường xuyên, triệt để hơn trong năm học 2008 - 2009, trên cơ sởcủa từng tiết Văn học đối với những văn bản nhật dụng của các khối lớp 6, 7, 8,9
I.3.2 Địa điểm
Thực hiện tại trường Phổ thông Dân tộc Nội trú huyện Tiên Yên
I.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này, tôi đã áp dụng một số phương pháp nghiên cứusau:
1 Phương pháp quan sát:
Là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tri giác trực tiếp
2 Phương pháp điều tra:
Đây là phương pháp mà tôi đã thu thập các thông tin, số liệu dựa trên cơ
sở sự trả lời của học sinh trong trường về học tập có sử dụng CNTT
3 Phương pháp tổng hợp tài liệu:
Với phương phápnày tôi đã tìm hiểu cách làm của những người đi trước
có liên quan đến đề tài (ứng dụng CNTT vào giảng dạy) như thế nào? Đã giảiquyết vấn đề ra sao? Liên quan đến đâu?
4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Trang 5Là phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn tại trường, đem lý luậnphân tích kinh nghiệm của thực tiễn rồi từ những phân tích đó rút ra kết luậnnhững bài học thành công và thất bại, những phát hiện mới và phát triển hoànthiện.
I.5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ MẶT LÍ LUẬN, THỰC TIỄN
*) Về mặt lí luận:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học cácmôn nói chung, phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng đã được đặt ra vàthực hiện một cách cấp thiết cùng với xu hướng đổi mới giáo dục chung của thế
giới Luật giáo dục sửa đổi đã chỉ rõ: “phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”.
Trong một thập niên trở lại đây, nhiều quan niệm, phương pháp dạy họcmới đã và đang được nghiên cứu, áp dụng ở trường phổ thông như: dạy học nêuvấn đề, dạy học tích cực, dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học theo dự
án, dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ…Tất cả đều nhằm mục đích tích cựchoá hoạt động của học sinh, phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Đặc biệtviệc sử dụng công nghệ tin học để xây dựng bài giảng điện tử các môn nóichung, dạy học Ngữ văn nói riêng, được xem là một trong những công cụ đemlại hiệu quả tích cực trong việc đổi mới việc dạy và học
*) Về mặt thực tiễn:
Tồn tại ở trường phổ thông với tính cách là một khoa học, bộ môn Ngữ văn
có tác dụng nhất định đến việc hình thành thế giới quan, tình cảm đạo đức, pháttriển năng lực nhận thức và hành động… cho học sinh Tuy nhiên, hiện nay chấtlượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn chưa thực sự làm cho xã hội an tâm
Vì thế việc ứng dụng CNTT để góp phần đổi mới một cách toàn diện về nộidung lẫn phương pháp dạy học Ngữ văn là vô cùng cần thiết, góp phần đắc lựccho việc đổi mới PPDH
Trang 6II PHẦN NỘI DUNG
II.1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
II.1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Sự đổi mới của mục tiêu giáo dục và nội dung giáo dục đặt ra yêu cầu phảiđổi mới phương pháp dạy học Nghị quyết TW 2, khoá VIII đã xác định mục
tiêu của việc đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo là nhằm: “khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại (ứng dụng CNTT) vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh".
Để hưởng ứng chủ đề của năm học “Ứng dụng công nghệ thông tin vào
giảng dạy”, hầu hết các bộ môn trong nhà trường ở các cấp học, bậc học, ngành
học đều chú trọng ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH Trong thời gian qua cónhiều trường, nhiều giáo viên đã thực hiện các chuyên đề, đề tài về ứng dụng
CNTT vào dạy - học như: Những biện pháp nâng cao hiệu quả trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học môn Ngữ văn; Phương pháp soạn - giảng bằng giáo
án điện tử; Kĩ năng ứng dụng CNTT trong giảng dạy… Tuy nhiên với đề tài
này tôi chỉ tập trung nghiên cứu việc ứng dụng CNTT ở bộ môn Ngữ văn khigiảng dạy các văn bản nhật dụng ở phân môn Văn học
I.1.2 Cơ sở lí luận
Các thuật ngữ và khái niệm trong đề tài:
- Ứng dụng là đem lí thuyết dùng vào thực tiễn
- Công nghệ thông tin là một thuật ngữ rộng bao quát bao gồm phươngpháp, phương tiện, kĩ thuật máy tính và viễn thông, kĩ thuật lập trình để khaithác và sử dụng các nguồn tài nguyên thông tin phong phú và đa dạng phục vụlợi ích con người
- Văn bản là chuỗi lời nói miệng hay bài viết có chủ đề thống nhất, có liênkết, mạch lạc, vận dụng phương thức biểu đạt phù hợp để thực hiện mục đíchgiao tiếp
- Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm chỉ thể loại hoặc kiểuvăn bản Nó chỉ đề cập đến chức năng, đề tài và tính cập nhật của nội dung vănbản Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống con
Trang 7người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên , môi trường, nănglượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý và các tác hại của tệ nạn xã hội… Vì vậy,văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể tài cũng như tất cả các văn bảnkhác
Kết luận chương 1:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng dạy học cácmôn nói chung, phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng đã được đặt ra vàthực hiện một cách cấp thiết cùng với xu hướng đổi mới giáo dục chung của thế
giới Luật giáo dục sửa đổi đã chỉ rõ: “phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, từng môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”.
Trong sự đổi mới giáo dục trung học cơ sở, phương tiện dạy học tiếp tục
được coi trọng “Phương tiện dạy học không chỉ dừng ở mức minh hoạ nội dung
dạy học mà phải trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơ của cả phương pháp và nội dung dạy học” Theo quan niệm của Công nghệ thông tin,
để đổi mới phương pháp dạy học, chúng ta cần tìm ra những “Phương pháp làm
tăng giá trị lượng tin, trao đổi thông tin nhanh hơn, nhiều hơn và hiệu quả hơn”
Trang 8II.2 CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Hiện nay việc giảng dạy và học tập phần văn bản nhật dụng gặp không ít
khó khăn, không những thế nhiều ý kiến cho rằng: Chất “văn” trong văn bản
nhật dụng không nhiều, nếu không chú ý dễ biến giờ ngữ văn thành bài thuyếtminh về một vấn đề sinh học, lịch sử hay pháp luật, dẫn đến hiệu quả các tiếtdạy và học loại văn bản này chưa cao
- Trình độ nhận thức của học sinh đối với môn Ngữ văn là trung bình vàyếu bộ môn Đa số các em diễn đạt bằng vốn Tiếng Việt còn hạn chế, chưa có
kĩ năng phân tích một văn bản nhật dụng với những đặc trưng riêng về phươngthức biểu đạt, thể loại
- Các em học sinh chưa được học vi tính, ít tiếp xúc với các thiết bị côngnghệ thông tin hiện đại
II.2.2 Đánh giá thực trạng
Theo tôi nguyên nhân của thực trạng trên là do:
*) Về phía giáo viên:
- Nguyên nhân khách quan: Môn Ngữ văn là môn học về ngôn từ Việc đầu
tư cho thiết bị dạy học của môn này còn ít Và trước thực tế hiện nay, học sinhyêu thích học môn Ngữ văn không nhiều Vì vậy, vai trò của môn này dần dần
mờ nhạt Chính vì vậy, chương trình ngữ văn hiện hành các văn bản nhật dụngvào giảng dạy, đây là kiểu văn bản mới mẻ trong chương trình SGK THCS
- Nguyên nhân chủ quan: Một số giáo viên chưa nhận thức hết được vai trò
và tác dụng của phương tiện dạy học, chưa thực sự nghiên cứu kĩ nội dung,chương trình sách giáo khoa, chưa xác định đúng phương pháp bộ môn, chưa
Trang 9đầu tư nhiều thời gian để nâng cao trình độ vi tính cũng như việc ứng dụngCNTT vào giảng dạy.
Trang 10II.3.CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG CNTT VÀO GIẢNG DẠY CÁC VĂN BẢN
NHẬT DỤNG TRONG MÔN NGỮ VĂN THCS
II.3.1 Các biện pháp
Dưới sự chỉ đạo của Phòng GD&ĐT, sự tin tưởng của Ban giám hiệunhà trường, từ năm học 2006 – 2007 tôi đã mạnh dạn ứng dụng CNTT vào quátrình dạy học, từ đó đề ra một số biện pháp đối với việc ứng dụng CNTT vàogiảng dạy các văn bản nhật dụng như sau:
THỨ NHẤT, giáo viên cần hiểu rõ: Ý nghĩa của việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ngữ văn
Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghệthông tin (CNTT) với những tiện ích của nó trong việc quản lí và cung cấpthông tin đã có tác dụng to lớn đối với sản xuất và đời sống xã hội Công nghệthông tin đã trở thành công cụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có giáodục và đào tạo Công nghệ thông tin- truyền thông là một trong những công cụđược sử dụng thực hiện đổi mới trong giáo dục đào tạo và đang được các nướctrên thế giới quan tâm ứng dụng Thấy được tầm quan trọng của việc ứng dụngcông nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị 58-
CT/TW về việc: “…đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào
tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học” Sau đó, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào
tạo có chỉ thị 29/CT-BGDĐT (tháng 7/2001) đề ra nhiệm vụ ứng dụng CNTTcho các trường phổ thông từ năm 2002-2005, là phải ứng dụng từ 5-10% thờigian lên lớp có sử dụng phương tiện CNTT và thực hiện giáo án điện tử
Giảng dạy bằng giáo án điện tử có ưu điểm là tạo hứng thú cho cả thầy vàtrò trong buổi học nhờ có sự truyền đạt và tiếp nhận bài giảng thông qua nhữnghình thức phong phú, đa dạng như hình ảnh, âm thanh giúp cho học sinh tiếpnhận bài giảng dễ hiểu hơn Giáo viên được giảm nhẹ việc thuyết giảng Qua đó,học sinh được kích thích khám phá tri thức qua thông tin thu nhận được giúpcho giờ học thêm sinh động Giáo viên không phải soạn giáo án nhiều lần mà chỉcần đầu tư cho lần soạn đầu tiên và cập nhật, chỉnh sửa cho bài giảng tốt hơnvào những lần sau
Dạy học có ứng dụng CNTT là một hình thức dạy học tiên tiến và do khảnăng lưu trữ, tích hợp, thể hiện thông tin nhanh, đa dạng, cho phép đẩy mạnh sựtương tác giữa thầy và trò, dẫn đến sự thay đổi sâu xa về hình thức của dạy vàhọc Sau hơn một năm thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng
Trang 11công nghệ thông tin (CNTT) trong nhà trường phổ thông, chúng tôi nhận thấy,việc dạy bằng giáo án điện tử (GAĐT) đối với môn Ngữ văn hay các phân mônkhác đều đem lại những hiệu quả nhất định Nếu được đầu tư cẩn thận, phươngpháp này sẽ tạo hứng thú cho học sinh, đặc biệt là khi giảng những nội dung cóminh hoạ bằng tranh ảnh, âm thanh, sơ đồ, biểu bảng Mặt khác, việc trình diễnnội dung bài dạy bằng màn hình vừa mới lạ đối với học sinh vừa giúp cho giáoviên tiết kiệm một lượng lớn thời gian ghi bảng, giáo viên sẽ sử dụng thời gian
đó vào việc mở rộng vấn đề, liên hệ những kiến thức bên ngoài góp phần làmcho bài học phong phú, sinh động, sâu sắc hơn
Cái được lớn nhất ở mỗi tiết giảng bằng giáo án điện tử chính là một lượnglớn kiến thức, hình ảnh trực quan sinh động được chuyển tải đến các em họcsinh Nó không những giúp cho tiết học trở nên lôi cuốn hơn mà còn hạn chếviệc GV bị cháy giáo án vì thời gian được kiểm soát bằng máy Nếu như trongmỗi tiết học thông thường, giáo viên phải dành khá nhiều thời gian để treo tranhảnh, thao tác các hoạt động thí nghiệm thì trong tiết học có sử dụng giáo án điện
tử, những chuyện đó chỉ cần thao tác trong giây lát Sự giải phóng đôi tay cho cảgiáo viên và học sinh cho phép các em có thể tương tác nhiều hơn với thầy côgiáo, làm nâng cao hiệu quả giờ học Ngoài ra, về phương diện sức khoẻ, giảngdạy bằng GAĐT sẽ giúp GV tránh được bụi phấn và hạn chế những căn bệnhthường thấy do ảnh hưởng của nghề nghiệp tạo nên Giáo viên chỉ cần đầu tưsoạn lần đầu, các lần giảng sau chỉ chỉnh sửa và bổ sung
THỨ HAI, giáo viên cần nắm được: Một số hình thức ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy - học môn Ngữ văn
1 Phân biệt giáo án điện tử và bài giảng điện tử:
- Giáo án điện tử: Là bản thiết kế, kế hoạch tổ chức hoạt động dạy học cho
một môn học hay bài học cụ thể (kịch bản của bài học)
- Bài giảng điện tử: Là bản trình diễn nội dung bài giảng đã được chương
trình hoá trong giáo án điện tử
2 Thực chất của việc giảng dạy bằng giáo án điện tử
Thực hiện giáo án điện tử giáo viên phải có sự hỗ trợ của máy tính Toàn
bộ kế hoạch lên lớp của giáo viên phải được lập trình sẵn Các hoạt động dạy vàhọc được thiết kế hợp lý trong một cấu trúc chặt chẽ, sử dụng các công cụ đaphương tiện bao gồm: các văn bản hình ảnh, âm thanh, phim minh hoạ đểchuyển tải tri thức và điều khiển người học
Khi lên lớp bằng giáo án điện tử, giáo viên phải thực hiện một bài giảngđiện tử với toàn bộ hoạt động giảng dạy đã được chương trình hóa một cách sinhđộng nhờ sự hỗ trợ của các công cụ đa phương tiện đã được thiết kế trong giáo
án điện tử
Trang 12Muốn có một tiết dạy với giáo án điện tử có hiệu quả, người thầy giáo phảidành nhiều thời gian cho việc sưu tầm, chuẩn bị chu đáo về tài liệu, kiến thức để
có được những hình ảnh minh hoạ, âm thanh phục vụ cho bài giảng Giáo viênphải biết sử dụng thành thạo máy tính và một số phần mềm hỗ trợ cho việc soạngiáo án điện tử như power point, violet… Giáo viên có thể tham khảo cách soạngiáo án điện tử trên một số trang web như: bachkim.vn
3 Tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin trên mạng internet
Ngày nay, giáo viên cần phải có thói quen và khả năng tự học để bồi dưỡngnâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tích luỹ kiến thức Tuy nhiên, giáoviên thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin do cácthư viên truyền thống chưa đáp ứng đủ nhu cầu học hỏi, tìm hiểu và nghiên cứucủa họ Vì vậy, internet và máy vi tính chính là một phương tiện giúp mỗi người
tự học tốt nhất, là nguồn tài nguyên vô tận để chúng ta khai thác những thôngtin, tư liệu để áp dụng vào giảng dạy Giáo viên có thể tìm kiếm, tra cứu tri thức
về mọi lĩnh vực, trong đó có văn học
Cách tìm kiếm tốt nhất theo tôi là sử dụng bộ máy tìm kiếm Hãy nhấn vàothanh địa chỉ và gõ để hiện lên bộ máy tìm kiếm tốt nhất hiện nay:
www.google.com.vn Khi đã có nó rồi, ta gõ bất cứ từ gì vào ô tìm kiếm và
enter Ngoài ra các đồng chí GV có thể truy cập để tìm và download tài liệu(ngoài các báo điện tử) đó là: Các trang wed của các sở giáo dục trong cả nước,
hay các trang dayhocintel.org, giaovien.net, moet.edu.vn, www.violet.vn/main (bài giảng điện tử các môn học), www.vnthuquan.net (tất cả các tác phẩm văn
học cổ điển và hiện đại trong và ngoài nước, thơ ca, âm nhạc, hội hoạ), còn tìm
hình ảnh và các tài liệu "độc" khác thì tôi thường vào các trang:
www.photobucket.com…
4 Sử dụng các thiết bị điện tử vào quá trình dạy học
Hiện tại hầu hết các trường THCS trong huyện Tiện Yên đã được trang bịmáy vi tính, đèn chiếu overhead, các phương tiện nghe nhìn, các phương tiệntruyền thông khác, nhiều trường được kết nối internet Một số giáo viên đã đượctập huấn về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Học sinh cũng đã đượctiếp xúc với công nghệ thông tin
Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật, trong quá trình tổ chức dạy họccác văn bản nhật dụng giáo viên có thể sử dụng các phương tiện dạy học sauđây:
- Phim chiếu với đèn chiếu overhead
- Phần mềm hỗ trợ bài giảng (powerpoint, violet, preteaching ), minh hoạtrên lớp với máy chiếu đa năng
Trang 13- Công nghệ kiểm tra, đánh giá bằng bài tập trắc nghiệm trên máy tính.
5 Xây dựng thư viện tư liệu
Để phục vụ cho công tác giảng dạy, đối với môn Ngữ văn nói chung và cácvăn bản nhật dụng trong phân môn Văn nói riêng kho tư liệu là điều kiện cầnthiết và đặc biệt quan trọng vì các văn bản nhật dụng trang bị cho học sinh hệthống tri thức đa dạng, phong phú Đó là những văn bản có nội dung gần gũi,bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hộihiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, thuốc
lá, ma tuý… Những bài học này có tính thực tiễn cao Do vậy giáo viên dạy Ngữvăn phải chú trọng cập nhật những sự kiện, thông tin, hình ảnh, số liệu mới phục
vụ cho quá trình giảng dạy có hiệu quả
- Trước đây giáo viên xây dựng kho tư liệu bằng cách đọc, tham khảo tàiliệu, sách, báo và chép lại những thông tin cần thiết vào sổ tư liệu
- Hiện nay việc ứng dụng CNTT giúp giáo viên xây dựng thư viện tư liệuthuận lợi, phong phú, khoa học hơn và không mất nhiều thời gian như trước đây.Việc khai thác tư liệu có thể lấy từ các nguồn:
+ Khai thác thông tin, tranh, ảnh từ mạng internet (nguồn tài nguyên vôtận)
+ Khai thác tranh ảnh từ sách, tài liệu, báo chí, tạp chí
Trong quá trình tham khảo sách, báo, tài liệu gặp những tranh, ảnh đặc biệtcần thiết, có thể dùng máy scan quét ảnh và lưu vào USB, cuối cùng cập nhậtvào kho tư liệu của mình để phục vụ cho quá trình giảng dạy
+ Khai thác từ băng hình, phim video, các phần mềm, tranh ảnh, bản đồ,hình vẻ thông qua chức năng cung cấp thông tin của máy tính
Ví dụ: Khai thác các đoạn phim gắn với nội dung nhật dụng của mỗi văn
bản (cầu Long Biên, động Phong Nha, ca Huế trên sông Hương…) lựa chọn cácđoạn phim có thể làm tư liệu giảng dạy, sử dụng phần mềm cắt các đoạn phimrồi lưu vào máy tính thành các file dữ liệu trong thư viện tư liệu để phục vụgiảng dạy…
Từ các nguồn khai thác trên giáo viên sẽ lưu trữ cho mình một thư viện tưliệu phong phú, đa dạng để phục vụ cho công tác giảng dạy Tuy nhiên cần lưutrữ thành từng file dữ liệu để dễ dàng tìm kiếm khi sử dụng
THỨ BA, giáo viên phải nắm được: Hệ thống các văn bản nhật dụng có
trong SGK Ngữ văn THCS
Trang 14Các VBND có trong chương trình Ngữ văn THCS là những VB mang nội
dung “gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng
đồng trong xã hội hiện đại” nên việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy các VB
này là vô cùng phong phú
Lớp Tên văn bản Đề tài nhật dụng của các văn bản
3 Cuộc chia tay của những con
búp bê con búp bê
4 Ca Huế trên sông Hương
- Quyền sống của con người
THỨ TƯ, giáo viên cần chú ý về: Phương pháp khi dạy VBND có ứng
dụng CNTT (giáo án diện tử)
Trang 151- Người giáo viên sẽ phải chuyển đổi cách dạy: Phải kết hợp nhuần nhuyễnnhiều thao tác: vừa dùng lời nói để giảng dạy, hướng dẫn, vừa dùng hình ảnhtrên máy chiếu,
2- Người giáo viên phải nắm được kỹ thuật vi tính của Microsoft word vàmicrosoft powerpoint
3- Người giáo viên khi thiết kế giáo án điện tử dạy phần văn bản nhật dụng chú
ý làm nổi bật đặc điểm của văn bản
a Văn bản nhật dụng là loại văn bản có nội dung đề cập tới những vấn đềthường nhật của đời sống con người, những vấn đề đang được xã hội quan tâm
và hướng tới Đó có thể là một vấn đề lịch sử, địa lí, môi trường văn hoá, tôngiáo, dân tộc Những vấn đề này vừa có vấn đề thời sự vừa có ý nghĩa lâu dài,vĩnh cửu Đó là một vấn đề bức xúc, nóng bỏng mà cả toàn xã hội quan tâm, làcái được đặt ra hàng ngày đối với tất cả mọi người, cái mà tất cả mọi người phảihướng tới không chỉ cho hôm nay mà cho cả mai sau Có thể hiểu như vậy ta
mới lí giải được tại sao “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” gửi cho tổng thống Mỹ
cách chúng ta ngày nay tới 150 năm lại được xem là một văn bản nhật dụng.Vấn đề này không chỉ có ý nghĩa thiết thực bởi lẽ chừng nào đất đai, tài nguyên,môi trường, còn bị xâm hại vì vấn đề đặt ra trong văn bản còn nguyên giá trị
Ví dụ:
Học bài “Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử” không phải chỉ biết để
chỉ biết lịch sử của một chiếc cầu mà quan trọng hơn qua đó giúp học sinh biếttrân trọng truyền thống, thành quả lao động của nhân dân, những người lao độngxây dựng nó, xa hơn là đánh thức rung cảm nghệ thuật tinh tế Sâu sắc trướcnhững sự vật tưởng như vô tri, vô giác của quê hương đất nước mình
Học bài “Thông tin về ngày Trái đất năm 2000” không chỉ giúp học sinh
thấy được tác hại mặt trái của việc bao ni lông, tự mình hạn chế sử dụng và vậnđộng mọi người cùng thực hiện khi có điều kiện mà còn qua đó giúp các em cónhững suy nghĩ việc làm tích cực về vấn đề xử lí rác thải sinh hoạt - một vấn đềkhó giải quyết và nan giải nhất trong vấn đề bảo vệ môi trường hiện nay
b Văn bản nhật dụng tồn tại ở tất cả kiểu văn bản, tất cả các thể loại, tất cảcác phương thức biểu đạt nó có thể là văn bản văn chương hoặc không phải làvăn bản văn chương, do vậy phải chú ý làm nổi bật hình thức tồn tại của nó Vănbản nhật dụng phải xem xét đến yếu tố thể loại, yếu tố kiểu văn bản và phươngthức biểu đạt của nó và trên cơ sở đó mà hướng tới những vấn đề cần thiết vềnội dung GV phải có những câu hỏi để học sinh phát hiện thể loại, kiểu văn bảnhay phương thức biểu đạt, rồi từ đó có cách khai thác phân tích văn bản mộtcách hợp lí Làm được như vậy cũng đồng nghĩa với việc thực hiện qui trình tích
Trang 16hợp, đặt môn Ngữ văn trong mối quan hệ với phân môn Tiếng Việt và Tập làmvăn theo tinh thần đổi mới nội dung phương pháp dạy học
Ví dụ khi dạy bài “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” cần hướng dẫn học sinh
nắm được bức thư, xuất phát từ tình yêu thiên nhiên, đất nước, bài văn đã nêuđược một vấn đề bức xúc có ý nghĩa to lớn với cuộc sống hiện nay: Bảo vệ, gìngiữ sự trong sạch của thiên nhiên, môi trường.GV giúp học sinh tóm tắt nhữngnội dung chính của bức thư cho học sinh phân tích sự khác biệt trong thái độ,cách ứng xử với thiên nhiên của người da đỏ và những người da trắng và vì saomột bức thư nói chuyện mua bán đất đai ở thế kỉ XIX đến nay lại được coi làmột trong những văn bản hay nhất về thiên nhiên, môi trường Muốn vậy đòi hỏi
GV chú ý vào phương thức biểu hiện “Bởi lẽ mảnh đất này là bà mẹ của người
da đỏ Chúng tôi là một phần của bà mẹ và mẹ cũng là một phần của chúng tôi Những mỏm đá, những vũng nước trên đồng cỏ, hơi ấm của chú ngựa con và của con người, tất cả đều cùng chung một gia đình” Phân tích một số yếu tố
nghệ thuật tạo nên sự hấp dẫn của bức thư như các điệp từ, điệp ngữ, điệp câu,các thủ pháp đối lập , từ đó khẳng định vấn đề: Xuất phát từ tình yêu quê
hương, đất nước, “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” đã đặt một vấn đề có ý nghĩa
đối với nhân loại
THỨ NĂM, giáo viên cần nắm được: Quy trình thiết kế một bài giảng
điện tử Ngữ văn (đối với các VBND)
1 Chuẩn bị dạy học
a) Chuẩn bị kiến thức dạy học
Tính chất đơn nghĩa của nội dung và đơn giản về hình thức diễn đạt làmcho việc xác định đúng mục đích giao tiếp của văn bản tương ứng với cách thứcbiểu đạt làm mục tiêu kiến thức của bài học VBND sẽ ít gặp khó khăn trongkhâu chuẩn bị bài học Nhưng yêu cầu mở rộng hiểu biết để thấm thía các chủ đềnhật dụng đặt ra trong văn bản, từ đó tăng cường ý thức công dân của mỗi HS đãkhiến việc chuẩn bị kiến thức hỗ trợ cho bài học VBND mang một ý nghĩa tíchhợp rộng hơn, đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn của cả hai chủ thể dạy và họcVBND Yêu cầu đó sẽ là GV thu thập (đồng thời giao cho các nhóm HS cùngsưu tầm) các tư liệu ngoài văn bản liên quan đến chủ đề văn bản trên các nguồnthông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, mạng internet, báo chí, sách vở,tranh ảnh, âm nhạc …) làm cho chất liệu VBND gắn kết với đời sống
Ví dụ:
- Để chuẩn bị cho bài học “Cầu Long Biên – chứng nhân lịch sử”, giáo
viên cần thu thập các tư liệu liên quan đến cầu Long Biên và các cây cầu làmchứng nổi tiếng trên đất nước ta như tranh ảnh, báo chí, nghệ thuật, lấy đó làmchất liệu tích hợp với đời sống từ bài VBND này, đồng thời giao cho HS sưu
Trang 17tầm các tài liệu (báo chí, tranh ảnh, văn thơ…) có liên quan đến cầu Long Biên
và các cây cầu nhân chứng lịch sử nổi tiếng khác trên đất nước ta (kể cả địaphương) và viết lời giới thiệu ngắn gọn
- Chuẩn bị cho bài học “Ca Huế trên sông Hương”, ngoài việc nắm ý
nghĩa nhật dụng của bài văn là vấn đề bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc qua một
di sản văn hoá phi vật thể là ca Huế để có định hướng đọc – hiểu đúng cho bàihọc này, giáo viên còn phải tạo thêm nguồn tư liệu bổ sung cho bài học trên cáckênh âm nhạc dân gian các vùng miền, các bài hát về Huế, các hình ảnh về cố đôHuế, nhã nhạc cung đình Huế – di sản văn hoá thế giới… đồng thời giao cho cácnhóm HS sưu tầm tư liệu có liên quan đến nội dung văn bản như: dân ca Huế,các bài hát về Huế, dân ca các vùng miền (kể cả địa phương: hát soóng cọ củađồng bào Sán Chỉ của huyện nhà); các bài báo, văn thơ, tranh ảnh về vẻ đẹp của
cố đô Huế làm tài liệu bổ sung cho bài học
b) Chuẩn bị phương tiện dạy học
*) Các phần mềm thiết kế bài giảng điện tử thường được sử dụng trong dạy học Ngữ văn.
Phần mềm CNTT được giáo viên Ngữ văn sử dụng phổ biến nhất hiện nay
là phần mềm Powerpoint Đây là phần mềm đơn giản, dễ thiết kế trình chiếu và
có tác dụng tích cực, rõ nét nhất Khi giới thiệu, trình bày và khái quát nội dungbài học, mỗi slide được coi là một bộ phận cũng là một hệ thống con trong hệthống các nội dung mà bài học cần thể hiện Ở mỗi slide, giáo viên có thể chọnhiệu ứng, đưa các tư liệu (phim, ảnh, nhạc, bài đọc tác phẩm …) làm cho bàigiảng sinh động lôi cuốn hơn
Bên cạnh Powerpoint là phần mềm Violet, phần mềm thiết kế bài giảngđiện tử của Công ty Bạch Kim, với giao diện trực quan, dễ dùng, ngôn ngữ giaotiếp hoàn toàn bằng tiếng Việt rất thuận lợi cho giáo viên Phần mềm này cũngcung cấp một hệ thống các công cụ soạn thảo giúp giáo viên soạn bài giảngnhanh chóng Trong quá trình soạn giáo án, Violet còn cung cấp sẵn nhiều mẫubài tập chuẩn thường được sử dụng trong sách giáo khoa, sách bài tập (như bàitập trắc nghiệm, bài tập ô chữ, bài tập kéo thả chữ/kéo thả hình ảnh …), ngoài raViolet còn hỗ trợ nhiều module cho từng môn học giúp giáo viên tạo đượcnhững trang bài giảng chuyên nghiệp Sau khi soạn thảo xong, phần mềm chophép xuất bài giảng ra thành một sản phẩm chạy độc lập có thể copy vào đĩamềm, USB hoặc CD để chạy trên các máy tính khác mà không cần chương trìnhViolet …
Việc lựa chọn phương tiện dạy học, tranh ảnh, bảng biểu, thông tin phục
vụ cho bài dạy – Lựa chọn các phần mềm (powerpoint, violet, ppreetaching ),trình diễn, tạo hiệu ứng để xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động
Trang 18cụ thể là khâu quan trọng nhất quyết định hiệu quả cũng như thành công của tiếtdạy.
Yêu cầu truyền thông cập nhật của các chủ đề nhật dụng đòi hỏi các hìnhthức dạy học đáp ứng cung cấp và khai thác thông tin nhanh và phong phú tớingười học Sách giáo khoa, bảng đen, phấn trắng, thậm chí cả máy chiếu hắt(overhead) – Các phương tiện dạy học truyền thống ấy là cần thiết nhưng tựchúng chưa thể đáp ứng hết được các yêu cầu của dạy học VBND mà chỉ có việcthu thập thông tin, thiết kế và trình chiếu trên các phương tiện dạy học điện tửhiện đại mới là các phương tiện tạo hiệu ứng tích cực nhất trong dạy học VBND
Việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy các VBND có thể thực hiện cho đốivới tất cả các hoạt động của tiến trình bài dạy
2 Thiết kế bài giảng
Thiết kế một bài giảng điện tử không thể tuỳ tiện, tuỳ hứng mà cần tuântheo những quy tắc, quy trình nhất định tương tự như quá trình soạn một giáo ántruyền thống Việc soạn giảng có thể tiến hành theo các bước sau:
- Xác định rõ mục tiêu bài dạy
- Xác định kiến thức cơ bản, nội dung nhật dụng mà văn bản đó đề cậpđến là gì?
- Lựa chọn tư liệu, tranh ảnh, phim … và những thông tin cần thiết phục
vụ bài dạy
- Lựa chọn phầm mềm soạn giảng, lựa chọn cách trình bày, các hiệu ứngphù hợp … xây dựng tiến trình dạy học thông qua các hoạt động
- Chạy thử, sửa chữa và hoàn thiện bài giảng
Xây dựng kế hoạch thiết kế cụ thể của các slide trình diễn (kịch bản) Dựkiến số slide thích hợp với số lượng đối tượng được lựa chọn để trình diễn vàtương ứng với kế hoạch cụ thể mà giáo án lên lớp đã xác định
Bảng kế hoạch có thể được trình bày như sau:
Thời gian
Đối tượng được trình bày
trên các slide Biện pháp khai
thác, sử dụng
Mục đích
sư phạmVăn bản: bảng biểu, hình
ảnh, âm thanh, phim TL
Trang 19a) Kiểm tra bài cũ:
Giáo viên có thể áp dụng các bài tập trắc nghiệm (chọn đáp án đúng, điềnvào chỗ trống, điền khuyết, kéo thả…) ở phần mềm violet hoặc powerpoit đểkiểm tra kiến thức cũ
b) Phần giới thiệu bài
Tuỳ theo nội dung nhật dụng của từng VB mà giáo viên có thể trình chiếutrên màn hình những hình ảnh, đoạn băng video có âm thanh, những bảng biểu,
số liệu… kèm theo những câu hỏi để dẫn dắt vào bài
Ví dụ:
- Khi dạy văn bản “Ôn dịch, thuốc lá” giáo viên có thể đặt câu hỏi: Trước
khi học bài này, em đã biết gì về thuốc lá? Sau đó giáo viên chiếu trên màn hình
những hình ảnh cụ thể về tác hại của thuốc lá là huỷ hoại nghiêm trọng đến sứckhoẻ và lối sống của con người để dẫn dắt vào bài
- Khi dạy văn bản “Bài toán dân số” giáo viên có thể trình chiếu bảng số
liệu về tình trạng gia tăng dân số ở một số nước chậm phát triển để dẫn dắt vàobài…
thành phim thì việc trình chiếu các tư liệu về tác giả, tác phẩm giáo viên là cầnthiết
Ví dụ:
- Khi dạy văn bản “Mẹ tôi” giáo viên chiếu ảnh nhà văn Et-môn-đô Đơ
A-mi-xi và nêu câu hỏi: Em đã thu nhận được những thông tin nào về tác giả
Et-mô-đô Đơ A-mi-xi? Sau khi học sinh trả lời và giáo viên bổ sung thêm những
thông tin ngắn gọn về tác giả lên màn hình
d) Phần phân tích
Nằm trong hoạt động đọc-hiểu văn bản của phân môn Văn trong bài họcNgữ văn, dạy học VBND không thể nằm ngoài quan điểm dạy học mới, đó làdạy học tích cực Đáp ứng quan điểm tích cực trong dạy học văn bản nhật dụng
Trang 20là giáo viên lựa chọn và kết hợp các biện pháp dạy học, các cách tổ chức dạyhọc, các phương tiện dạy học có thể khai thác tốt nhất năng lực tự học của HS.
Thu thập, sưu tầm các nguồn tư liệu ngoài văn bản liên quan đến nội dungvăn bản là công việc dạy học chủ động tích cực của giáo viên và HS trong khâuchuẩn bị bài học Nhưng xử lí nguồn thông tin đó bằng cách nào để tích cực hoádạy học VBND? Đó sẽ là lựa chọn các thông tin bên ngoài phù hợp với từng nộidung bên trong văn bản trong phần phân tích văn bản thông qua phương tiệnđiện tử
Ví dụ:
- Thiết kế bài học “Động Phong Nha” giáo viên có thể cài đặt các đoạn
phim ghi hình có âm thanh, có lời thuyết minh về những đặc sắc của hangđộng (cụ thể: sau khi cho cho HS tìm hiểu đường vào động Phong Nha có hai
con đường: đường thuỷ và đường bộ giáo viên có thể giới thiệu: Hai con đường
dẫn du khách và thăm động Phong Nha là hai con đường hết sức tươi đẹp Bây giờ thầy trò chúng ta cùng lên du thuyền đến tham quan để cảm nhận vẻ đẹp lộng l ẫy, k ì ảo của động Phong Nha – GV chiếu đoạn phim video)
- Với văn bản “Cầu Long Biên- chứng nhân lịch sử” giáo viên nên tìm
một số hình ảnh về cầu Long Biên trong chiến tranh và hoà bình sau đó liên hệ
mở rộng đến một số cây cầu khác của Hà Nội để giúp học sinh thấy được: Trảiqua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, trải qua bao mưa bom bão
đạn của kẻ thù nhưng cây cầu vẫn “sừng sững giữa mênh mông trời nước” Cầu
Long Biên hiện nay đã được chia sẻ phần lớn công việc cho hai cây cầu hiện đạiđàn em là cầu Thăng Long và Chương Dương Nhưng cầu Long Biên mãi là câycầu lịch sử, là nhân chứng không gì thay thế được cho lịch sử cách mạng, khángchiến và xây dựng, gian khổ và anh hùng của nhân dân Hà Nội một thế kỉ qua
- Đối với văn bản “Ca Huế trên sông Hương” khi tìm hiểu ý “Huế là cái
nôi của dân ca” giáo viên có thể cho HS nghe một làn điệu dân ca Huế quen
thuộc diễn tả lòng khao khát, nỗi mong chờ, hoài vọng thiết tha của tâm hồn
Hay khi tìm hiểu “những đặc sắc của ca Huế’’ giáo viên chiếu nhanh trên màn
hình cảnh biểu diễn và thưởng thức ca Huế trên sông Hương sau đó đặt câu hỏi:
Có gì đặc sắc trong cách biểu diễn ca Huế? Từ đó, nét đẹp nào của ca Huế được nhấn mạnh?
- Đối với văn bản “Bài toán dân số” giáo viên đưa một số hình ảnh về hậu
quả của việc gia tăng dân số ở một số nước chậm phát triển (đói nghèo, chỗ ởchật, đường phố đông đúc ách tắc giao thông…) để học sinh nhận thức rõ đượctrách nhiệm của mỗi quốc gia và ý thức vì cộng đồng của mình
Tuỳ thuộc vào những thông tin, nội dung nhật dụng mà văn bản đề cập màgiáo viên có thể lựa chọn những hình ảnh sao cho phù hợp, thậm chí là những
Trang 21hình ảnh thực chụp hoặc những thước phim quay được qua máy ảnh kĩ thuật số
để tăng thêm tính chân thực và thuyết phục
Ví dụ: Khi dạy văn bản “Ôn dịch, thuốc lá" giáo viên có thể liên hệ thực
tế bằng chính những hình ảnh chụp được về hiện tượng HS hút thuốc lá trong và
ngoài nhà trường sau đó nêu câu hỏi tình huống: Lớp em có một số bạn nam hút
thuốc lá, em sẽ vận động bạn bỏ thuốc lá như thế nào?
Trong quá trình phân tích giáo viên cũng có thể kết hợp với việc trình chiếucác bài tập để khai thác những thông tin mang tính thời sự để HS được bày tỏthái độ, bộc lộ suy nghĩ của bản thân về những vấn đề này
Ví dụ: Khi tìm hiểu những thông tin được thông báo trong phần đầu văn
bản “Ôn dịch, thuốc lá” là: Hai nạn dịch AIDS và hút thuốc lá, trong đó dịch
thuốc lá đang đe doạ đến tính mạng con người, giáo viên có thể chiếu bài tậptrắc nghiệm sau:
(?) Em đón nhận thông tin này với thái độ như thế nào? Vì sao?
A- MớiB- Không mớiC- Ngạc nhiên vì bất ngờD- Không ngạc nhiên vì không bất ngờ
Đây là dạng câu hỏi không có đáp án chung duy nhất - học sinh quan sátmàn hình, tự lựa chọn kết luận và lí giải sự lựa chọn đó
Mục đích của việc dạy văn bản nhật dụng là “đưa học sinh hoà nhập với
xã hội ” vì vậy khi dạy không thể không liên hệ tới những vấn đề liên quan
như : môi trường, van hoá, xã hội, tôn giáo,…Chẳng hạn vấn đề ở địa phương
Ví dụ : Khi dạy bài “Thông tin về Trái đất năm 2000” (Ngữ văn 8)
Giáo viên chiếu vài hình ảnh về môi trường để liên hệ và hướng dẫn họcsinh thấy được nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất là rácthải trong đó kinh nghiệm xử lý là rác thải công nghiệp và rác thải sinh hoạt Giáo viên tập trung phân tích tác hại của việc dựng bao bì ni lông cần liên hệ vớicác hoạt dộng hạn chế và xử lí rác thải sinh hoạt bảo vệ môi trường ở địaphương
Chính việc cho học sinh quan sát hình ảnh để việcliên hệ này giúp cho họcsinh tự bộc lộ làm cho giờ học dân chủ, thoải mái, sinh động Đây là con đường