1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) vận dụng nội dung nghị quyết lần thứ xii của đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới vào giảng dạy các học phần lý luận chính trị

81 28 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 119,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức tầm quan trọng của việcgiảng dạy, học tập và nghiên cứu những vấn đề lý luận mới về KTTT của Đảng trong bối cảnh mới của đất nước và quốc tế, tác giả chọn đề tài: “Vận dụng nội

Trang 1

ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG NỘI DUNG NGHỊ QUYẾT LẦN THỨ XII CỦA ĐẢNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG ĐIỀU KIỆN MỚI VÀO GIẢNG DẠY CÁC HỌC PHẦN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI

Chủ nhiệm đề tài: Võ Tá Tri Đơn vị: Khoa Lý luận chính trị, tường Đại học Thương mại

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

LỜI CAM ĐOAN iv

LỜI CẢM ƠN v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1.Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài 7

2.Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trong và ngoài nước 8

2.1 Trong nước 9

2.2 Ngoài nước 13

2.3 Danh mục các công trình đã công bố thuộc lĩnh vực của đề tài của chủ nhiệm và những thành viên tham gia nghiên cứu 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 14

3.1 Đối tượng nghiên cứu 14

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 14

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, và sản phẩm ứng dụng 14

4.1 Mục tiêu nghiên cứu: 14

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 14

4.3 Sản phẩm ứng dụng: 15

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu 15

5.1 Cách tiếp cận các mẫu khảo sát: 15

5.2 Phương pháp nghiên cứu: 16

6 Đóng góp mới của đề tài 17

Trang 2

7 Kết cấu đề tài 17

CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG VÀ THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 18

1.1 Kinh tế thị trường và cơ chế kinh tế thị trường 18

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chung của kinh tế thị trường 18

1.1.2 Cơ chế thị trường 23

1.1.3 Những ưu điểm và hạn chế của kinh tế thị trường, cơ chế thị trường 24

1.2 Kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 27

1.2.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 27

1.2.2 Thể chế kinh tế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 33

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC, QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG QUA 30 NĂM ĐỔI MỚI 41

2.1 Sự hình thành và phát triển tư duy của Đảng về kinh tế thị trường, thể chê kinh tế thị trường 41

2.1.1 Giai đoạn từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội VIII (1996) 42

2.1.2 Giai đoạn từ Đại hội IX (2001) đến Đại hội XI (2011) 45

2.2 Mục tiêu, quan điểm và chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời gian qua 49

2.2.1 Mục tiêu và quan điểm cơ bản về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 49

2.2.2 Một số chủ trương hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 53

2.3 Đánh giá thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời gian qua 57

Trang 3

2.3.1 Một số kết quả chủ yếu 57 2.3.2 Hạn chế , khuyết điểm 59

CHƯƠNG III: NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG VỂ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM VẬN DỤNG VÀO GIẢNG DẠY HỌC PHẦN ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 62 3.1 Nhận thức của Đại hội XII về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 62

3.1.1 Bối cảnh trong nước và thế giới tác động nhận thức của Đảng về kinh tế thị trường, thể chế kinh tế thị trường 62 3.1.2 Điểm mới trong nhận thức của Đại hội XII về kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 63

3.2 Mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế thị trường và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời gian tới 68

3.2.1 Mục tiêu phát triển kinh tế thị trường và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời gian tới 68 3.2.2 Phương hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng

xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Đại hội XII của Đảng 69

KẾT LUẬN 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đây là một công trình nghiên cứu khoa học độc lập Tác giả có tham khảo từcác tài liệu chính thống liên quan đến Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sảnViệt Nam, có trao đổi, tham khảo ý kiến của một số chuyên gia, đồng nghiệp.Những tài liệu được trính dẫn có nguồn gốc rõ ràng

Trang 5

Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, các phòng, khoa, đơn vị

đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu

đề tài

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tất cả các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè

đã luôn ủng hộ, tạo điều kiện, chia sẻ khó khăn và luôn động viên tôi trong suốt thờigian nghiên cứu, hoàn thiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết nghiên cứu đề tài

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo(từ năm 1986 đến nay), đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các mặt kinh tế,chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng v.v Trong những năm gần đây, nền kinh

tế của nước ta luôn đạt mức tăng trưởng khá, bộ mặt xã hội ngày càng thay đổi tích cực,quan hệ hợp tác quốc tế được tăng cường và mở rộng, vị thế của Việt Nam trên trườngquốc tế được nâng cao

Trước đổi mới, do không thừa nhận trong thời kỳ quá độ (TKQĐ) lên Chủ nghĩa

xã hội (CNXH) còn tồn tại sản xuất hàng hóa (SXHH), kinh tế thị trường (KTTT) và cơchế thị trường (CCTT), chúng ta đã xem kế hoạch là đặc trưng quan trọng nhất quản lýkinh tế, thực hiện phân bổ mọi nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu, còn thị trường chỉđược coi là một công cụ thứ yếu, bổ sung cho kế hoạch để xây dựng CNXH Tuy nhiênlịch sử phát triển của thế giới đã chứng mình rằng kinh tế hàng hóa (KTHH) mà đỉnh cao

là KTTT với những ưu thế tuyệt vời của nó là sự “lựa chọn” thông minh của nhân loại.Vào thời kỳ đổi mới, chúng ta ngày càng nhận rõ KTTT, nếu biết vận dụng đúng đắn sẽphát huy vai trò to lớn đối với sự phát triển KT – XH của đất nước Có thể dùng CCTTlàm nguyên tắc phân bổ các nguồn lực kinh tế, dùng tín hiệu giá cả để điều tiết chủng loại

và số lượng hàng hóa, điều hòa quan hệ cung cầu, điều tiết tỷ lệ sản xuất thông qua cơchế cạnh tranh, thúc đẩy cái tiến bộ, đào thảo cái lạc hậu, yếu kém

Tư duy mới của Đảng về KTTT bắt đầu hình thành từ Đại hội VI So với trước đổimới, nhận thức về KTTT có sự thay đổi căn bản và sâu sắc Từ nhận thức về điều kiện tồn tạiđến những tác dụng của KTTT đối với phát triển KT - XH và công cuộc xây dựng CNXH ởViệt Nam cũng như kinh nghiệm thế giới, Đảng khẳng định sự tồn tại lâu dài của KTTTtrong TKQĐ lên CNXH ở Việt Nam KTTT không đối lập với CNXH, nó còn tồn tại kháchquan trong TKQĐ lên CNXH Vì vậy, có thể và cần thiết sử dụng KTTT để xây dựng CNXH

ở nước ta KTTT không phải là mục đích mà là phương tiện, công cụ để xây dựng CNXHnhanh hơn, hiệu quả hơn KTTT là thành tựu chung của nhân loại, KTTT

Trang 8

không quyết định bản chất xã hội, vì vậy KTTT có thể được sử dụng ở các chế độ kinh tế

- xã hội khác nhau

Thực tế cho thấy, CNTB không sinh ra KTTT nhưng đã biết thừa kế và khai thác

có hiệu quả các lợi thế của nó để phát triển Thực tiễn đổi mới ở nước ta cũng đã chứngminh sự cần thiết và hiệu quả của việc sử dụng KTTT làm phương tiện xây dựng CNXH.Chuyển sang KTTT trong xây dựng và phát triển kinh tế là một bước ngoặt trong đổi mới

tư duy kinh tế, trong thay đổi mô hình phát triển xã hội của Đảng ta thời kỳ đổi mới suốt

30 năm qua Phát triển KTTT định hướng XHCN gắn liền với phát triển kinh tế tri thức,bảo vệ tài nguyên, môi trường trong chiến lược đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hộinhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng một lần nữa tiếp tục kế thừa vàphát triển đầy đủ hơn tư duy về KTTT, bổ sung, hoàn thiện thể chế KTTT (TCKTTT)định hướng XHCN nhằm tạo môi trường và điều kiện phát triển KTTT có hiệu quả, tạođộng lực phát triển KT - XH trong điều kiện mới Nhận thức tầm quan trọng của việcgiảng dạy, học tập và nghiên cứu những vấn đề lý luận mới về KTTT của Đảng trong bối

cảnh mới của đất nước và quốc tế, tác giả chọn đề tài: “Vận dụng nội dung nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới vào giảng dạy các học phần lý luận chính trị ở Trường Đại học Thương mại”.

2.Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trong và ngoài nước

Đối với nước ta KTTT, CCTT là những vấn đề còn khá mới mẻ về mặt lý luận cũngnhư nhận thức và kinh nghiệm thực tiễn Bởi vậy, bước vào thời kỳ đổi mới khi Đảng chủtrương chuyển hướng phát triển kinh tế theo hướng KTTT đã đặt ra nhu cầu cấp bách nghiêncứu để làm sáng rõ những lý luận về KTTT, đúc rút kinh nghiệm về phát triển KTTT nhằmđảm bảo phát triển kinh tế có hiệu quả nhưng không chệch hướng XHCN mà Đảng và Bác

Hồ đã lựa chọn Chính vì vậy từ giữa những năm 80 của thế kỷ trước đã có rất nhiều nhàkhoa học, kinh tế học, nhiều tổ chức như các viện, các trung tâm nghiên cứu, các học viện,trường đại học nhất là khối kinh tế đã dày công tập trung nghiên cứu Các bộ,

Trang 9

ban, ngành từ trung ương đến địa phương cũng đã tổ chức nhiều hội thảo, hội nghị khoahọc về KTTT, CCTT để khẳng định sự cần thiết phát triển KTTT, xác định những tácdụng to lớn không thể bàn cãi của KTTT, thiết lập cơ chế hay TCKTTT định hướngXHCN tạo môi trường cho KTTT phát triển, CCTT phát huy tác dụng Có thể kể đếnmột số nghiên cứu quan trọng sau:

2.1 Trong nước

- Đinh Văn Ân, Lê Xuân Bá (đồng chủ biên) “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Nxb Khoa học kỹ thuật, H 2006 Cuốn sách đề cập tới việc xây dựng TCKTTT định hướng XHCN - một số

vấn đề lí luận và kinh nghiệm quốc tế; phân tích, đánh giá thực trạng quá trình xây dựng

và vận hành thể chế kinh tế (TCKT) trong những năm qua ở Việt Nam; đồng thời các tácgiả nêu ra một số quan điểm chủ đạo và định hướng một số nội dung cơ bản cho việchoàn thiện TCKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam

- Chu Văn Cấp “Tăng cường định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường trong thời kỳ chiến lược mới 2011-2020” Nxb CTQG, H, 2011 Tác phẩm phân tích bản

chất, đặc trưng của nền KTTT nước ta, thực chất là nền KTTT định hướng XHCN Đó làmột nền KTTT nên trước hết cũng vì mục tiêu lợi nhuận, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí

cơ bản Tuy nhiên là nền KTTT định hướng XHCN nên hết sức coi trọng mục tiêu xã hội,hay nói cách khác không vì lợi nhuận với mọi giá Phúc lợi xã hội, công bằng xã hội, sựphát triển toàn diện con người hết sức được quan tâm Tác giả đồng thời cũng phân tíchthực tiễn xây dựng và phát triển KTTT nước ta trong 25 năm đổi mới, chỉ rõ những thànhtựu đạt được, những hạn chế và nguyên nhân có được những thành tưu, nguyên nhân hạnchế trong thời gian 25 năm qua Từ đó, tác giả đưa ra những giải pháp tăng cường địnhhướng XHCN nền KTTT trong thời kỳ chiến lược mới

- Nguyễn Đình Hương, Hoàng Văn Hoa, Mai Ngọc Cường “Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Nxb Lý

luận chính trị, H 2006 Sách đánh giá khái quát thực trạng phát triển các loại thị trườngtrong nền KTTT định hướng XHCN (thị trường hàng hoá và dịch vụ, thị trường lao động,

Trang 10

thị trường bất động sản, thị trường tài chính, thị trường khoa học và công nghệ); đề xuất giải pháp thúc đẩy sự hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường này ở nước ta.

- Nguyễn Tấn Dũng “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế chuyển đổi mô hình tăng trưởng”.

(http://xaquyloc.gov.vn 02/1/2012) Trong thông điệp đầu năm mới (2012), Nguyên Thủ

tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đánh giá tư tưởng kinh tế cốt lõi trong các văn kiệncủa Đại hội XI là tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đảm bảo pháttriển nhanh và bền vững Tiền đề để thực hiện thành công là triển khai hiệu quả 3 đột pháchiến lược, trong đó hoàn thiện TCKTTT vừa là một đột phá then chốt có tác động trựctiếp đến quá ttrình tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng vừa là nhiệm vụ không đòihỏi nhiều nguồn lực tài chính, nếu nhận thức đúng và quyết tâm cao, có thể hoàn thành cơbản trong một thời gian tương đối ngắn Từ việc đánh giá thực tiễn quá trình hoàn thiệnTCKTTT ở nước ta, tác giả khẳng định phải từ những đặc điểm của TCKTTT hiện đại đểlàm chuẩn mực cho quá trình hoàn thiện thể chế Đồng thời tác giả cũng đã chỉ ra 5 đặctrưng chủ yếu của TCKTTT, xác định mục tiêu và một số nội dung cần thực hiện đồng bộ

để tiếp tục hoàn thiện TCKTTT định hướng XHCN ở nước ta trong thời gian tiếp theo

- Nguyễn Tiến Dũng “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Sự tiếp nối của công cuộc đổi mới” (http:/www.tapchicongsan.org.vn 18/4/2012).

Tác giả nhấn mạnh vấn đề có tính nguyên tắc đã được khẳng định trong Cương lĩnhxây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011): “Từ nay đếngiữa thế kỷ XXI, toàn Ðảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thànhmột nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN” Một trong những phương hướng

cơ bản để thực hiện mục tiêu đó là “Phát triển nền KTTT định hướng XHCN”, đặc biệt chútrọng nắm vững và giải quyết các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ “giữa KTTT vàđịnh hướng XHCN” Đại hội XI của Đảng cũng xác định, một trong ba khâu đột phá chiếnlược là “Hoàn thiện TCKTTT định hướng XHCN” Qua bài viết tác giả tổng kết một số vấn

đề lý luận trong nhận thức về KTTT, sự cần thiết và chủ trương hoàn thiện TCKTTT

ở nước ta qua các kỳ đại hội từ VI đến XI của Đảng và cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳquá độ (bổ sung, phát triển năm 2011) Phân tích những đặc trưng, tiêu chí của một nền

Trang 11

KTTT qua các học thuyết, của WTO, EU và của Mỹ Đồng thời tác giả cũng chỉ rõ nhữngnội dung quan trọng cần làm rõ trong nghiên cứu và hoàn thiện TCKTTT định hướngXHCN.

- Phạm Việt Dũng “Về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước ở Việt Nam” (http://www.tapchicongsan.org.vn/22/4/2014).

Bài viết đề cập những nguy cơ của nền KTTT hiện nay mà tự nó không thể tự giải quyếtđược (bất công xã hội; mâu thuẫn giữa tăng trưởng với phát triển xã hội ); phân tíchnhững đặc điểm cơ bản của KTTT định hướng XHCN và chỉ ra sự khác biệt lớn về bảnchất của KTTT định hướng XHCN với KTTT tư bản; nêu những nhận thức mới về kinh

tế nhà nước (KTNN) và chỉ ra những nguyên nhân khẳng định vai trò chủ đạo của KTNN

và định hướng phát triển Đây cũng là tư tưởng chỉ đạo đã được Hiến pháp nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóaXIII) khẳng định tính chất của nền kinh tế nước ta là nền KTTT định hướng XHCN vớinhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó KTNN giữ vai trò chủ đạo.Tác giả đồng thời cũng phân tích một số các giải pháp nhằm tăng cường và bảo đảm thựchiện vai trò chủ đạo của KTNN

- Nguyễn Xuân Thắng “Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam” (Tập 1, 2); Nxb CTQG, H 2014.

Trên cơ sở phân tích một số đặc trựng của nền KTTT, gắn với việc đánh giá thựctrạng nền KTTT nước ta sau gần 30 năm đổi mới, tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá về

ưu, khuyết điểm của quá trình chuyển đổi nền kinh tế và TCKT của nước nhà Ưu điểm lớncủa sự đổi mới là đã đưa nền kinh tế nước ta đi đúng hướng nhờ vậy đã giải phóng đượcnhiều ngồn lực cho sự phát triển, tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển, góp phần đưa đấtnước ra khỏi khủng hoảng, suy thoái Tuy nhiên TCKTTT còn nhiều bất cập nên đang là trởngại lớn đối với sự phát triển KTTT nhất là trong điều kiện VIệt Nam gia nhập ngày càngsâu vào nền nền kinh tế thế giới và sự bùng nổ công nghệ như hiện nay Từ đó tác giả dã đưa

ra nhiều đề xuất quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình hoàn thiện TCKTTT ở nước ta nhằm tạomôi trường thể chế thuận lợi phát triển kinh tế, xã hội trong thời gian tới

Ngoài ra còn nhiều tác phẩm như:

Trang 12

- Đinh Văn Ân, Vũ Quốc Tuấn, Nguyễn Đình Cung, “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Nxb Thống kê, H 2003 Sách trình bày

về vấn đề phát triển nền KTTT VIệt Nam theo định hướng XHCN, theo các nội dung:phát triển các loại hình doanh nghiệp (DN); phát triển đồng bộ các loại thị trường; côngnghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) trên cơ sở phát huy nội lực và chủ động hội nhập,xoá đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, phát triển con người một cách toàn diện,cải cách hành chính

- Nguyễn Cúc.“20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Nxb Lý luận chính trị, H 2005 Sách trình bày về quá trình đổi

mới và sự lựa chọn KTTT định hướng XHCN của nước ta; những thay đổi để thích ứng vềTCKT, thể chế chính trị; lí luận về sở hữu và tái cơ cấu DN, vấn đề hội nhập và cạnh tranh

- Nhị Lê “Kiên định phát triển mạnh mẽ và bền vững nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” Tạp chí Cộng sản, Số 12, năm 2012 Bài viết đã phân tích và đưa ra những luận cứ khoa học để khẳng định KTTT là thành tựu chung của nhân loại.

Trong TKQĐ tử CNTB lên CNXH, KTTT tồn tại là tất yếu Trung Quốc đang xây dựngKTTT XHCN, Việt Nam quyết tâm đã và đang xây dựng nền KTTT định hướng XHCN.Khái niệm, bản chất, sự khác biệt giữa nền KTTT TBCN và nền KTTT XHCN Phê phánnhững quan điểm sai lầm về KTTT định hướng XHCN

- Vũ Văn Phúc “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nướcta:nhậnthứclýluận,thựctiễnvàkiếnnghị”.

(http://www.tapchicongsan.org.vn.18/2/2015) Bài viết đề cập: Nhận thức về nền KTTTđịnh hướng XHCN sau gần 30 năm đổi mới; thực tiễn phát triển KTTT hướng XHCN ởnước ta; những đặc trưng mang tính quy luật, bản chất của KTTT; những kiến nghị xâydựng nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta những năm tới

- Nguyễn Minh Tú “Một số vấn đề cơ bản về đổi mới quản lý kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Nxb CTQG H 2001 Trình bày

những thay đổi cơ bản trong quản lí kinh tế ở nước ta giai đoạn 1991 - 2000 Triển vọng đổi mới quản lí kinh tế vĩ mô ở nước ta giai đoạn 2001 – 2010…

Trang 13

Tóm lại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về KTTT nói chung, cũng như KTTT,TCKTTT định hướng XHCN nói riêng Nhưng Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảngvừa mới kết thúc trong bối cảnh trong nước và thế giới có nhiều chuyển biến, khi VIệtNam chính thức gia nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới đang đặt ra nhiều vấn đề lýluận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu Phát triển KTTT định hướng XHCN ở ViệtNam không còn là vấn đề bàn cãi nhưng phát triển như thế nào, hoàn thiện thể chế nhưthế nào để tạo môi trường, điều kiện cho KTTT phát triển trong hoàn cảnh hội nhập kinh

tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự bùng nổ cuộc cách mạng khoa học công nghệ, cạnhtranh quốc tế ngày càng khốc liệt trong xu thế tự do hóa thương mại… sẽ là vấn đề màcác nhà nghiên cứu kinh tế, nghiên cứu xã hội cần hết sức quan tâm

2.2 Ngoài nước

1. Flie Cohen, Toàn cầu hóa, sự hấp dẫn và cơ chế điều tiết, Trung tâm nghiên cứu

khoa học quốc gia Pháp, Hội thảo khoa học “Những thách thức về phương diện pháp lýcủa quá trình toàn cầu hóa”, file://E:\NDVF\SITES/Viét\Sites\logo.htm

2 Paul Sammuelson và Wiliam D Nordhans, Kinh tế học, tập 1 Nxb Thống kê,

H 1989

3 Jaydish Bhagwati Đối phó với nạn chống toàn cầu hóa, Foreign Sffairs, Vol 81,

2.3 Danh mục các công trình đã công bố thuộc lĩnh vực của đề tài của chủ nhiệm

và những thành viên tham gia nghiên cứu (họ và tên tác giả; bài báo; ấn phẩm; các yếu tố

về xuất bản)

1 Hoàn thiện chính sách thương nhân nhằm xây dựng và phát triển hệ thống

thương mại hiện đại, văn minh và hiệu quả trên địa bàn thành phố Hà Nội Đề tài nghiên

cứu khoa học cấp bộ năm 2008, ĐHTM

2 Kinh doanh đa ngành - cái “bẫy” của sự thất bại Tạp chí Thương mại, số 31,2012

3 Hội nhập sâu vào Cộng đồng kinh tế ASEAN: Cơ hội Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu Tạp chí Hội nhập, số 34 năm 2014

Trang 14

4 Để tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước đi vào thực chất hơn Tạp chí Kinh tế và

Dự báo, số 11 năm 2017

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam về KTTT, hoàn thiện TCKTTT địnhhướng XHCN ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển KTTT ở nước ta, đặcbiệt là những vấn đề mới được thể hiện trong nội dung văn kiện Đại hội lần thứ XII củaĐảng Cộng sản Việt Nam

- Về thời gian: Từ kết quả 30 năm đổi mới nhận thức về KTTT, hướng vào Đại hộilần thứ XII (1/2016)

- Về không gian: Nghiên cứu ở Việt Nam, có tham khảo kết quả nghiên cứu ở một

số nước, nhất là Trung Quốc

4 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, và sản phẩm ứng dụng

4.1 Mục tiêu nghiên cứu:

Nghiên cứu những nội dung cơ bản Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam vềphát triển KTTT, hoàn thiện TCKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam nhằm bổ sung bàigiảng các học phần Lý luận chính trị ở trường Đại học Thương mại, trong đó trọng tâm làhọc phần Đường lối CM của ĐCSVN

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Từ tổng kết 30 năm đổi mới nhận thức của Đảng về KTTT làm sáng tỏ quá trìnhhình thành và phát triển tư duy về KTTT, thể chế KTTT của Đảng Những bài học kinhnghiệm trong quá trình phát triển KTTT ở nước ta thời gian qua

- Tập trung làm rõ nội dung văn kiện Đại hội lần thức XII của Đảng về KTTT, TCKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam trong điều kiện mới

- Trang bị kiến thức (nhất là những vấn đề mới) về KTTT cho giảng viên, sinh viêntrường ĐHTM, trước hết là giáo viên bộ môn ĐLCM của ĐCSVN, khoa Lý luận chính trị

Trang 15

- Bổ sung, hoàn thiện bài giảng (trọng tâm là chương V) học phần ĐLCM củaĐCSVN Dùng phục vụ trực tiếp giảng dạy học phần ĐLCM của ĐCSVN ở trườngĐHTM, làm tài liệu tham khảo cho nhiều môn học khác trong trường mà trước hết là cáchọc phần Lý luận chính trị.

4.3 Sản phẩm ứng dụng:

- Cập nhật, bổ sung, phát triển bài giảng (Chương 5) học phần Đường lối Cách mạngcủa ĐCSVN và một số nội dung có liên quan đến các chương khác (Chương 4 – Đường lốicông nghiệp hóa; Chương 6 – Đường lối xây dựng hệ thống chính trị; Chương 7 – Đườnglối xây dựng, phát triển văn hóa và giải quyết các vấn đề xã hội; Chương 8 – Đường lốingoại) cho phù hợp với quan điểm mới, chủ trương mới về phát triển KTTT của Đại hộilần thứ XII của Đảng

- Bổ sung, sửa đổi bài giảng Slidle ở chương 5 (Đường lối xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở VIệt Nam), học phần ĐLCM của ĐCSVN

- Chỉnh sửa đề tài thảo luận và hướng nghiên cứu cho sinh viên các nội dung liênquan chương 5 (Đường lối xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở VIệt Nam)

- Chỉnh sửa và bổ sung nội dung đề thi hết học phần Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam

- Một bài báo khoa học

5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

5.1 Cách tiếp cận các mẫu khảo sát:

Trao đổi, phỏng vấn người học (chủ yếu sinh viên khóa 50, đại học chính quy ởtrường ĐHTM) nhằm thu thập thông tin phản hồi từ phía người học qua đó giúp nắm bắtđược: chất lượng bài giảng, nhận thức của giáo viên và mức độ tiếp thu kiến thức củasinh viên Tham khảo ý kiến của giáo viên trong bộ môn, trong khoa và trong trường vềnội dung liên quan đến đề tài nghiên cứu Từ đó có cơ sở sửa đổi, bổ sung bài giảng chophù hợp với nhu cầu dạy và học môn học qua việc cụ thể hóa để vận dụng nội dung Nghịquyết Đại hội lần thứ XII của Đảng vào giảng dạy học phần

Trang 16

Về công tác chuẩn bị và triển khai thực hiện đề tài: Khoa Lý luận chính trị mà trựctiếp là bộ môn ĐLCM của ĐCSVN có nhiệm vụ truyền bá, phổ biến chủ trương, đườnglối của Đảng cho học sinh sinh viên nói chung trong đó có sinh viên trường Đại họcThương mại Chính vì vậy, kể từ sau Đại hội của Đảng (1/2016), bộ môn đã triển khaithực hiện các bước với các công việc cụ thể: Cung cấp tài liệu nghiên cứu cho giáo viên

bộ môn; đọc, nghiên cứu các tài liệu trước hết tập trung vào Văn kiện Đại hội XII củaĐảng và một số tài liệu hướng dẫn nghiên cứu, giảng dạy; phân công giáo viên nghiêncứu để chỉnh sửa, bổ sung các vấn đề thảo luận, câu hỏi thi, đề thi cho phù hợp Kết quảđầu năm học 2016 – 2017 bài giảng học phần đã từng bước được bổ sung, bổ sung đề tài

và nội dung thảo luận, xây dựng lại đề thi hết học phần Tháng 11/2016 bộ môn đã tổchức Hội nghị thông tin khoa học về chủ đề “Những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIIcủa Đảng về KTTT và hoàn thiện TCKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam” Tháng4/2017, khoa LLCT tổ chức Hội nghị thông tin khoa học, chủ đề “Vận dụng Nghị quyếtĐại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng vào giảng dạy các học phần Lý luậnchính trị tại trường Đại học Thương mại” Trong đó có nhiều bài viết và nhiều ý kiến traođổi liên quan đến đường lối xây dựng và phát triển kinh tế của Đảng, KTTT và hoànthiện TCKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam Đây là những nguồn tài liệu, thông tin, ýkiến đóng góp xây dựng rất sát thực, bổ ích cho việc nghiên cứu của tác giả

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Loại dữ liệu (định tính, định lượng): Kết hợp định tính và định lượng Tuy nhiên,

do tính chất đặc thù của đề tài (nghiên cứu chủ yếu nội dung văn kiện Đảng) nên tác giảchủ yếu dựa vào dữ liệu định tính

- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp (phỏng vấn, điều tra); thứ cấp:

Đề tài nghiên cứu có phạm vi hẹp, mục tiêu chủ yếu phục vụ việc giảng dạy, họctập môn Đường lối cách mạng của ĐCSVN ở trường Đại học Thương mại nên các tài liệuchủ yếu được cập nhật từ nguồn thứ cấp, gồm các báo cáo của Đảng Cộng sản Việt Namliên quan đến các chủ trương, đường lối phát triển KTTT, hoàn thiện TCKTTT như cácVăn kiện của Đảng; các tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong và ngài nước

Trang 17

Số liệu sơ cấp tác giả thu thập chủ yếu qua trao đổi, phỏng vấn giao viên trong khoa, bộ môn và một số các nhà khoa học khác.

- Phương pháp xử lý dữ liệu: Từ các dữ liệu thống kê, điều tra có được, sử dụngcác phân tích, so sánh, kiểm nghiệm thực tế để xử lý số liệu điều tra phục vụ các nội dungnghiên cứu

- Phương pháp so sánh: Dựa trên những kết quả nghiên cứu từ các Văn kiện củaĐảng, các Nghị quyết của Đảng về KTTT, TCKTTT để có sự so sanh qua đó đánh giáđược những đổi mới, tiến bộ trong nhận thức của Đảng về KTTT, TCKTTT cũng nhưnhững quan điểm, chủ trương phát triển KTTT của Đảng Đây là quá trình vừa có tính kếthừa những cũng vừa liên tục đổi mới, phát triển

6 Đòng góp mới của đề tài

Qua nghiên cứu đề tài tác giả chủ định:

- Hệ thống hóa, làm sáng rõ thêm một số lý luận chung về KTTT và KTTT địnhhướng XHCN ở Việt Nam Các vấn đề như: Nhận thức về khái niệm KTTT, CCTT,TCKTTT; về điều kiện tồn tại và phát triển KTTT nói chung và ở Việt Nam nói riêng; vềđặc điểm chung của KTTT và tính chất đặc thù phản ánh bản chất KTTT định hướngXHCN Việt Nam; về ưu điểm và hạn chế của KTTT, CCTT

- Giới thiệu một cách có hệ thống nội dung quan điểm, chủ trương phát triểnKTTT của Đảng từ thời kỳ đổi mới cho tới nay Phân tích rõ những điểm mới của Vănkiện Đại hội XII của Đảng về phát triển KTTT, hoàn thiện TCKTTT định hướng XHCNViệt Nam Đánh giá những tác động của Đường lối phát triển KTTT của Đại hội XII củaĐảng tới các nội dung khác liên quan đến nội dung học phần ĐLCM của ĐCSVN

- Hoàn thiện nội dung bài giảng học phần (trước hết là Chương 5: Đường lối xâydựng, phát triển KTTT và hoàn thiện TCKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam) và cácphần khác có liên quan

7 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt,

đề tài được kết cấu thành 3 chương

Trang 18

Chương 1: Một số lý luận về kinh tế thị trường, cơ chế thị trường và thể chế kinh

tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chương 2: Tổng quan quá trinh nhận thức, quan điểm, chủ trương của Đảng vềxây dựng, phát triển kinh tế thị trường và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường qua 30năm đổi mới

Chương 3: Những điểm mới trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng về kinh tế thịtrường, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Namvận dụng vào giảng dạy học phần Đường lối CM của ĐCSVN

CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG VÀ THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA VIỆT NAM

1.1 Kinh tế thị trường và cơ chế kinh tế thị trường

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chung của kinh tế thị trường

1.1.1.1 Khái niệm kinh tế thị trường

Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về KTTT và hình thức (loại hình, môhình) KTTT Theo Paul Sammuelson, KTTT là “một hình thức tổ chức kinh tế, trong đó,

cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xácđịnh ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Vàsản xuất cho ai?” [29, tr.51] Hay “Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh

tế hàng hóa, trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thôngqua thị trường” [3, tr.327]

KTHH là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội mà trong đó sản phẩm sản xuất ra để traođổi, để bán trên thị trường chứ không phải cho người trực tiếp sản xuất ra nó Trong kiểu tổchức kinh tế này, toàn bộ quá trình tái sản xuất (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng), sảnxuất như thế nào và cho ai đều thông việc mua bán, thông qua hệ thống thị trường và do thịtrường quyết định Mục đích của người SXHH không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp củamình mà nhằm trao đổi, để bán, tức là để thỏa mãn nhu cầu của người mua, đáp ứng nhu cầu

Trang 19

của xã hội Ngược lại, nhu cầu của họ là những kết quả mà họ có được sau khi manghàng hóa ra trao đổi.

KTHH và KTTT có cùng bản chất (vì sản xuất đều nhằm mục đích trao đổi, muabán) nhưng khác nhau về trình độ phát triển Có thể thấy KTHH phát triển đến một mức

độ nhất định (trình độ cao) thì đó là KTTT hay cụ thể hơn, khi các yếu tố của KTHH(cung cầu, giá cả, thị trường, tiền tệ, hàng hóa…) đã phát triển và hoàn thiện, khi cácquan hệ kinh tế đều được tiền tệ hóa, thương mại hóa thì khi đó người ta gọi là KTTT.Chẳng hạn, trong KTHH, đặc biệt là SXHH giản đơn, khái niệm thị trường dùng để chỉmột không gian, thời gian cụ thể mà người mua và người bán gặp nhau một cách trựctiếp Nhưng trong KTTT, khái niệm thị trường đã được mở rộng cả về không gian, thờigian và cơ cấu thị trường

KTTT ra đời và phát triển là một quá trình lịch sử lâu dài, đầu tiên là SXHH giảnđơn SXHH giản đơn là SXHH của nông dân, thợ thủ công dựa trên chế độ tư hữu về tưliệu sản xuất và sức lao động của bản thân họ Đây là một kiểu sản xuất nhỏ, dựa trên kĩthuật thủ công lạc hậu, năng suất lao động thấp Trong SXHH giản đơn mặc dù mục đíchsản xuất sản phẩm để trao đổi, tiền tệ đã xuất hiện nhưng mục tiêu cuối cùng của ngườisản xuất vẫn là giá trị sử dụng chứ không phải là tiền, lợi nhuận

SXHH phát triển và tiền tệ ra đời, đánh dấu sự phát triển vượt bậc nền kinh tế xãhội Đồng thời, dưới tác động của tiến bộ khoa học, kỹ thuật, của lực lượng sản xuất; sảnxuất, lưu thông trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển và kéo theo đó là sự xuất hiệnngày càng đa dạng các loại thị trường; CCTT hoạt động ngày càng linh hoạt, rộng khắp.Khi nền kinh tế vận động theo CCTT được gọi là nền KTTT Như vậy, trên góc độ vậnhành KTTT là nền KTHH vận động theo CCTT

Trước đây, khi nghiên cứu sự vận động của SXHH và KTTT tư bản, Mác khẳng địnhrằng quá trình hình thành KTTT kéo dài hàng nghìn năm từ cuối xã hội Công xã nguyên thủyđến giữa thế kỷ XV, TKQĐ từ xã hội phong kiến sang CNTB KTTT phát triển đến đỉnh caotrong CNTB, tuy nhiên nó không phải là sản phẩm riêng có, đặc thù của xã hội đó mà đây làthành tựu chung của sự phát triển nền sản xuất xã hội, của nhân loại

Trang 20

KTTT luôn vận động, biến đổi gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định và tínhchất của các quốc gia, các xã hội Ở giai đoạn đầu hầu hết các nền KTTT đều vận động,phát triển một cách tự phát, tự do điển hình như các nước Tây Âu, Mỹ KTTT với việcphát huy những ưu điểm của nó đã giúp nhân loại có những bước phát triển, tiến bộ vượtbậc Tuy nhiên, KTTT và CCTT cũng có những hạn chế lớn, đồng thời cũng làm phátsinh nhiều mâu thuẫn, đặc biệt về các vấn đề xã hội như cạnh tranh không lành mạnh,phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp từ đó làm xuất hiện nhiều mô hình mới như “KTTT

Xã hội phúc lợi” (Thụy Điển), “KTTT xã hội” (Cộng hóa Liên bang Đức), “Kinh tếthương lượng“ (Bắc Âu), “KTTT XHCN mang màu sắc Trung Quốc”

1.1.1.2 Đặc điểm chung của kinh tế thị trường

KTTT có chịu sự chi phối bởi bản chất của các chế độ xã hội Tuy vậy, với tư cách làmột hình thức tổ chức kinh tế tồn tại khách quan nên nó đều có tính chất chung Cụ thể:

Một là, tính độc lập cao của các chủ thể trong nền kinh tế Nền KTTT đòi hỏi sự tồn

tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau Các chủ thể nàyhoàn toàn độc lập, tự chủ trong việc quyết định lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng kinhdoanh, liên kết hay hợp tác với các chủ thể khác trong kinh doanh Nói cách khác họ hoàntoàn có quyền quyết định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Họ tự chịutrách nhiệm đối với quyết định sản xuất kinh doanh (SXKD) của bản thân dựa trên những tínhiệu thị trường theo nguyên tắc lấy thu bù chi và có lợi nhuận

Hai là, giá cả các loại hàng hóa, dịch vụ nói chung do thị trường quyết định, hình

thành một cách tự phát trên thị trường Giá cả với tư cách là hình thức biểu hiện bằng tiềncủa giá trị trước hết do giá trị quyết định Ngoài ra, giá cả còn chịu ảnh hưởng của nhiềunhân tố khác như cung – cầu, giá trị tiền tệ (hay sức mua tiền giấy), chính sách kinh tếcủa nhà nước, vị trí hàng hóa trên thị trường… Tất cả các yếu tố này về cơ bản đều mangtính khách quan và tác động một cách khách quan đến giá cả hàng hóa Việc can thiệp thôbạo của con người đến giá cả làm méo mó, lệch lạch các tín hiệu của thị trường, do đóphản ánh sai lệch quan hệ cung – cầu, chi phí sản xuất…nói cách khác làm cho nềnKTTT kém hiệu quả, thậm chí sụp đổ

Trang 21

Ba là, KTTT là một hệ thống đồng bộ các yếu tố, các thị trường và thể chế tương ứng.

Mọi nền KTTT đều có sự tham gia của các chủ thể hay khách thể vận động trên thị trường làngười bán, người mua (đại diện cho người sản xuất và người tiêu dùng), hàng hóa, tiền tệ.Đồng thời KTTT cũng đòi hỏi có đầy đủ các loại thị trường (thị trường đầu vào, thị trườngđầu ra) và các yếu tố thị trường như thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường đất đai và bấtđộng sản, thị trường lao động, thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thịtrường chứng khoán), thị trường khoa học công nghệ và các thị trường khác Để nền KTTThoạt động hiệu quả, phải bảo đảm sự hiện diện đầy đủ của tất cả các thị trường nói trên cũngnhư các thị trường phải vận hành đồng bộ, thông suốt, linh hoạt

Để đáp ứng hai yêu cầu này, việc hình thành và phát triển các thị trường phải tuântheo một trật tự, bước đi xác định Việc không tuân thủ trật tự đó (ví dụ xây dựng thịtrường vốn, thị trường chứng khoán nhưng hệ thống các quyền tài sản không xác định rõ,thị trường đất đai không được thừa nhận chính thức…) thường dẫn đến sự rối loạn, vậnhành kém hiệu quả của từng thị trường chức năng và của cả nền kinh tế

Bốn là, cơ chế vận hành căn bản của nền KTTT là cạnh tranh tự do, không có cạnh

tranh không thể nói đến KTTT Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điềuchỉnh thông qua sự tác động, chi phối của các quy luật thị trường khách quan hay còn gọi là

“bàn tay vô hình” Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc

Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền KTTT Thông quacạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực và địa điểm đang hoạtđộng kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quảkinh doanh, lợi nhuận cao hơn Thực tế xác nhận rằng cho đến nay, sau khi nền kinh tế đãvượt qua trình độ kinh tế nông dân tự cấp - tự túc, cạnh tranh là cơ chế phân bổ các nguồnlực hiệu quả nhất

Năm là, sự điều tiết của nhà nước Cả về lý luận và thực tiễn sự ra đời, tồn tại, vận

động phát triển KTTT không liên quan gì đến nhà nước Cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIIIcác nhà kinh tế học của trường phái Kinh tế chính trị tư sản Cổ điển dù ở Anh hay Pháp (tức

ở những nước có nền KTTT phát triển sớm nhất) đều thống nhất phủ nhận vai trò nhà nước

Tư tưởng “bàn tay vô hình” của A Smith (người Anh) thể hiện rõ quan điểm

Trang 22

này Đồng quan điểm với A Smith, D Ricardo (người Anh) ví nhà nước là “kẻ gác vườn”.Còn J.B Say (người Pháp) khẳng định “nhà nước là kẻ quản lý tồi”.

Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm lớn và cơ bản, trong nền KTTT hiện đại thịtrường có những khuyết tật và CCTT có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn

đề phát triển Ví dụ, lạm phát, khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường,…làm cho nền KTTT kém hiệu quả và nảy sinh những xung đột xã hội Để khắc phụcnhững khuyết tật và tránh khỏi thất bại thị trường, nhà nước phải tham gia quản lý, điềutiết sự vận hành nền kinh tế Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua luật pháp, kếhoạch hóa, các chính sách và các công cụ kinh tế như tài chính, tiền tệ, ngân hàng, dự trữquốc gia…

Vai trò nhà nước thể hiện qua ba chức năng chính: Quản lý, định hướng và hỗ trợphát triển; Phân phối lại thu nhập quốc dân; Bảo vệ môi trường Để thực hiện ba chứcnăng đó, nhà nước phải giải quyết các nhiệm vụ: Cung cấp khung khổ pháp lý rõ ràng,nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của CCTT; Kiến tạo và bảo đảm môitrường vĩ mô ổn định, có tính khuyến khích kinh doanh; Cung cấp kết cấu hạ tầng cũngnhư các dịch vụ và hàng hoá công cộng; Hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu

để tham gia thị trường bình đẳng Nếu không được bảo vệ bằng các đạo luật cơ sở nhưluật cạnh tranh, luật về các quyền sở hữu, luật chống độc quyền, luật chống bán phá giáthì nền kinh tế không thể hoạt động bình thường

Sáu là, KTTT thực chất là nền kinh tế mở KTTT với mục đích sản xuất để bán, để

trao đổi gắn với nhu cầu thị trường Để đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn và đa dạng của thịtrường sản xuất ngày càng được mở rộng và phát triển Đến lượt nó, vì sức hút lợi nhuận, sảnxuất phát triển tạo ra khối lượng hàng hóa lớn và đa dạng Đồng thời nhu cầu các yếu tố sảnxuất (đầu vào) cũng tăng lên cả số lượng và chủng loại thúc đẩy mở rộng phạm vi thị trường.Thị trường địa phương nhỏ hẹp dần không đáp ứng được yêu cầu sản xuất và trao đổi do vậyngày một được mở rộng ra Cùng với sự phát triển sản xuất, hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất

kỹ thuật phục vụ việc vận chuyển và trao đổi hàng hóa (hệ thống đường sá, cầu cống, sân baybến cảng, phương tiện vận chuyển, hệ thống cửa hàng, cửa hiệu, hệ

Trang 23

thống truyền thông…) cũng mở rộng, hiện đại hóa Đây vừa là điều kiện vừa là yêu cầu

mở rộng và kết nối các thị trường từ địa phương thành liên kết vùng, khu vực và thế giới

1.1.2 Cơ chế thị trường

Cũng như quan niệm KTTT, khái niệm CCTT rất đa dạng Có quan điểm cho rằngCCTT là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trường, động lực và quy luật chi phối sự vậnđộng của thị trường “Cơ chế thị trường là cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế thị trường do sựtác động của các quy luật vốn có của nó Nói một cách cụ thể hơn, cơ chế thị trường là hệthống hữu cơ của sự thích ứng lẫn nhau, tự điều tiết lẫn nhau của các yếu tố giá cả, cung– cầu, cạnh tranh… trực tiếp phát huy tác dụng trên thị trường để điều tiết nền kinh tế thị trường” [3, tr.351]

Theo Paul Sammuelson, “một nền kinh tế thị trường là một cơ chế tinh vi để phối hợpmột cách không tự giác nhân dân và doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả và thị trường

Nó là một phương tiện giao tiếp để tập hợp trí thức và hành động của hàng triệu cá

nhân khác nhau, không có bộ não trung tâm, nó vẫn giải được bài toán mà máy tính lớnnhất ngày nay không thể giải nỗi Không ai thiết kế ra nó Nó tự nhiên, và cũng như xãhội loài người, nó đang thay đổi” [29, 52] CCTT là một bộ máy tinh vi để phối hợp mộtcách không tự giác hoạt động của người sản xuất với người tiêu dùng

P.A.Samuelson cho rằng CCTT vận hành ngay trên thị trường, thể hiện qua thị trườngnhưng nhiều lúc là vô hình, khó xác định Thị trường là một quá trình người mua và ngườibán tác động lẫn nhau để xác định giá cả và khối lượng hàng hoá Như vậy nói đến thị trường

và CCTT là phải nói tới hàng hóa, tiền tệ, người bán, người mua, giá cả hàng hoá Hàng hoábao gồm hàng tiêu dùng, dịch vụ và yếu tố sản xuất như lao động, tư bản, đất đai Từ đó hìnhthành thị trường hàng tiêu dùng và thị trường các yếu tố sản xuất (thị trường đầu ra, thịtrường đầu vào) Nói đến CCTT là nói đến cung, cầu hàng hoá, sự biến động của giá cả sẽlàm cho cung cầu cân bằng Đó là nội dung của quy luật cung cầu

Trong CCTT động lực hoạt động của người SXKD là lợi nhuận Lợi nhuận có tácdụng lôi kéo các DN sản xuất cái mà xã hội cần Lợi nhuận đưa các nhà DN đến việc sửdụng kỹ thuật sản xuất hiệu quả nhất CCTT dùng lỗ, lãi để quyết định các vấn đề kinh tế

cơ bản

Trang 24

CCTT là cơ chế tự điều tiết Đặc trưng của nền KTTT là tự vận động tuân theo nhữngquy luật vốn có của nó, như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luậtlưu thông tiền tệ, Các quy luật có vị trí, vai trò độc lập, song lại có mối liên hệ chặt chẽ, tácđộng qua lại lẫn nhau và tạo ra những nguyên tắc vận động của thị trường.

Tín hiện giá cả là căn cứ khách quan đối với các chủ thể kinh tế đưa ra các quyếtđịnh SXKD của mình trong môi trường cạnh tranh thị trường Nền KTTT chỉ vận hành đượcmột khi hệ thống giá cả được quyết định khách quan bởi thị trường Trong nền KTTT, mụctiêu tối đa hoá lợi nhuận là động lực chủ yếu thúc đẩy nỗ lực hoạt động và hiệu quả kinhdoanh của các DN Để phục vụ mục tiêu đó, giá cả phải được thiết định trên các cơ sở kháchquan và được điều tiết bằng cơ chế tự điều tiết (cạnh tranh tự do) Giá cả thị trường là tínhiệu của CCTT, thực hiện thông qua các chức năng chủ yếu như cung cấp thông tin thịtrường, phân phối các nguồn lực kinh tế, và thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật

Nền KTTT chịu sự điều khiển của hai ông vua: Người tiêu dùng và kỹ thuật.Người tiêu dùng thống trị thị trường, giúp xác định hai vấn đề: sản xuất cho ai và sảnxuất cái gì! Nhưng người tiêu dùng không quyết định được vấn đề sản xuất như thế nào

vi nó phụ thuộc vào kỹ thuật Bởi vậy, kỹ thuật (ông vua thứ hai trên thị trường) giúp xácđịnh sản xuất như thế nào, bằng kỹ thuật gì!

KTTT phải được hoạt động trong môi trường cạnh tranh do các quy luật kinh tếkhách quan chi phối CCTT bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bình thường Thực chấtCCTT là cơ chế tự do, tự do cạnh tranh

1.1.3 Những ưu điểm và hạn chế của kinh tế thị trường, cơ chế thị trường

1.1.3.1 Ưu điểm của kinh tế thị trường, cơ chế thị trường

So với kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp KTHH (SXHH giản đơn) cũng đã có nhiều

ưu điểm KTTT là giai đoạn phát triển cao hơn của KTHH nên những ưu điểm củaKTHH cũng được phát huy nhiều hơn Cụ thể:

Tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Do cạnh tranh giữa những

người SXHH, buộc mỗi chủ thể sản xuất phải không ngừng đổi mới phương pháp, cải tiến kỹthuật, hợp lý hóa sản xuất để giảm thiểu chi phí, hạ giá thành sản phẩm, đứng vững trongcạnh tranh Quá trình đó thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động

Trang 25

xã hội Cạnh tranh giúp đào thải những hạn chế, yếu kém, ngược lại nó bình tuyển, lựachọn, tôi luyện những cái tiến bộ, tích cực.

Kích thích tính năng động sáng tạo của các chủ thể Trong KTTT, người sản xuấtphải căn cứ vào nhu cầu của thị trường để quyết định sản xuất ra sản phẩm gì? số lượngbao nhiêu? chất lượng như thế nào? Chính vì thế, chất lượng, mẫu mã, chủng loại hànghóa luôn luôn được cải tiến, nâng cao và đổi mới

Thúc đẩy phân công lao động xã hội KTTT ra đời từ phân công lao động xã hội.Đến lượt nó, KTTT phát triển sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội và chuyên môn hóasản xuất, nhờ đó phát huy được tiềm năng, lợi thế của từng vùng, cũng như lợi thế của đấtnước giúp việc sử dụng các nguồn lực trong nước hiệu quả, đồng thời khai thác tốt nguồnlực từ bên ngoài, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế

Thúc đẩy tích tụ, tập trung vốn và tập trung sản xuất tạo điều kiện ra đời sản xuấtlớn, xã hội hóa cao Cũng từ việc tích tụ và tập trung sản xuất dần hình thành đội ngũdoanh nhân giỏi, năng động sáng tạo Đây là yếu tố hết sức quan trọng nâng cao sức cạnhtranh của DN và năng lực cạnh tranh quốc gia

KTTT giúp mở rộng không hạn chế phạm vi sản xuất và tiêu dùng của mọi xã hội.Khác với kinh tế tự nhiên, sản xuất và tiêu dùng đều trong phạm vi gia đình hay các cánhân, KTTT sản xuất cho xã hội và tiêu dùng từ xã hội Nhờ đó, KTTT tạo ra một khônggian không hạn chế về thị trường cho việc tiêu thụ sản phẩm là điều kiện mở rộng khônghạn chế năng lực sản xuất của xã hội Ngược lại, những người sản xuất cũng được cungcấp những hàng hóa, dịch vụ từ sự phát triển rộng rãi sản xuất của xã hội

1.1.3.2 Hạn chế của kinh tế thị trường, cơ chế thị trường

Bên cạnh những ưu điểm trên, KTTT với sự điều tiết tự phát của CCTT, cũng cónhững hạn chế nhất định, cụ thể:

Tính tự chủ trong kinh doanh cũng đồng nghĩa với tính tự phát, vô chính phủ là hạnchế số một của KTTT và CCTT Thị trường và CCTT dù có tinh vi đến đâu cũng khó thaythế con người Mặc cho Paul Sammuelson khẳng định trên thị trường có hai ông vua là ngườitiêu dùng và kỹ thuật giúp xác định sản xuất cái gì, như thế nào, và cho ai nhưng rõ ràng cảhai yếu tố đó đều thay đổi và khó lường Dù nói gì đi nữa vai trò quyết định trên

Trang 26

thị trường, trong nền KTTT vẫn là người sSXKD và người tiêu dùng Đó là những người

có đủ lý do, với mọi hoàn cảnh mà hoạt động của họ (xét trên phạm vi xã hội) luôn mangtính tự phát Do đó KTTT là sự gắn kết tự giác của những chủ thể mang tính tự phát Đây

là lý do dẫn đến những bất ổn định, thiếu cân đối thường xuyên giữa các vấn đề cốt lõicủa KTTT như hàng – tiền, cung – cầu, không gian và thời gian thiết lập các quan hệ củacác yếu tố và các chủ thể thị trường Tính tự phát của KTTT sẽ luôn là nguyên nhân củahậu quả (hay hạn chế) của KTTT như lạm phát, thất nghiệp, khủng hoảng kinh tế và các

hệ lụy khác về kinh tế - chính trị - xã hội với mọi xã hội và mọi thời đại cho dù mức độtác động có khác nhau KTTT và CCTT có thể thực hiện phân phối các nguồn lực kémhiệu quả dẫn đến sự lãng phí lớn về tài nguyên, sức lao động và tiền vốn xã hội

Ở các nước TBCN ngay trong thời kỳ năng lực sản xuất còn hạn chế quyền quyếtđịnh trên thị trường chú yếu của người sản xuất bởi người ta sản xuất theo phương châm

“sản xuất cái mình có” thì các cuộc khủng hoảng cơ cấu cũng đã xảy ra thường xuyên.Ngày nay phương châm sản xuất đã phải thay đổi “sản xuất cái xã hội cần” nên ngườiSXKD thậm chí cả các cơ quan quản lý cũng khó xác định được đúng, đầy đủ “cái xã hộicần” là gì? là bao nhiêu? như thế nào? Nói các khác ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh

tế “cái gì? như thế nào? cho ai?” người SXKD vô cùng khó xác định

Thực tiễn ở nước ta thời gian qua nhiều ngành, nhiều loại sản phẩm, trong đó điểnhình nhất là các sản phẩm nông nghiệp do thiếu quy hoạch, không tôn trọng quy hoạchcủa người nông dân, thuần túy chạy theo sự thay đổi ngắn hạn của thị trường nên thua lỗliên tục, tốn kém sức người sức của, lãnh phí tài nguyên Tình trạng chạy theo số lượngnên nông dân các tỉnh nam Bộ đã phải đổ bỏ hàng ngàn tấn hoa quả như Thanh Long,Chôm Chôm Đồng bào các tỉnh miền Trung khốn đốn vì Dưa Hấu Và hiện nay là tìnhtrạng cả nước phải “ra quân” cứu giúp ngành chăn nuôi lợn

KTTT thuần túy (KTTT tư bản) lấy lợi nhuận làm mục tiêu chứ không vì mục tiêu xãhội do đó khó thực hiện những nhiệm vụ phục vụ cuộc sống con người “Khách hàng làthượng đế” chỉ là nguyên tắc phải có để thực hiện mục tiêu cao cả hơn là sự giàu có của cánhân Việc theo đuổi lợi nhuận dẫn người SXKD đến chỗ sẵn sàng thực hiện những hành vithiếu đạo đức như sản xuất hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng hàng độc hại, gian

Trang 27

lận thương mại Lợi nhuận còn là nguyên nhân của những hành động phi nhân tính trực tiếplàm tổn hại cuộc sống mọi người cũng như chính bản thân người kinh doanh Đặc biệt trongcác xã hội mà luật pháp chưa hoàn thiện, người dân chưa hiểu biết nhiều về luật pháp, bộmáy quản lý thiếu nghiêm túc và kém hiệu lực thì tình trạng này càng phổ biến.

“Bàn tay vô hình” có thể gián tiếp mang lại những lợi ích cho xã hội nhưng tự phát

và không công bằng Trong nền KTTT với sự điều tiết hoàn toàn của CCTT luôn tồn tại

và phải chấp nhận sự phân biệt về thu nhập và mức sống giữa các tầng lớp xã hội KTTT

có sự đối lập lợi ích kinh tế là nguyên nhân của mâu thuẫn và sung đột xã hội

Tuy nhiên cũng cần nhận thức rằng, trong chừng mực nào đó phải chấp nhận sựchênh lệch này không phải vì xã hội không giải quyết được mà ở tính “tích cực” của nó.Không thể có KTTT, sẽ không còn động lực tiến bộ nếu mọi thứ đều phải cào bằng Thựctiễn việc bao cấp của chúng ta trước đây là một trong những nguyên nhân quan trọng đưanước ta vào chỗ trì trệ Bởi vậy cần nhận thức khoa học, đúng đắn về công bằng, côngbằng không có nghĩa cào bằng, ít nhất là trong TKQĐ

Cơ chế phân bổ nguồn lực trong nền KTTT có thể dẫn tới bất bình đẳng Đấy là chưa

kể vấn đề thông tin không hoàn hảo có thể dẫn tới việc phân bổ nguồn lực không hiệu quả

Do một số nguyên nhân, giá cả có thể không linh hoạt trong các khoảng thời gian ngắn hạnkhiến cho việc điều chỉnh cung cầu không suôn sẻ, dẫn tới khoảng cách giữa tổng cung vàtổng cầu Đây là nguyên nhân của các hiện tượng thất nghiệp, lạm phát…

Tóm lại, CCTT có nhiều ưu điểm cần được phát huy Tuy nhiên CCTT cũng cónhững hạn chế, thiếu sót đòi hỏi phải có sự can thiệp, điều tiết Ngược lại, nhà nước phảican thiệp, điều chỉnh thị trường để định hướng, hỗ trợ và sửa chữa sai lầm của thị trường.Nhưng nhà nước là con người nên nhiều lúc chủ quan nhận thức không đầy đủ, thực hiệnbiện pháp thiếu chính xác nên cũng có những thất bại, bởi vậy phải có thị trường, thôngqua thị trường để khắc phục tính chủ quan Do vậy, KTTT hiện đại cần có cả thị trường

và nhà nước, hay theo cách nói của Paul Sammuelson, KTTT cần có cả “hai bàn tay”

1.2 Kinh tế thị trường và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.2.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trang 28

1.2.1.1 Nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Một thời gian dài, do nhận thức không đúng về mô hình kinh tế trong TKQĐ lên CNXH

và chịu ảnh hưởng tư duy có tính hệ thống của các nước đang xây dựng XHCN, nên chúng takhông thừa nhận KTTT và CCTT Kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp gắn với nền kinh tế hiện vậtđược quan niệm là bản chất kinh tế trong CNXH Tuy nhiên cả về lý luận và thực tiễn cho thấyviệc phủ nhận KTTT, CCTT trong TKQĐ lên CNXH là sai lầm Đặc biệt tình trạng khủng hoảngsâu sắc và sụp đổ hệ thống XHCN, suy thoái kinh tế Việt Nam cuối những năm 70, đầu nhữngnăm 80 của thế kỷ XX càng chứng tỏ nhận thức sai lầm về mô hình kinh tế của CNXH Hàngloạt các nước XHCN sụp đổ, nhiều nước đã phải chuyển đổi trong đó có Việt Nam

Tư duy mới về mô hình kinh tế XHCN ở nước ta đã bắt đầu hình thành từ đầu nhữngnăm 80 thế kỷ trước Nhưng dấu ấn lịch sử quan trọng khẳng định bước thay đổi đột biếnnhận thức của Đảng và Nhà nước ta về KTTT được thể hiện rõ ở Đại hội toàn quốc lần thứ

VI (1986) của Đảng Từ đó, nhận thức mới của Đảng về sự cần thiết và có thể sử dụng KTTTlàm phương tiện xây dựng CNXH, về đặc trưng bản chất của KTTT định hướng XHCN, vềTCKTTT định hướng XHCN hình thành, phát triển và hoàn thiện dần

KTTT có điểm chung, tuy nhiên, KTTT không phát triển theo một kiểu hay một

mô hình duy nhất Thực tiễn đã xác nhận những phương án và mô hình phát triển KTTTkhác nhau mang tính đặc thù, phụ thuộc vào những điều kiện xác định, hoàn cảnh pháttriển cụ thể của quốc gia - dân tộc Xu hướng chung phát triển KTTT là ngày càng nhấnmạnh các mục tiêu xã hội - con người, thừa nhận vai trò định hướng, tổ chức và điều tiếtphát triển của nhà nước

Khái niệm “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” được khẳng định tại Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4/ 2001) Đây là kết quả của quá trình 15 nămđổi mới tư duy và thực tiễn ở nước ta, được đúc kết lại trên cơ sở kiểm điểm, đánh giá vàrút ra các bài học lớn tại các kỳ Đại hội Đảng Đại hội IX khẳng định: “nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời

kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội” [4, tr.152]

“KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam thực chất là nền KTHH nhiều thành phần,vận hành theo CCTT có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN KTTT định

Trang 29

hướng XHCN là “một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo quy luật của KTTT vừa dựa trên cơ

sở và chịu sự dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH” Trong nền kinh tế

đó, các thế mạnh của thị trường được sử dụng để phát triển lực lượng sản xuất, phát triểnkinh tế, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của CNXH được thể hiện trên cả 3 mặt của quan hệsản xuất: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục đích cuối cùng là dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Nhận thức của Đại hội IX đánh dấu bước thayđổi lớn tư duy về KTTT và nền tảng kinh tế xã hội của đất nước Thay vì coi KTTT chỉ nhưmột “công cụ”, một “cơ chế quản lý” trước đây, Đại hội IX xác định KTTT như là một

“chỉnh thể”, là “cơ sở kinh tế” của sự phát triển theo định hướng XHCN

1.2.1.2 Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam

KTTT tồn tại khi có đồng thời hai điều kiện: Phân công lao động xã hội và sự tách biệttương đối về mặt kinh tế giữa các chủ thể kinh tế Ngược lại, ở đâu có đủ hai điều kiện đótất yếu có KTTT Ở Việt Nam, trong TKQĐ lên CNXH vẫn tồn tại đầy đủ các điều kiện:

- Phân công lao động xã hội Phân công lao động xã hội với tư cách là cơ sở chungcủa SXHH chẳng những không mất đi mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng vàchiều sâu Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương cũng ngày càng pháttriển Sự phát triển của phân công lao động xã hội được thể hiện ở tính phong phú, đadạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường Việcchuyên môn sản xuất không chỉ ở các sản phẩm với nhau mà còn ở các chi tiết của mộtsản phẩm Điều đó càng làm cho phân công lao động và sự liên kết trong SXKD thêmchặt chẽ, phong phú Nhờ đó phát huy có hiệu quả hơn lợi thế chuyên môn hóa, tận dụngtối đa những điều kiện, thế mạnh của mọi DN, mọi vùng sản xuất Thực tế nền kinh tếTrung Quốc những năm qua cho thấy họ đã trở thành công xưởng lắp ráp của thế giớibằng cách nhập linh kiện, thiết bị từ nhiều nước lắp ráp tạo nên sản phẩm xuất khẩu vớigiá rất rẻ Những năm vừa qua, nhiều DN Việt Nam cũng rất thành công từ phương thứchợp tác kiểu này Công ty sản xuất, lắp ráp ô tô TMT, Công ty Samsung Việt Nam muathiết bị được sản xuất từ nhiều nước tổ chức lắp ráp tạo ra sản phẩm hàng hóa với chi phíthấp hơn Tuy nhiên, đây là một trong những nguyên nhân làm cho ngành công nghiệpphụ trợ Việt Nam hạn chế phát triển

Trang 30

- Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa các chủ thể SXKD Về nguyên tắc trongnền KTTT các chủ sở hữu phải độc lập với nhau, tách rời nhau Trong nền kinh tế nước tatồn tại nhiều hình thức sở hữu do đó, tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêngnên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hóa – tiền tệ Đặc biệt

ở nước ta trong TKQĐ lên CNXH còn tồn tại chế độ sở hữu tư nhân nên còn tồn tại nhiềuthành phần kinh tế mang tính chất tư nhân (Kinh tế tư bản tư nhân trong và ngoài nước, kinh

tế cá thể, tiểu chủ ) nên không thể phân phối trực tiếp mà phải thông qua trao đổi để thựchiện phân phối sản phẩm, bảo đảm lợi ích của những người sản xuất tư nhân độc lập

- Thành phần KTNN và kinh tế tập thể, tuy cùng dựa trên chế độ công hữu về tư liệusản xuất, nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủ trongSXKD, có lợi ích riêng Mặt khác, các đơn vị kinh tế còn có sự khác nhau về trình độ kỹthuật công nghệ, về trình độ tổ chức quản lý nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuấtcũng khác nhau Lợi ích của những người lao động trong các tổ chức kinh tế này do đócũng khác nhau Cần phải thông qua CCTT để thực hiện phân phối vừa đảm bảo tínhminh bạch, công bằng trong phân chia thu nhập vừa tạo động lực vật chất kích thíchngười lao động và các nhà quản lý

- Quan hệ hàng hóa - tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệttrong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càng sâu sắc vì mỗinước là một quốc gia riêng biệt, là người chủ sở hữu đối với các hàng hóa đưa ra trao đổitrên thị trường thế giới Sự trao đổi ở đây phải theo nguyên tắc của thị trường Việt Nam

có thể và cần thiết phải mở rộng kinh tế đối ngoại nhằm phát huy lợi thế so sánh trongnước và tranh thủ, lợi dụng nguồn lực bên ngoài để đẩy mạnh phát triển kinh tế, đẩymạnh công cuộc CNH, HĐH đất nước Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang tồn tạiphổ biến KTTT, quan hệ hàng – tiền do đó chúng ta cũng phải duy trì quan hệ hàng hóa –tiền tệ để thực hiện thương mại hay các quan hệ kinh tế quốc tế

Ngoài ra, KTTT với những lợi ích mà nó mạng lại, những ưu thế của nó so với nhữnghình thức tổ chức kinh tế khác càng cần thiết duy trì và phát triển KTTT không phải là mục đích

mà là phương tiện, công cụ xây dựng CNXH hiệu quả hơn Như vậy, phát triển KTTT ở ViệtNam là tất yếu khách quan, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu

Trang 31

của nước ta thành nền kinh tế hiện đại, hội nhập vào phận công lao động quốc tế Đó làcon đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả tiềm năng củađất nước vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

1.2.1.3 Đặc trưng, bản chất của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chúng ta đã thấy KTTT không quy định bản chất xã hội mà ngược lại chịu ảnhhưởng, chi phối bới các chế độ xã hội khác nhau, thể hiện bản chất chế độ xã hội đó.Trong CNTB, KTTT là công cụ, phương tiện làm giàu cho các nhà tư bản do đó lợinhuận là mục tiêu tối thượng nếu không nói là mục tiêu duy nhất Các vấn đề hay mụctiêu xã hội chỉ được quan tâm và được giải quyết khi phát sinh mâu thuẫn xã hội sâu sắc,

đe dọa sự tồn tại và lợi ích của tư bản Ngược lại, trong KTTT định hướng XHCN, lợinhuận chỉ là mục đích trực tiếp ban đầu, là điều kiện để thực hiện mục đích cuối cùng làdân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Bởi vậy, KTTT định hướngXHCN ngoài những đặc điểm chung của nền KTTT, còn có đặc điểm đặc thù, đó là:

- Về mục tiêu phát triển KTTT Giải phóng sức sản xuất, động viên mọi nguồn lực

trong và ngoài nước để thực hiện CNH, HĐH; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật củaCNXH, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân Cónước đặt vấn đề tăng trưởng kinh tế trước, giải quyết công bằng xã hội sau Có nhữngnước lại muốn dựa vào viện trợ và vay nợ nước ngoài để cải thiện đời sống nhân dân rồisau đó mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ở nước ta lấy sản xuất gắn liền với cải thiện đờisống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khíchlàm giàu hợp pháp, gắn liền với xóa đói giảm nghèo

Mục tiêu phát triển KTTT suy cho cùng là để xây dựng xã hội XHCN Bởi vậy, xét vềlâu dài mục tiêu của KTTT và mục tiêu của CNXH không mâu thuẫn nhau Tuy nhiên, trongngắn hạn có thể có sự mâu thuẫn, xung đột Mục tiêu phát triển KTTT là gắn tăng trưởng vớicông bằng xã hội nhưng chủ thể trong nền KTTT hiện nay là tư nhân trong và ngoài nước dovậy họ vẫn coi trọng lợi ích của bản thân họ hơn là vấn đề công bằng Thực tế người sử dụnglao động trả lương thấp, không đóng bảo hiểm cho người lao động; tình

Trang 32

trạng trốn thuế, sản xuất hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại vẫn phổ biến.

- Nền KTTT gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước (KTNN) giữ vai trò chủ đạo Trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta tồn tại nhiều thành phần kinh tế,

trong đó KTNN đóng vai trò chủ đạo Vai trò chủ đạo của KTNN đã được xác định từ trongnền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung trước dây Bước vào thời kỳ đổi mới và đặc biệt là thờigian gần đây xuất hiện nhiều ý kiến hoài nghi về khả năng và sự cần thiết chủ đạo của KTNNnhưng việc xác lập vai trò chủ đạo của KTNN là vấn đề có tính nguyên tắc và là sự khác biệt

có tính bản chất giữa KTTT định hướng XHCN với KTTT TBCN Tính định hướng XHCNcủa nền KTTT ở nước ta quyết định KTNN phải giữ vai trò chủ đạo trong

cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Vai trò chủ đạo của KTNN thậm chí đã được luật hóa trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013 của nước Công hóa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Thực hiện nhiều hình thức phân phối thu nhập, trong đó lấy phân phối theo lao động là chủ yếu Trong nền KTTT ở nước ta tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập:

Phân phối theo lao động, phân phối theo hiệu quả SXKD, phân phối theo mức đóng gópvốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua phúc lợi xã hội,…Sự khác biệt cơbản giữa KTTT định hướng XHCN với KTTT TBCN là ở chỗ xác lập chế độ công hữu

và thực hiện phân phối theo lao động Phân phối theo lao động là đặc trưng bản chất củaKTTT định hướng XHCN, nó là hình thức thực hiện về mặt kinh tế của chế độ công hữu

Vì thế, phân phối theo lao động được xác định là hình thức phân phối chủ yếu trongTKQĐ lên CNXH

- Cơ chế vận hành nền kinh tế là CCTT có sự quản lý của Nhà nước XHCN Sự điều tiết của nhà nước vừa đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế trong nền KTTT hiện đại, vừa

do yêu cầu định hướng XHCN của nền kinh tế Mặt khác, đây là sự quản lý của nhà nướcXHCN chứ không phải là nhà nước tư sản trong KTTT Nhà nước quản lý nền KTTTtheo nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trường Kế hoạch và CCTT là hai phương tiệnkhác nhau để điều tiết nền kinh tế Cơ chế kết hợp trên nhằm phát huy những điểm tíchcực của thị trường, của kế hoạch và hạn chế nhược điểm của thị trường, của kế hoạch.Nhà nước quản lý thông qua thị trường

Trang 33

- Là nền kinh tế mở, hội nhập Nền kinh tế mở là đặc trưng chung của KTTT và

KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam cũng không là ngoại lệ Đặc điểm này phản ánh sựkhác biệt giữa nền KTTT định hướng XHCN mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tếđóng, khép kín trước đổi mới, đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tếnước ta trong điều kiện toàn cầu hóa

Tư tưởng về xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập của Việt Nam bắt đầu hình thành

từ Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng Để cụ thể hóa đường lối của Đảng, tháng 12/1987Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành Lần đầu tiên trong lịch sử của Đảngcũng như đất nước chấp nhận, khuyến khích nước ngoài (gồm cả các nước tư bản) đầu tưvào làm ăn ở Việt Nam, mở cửa để thu hút nguồn vốn, thiết bị, công nghệ, kinh nghiệm

tổ chức quản lý SXKD vào Việt Nam Hội nghị lần thứ 13 (5/1989) của Bộ Chính trị chủtrương “lợi dụng sự phát triển của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu thế toàn cầu hóanền kinh tế thế giới để tranh thủ vị trí có lợi nhất trong phân công lao động quốc tế; kiênquyết mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, ra sức đa dạng hóa quan hệ” Đồng thời đưa rachủ trương “xóa bỏ tình trạng độc quyền mang tính cửa quyền trong hoạt động SXKDxuất nhập khẩu” Ngoài ra, Hội nghị 13 cũng mở đầu cho tư tưởng đa phương hóa, đadạng hóa trong quan hệ quốc tế nói chung và quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng Đây là sựchuyển hướng hết sức quan trọng về đường lối kinh tế đối ngoại của Đảng

Chủ trương xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập dần được bổ sung và hoàn thiện quacác kỳ đại hội và các hội nghị của Đảng theo hướng tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế một cách rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư, hợp tác nghiêncứu khoa học công nghệ và SXKD,

1.2.2 Thể chế kinh tế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.2.2.1 Cơ chế quản lý kinh tế Việt Nam trước đổi mới

Trong nền kinh tế dựa trên nền tảng công hữu với 2 thành phần chủ lực là kinh tếquốc doanh (KTNN), kinh tế tập thể mọi vấn đề cơ bản trong nền kinh tế đều do Nhànước quyết định, được gọi là nền kinh tế chỉ huy Đại hội lần thứ VI của Đảng đã thẳngthắn chỉ ra một số đặc điểm, hạn chế chủ yếu của cơ chế quản lý cũ:

Trang 34

Thứ nhất: Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu với hệ

thống chỉ tiêu pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới Do đó, hoạt động của các đơn vị kinh tế,trước hết là các doanh nghiệp nhà nước(DNNN) chủ yếu phải dựa vào chỉ tiêu pháp lệnhhoặc là quyết định của cơ quan quản lý nhà nước cấp trên, từ phương hướng sản xuất, nguồnvật tư, địa chỉ tiêu thụ sản phẩm đến việc định giá, sắp xếp bộ máy Điều đó có nghĩa cácchủ thể kinh tế không được tự chủ, thị trường không được xác định giá cả

Thứ hai, các cơ quan quản lý hành chính của Nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt

động SXKD của các đơn vị nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với cácquyết định của mình Những thiệt hại do các quyết định không đúng gây ra thì ngân sáchnhà nước phải gánh chịu Hậu quả do hai điểm nói trên mang lại là cơ quan quản lý nhànước làm thay chức năng quản trị SXKD của DN Còn các DN vừa bị trói buộc, vì không

có quyền tự chủ, vừa ỷ lại cấp trên, vì không bị ràng buộc trách nhiệm đối với kết quảSXKD Lợi ích DN, quyền lợi người lao động phụ thuộc hoàn toàn vào Nhà nước

Thứ ba, trong cơ chế kinh tế cũ, quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị triệt tiêu, nhà nước quản lý nền kinh tế và kế hoạch hóa bằng chế độ cấp phát, giao nộp sản phẩm, quan hệ

hiện vật là chủ yếu, do đó hạch toán kinh tế chỉ là hình thức Mặc dù tiền vẫn tồn tại,quan hệ hàng - tiền vẫn có nhưng chỉ mang tính hình thức bởi thiết bị, vật tư cho các DN

do nhà nước cấp, hàng tiêu dùng được mua bằng tem, phiếu, sổ và theo định lượng

Chế độ bao cấp được thực hiện dưới các hình thức:

Bao cấp qua giá (là hình thức phổ biến và nghiêm trọng nhất) Nhà nước định giátài sản, thiết bị, vật tư, hàng hóa thấp hơn giá trị của chúng Với giá thấp như vậy, coi nhưmột phần những thứ đó cho không;

Bao cấp qua chế độ tem phiếu: Chế độ cung cấp tem phiếu với giá quá thấp đãbiến thành một loại tiền lương hiện vật đã phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động,mang nặng tính bình quân, không kích thích người lao động;

Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn của ngân sách mà không ràng buộc trách nhiệm

về vật chất đối với người được cấp vốn đã tạo ra gánh nặng cho ngân sách nhà nước, làmcho việc sử dụng vốn thiếu hiệu quả, nảy sinh cơ chế xin – cho

Trang 35

Thứ tư, bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều cấp trung gian và kém năng động từ đó

nảy sinh ra một đội ngũ cán bộ kém năng lực quản lý nhưng phong cách thì cửa quyền,quan liêu Xã hội phải tốn nhiều chi phí để nuôi bộ máy đồ sộ nhưng kém hiệu lực

1.2.2.2 Nhận thức của Đảng về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Thể chế kinh tế hay TCKTTT nói chung đều bắt nguồn từ khái niệm “thể chế”

Theo “Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế”, do Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ

biên), (Đại học KHXH&NV TPHCM, 2013) thể chế thường được hiểu theo hai nghĩa:Một là, “thể chế là tập hợp những quy tắc chính thức, các quy định không chính thức haynhững nhận thức chung có tác động kìm hãm, định hướng hoặc chi phối sự tương tác củacác chủ thể chính trị với nhau trong những lĩnh vực nhất định Các thể chế được tạo ra vàđảm bảo thực hiện bởi cả nhà nước và các tác nhân phi nhà nước (như các tổ chức nghềnghiệp hoặc các cơ quan kiểm định); Hai là, “thể chế là một cơ quan, tổ chức công vớicác cơ cấu và chức năng được định sẵn một cách chính thức nhằm điều chỉnh các lĩnhvực hoạt động nhất định áp dụng chung cho toàn bộ dân cư”

Khái niệm TCKTTT bắt nguồn từ thể chế kinh tế TCKT là “một hệ thống các quyphạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi SXKD và các quan hệkinh tế” [4, tr157] Nó là một bộ phận cấu thành của hệ thống thể chế xã hội, tồn tại bêncạnh các bộ phận khác như thể chế chính trị, thể chế giáo dục… “Nó bao gồm các đạoluật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm, các tổchức kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minhkinh doanh, cơ chế vận hành nền kinh tế

TCKTTT là một hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thểkinh tế, các hành vi SXKD và các quan hệ kinh tế Nó bao gồm các đạo luật, quy chế,quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các

cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơchế vận hành nền kinh tế TCKTTT còn bao gồm hệ thống các thực thể, tổ chức kinh tếđược tạo lập nhằm điều chỉnh hoạt động giao dịch, trao đổi trên thị trường hay điều chỉnhcác hoạt động kinh tế nói chung

Trang 36

TCKTTT chính là: Các quy tắc về hành vi kinh tế diễn ra trên thị trường (các chủthể thị trường); Cách thức thực hiện các quy tắc nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả màcác bên tham gia thị trường mong muốn; Các thị trường (thị trường hàng hóa và dịch vụ,thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường công nghệ, thị trường bất động sản…) [4,tr.167].

Nếu cơ chế kinh tế hay cơ chế KTTT là khách quan, vận hành hoàn toàn tự phát

do hệ thống các quy luật kinh tế chi phối thì thể chế kinh tế và TCKTTT luôn gắn kết bởihai yếu tố vừa có tính độc lập nhưng ràng buộc lẫn nhau Các cơ quan, tổ chức (bộ máyquản lý) chủ động thiết lập các quy tắc, quy định, các quy phạm pháp luật để hướng dẫn,điều chỉnh hành vi của các chủ thể trên thị trường đồng thời cũng tuân thủ, vận hành theo

hệ thống các quy phạm pháp luật đó Không có các cơ quan, tổ chức sẽ không có TCKT

và TCKTTT nhưng các cơ quan, tổ chức đó cũng không thể vượt ra ngoài hệ thống cácquy phạm pháp luật

TCKTTT nói chung về hình thức mang tính chủ quan vì đó là sản phẩm của conngười, do con người thiết lập Bởi vậy tính khoa học, hiệu lực của TCKTTT phụ thuộcmột phần rất lớn vào năng lực nhận thức và hành động của con người (bộ máy quản lý).Tuy nhiên, về nguyên tắc nội dung của TCKTTT phải mang tính khách quan, phản ánhđúng yêu cầu của các quy luật KTTT, CCTT Một TCKTTT hoàn thiện, hợp lý vừa tạomôi trường thể chế giúp người SXKD hoạt động tốt, vừa là cơ sở giúp các cơ quan quản

lý thực hiện được chức năng quản lý kinh tế - xã hội của mình có hiệu quả đồng thời làđiều kiện ổn định kinh tế xã hội các quốc gia Do đó, xây dựng và hoàn thiện TCKTTTđịnh hướng XHCN là đòi hỏi hết sức cấp bách đối với nước ta

KTTT định hướng XHCN là nền kinh tế vừa tuân theo các quy luật của thị trường vừachịu sự chi phối của các yếu tố đảm bảo tính định hướng XHCN TCKTTT định hướngXHCN ở Việt Nam được thiết lập và vận hành theo cơ chế chung: Đảng lãnh đạo, Nhà nướcquản lý, Nhân dân làm chủ Do đó, TCKTTT định hướng XHCN được hiểu là TCKTTT,trong đó các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng đểphát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Nói cách khác, TCKTTT định hướng

Trang 37

XHCN là công cụ hướng dẫn cho các chủ thể trong nền kinh tế vận động theo đuổi mụctiêu kinh tế - xã hội tối đa, chứ không đơn thuần là mục tiêu lợi nhuận tối đa.

Đại hội IX xác định cơ chế vận hành của nền KTHH nhiều thành phần theo địnhhướng XHCN ở nước ta là “cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước” bằng phápluật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác Trong cơ chế kinh tế đó, các đơn vị kinh

tế có quyền tự chủ SXKD, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh

tự nguyện, thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vựchoạt động và phương án tổ chức SXKD có hiệu quả, nhà nước quản lý nền kinh tế đểđịnh hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi SXKDtheo CCTT, kiểm soát và xử lý các vi phạm trong hoạt động kinh tế, đảm bảo hài hòagiữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội

Đại hội X cũng khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường địnhhướng XHCN” Bốn tiêu chí quan trọng nhất là: 1) Nắm vững định hướng XHCN trongnền kinh tế nước ta; 2) Nâng cao vai trò và hoàn thiện quản lý của Nhà nước; 3) Pháttriển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chếcạnh tranh lành mạnh; 4) Phát triển mạnh các thành phần kinh tế và các loại hình SXKD

Đại hội XI nhấn mạnh “TCKTTT định hướng XHCN là TCKTTT, trong đó cácthiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng để phát triểnlực lượng sản xuất, cải thiện đời sỗng nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh Nói cách khác TCKTTT định hướng XHCN là công cụ hướngdẫn cho các chủ thể trong nền kinh tế vận động, theo đuổi mục tiêu kinh tế - xã hội tối đachứ không đơn thuần là mục tiêu lợi nhuận tối đa” [4, tr.158]

1.2.2.3 Nhu cầu xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Nhu

cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế và xây dựng TCKTTT định hướng XHCN ở Việt Nam

đã được khẳng định tại Đại hội VI của Đảng Tại đó, Đảng khẳng định: “Việc bốtrí lại cơ cấu kinh tế phải đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Cơ chế quản lý tập trungquan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo ra được động lực phát triển, làm suy yếu kinh

tế XHCN, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất,làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra

Trang 38

nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội” [15, tr.47, tr.395-396] Chủ trương đó bắt nguồn

từ những lý do:

Một là, đảm bảo tính đồng bộ trong việc lựa chọn phát triển KTTT thay cho kinh tế

kế hoạch hóa tập trung, bao cấp thì đi cùng với nó phải là CCTT chứ không phải cơ chế quản

lý kinh tế chỉ huy Mọi hình thức tổ chức kinh tế đều vận hành theo một cơ chế hay thể chếtương ứng Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp với những đặc trưng của nó không phùhợp với những đặc điểm có tính nguyên tắc của KTTT Trong KTTT mọi chủ thể kinh tế đềuphải được tự chủ, giá cả hàng hóa do thị trường quyết định và cạnh tranh tự do Bởi vậy khichúng ta chuyển sang KTTT phải được vận hành theo CCTT Tất nhiên cần hiểu đầy đủrằng, trong nền KTTT hiện đại nói đến CCTT hoàn toàn không đồng nghĩa với việc loại bỏ

sự can thiệp, quản lý của nhà nước Một CCTT mới được tạo dựng phải là cơ chế “hỗn hợp”

- có thị trường, CCTT nhưng cũng có kế hoạch, có sự quản lý nhà nước nhưng phải xuất phát

từ thị trường, điều tiết qua thị trường, lấy thị trường làm cơ sở

Hai là, xuất phát từ những hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp Không phủ nhận những mặt tích cực, tác dụng nhất định của kế hoạch hóa tập

trung, bao cấp nhất là trong giai đoạn đất nước có chiến tranh Nhưng mô hình kinh tếnày không phản ánh đúng yêu cầu khách quan của các quy luật của KTTT Xét cả về lýluận và thực tiễn ở Việt Nam cho thấy cơ chế quản lý này là nguyên nhân quan trọng làmnẩy sinh những hạn chế lớn đối với nền kinh tế nước ta, nhất là khi bộ máy quản lý bịquan liêu hóa Về cơ bản, cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp có những hạn chế:

- Thủ tiêu cạnh tranh nên kìm hãm sự phát triển của các đơn vị SXKD, kìm hãm sựtiến bộ khoa học – kỹ thuật Các đơn vị SXKD hay người lao động đều làm việc theo sự sắpđặt của cơ quan quản lý nhà nước do đó không cần sáng tạo, không cần cố gắng nỗ lực.Trong cơ chế quản lý này mọi chi phí sản xuất (chi phí vật chất và lao động), sản phẩm vàsản lượng đều do nhà nước tính toán, quy định Nhà nước đồng thời quy định giá cả nên giá

cả hàng hóa hầu như không có quan hệ gì với giá trị cũng như tương quan cung - cầu Mọi sựtính toán và các cân đối trong nền kinh tế đều mang tính chủ quan, duy ý chí làm mất đi độnglực của sự phát triển kinh tế, làm mất đi tính năng động sáng tạo của các đơn vị kinh tế,ngược lại tạo nên một cơ chế kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 39

- Chế độ công hữu được thiết lập một cách nóng vội không những không tạo được độnglực mà còn kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển Những tài sản thuộc các đơn vị kinh tế quốcdoanh và bộ phận lớn tài sản của các hợp tác xã đều thuộc nhà nước hay tập thể nên dẫn đến tìnhtrạng “có chủ mà vô chủ”, “cha chung không ai khóc” Người lao động xa rời tư liệu sản xuất,tình trạng người lao động cũng như các nhà quản lý thiếu trách nhiệm với tài sản chung phổ biến

đã gây thất thoát, thiệt hại lớn của cải xã hội Sở hữu tư nhân không được thừa nhận đã làm chomặt tích cực của các thành phần kinh tế gắn với sở hữu tư nhân không được phát huy trong quátrình xây dựng CNXH Điều này đồng nghĩa với việc lãng phí nguồn lực cho phát triển kinh tế

- xã hội

- Cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp duy trì quá lâu đã tạo ra nhiềulực cản đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội Các cơ quan quản lý hànhchính nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động của các đơn vị SXKD, làm thay chứcnăng quản trị kinh doanh của các DN đã đẩy các đơn vị kinh tế vào tình trạng thụ động,mất quyền tự chủ Cơ chế đó không ràng buộc trách nhiệm của DN đối với hiệu quả sửdụng vốn, tài sản, vật tư, lao động Điều đó gây nên tình trạng lãng phí, thất thoát tài sảncủa Nhà nước, tạo tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm, lười biếng, triệt tiêu động lực sáng tạo củangười lao động

- Chế độ phân phối bình quân và bao cấp đã không gắn được kết quả sản xuất vớinăng suất và hiệu quả lao động, triệt tiêu động lực của người lao động Cho dù nguyên tắcchủ đạo trong phân phối thu nhập của CNXH là phân phối theo lao động nhưng trên thực tế

đã chuyển thành bình quân, cào bằng Người tích cực mất động lực phấn đấu, người lườinhác có cơ hội ỷ lại người khác và xã hội Mặc dù mục tiêu của việc phân phối thu nhập làđảm bảo công bằng, nhưng việc tổ chức và xây dựng một hệ thống thương nghiệp nhà nướcđộc quyền mua và bán, đã tạo nên những đặc quyền, đặc lợi gắn liền với bộ máy quan liêu,tham lam đã gây bất bình đẳng ngay trong khâu phân phối Phân phối bằng hiện vật và baocấp không gắn kết được cung - cầu (người cần, nơi cần thì không có; người có, nơi có thìkhông cần), làm rối ren lưu thông, tạo cơ hội cho những người có chức quyền trục lợi

- Quan hệ hàng hóa – tiền tệ bị hình thức hóa, thậm chí bị thủ tiêu Tiền tệ vẫn tồn tạinhưng thực tế người ta không mua – bán bằng tiền Nhà nước không bán vật tư, thiết bị

Trang 40

cho DN mà cấp phát, không mua hàng hóa của DN mà giao nộp; người tiêu dùng thực tếkhông phải mua hàng bằng tiền mà bằng sổ, tem, phiếu vậy có thể bỏ tiền tệ Tiền chỉ lưuthông chủ yếu đúng nghĩa và rất hạn chế ở chợ nông thôn hay mậu dịch phi chính thức.Việc không coi trọng quan hệ hàng hóa – tiền tệ đã đẩy nền kinh tế rơi vào tình trạng hiệnvật hóa, không khai thác được vai trò, sức mạnh của quan hệ hàng hóa – tiền tệ để pháttriển đất nước Những chức năng của tiền tệ vốn được khai thác để phát triển kinh tế toàncầu hiện nay thì khi đó nó gần như không được thể hiện trong cả điều hành vĩ mô và thựctiễn cuộc sống.

Từ những lý do trên chúng ta có thể thấy, cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quanliêu, bao cấp hoàn toàn không phù hợp với KTTT Việc xóa bỏ cơ chế tập trung, quanliêu, bao cấp và xây dựng CCTT có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ởnước ta là hết sức cần thiết và cấp bách

Ngày đăng: 27/10/2020, 17:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w