Kế đó là giai đoạn bắt cặp anealing, lúc này nhiệt độ trong buồng ủ PCR hạ xuống khoảng 550C để các đoạn mồi primer bắt cặp theo nguyên tắc bổ sung vào hai đầu của chuỗi nucleic acid đ
Trang 1Phản ứng chuỗi
polymerase (pcr)
TÓM TẮT :
Thử nghiệm PCR đã thật sự làm một cuộc đại cách mạng trong sinh học phân tử với các áp dụng kỳ diệu trong mọi lãnh vực Ngày nay PCR có thể được triển khai áp dụng tại bất cứ một phòng thí nghiệm nào thử nghiệm được thực hiện tương đối đơn giản, giá thành của thử nghiệm không còn quá cao đến nỗi không thể chấp nhận được như trước đây
Trang 2PCR, THE GREAT REVOLUTION IN MOLECULAR BIOLOGY
SUMMARY
With the fantastic applications in all scientific fields, PCR has really done a great revolution in molecular biology Today PCR can be set up at any laboratory because the PCR technique is very simple, and the price cost of one test in not unacceptable as before
Vào năm 1985, trong một đêm trăng sáng ở tiểu bang California , trên đường lái xe dọc theo bờ biển, một ý tưởng chợt xuất hiện trong đầu của một nhà sinh hóa học rất tầm thường, làm việc cũng tại một phòng thí nghiệm hết sức tầm thường Ý tưởng này khi trở thành hiện thực, chính là thử nghiệm PCR, đã làm một cuộc đại cách mạng trong sinh học phân tử và đã đưa tác giả của nó, K.B Mullis, đến giải Nobel y học
Trang 33 bước (hình 1), mỗi bước kéo dài khoảng
vài chục giây đến vài phút, tuần tự như sau
: (1) Ðầu tiên là nhiệt độ được nâng lên
khoảng 940C để làm biến tính nucleic acid đích từ dạng sợi đôi (dsDNA) thành sợi
đơn (ssDNA), đây là giai đoạn làm biến tính (denaturation) DNA đích (11) Kế đó
là giai đoạn bắt cặp (anealing), lúc này
nhiệt độ trong buồng ủ PCR hạ xuống khoảng 550C để các đoạn mồi (primer) bắt cặp theo nguyên tắc bổ sung vào hai đầu của chuỗi nucleic acid đích, đây là giai đoạn quyết định nên tính đặc hiệu thì
Trang 4những sản phẩm PCR (PCR product) sẽ
đặc hiệu (111) Cuối cùng là giai đoạn kéo dài (extension), lúc này nhiệt độ được
nâng lên khoảng 720C là nhiệt độ tối hảo
để men polymerase chịu nhiệt xúc tác phản ứng tổng hợp bản sao của DNA đích theo nguyên tắc bổ sung trên khuôn là các sợi đơn (ssDNA) đích đã được đoạn mồi bắt bặp vào trước đó (ở giai đoạn bắt cặp)
Sự tổng hợp này cần phải có sự hiện diện các deoxy nucleoside tri phosphate (dNTP), và chiều của sự tổng hợp là 5� � 3� (đoạn mồi) hay 3�� 5� (ssDNA đích)[1,3]
Sau 30 đến 40 chu kỳ nhiệt, để hoàn tất thử nghiệm PCR, thường nên có thêm một giai đoạn gọi là bù thêm (soaking) Giai đoạn này nhiệt độ
được giữ 720C trong thời gian tương đối lâu, từ 10 phút đên 1 giờ Ðây là giai đoạn
để một số các bản sao của DNA đích vì
Trang 5một lý do nào đó trong các giai đoạn kéo dài của các chu kỳ PCR, không kéo dài
được một các đồng bộ như các bản sao khác, có thể kéo dài hoàn tất nốt chiều dài của nó Trong những chu kỳ nhiệt đầu, sản phẩm PCR thường có kích thước không đều nhau vì chuỗi bổ sung được tổng hợp trên khuôn mẫu của chuỗi đích có trong bệnh phẩm Càng về sau thì khuôn mẫu để tổng hợp chuỗi bổ sung chính là các sản phẩm PCR, nên kích thước của các sản
Trang 7Các thành phần tham gia thử nghiệm PCR
Ðể thử nghiệm PCR có thể chạy
được, cần phải có đầy đủ các thành phần sau đây :
DNA hay nuceic acid đích, tức là
chuỗi acid nucleic (ví dụ đoạn acid nucleic đặc hiệu của vi khuẩn gây bệnh, của gene bệnh lý, của dấu ấn di truyền, ) mà phản ứng PCR sẽ khuếch đại lên để chúng có thể được phát hiện trong bệnh phẩm Phản ứng PCR sẽ không xảy ra được nếu bệnh phẩm không có nucleic acid đích Một trường hợp khác là trong bệnh phẩm có nucleic acid đích, nhưng do bệnh phẩm được sửa soạn không thích hợp hoặc không đúng cách nên nucleic acid đích không bộc lộ ra ; hoặc trong bệnh phẩm hãy còn các chất ức chế phản ứng PCR Trong những trường hợp này
Trang 8kết quả PCR sẽ âm tính, nhưng là âm tính giả Vì vậy vấn đề sửa soạn bệnh phẩm cho thử nghiệm PCR phải được coi trọng, đặc biệt trong các phòng thí nghiệm áp dụng PCR để chẩn đoán phát hiện bệnh
Primer hay đoạn mồi, tức là những
đoạn DNA đơn (oligonucleotide) có kích thước chỉ vài chục base (18-30),
có thể bắt cặp theo nguyên tắc bổ sung vào đoạn khởi đầu và đoạn kết thúc của chuỗi DNA đích khi chuỗi đích này được biến tính thành sợi đan Trong thử nghiệm PCR, đoạn mồi có
hai vai trò chính : (1) Quyết định nên
tính đặc hiệu của thử nghiệm, vì nếu đoạn mồi được chọn càng đặc hiệu cho chuỗi đích, nghĩa là chỉ có thể bắt cặp trên chuỗi đích mà không thể bắt cặp được trên các chuỗi DNA khác ngoài chuỗi đích, thì sản phẩm PCR càng đặc hiệu và thử nghiệm PCR càng đặc
Trang 9hiệu (11) Khởi động men polymerase
vì men polymerase chỉ có thể bắt đầu tổng hợp sợi bổ sung cho chuỗi DNA đích một khi nó nhận dạng được đầu 3�, (là đầu mà nó xúc tác cho một dNTP được gắn vào) đang ở tình trạng sợi đôi Thông thường trong phản ứng PCR, người ta dùng một cặp mồi, gọi
là primer set, trong đó có một mồi
lên gọi là up-stream primer và một mồi xuống gọi là down-stream prime Cặp
mồi này quyết định nên kích thước củasản phẩm PCR Chúng càng bắt cặp trên chuỗi đích xa nhau bao nhiêu thì kích thước của sản phẩm PCR càng lớn bấy nhiêu và ngược lại, càng gần nhau bao nhiêu thì kích thước càng nhỏ bấy nhiêu
dNTP, deoxy nucleoside triphosphate,
tức là đơn vị để có thể tổng hợp được các bản sao của DNA đích DNTP có cấu tạo gồm một đường deoxyribose
Trang 10có gắn một base, có thể là adenine (dATP) hay thymine (dTTP) hay Cytosine (dCTP) hay guanine (dGTP) ,
ở carbone số 1 (C1) Ba phân tử phosphate (triphosphate) được gắn tại carbone số 5 (C5) của phân tử deoxyribose này và đây chính là nơi
mà dNTP gắn vào đầu 3� của chuỗi
bổ sung trên chuỗi đích Năng lương
để cho phản ứng này xảy ra được lấy
từ các nối phosphate giàu năng lương của triphosphate trên dNTP Ðó cũng chính là lý do tại sao phải là dNTP chứng không phải là dNDP
dNMP(monophosphate)
Men polymerase, phải là men polymerase chịu được nhiệt độ Ngày nay có nhiều loại polymerase chịu được nhiệt độ đã được ly trích hoặc tổng hợp, tùy mục đích sử dụng mà chúng ta có thể chọn polymerase thích
Trang 11hợp Thường dùng nhất trong các
men Taq polymerase Là
men polymerase trích từ vi
khuẩn Thermus aquaticus, là các vi
khuẩn sống được trong các suối nước nóng
Dung dịch đệm cho phản ứng PCR,
thường chứa muối đệm Tris HCL 10
mM, KCL 50Mm và MgCl�2 1.5mM Ngoài ra dung dịch đệm PCR còn có thể chứa 0.001% BSA hay Gelatine và trong một số phản ứng PCR còn có thể thêm tween hay formamide nữa Trong các thành phần trên, có lẽ ảnh hưởng lên thử nghiệm PCR nhiều nhất
là nồng độ MgCl2, vì vậy để có được một thử nghiệm PCR có độ nhạy cao, phả ứng rõ nét, người ta phải tối ưu hóa phản ứng bằng cách thăm dò một nồng độ MgCl2 thích hợp nhất
Trang 12Ngoài ra, một thiết bị hết sức quan
trọng cho thử nghiệm PCR là máy chu kỳ nhiệt (thermal cycler) là máy có thể đưa
nhiệt độ trong buồng ủ PCR lên cao rồi hạ xuống trong những khoảng thời gian nhất định theo chương trình mà người sử dụng định sẵn
HAI BƯỚC TIẾN QUAN TRỌNG ÐÃ
ÐƯA THỬ NGHIỆM PCR ÐẾN CUỘC ÐẠI CÁCH MẠNG SINH HỌC PHÂN
sẽ phức tạp và kém hiệu quả bao nhiêu một khi mà cứ sau mỗi chu kỳ nhiệt lại phải thêm men polymerase mới vào vì
Trang 13men cũ đã bị hủy bởi nhiệt độ trong chu kỳ nhiệt trước đó ? Cũng nhờ sự sử dụng các men polymerase chịu nhiệt mà giai đoạn bắt cặp của đoạn mồi vào nucleic acid đích được đặc hiệu hơn vì được thực hiện ở nhiệt độ cao hơn, do đó phản ứng PCR trở nên đặc hiệu hơn Cho đến nay, đã có hàng chục loại polymerase chịu nhiệt đã được phát hiện và tổng hợp ra [1] Có những men polymerase trích từ các vi khuẩn chịu nhiệt như Thermus aquaticus (Taq polymerase), Thermus thermophilus (rTth), Thermus lithoralis (Vent), Pyrococcus furiosus (Pfu), Có những men polymerase chịu nhiệt được tổng hợp từ các ci khuẩn không chịu nhiệt nhưng mang gen tái tổ hợp từ các vi khuẩn chịu nhiệt như Ampli Taq, Vent (exo), Có những men polymerase chịu nhiệt có hoạt tính sửa sai (proofreading) khi tổng hợp chuỗi nucleic acid bổ sung (3-5exonuclease) như Ultima, Vent, Deep Vent, Pfu, Nhờ vậy
Trang 14mà người dùng có rất nhiều chọn lựa để sử dụng cho đúng mục đích của mình
Máy chu kỳ nhiệt
Trước đây, khi chưa có máy chu kỳ nhiệt, thử nghiệm PCR được thực hiện bằng cách liên túc chuyển các ống nghiệm phản ứng PCR vào các máy các thủy có nhiệt độ khác nhau để tạo ra được các chu
kỳ nhiệt cho phản ứng Dau đó công việc bằng tay nhàm chán và nặng nhọc này được thay thế bằng các robot tương đối cồng kềnh và đắt tiền Ngày nay, thử nghiệm PCR được thực hiện trong các buồng ủ PCR của máy chu kỳ nhiệt, còn gọi là máy luân nhiệt Một cách tổng quát, máy luân nhiệt gồm các bộ phận chính như sau :
� Một bàn phím đơn giản để lập các chương trình chu kỳ nhiệt và ra các mệnh lệnh để máy thực hiện
Trang 15� Một bộ vi xử lý để ghi nhớ các chương trình đã nạp vào máy, thực hiện các mệnh lệnh đền buồng ủ PCR, cũng như ghi nhận cách thay đổi nhiệt độ buồng
ủ PCR trong các chu kỳ nhiệt để điều chỉnh cho đúng với chương trình đang được thực hiện
� Buồng ủ PCR là nơi mà các chu
kỳ nhiệt được thực hiện qua dự điều khiển của bộ vi xử lý Trong các chu kỳ nhiệt, nhiệt độ trong buồng ủ PCR có thể đưa lên cao hay hạ xuống thấp trong một thời gian rất ngắn Ðể làm thay đổi được nhiệt độ trong buồng ủ PCR, có hai phương pháp :
(1) Liên tục thổi lên buồng ủ những luồng
khí nóng sinh ra từ một đèn phát nhiệt, hay luồng khí lạnh sinh ra từ một dàn lạnh của máy làm lạch Với phương pháp này, máy luân nhiệt hãy còn tương đối cồng kềnh, khá đắt tiền và khi máy hoạt động âm
thanh cũng khá ồn ào (11) Phương pháp
Trang 16thứ hai hoạt động dựa theo hiệu quả Peltier ngược Hiệu quả Peltier là nguyên
tắc của các máy đo nhiệt độ điện tử : Khi
áp hai mãnh kim loại vào nhau và khi có
sự cách biệt nhiệt độ giữa hai mãnh kim loại thì sẽ sinh ra một dòng điện và chính
sự lưu thông của dòng điện này khi đo lường ra sẽ phản ánh sự cách biệt nhiệt độ giữa hai mãnh kim loại Hiệu quả Peltier ngược lại vận hành theo kiểu ngược lại, nghĩa là khi tạo ra một dòng điện giữa hai mãnh kim loại thì sẽ tạo ra được một sự cách biệt nhiệt độ giữa hai mãnh : bên này nóng, bên kia lạnh Khi thay đổi chiều dòng điện thì nhiệt độ của hai mãnh cũng thay đổi ngược lại : bên này lạnh, bên kia nóng Các máy chu kỳ nhiệt hiện nay đều được chế tạo dựa theo phương pháp thứ hai này, nhờ vậy mà máy trở nên rất gọn nhẹ, giá thành rẽ hơn gấp nhiều lần so với trứơc đây Ví dụ hiện nay chúng ta có thể trang bị cho phòng thí nghiệm máy chu kỳ
Trang 17nhiệt nhỏ có 16 giếng phản ứng, với giá chỉ khoảng 1800 USD (minicycler của hãng MJ research) so với hàng chục ngàn USD như trước đây
PCR ÐÃ LÀM NÊN MỘT CUỘC ÐẠI CÁCH MẠNG TRONG SINH HỌC
PHÂN TỬ
PCR và các áp dụng của nó hiện nay trong nhiều lãnh vực đã và đang làm được những kết quả thật sự kỳ diệu, đã
làm cho các công trìng nghiên cứu sinh
học phân tử trở nên nhẹ nhàng và dễ dàng hơn gấp nhiều lần so với trước kia Nếu
trước đây một thử nghiệm sinh học phân
tữ phải kéo dài hàng tuần, thậm chí hàng tháng, thì nay cũng thí nghiệm có cùng
mục đích như vậy, với PCR chỉ thực hiện trong vài ngày Nếu trước đây có những mục đích thí nghiệm không thể thực hiện được, thì ngày nay với PCR mục đích này lại có thể thực hiện được một các dễ dàng
Trang 18Chính nhờ PCR mà ngày nay, sinh học
phân tử đã làm được những bước tiến nhảy vọt trong mọi lãnh vực Vậy có thể nói
không ngoa là PCR đã thực sự làm một
cuộc đại cách mạng trong sinh học phân
tử Có thể xin đơn cử ra đây một số ví dụ :
PCR với kỹ thuật clone tái tổ hợp
(cloning of recombinant)
Nếu trước đây, muốn đưa một đoạn gene vào plasmid để chuyển thể plasmid này vào một vi khuẩn thì công việc này
đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian và công sức Trước hết là phải có một số lượng tế bào đích để từ đó người ta ly trích toàn bộ
bộ gene (genomic DNA) Sau đó dùng
nhiều loại restriction enzyme để cắt bộ
gene thành nhiều đoạn có kích thước khác nhau, điện di trên thạch, làm kỹ
thuật Southern blotting và phát thiện đoạn gen muốn tìm bằng kỹ thuật lai
(hybridization) với đoạn dò (probe) đặc
Trang 19hiệu Trên kết quả đó, có thể định vị và
trích được đoạn gen muốn tìm từ bản thạch
đã điện di để gắn vào plasmid rồi đưa vào
vi khuẩn mang Tuy nhiên công việc như vậy cũng chưa đã hoàn tất, vì chưa chắc chúng ta đã gắn đúng đoạn gen mong
muốn vào plasmid vì trên bản thạch chúng
ta không thể chỉ lấy đúng đoạn gen đã định
vị mà không lẫn các đoạn gene khác Do vậy, phải chọn đúng vi khuẩn mang
plasmid có gene mong muốn Chúng ta gọi toàn bộ kỹ thuật này là clone tái tổ hợp, có khi phải thực hiện trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, mà nhiều khi chưa chắc đã thành công Ngày nay, nhà nghiên cứu có thể dùng kỹ thuật PCR trong thí nghiệm này Trước hết là từ một vài tế bào đích
ban đầu (không cần phải có nhiều tế bào đích như kỹ thuật cũ), có thể sử dụng cặp mồi đặc hiệu để tổng hợp và khuếch đại đoạn gen muốn tìm thành hàng tỷ bản sao giống hệt nhau rồi đưa vào plasmid (không
Trang 20cần phải dùng một lượng lớn tế bào đích
để ly trích được bộ gene và phân tích bằng restriction enzyme, rồi Southern blotting,.) Lúc này plasmid mang đúng đoạn gen
đích, không thể có lẫn lộn các đoạn gene khác, vì vậy sau khi chuyển thể plasmid vào vi khuẩn mang, không cần phải làm kỹ thuật chọn dòng nữa Như vậy chúng ta
thấy cũng cùng một mục đích, nhưng với PCR, công việc đã gòn lại rất nhiều, có thể chỉ trong vòng vài tuần là xong
PCR với kỹ thuật ly trích các đoạn DNA mong muốn
Với các kỹ thuật sinh học phân tử
king điển, để ly trích được một đoạn DNA mong muốn nào đó, nhà nghiên cứu phải
có trong tay một số lượng khá các tế bào đích, để ly trích được bộ gene của tế bào Sau đó từ bộ gene phức tạp này, ly trích đoạn DNA muốn tìm bằng hàng loạt các
kỹ thuật sinh học phân tử phức tạp, tốn
Trang 21thời gian và công sức như đã nói trong phần trên
Với kỹ thuật PCR, công việc được giải quyết một cách gọn gàng hơn nhiều Chỉ cần một số lượng nhỏ bộ gene có trong mẫu thử, với một cặp mồi đặc hiệu,
có thể tổng hợp và khuyếch đại đoạn DNA đích trong bộ gen phức tạp thành hàng tỷ bản sao các đoạn DNA giống hệt nhau mà không cần phải làm động tác ly trích trở lại
(hình 2)
Bộ gene phức tạp và cặp mồi đặc hiệu đoạn DNA mong muốn