1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đặc điểm sinh học của nhện trắng docx

12 595 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 189,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm sinh học của nhện trắng Nhện trắng white mite Polyphagotarsonemus latus Banks Họ Tarsonemidae, Bộ Acari còn có tên là nhện ớt chili mite, nhện bạc lá cam citrus silver mite,

Trang 1

Đặc điểm sinh học của

nhện trắng

Nhện trắng (white mite)

Polyphagotarsonemus

latus (Banks) (Họ Tarsonemidae,

Bộ Acari) còn có tên là nhện ớt

(chili mite), nhện bạc lá cam (citrus silver mite), nhện trà vàng (yellow tea mite) và nhện rộng (broad

mite), là một loài gây hại chính và phổ biến trên nhiều loại cây trồng Việc kiểm soát loài này đòi hỏi một hay nhiều lần xử lý thuốc trừ nhện

Trang 2

mỗi năm

Phân loại và phân bố

Vị trí phân loại của nhện trắng trãi qua nhiều sự thay đổi, như đã được khảo sát bởi Ewing (1939), Beer (1954) và Lindquist (1986) Được thu thập lần đầu tiên trên cây trà ở Sri Lanka và mô tả vào năm 1980

với tên là Acarus

translucens Green; đây là một tên độc lập với tênTarsonemus

latus Banks được mô tả vào năm

1904 dựa trên trên các mẫu thu

được từ chồi cây xoài tại các nhà kính ở Washington (DC) Sau đó tên thứ hai này được chấp nhận

trong khi tên A translucens bị bỏ

Trang 3

qua Ewing (1939) sau đó đã đưa

loài latus vào giốngHemitarsoneus,

và từ giống này, loài latus được

Beer và Nucifora (1965) chuyển

sang một giống mới có tên

là polyphargotarsonemus

Lindquist (1986), gần đây hơn đã tái xác định và mô tả một cách đầy

đủ về

giống polyphargotarsonemus và

loài latus, và cho rằng sự phân loại

này có lẽ thực sự là một phức hợp loài có liên hệ với nhau

Nhện trắng phân bố khắp nơi trên thế giới như Châu Úc, Châu Á,

Châu Phi, Châu Âu, Bắc Mỹ, Nam

Mỹ và các đảo ở Thái Bình Dương

Ở Ấn Độ và Srilanka nó có tên là

Trang 4

nhện trà vàng (‘yellow tea mite’), trong khi ở Bangladesh gọi là nhện đay vàng (‘yellow jute mite’) Ở

một số nước Châu Ấu, nó được gọi

là nhện rộng (‘broad mite’) và ở

một số vùng của Nam Mỹ nó lại có tên là nhện nhiệt đới (‘tropical

mite’) hay nhện rỉ sắt rộng (‘broad rust mite’)

Đặc điểm hình thái

Trưởng thành:

Nhện cái có dạng hình bầu dục dài khoảng 0,2 mm Cơ thể phồng lên theo hướng nghiêng và có màu từ vàng sáng đến hổ phách hay xanh

lá cây với một đường sọc không rõ, màu sáng, nằm giữa và phân nhánh

Trang 5

ở cuối lưng Các con đực có màu sắc tương tự con cái nhưng không

có sọc này Hai chân sau của con cái trưởng thành thoái hoá thành

phần phụ Con đực thường nhỏ hơn (0,11mm) và di chuyển nhanh hơn con cái Các chân sau to lớn của

con đực thường được sử dụng để nâng các con nhộng cái lên và đặt vuông góc với cơ thể con đực khi giao phối

Trang 6

Nhện trắng trưởng thành (Ảnh:

EENY 183) Trứng:

Trứng không màu sắc, có hình bầu dục Mỗi trứng dài khoảng 0,08mm

và được bao phủ bởi 29 đến 37

chùm lông trên bề mặt

Ấu trùng:

Nhện trắng con chỉ có 3 cặp chân Chúng thường di chuyển rất chậm

Trang 7

và có màu hơi trắng được tạo thành

từ những điểm nhỏ trên da Khi ấu trùng phát triển, chúng sẽ tăng

chiều dài từ 0,1 lên 0,2mm Giai

đoạn không hoạt động xuất hiện

như một ấu trùng bất động

Nhộng:

Sau một ngày, ấu trùng biến thành nhộng bất động có hai đầu trong

suốt và nhọn Giai đoạn nhộng kéo dài khoảng một ngày Các con

nhộng thường được tìm thấy trong các lổ lõm trên trái, mặc dù nhộng cái thường được mang bởi các con đực

Điểm sinh học

Vòng đời của nhện trắng gồm bốn

Trang 8

giai đoạn: trứng, ấu trùng, nhộng và trưởng thành Con cái trưởng thành

đẻ từ 30 đến 76 trứng (trung bình 5 trứng mỗi ngày) ở mặt dưới của lá

và trong những lổ lõm của trái

trong thời gian từ 8 đến 13 ngày và chết ngay sau đó, trong khi con đực trưởng thành có thể sống từ 5 đến 9 ngày Con cái không được giao

phối đẻ trứng đực, và ngược lại,

con cái được giao phối thường đẻ 4 trứng cái trên mỗi trứng đực

Trứng nở trong khoảng 2 đến 3

ngày và ấu trùng sinh ra từ vỏ trứng

để gây hại Ấu trùng thường di

chuyển chậm và không phân tán xa Sau 2 hoặc 3 ngày, ấu trùng phát

triển sang giai đoạn ấu trùng bất

Trang 9

động (nhộng) Ấu trùng cái bất

động trở nên hấp dẫn với con đực, con đực sẽ nâng con cái lên và

mang chúng đến bộ lá mới Con

đực và cái đều rất hoạt động nhưng con đực rõ ràng đóng góp nhiều

vào sự phân tán của quần thể nhện trắng do có khả năng mang ấu

trùng cái đến vị trí mới Khi con cái thoát khỏi giai đoạn bất động, con đực ngay lập tức sẽ giao phối với

nó Cũng có báo cáo cho rằng nhện trắng sử dụng các côn trùng, đặc

biệt là một số loài ruồi trắng

(whiteflies) để di chuyển từ cây này đến cây khác

Kí chủ

Trang 10

Nhện trắng có một dãy kí chủ ở các khu vực nhiệt đới Nó tấn công cây trồng trong nhà kính ở các vùng

nhiệt đới và bán nhiệt đới Các cây trồng được liệt kê vào danh sách kí chủ của nhện trắng gồm có: táo, lê tàu (avocado), dưa đỏ (cantaloupe), thầu dầu, ớt, cam, cà phê, bông vải,

cà, ổi, đay, đu đủ, lê, khoai tây,

vừng, đậu, xoài, trà, cà chua Nhện trắng còn gây hại trên nhiều loại

hoa kiểng như hoa tím (African

violet), ageratum, đỗ quyên, thu hải đường, hoa cúc, hoa anh thảo,

thược dược, gerbera, loa kèn,

thường quân (ivy), lài, cây bóng

nước (impatiens), hoa cứt lợn, vạn thọ, hoa mõm chó, cỏ roi ngựa,

Trang 11

Nhện trắng được xem như là một loài gây hại nghiêm trọng

của Pittosporum spp ở Florida

Xuân Dũng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Gerson U, 1992 Biology and

control of the broad mite,

polyphagotarsonemus latus (Banks) (Acari:Tarsonemidae)

Experimental & Applied

Acarology, 13(1992), p 163-178 Elsevier Science Publishers B.V., Amsterdam

Fasulo T R., 2007 Broad mite,

Polyphagotarsonemus latus (Banks) (Arachnida: Acari: Tarsonemidae)

Trang 12

EENY183 p 1-5

Ngày đăng: 04/07/2014, 23:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN