Bệnh giun sán ở loài nhai lại 1.1 Giun sán ở dạ dầy và ruột loài nhai lại Tên khác Viêm dạ dầy và ruột do ký sinh trùng Parasitic gastro enteritis Định nghĩa Bệnh do nhiễm một sốloài giu
Trang 1CHươNG 13
BệNH GIUN SáN ở GiA SúC
1 Bệnh giun sán ở loài nhai lại
1.1 Giun sán ở dạ dầy và ruột loài nhai lại
Tên khác Viêm dạ dầy và ruột do ký sinh trùng (Parasitic gastro enteritis)
Định nghĩa Bệnh do nhiễm một sốloài giun sán ở dạ dầy và ruột loài nhai lại.
Phân bố Khắp thế giới
Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng lâm sàng phụ thuộc vào hàng loạt yếu tố như trạng thái
dinh dưỡng của gia súc, mức độ nhiễm và loài giun sán bị nhiễm Nguyên tắc chung là gia súc nhiễm giun sán nặng gầy yếu và thường ỉa chảy Một số giun sán hút máu và gây nên thiếu máu Bảng 13.1 nêu những triệu chứng lâm sàng do giun sán ở dạ dầy và ruột gây nên
Cách lây lan Hình 13.1 là sơ đồ vòng đời cơ ban của tất cả giun sán có liên quan Trứng giun
sán thải theo phân ra đồng cỏ nở thành ấu trùng, ấu trùng lột xác 2 lần thành ấu trùng cẫm nhiễm giai đoạn 3 (L3) trong thời gian khoảng 1-2 tuần Loài nhai lại nhiễm giun sán do chăn thả trên đồng cỏ ô nhiễm với ấu trùng L3 Khi ăn phải ấu trùng L3, trong vật chủ ấu trùng lột xác 2 lần và phát triển thành giun sán trưởng thành, con cái đẻ trứng và thải ra ngoài theo phân vật chủ
Độ dài của chu trình này phụ thuộc vào loài giun sán, nhưng thông thường mất từ 2-3 tuần đối với giun sán ở dạ dầy và ruột non, 6 tuần đối với giun móc và giun ở ruột già Trong những
điều kiện nhất định, quá trình thành thục thành dạng trưởng thành ngừng lại (hiện tượng cận sinh - hypobiosis) có thể tới vài tháng Mặc dù chưa hiểu biết đầy đủ; hiện tượng cận sinh có thể là một hiện tượng tự nhiên nhằm đảm bảo ký sinh trùng sống sót trong vật chủ qua những giai đoạn không phù hợp với sự sống và phát triển của chúng ngoài đồng cỏ (ví dụ mùa đông
ở vùng khí hậu ôn đới, mùa khô ở vùng khí hậu nhiệt đới) Nhờ vậy trứng do giun sán trưởng thành đẻ và thải theo phân ra đồng cỏ trùng khớp với sự trở lại của điều kiện khí hậu thuận lợi
đối với kí sinh trùng, ví dụ mùa xuân ở vùng ôn đới, đợt mưa ở vùng nhiệt đới
Trang 2Bảng 13.1 Giun sán ở dạ dầy và ruột của loài nhai lại.
Giun ở dạ dầy
Haemonchus spp
Ostertagia spp
Trichostrongylus spp
Giun hút máu gây nên thiếu máu và sút cân, rất quan trọng ở những vùng thường xuyên ấm áp, ẩm ướt hoặc có mùa mưa, ấm kéo dài
Gây viêm dạ dầy, ỉa chảy và sút cân, quan trọng ở miền khí hậu á nhiệt đới có mưa mùa đông
Tương tự nhưng ảnh hưởng ít hơn so với Ostertagia spp
Giun ở ruột non
Trichostrongylus spp
Cooperia spp
Nematodirus spp
Nhiễm nặng gây viêm ruột, gầy yếu, ỉa chảy và kém ăn; Trichostrongylus và Cooperia spp có thể quan trọng ở vùng nhiệt
đới và á nhiệt đới, Nematodirus chỉ quan trọng ở vùng khí hậu ôn
đới, ví dụ cao nguyên nhiệt đới
Giun móc
Bunostomum spp
Gaigeriapachyscelis
Agriostomum veryburgi
Giun móc hút máu gây thiếu máu, ỉa chảy, gầy yếu; G pachycelis chỉ thấy ở dê cừu vùng nhiệt đới và á nhiệt đới A.veryburgi thấy ở trâu bò châu á và Nam Mỹ
Giun ở ruột già
Chabertia ovina
Oesophagostomum spp
Nhiễm giun nặng gây viêm ruột chảy máu ở ruột già (colitis) dẫn tới ỉa chảy và thiếu máu; nguyên thuỷ là mầm bệnh ở cừu và dê vùng có mưa mùa đông
Nhiễm nặng gây viêm kết tràng có hạt (Nodular colitis) sinh ỉa chảy và gầy yếu; thấy ở khắp thế giới, đặc biệt ở vùng khí hậu ấm, ẩm
Một hiện tượng khác ảnh hưởng đến đồng cỏ, đặc biệt là đối với dê cừu là sự gia tăng sốư lượng trứng giun thải vào phân của con cái khi sắp đẻ Hiện tượng đó gọi là hiện tượng gia tăng quanh thời gian gia súc sắp đẻ (Peri-parturient rise, PPR) và do tạm thời mất sức miễn dịch chống giun sán nên kết quả là giun hoạt động tích cực hơn, số lượng trở nên đông hơn, sản sinh nhiều trứng hơn thải vào phán Điều đó dẫn tới tăng ấu trùng cảm nhiễm L3 trên
đồng cỏ khi gia súc đẻ Dê cừu non rất mẫn cảm với giun sán và do đó đặc biệt là có nguy cơ nhiễm bệnh
ấu trùng trên đồng cỏ chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu Những điều kiện tối ưu cho ấu trùng L3 phát triển là độ ẩm tương đối cao và nhiệt độ môi trường là 18 - 260C Điều kiện khô
và nóng diệt ấu trùng trên đồng cỏ, điều kiện lạnh làm chậm lại quá trình nở và phát triển của
ấu trùng
Mật độ gia súc cũng ảnh hưởng tới dịch tễ học giun sán Cỏ thấp trên đồng cỏ chăn thả đông gia súc rất có thể bị ô nhiễm hơn với ấu trùng L3, do đó dễ gáy nhiễm hơn so với đồng cỏ chăn thả thưa
Những yếu tố này, hiện tượng cận sinh, hiện tượng gia tăng khi gia súc sắp đẻ, khí hậu và mật
Trang 3đồng cỏ Những gia súc ăn trên đồng cỏ có thể dễ ăn phải ấu trùng L3 hơn là gia súc ăn lá cây và bụi cây, vì vậy giun sán ở cừu và bò phổ biến hơn ở dê
Điều trị Có nhiều thuốc rất có tác dụng để điều trị giun sán (thuốc tẩy giun sán) Bảng 13.2
tóm tắt một số thuốc sử dụng phổ biến Phải sử dụng thuốc tẩy giun sán cẩn thận để giảm tối
đa hiện tượng kháng thuốc phát triển Giun sán phát triển kháng thuốc nếu dùng thường xuyên với liều thấp hơn qui định, sử dụng bừa bãi hay dùng một loại thuốc liên tục trong một thời gian dài Một số thuốc Benzimidazole hiện có trên thị trường (xem ví dụ ở Bảng 13.2 và 13.3) và rất tiếc là nếu quần thể giun sán phát triển kháng với bất cứ một thuốc nào trong số
đỏ thì chúng có thể kháng chéo với các thuốc khác Vì vậy giám sát của thú y là khâu then chốt ở nơi dùng thuốc tẩy giun sán định kì
Phòng chống Trong chăn nuôi thâm canh, quản lý chăn thả cẩn thận có thể giảm tối đa mức
độ ấu trùng L3 trên đồng cỏ Tuy nhiên, điều này ít có tính kha thi trong chăn nuôi quảng canh, nên việc khống chế dựa gần như hoàn toàn vào sử dụng thuốc tẩy giun sán Mặt dù nhiều người chăn nuôi tự sử dụng thuốc tẩy giun sán và không có lý do gì tại sao lại không, tìm hướng dẫn của chuyên môn thú y vẫn là khôn ngoan Bằng cách đánh giá các yếu tố khác nhau, các bác sỹ thú y có thể khuyên thời điểm tẩy giun sán trong năm cho gia súc chăn thả
và thuốc phù hợp nhất Biện pháp chiến lược như vậy sẽ đảm bảo sử dụng tối ưu thuốc tẩy giun sán và có thê tiết kiệm được rất nhiều tiền nhờ tránh được tổn thất về năng suất và lãnh phí thuốc tẩy
Nhận xét Tầm quan trọng của giun sán ở gia súc chăn thả ở các nước nhiệt đới không thể ước
đoán quá mức Mặc dù quan trọng nhưng bệnh tương đối dễ chẩn đoán, thường dựa vào xét nghiệm phân, nếu cần mổ khám, để xác định chính xác loài giun sán liên quan Người chăn nuôi có vấn đề giun sán trong đàn gia súc của mình phải luôn tìm hướng dẫn của thú y để đảm bảo có biện pháp khống chế đúng đắn
Do hiện tượng kháng thuốc rộng rãi của một loài giun sán dạ dầy-ruột đối với một số thuốc tẩy nên ở một số nước đang xúc tiến nghiên cứu tăng sức đề kháng đối với tác hại của giun sán và tiến tới phát triển vacxin chống giun sán
Trang 4Hình 13.1 Vòng đời điển hình của giun sán
dạ dầy và ruột ở loài nhai lại chăn thả
Các yếu tố ảnh hưởng tới các giai đoạn của vòng đời cơ bản
1 Khí hậu Điều kiện tối ưu cho ấu trùng cam nhiễm (L3) phát triển là nhiệt độ 18-260
C và độ ẩm cao Nhiệt
độ cao giết chết ấu trùng Nhiệt độ thấp làm ngừng phát triển cua ấu trùng.
2 - 3 Hiện tượng cận sinh Là hiện tượng ấu trùng L3 bị ăn phải ngừng phát triển thành dạng trương thành cho
tới khi đlều kiện môi trường thích hợp để trứng theo phân ra ngoài phát triển thành ấu trùng L3 trên đồng cỏ ở vùng nhiệt đới, hiện tượng cận sinh thường xẩy ra trong mùa khô Khi bắt đầu mưa và điều kiện phù hợp cho trứng nở, hiện tượng cận sinh chấm dứt và ấu trùng hoàn tất sự phát triển của chúng tới aạng trưởng thành.
4 Hiện tượng gia tăng quanh thời gian gia súc sắp đẻ (Peri-parturlent rise, PPR) Là hiện tượng ở dê cừu trong đó miễn dịch chống giun sán tạm thời giảm đi quanh thời gian gia súc sắp đẻ Kết quả là gia súc cái trưởng thành dễ bị nhiễm hơn, quần thể giun sán đang cư trú trong có thể trơ nên hoạt động mạnh hơn Hậu quả cuối cùng là số lượng trứng giun sẽ thải qua phân tăng đột ngột cùng thời gian sinh ra cừu con và dê con mẫn cảm.
1.2 Giun phổi ở loài nhai lại
Tên khác Viêm phế quản do ký sinh trùng (Parasitic bronchitis)
Định nghĩa Bệnh nhiễm trùng phổi do giun Dictyocaulus, D viviparus ở bò và D filaria ở dê cừu
Trang 5Phân bố Nguyên thuỷ là bệnh vùng khí hậu ôn đới nhưng giun phổi của bò có thể xẩy ra trên
cao nguyên nhiệt đới trong khi D filaria phổ biến nhiễm trên dê cừu vùng á nhiệt đới có mưa trong mùa đông
Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng thường chỉ giới hạn ở gia súc non, bao gồm thở khó, ho
và viêm phổi Mức độ nghiêm trọng của triệu chứng phụ thuộc vào mức độ nhiễm bệnh
Bảng 13.2 Một sốthuôc tẩy giun, sán cho gia súc
Benzinmidazoles
Giun sán do động vật
chân đốt truyền
Đau bướu vai
Loét mùa hè
Giun mắt
Bệnh giun hạt
Bệnh sán dây
+
+ + + +
+
+
Giun ở loài nhai lại
Giun dạ dầy và ruột
Giun móc
Giun phổi
Giun đũa
Giun tai
+ + + +
+ + + +
+ + + +
+ + +
+ + +
Giun ở lợn
Giun dạ dầy
Giun đũa
Giun đầu gai
Strongyloides ransomi
Oesophagostomum spp
Trichurius suis
Stephanurus dentatus
+ +
+ + +
+ +
+
+
+ + + + +
+
+ + + + + + +
+
Giun ở ngựa
Giun dạ dầy
Giun đũa
Strongyloides westeri
Giun xoăn
+
+
+ + +
+ +
+ + + +
+
Feb = Febantel; Fenb = Fenbendazole; Thiab = Thiabendazole;
Ivermec = Ivermectin; Levan = levamizole; Pip = Piperazine
Trang 6Bảng 13.3 Một số thuốc tẩy sán lá cho gia súc.
Sán lá gan Fasciola spp
Cấp tính
á cấp tính
và mạn tính
Sán lá gan Dicrocoelim spp
Sán dạ cỏ Paramphistom um
Sán máu Schistosomum spp
Benzimidazoles
Fenbendazole
+
Salicylanilides
Rafoxanide
Closantel
Oxyclozanide
+ + +
+
Nitroxynil
Trichlorphon
Tartar emetic
Praziquantel
+
+ + +
Cách lây lan Giun trưởng thành sống trong đường hô hấp của phổi, khí quản và phế quản
(Hình 13.2) Giun rất mảnh, dài độ 3-5 cm, dễ dàng nhìn thấy khi mổ khám đường hô hấp của phổi Giun trưởng thành đẻ trứng có chứa ấu trùng, ấu trùng nở nhanh và bị ho bật lên, nuốt vào đường tiêu hoá và thải ra ngoài qua phân trên đồng cỏ, ở đó chúng phát triển thành
ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn ba (L3) ấu trùng L3 di hành từ ruột đến vị trí cuối cùng là phổi, lột xác 2 lần trên đường di hành trước khi phát triển thành giun trưởng thành, cả quá trình phát triển mất vài tuần
Điều trị Một số thuốc tẩy có hiệu quả, xem bảng 13.2.
Phòng chống Có thể tiêm phòng cho bò bằng cách cho uống vắc-xin sống, loại vắc-xin duy
nhất hiện có đối với giun Mặc dù vắc-xin này dùng định kì ở Bắc Âu, những nơi khác ít dùng Ngoài ra áp dụng những nhận xét về khống chế giun sán dạ dầy và ruột cho giun phổi
Nhận xét Bệnh giun phổi trâu bò có thể là bệnh chính ở Bắc Âu cần thiết có biện pháp khống
chế thường quy D filaria ở dê cừu thường ít nghiêm trọng hơn mặc dù thỉnh thoảng cũng gây bệnh May mắn là bệnh giun phổi ít khi thành vấn đề đáng kể ở vùng nhiệt đới Tuy nhiên, nếu nghi ngờ phải luôn tìm hướng dẫn về thú y để điều tra bệnh này và đề xuất biện pháp khống chế thích hợp Các loài giun khác cũng có thể nhiễm vào phổi của cừu nhưng hiếm khi gây bệnh
Trang 7Hình 13.2 Bệnh giun phổi ở bò:
rất nhiều giun phổi tìm thấy trong khí quản.
1.3 Bệnh giun đũa bê nghé
Định nghĩa Bệnh ở bê nghé non do một loài giun đũa tròn to, Toxocara vitulorum
(Neoascaris vitulorum)
Phân bố ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới khắp thế giới
Triệu chứng lâm sàng ủ rũ, gầy yếu, đôi khi ỉa chảy và chết đặc biệt là nghé Triệu chứng
lâm sàng thường chỉ thấy ở bê nghé dưới 6 tháng tuổi
Cách lây lan Trứng thải vào môi trường qua phân của bê nghé nhiễm bệnh trở thành cảm
nhiễm sau vài tuần Vì vỏ trứng dầy nên trứng có'thể sống sót vài năm trong hầu hết các môi trường trừ điều kiện khô và nóng Nếu bị gia súc 6 tháng tuổi hay hơn ăn, trứng nở thành ấu trùng và di hành tới các tổ chức khác nhau, ở đó chúng duy trì trạng thái ngủ Vào cuối kỳ chửa của gia súc, ấu trùng ngủ phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm giai đoạn ba (L3) thải vào trong sữa cho tới 30 ngày sau khi đẻ và truyền sang bê nghé sơ sinh bú mẹ Đây là nguồn nhiễm chủ yếu đối với bê nghé và có thể dẫn tới nhiễm nặng giun đũa trưởng thành dài tới 30cm ở ruột non
Điều trị Có thể dễ dàng tẩy giai đoạn trưởng thành của giun đũa T.vitulorum, tìm thuốc tẩy
giun phù hợp ở Bảng 13.2
Phòng chống Bê nghé trong vài tuần tuổi đầu đặc biệt có nguy cơ nhiễm giun nên phải tẩy
giun vào tuần tuổi thứ ba và thứ sáu Tẩy như vậy vừa phòng bệnh về lâm sàng vừa ngăn ngừa
ấu trùng nhiễm ở bê nghé phát triển thành giun trưởng thành, do đó giảm bớt thải trứng giun gây ô nhiễm môi trường Chuồng bê nghé phải thường xuyên vệ sinh để ngăn ngừa tích tụ trứng giun đũa ở môi trường
Nhận xét Bê nghé có thể nhiễm giun đũa từ sữa mẹ trong vài tuần tuổi đầu tiên Tuy nhiên,
sau vài tháng tuổi những giun này thường bị đào thải ra khỏi cơ thể nên đối với bò nhiễm giun
đũa ở lứa tuổi bê nghé thường không bị phát hiện Tuy nhiên, nghé có khả năng mắc bệnh giun đũa và khi nhiễm nặng có thể chết Do đó việc tẩy giun nêu ở trên đặc biệt có lợi đối với nghé
Trang 81.4 Bệnh sán lá gan loài nhai lại (Liver fluke)
Tên khác bệnh do Fasciola (Fasciolosis)
Định nghĩa Bệnh ở gan của gia súc chăn thả chủ yếu là loài nhai lại do sán có hình lá gây nên
gồm Fasciola hepatica và F gigantica Người cũng có thể nhiễm bệnh
Phân bố Bệnh phân bố toàn cầu Ký sinh trùng có vòng đời phức tạp liên quan nhiều loài
Lymnaea spp khác nhau của lưỡng thê và ốc nước ngọt là vật chủ trung gian, bệnh xẩy ra khi gia súc chăn thả ở nơi cư trú của những ốc này như mương rãnh, vùng đầm lầy, rìa các kênh tưới tiêu và đồng báng ngập nước v.v
Những loài ốc truyền F hepatia thấy trên khắp thế giới mặc dù ở vùng nhiệt đới chúng có thể chỉ hạn chế ở những khu vực cao mát, còn F gigantica chỉ xẩy ra ở những vùng khí hậu ấm
áp, thấy ở châu Phi nơi chúng chiếm ưu thế so với F hepatica, ở Nam Âu, Nam Mỹ, Trung
Đông, tiểu lục địa ấ n Độ, Đông Nam á và một số đảo ở Thái Bình Dương ở một số vùng
có cả hai loài dẫn tới nhiễm sán hỗn hợp
Triệu chứng lâm sàng Sau khi nhiễm, sán non di hành qua gan vào ống mật và túi mật Mức
độ nghiêm trọng của triệu chứng lâm sàng phụ thuộc vào số lượng ký sinh trùng ăn phải và khoảng thời gian nhiễm sán
Bệnh sán lá gan cấp tính do ăn phải số lượng lớn ký sinh trùng từ nơi chăn thả nhiễm sán trong một thời gian ngắn Số lượng lớn sán non di hành gây tổn thương cấp tính và xuất huyết
ở gan Gia súc ủ rũ, yếu, lợi và mắt nhợt nhạt và chết nhanh trong vòng 1-2 ngày Thể bệnh này thấy phổ biến nhất ở cừu non
Bệnh sán lá gan mạn tính là thê bệnh phổ biến nhất của loài nhai lại do ăn phải số lượng vừa phải ký sinh trùng trong một thời gian dài dẫn tới tích tụ sán trưởng thành trong ống mật và túi mật (Hình 13 3) Bệnh gây tổn thương gan, mất protein trong huyết thanh và thiếu máu Gia súc trở nên kiệt sức, lợi và mắt nhợt nhạt và điển hình phát triển thành “hàm hình chai” do phù ở dưới hàm (Hình 13 4) Tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của bệnh, tiếp theo gia súc không được điều trị sẽ chết trong khoảng 2-3 tháng tiếp theo, mặc dù nhiều con sống sót lâu hơn và cuối cùng có thể khỏi bệnh nếu không bị nhiễm lại Bò mắc sán lá gan mạn tính có thể có ỉa chảy nhưng có khuynh hướng đào thải hầu hết mầm bệnh sau khoảng 6 tháng
Cách lây lan Hình 12.5 trình bày vòng đời của Fasiola Trứng sán thải ra ngoài qua phân nở
sau khoảng 9 ngày ở nhiệt độ tối ưu (22-260C) giải phóng giai đoạn di động phải bám và chui vào trong ốc Lymnae trong vòng vài giờ Sự phát triển tiếp tục của ấu trùng trong ốc rất phức tạp dẫn tới cuối cùng giải phóng nhiều thể ấu trùng di động bám vào bề mặt rắn như lá cỏ, ở
đó chúng làm kén thành thể cảm nhiễm gọi là metacercaria Nếu vật chủ mẫn cảm ăn phải, metacercaria giải phóng ra sán non trong ruột non, sán non di hành qua gan vào ống mật và
đôi khi vào túi mật Khi trưởng thành sán sẽ đẻ trứng và thải ra ngoài qua phân để tiếp tục vòng đời của sán Gia súc không được tẩy sán sẽ duy trì mầm bệnh thường là vài tháng, nhưng đôi khi lâu hơn và thải trứng vào trong phân
Yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới vòng đời ở nhiệt độ dưới 100C trứng thải ra ngoài qua phân sẽ duy trì trạng thái ngủ và không nở cho tới khi nhiệt độ xung quanh cao hơn Sinh sản của ốc và phát triển của sán trong ốc cũng dừng lại cũng ở nhiệt độ tương tự Trong điều kiện khô và nóng, rất ít metacercaria sống sót trên cỏ
Điều trị Thuốc tẩy sán hiện đại rất có hiệu quả và một số thuốc hiện có (xem Bảng 13.3).
Triclabendazole có ưu điểm là có tác dụng diệt tất cả các giai đoạn của sán từ 1 tuần tuổi và là thuốc được lựa chọn để điều trị bệnh sán lá gan cấp tính Tuy nhiên, đối với các thế bệnh khác, tất cả các thuốc đều có hiệu lực như nhau
Trang 9Phòng chống Có thể khống chế bệnh sán lá gan bằng cách ngăn không cho gia súc đến nơi
ốc sinh sống, khống chế ốc hay xử lý mang tính chiến lược Ngăn không cho gia súc đến chỉ duy nhất thực hiện được nếu nơi ốc cư trú hạn chế và có thể rào lại Quần thể ốc có thể giảm hay diệt bằng cách tháo cạn nơi ốc sinh sống hay dùng thuốc diệt động vật thân mềm Nơi ốc cư trú ở các mương tưới tiêu có thể thay bằng các ống nước Xử lý chiến lược đòi hỏi định kì tẩy sán cho gia súc vào thời gian trong năm có nguy cơ mắc
Nhận xét Nếu nghi là bệnh sán lá gan, bước thứ nhất là gửi mẫu phân những con có triệu
chứng lâm sàng tới phòng xét nghiệm thú y để kiểm tra đơn giản phát hiện trứng sán Nếu đã xác định, hướng dẫn của thú y về quá trình hành động thích hợp là khâu then chốt Người chăn nuôi có thể thực hiện khống chế bằng cách rào, tháo nước, lắp ống tưới tiêu, nhưng cần thiết phải có hướng dẫn chuyên môn về xử lý chiến lược hoặc sử dụng thuốc diệt động vật thân mềm
Hình 13.3 Bệnh sán lá gan:
ống mật trong gan dày lên rõ rệt (giống như cành cây).
Hình 13.4 Bệnh sán lá gan ở cừu: phù “hàm hình chai”.
Trang 10Hình 13.5 Vòng đời của sán lá gan.
1.5 Bệnh sán trong mạch máu loài nhai lại (Schistosomosis)
Tên khác Bệnh ngáy (Snoring disease)
Định nghĩa Bệnh của gia súc và người do các loài sán Schistosoma.
Phân bố Vùng nhiệt đới và á nhiệt đởi khắp thế giới nơi gia súc tiếp cận nơi cư trú của các vật
chủ trung gian là ốc nước ngọt
Triệu chứng lâm sàng Sán Schostosoma ký sinh trong mạch máu, hầu hết sán có tầm quan