1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN vấn đề đào tạo con người trong triết lý của nho giáo và sự vận dụng của hồ chí minh về xây dựng con người XHCN ở việt nam hiện nay

25 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 61,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nho giáo là một hình thái ý thức xã hội, đã từng trải qua những bước thăng trầm trong lịch sử, nó có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần của nhân dân các nước trong “vành đai Nho giáo”. Những tư tưởng Nho giáo đã từng in đậm trong tâm thức của nhân dân Việt Nam và góp phần tạo nên những giá trị văn hoá truyền thống, tạo nên nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc Việt Nam, lưu truyền đến ngày nay. Trong xã hội hiện đại, tuy Nho giáo không còn giữ vai trò thống trị và chỉ tồn tại với tư cách là một học thuyết chính trị xã hội và đạo đức, song những nguyên lý cơ bản của nó vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng, tác động nhất định đến sự phát triển của các nước nói trên, đặc biệt là vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo có giá trị to lớn.

Trang 1

KHOA …



TIỂU LUẬNChủ đề: VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO CON NGƯỜI TRONG TRIẾT LÝ CỦA NHO GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG

CON NGƯỜI XHCN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Họ tên học viên:……….

Lớp:……….,

– 2021

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

1 Khái quát những tư tưởng cơ bản của Nho giáo và sự

phát triển của nó trong quá trình tồn tại 2

2 Vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo 6

3 Sự vận dụng của Hồ Chí Minh về xây dựng con người

Trang 3

MỞ ĐẦU

Nho giáo là một hình thái ý thức xã hội, đã từng trải qua những bướcthăng trầm trong lịch sử, nó có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống tinh thần củanhân dân các nước trong “vành đai Nho giáo” Những tư tưởng Nho giáo đãtừng in đậm trong tâm thức của nhân dân Việt Nam và góp phần tạo nên nhữnggiá trị văn hoá truyền thống, tạo nên nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc Việt Nam,lưu truyền đến ngày nay Trong xã hội hiện đại, tuy Nho giáo không còn giữ vaitrò thống trị và chỉ tồn tại với tư cách là một học thuyết chính trị - xã hội và đạođức, song những nguyên lý cơ bản của nó vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng, tác độngnhất định đến sự phát triển của các nước nói trên, đặc biệt là vấn đề đào tạo conngười trong triết lý của Nho giáo có giá trị to lớn

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản quý báu của nhân dân ta và cũng là tàisản văn hoá chung của cả nhân loại Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng

Hồ Chí Minh đã được Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn là nền tảng tư tưởng, kimchỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam Tư tưởng triết học Chủ tịch

Hồ Chí Minh là sự phát triển mới của chủ nghĩa Mác - Lênin và có sự vận dụngsáng tạo vào điều kiện thực tiễn ở Việt Nam [1, tr.67] Nội dung tư tưởng triếthọc Hồ Chí Minh được thể hiện trong toàn bộ di sản lý luận của Người mà vấn

đề quan trọng nhất là xây dựng con người

Chính vì vậy, việc nghiên cứu: “Vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo và sự vận dụng của Hồ Chí Minh về xây dựng con người xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa rất thiết thực góp phần làm rõ thêm

tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người, làm giàu thêm giá trị di sản tưtưởng của Người, đồng thời khẳng định sự vận dụng sáng tạo của Hồ Chí Minh

về vấn đề đào tạo con người trong triết lý Nho giáo, từ đó vận dụng xây dựngcon người mới đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay

Trang 4

NỘI DUNG

1 Khái quát những tư tưởng cơ bản của Nho giáo và sự phát triển của nó trong quá trình tồn tại

“Nho giáo” là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “Nho” theo gốc Hán tự,

“Nho” là chữ “Nhân” đứng cạnh chữ “Nhu” (mềm mỏng) Tư tưởng chính củaNho là phép đối nhân xử thế ở đời sao cho phù hợp với tôn ti trật tự trong xã hội,được xuất phát từ thời Tây Chu

Đến thời Xuân Thu, Khổng tử đã hệ thống những tư tưởng và tri thứctrước đó thành học thuyết, gồm các tác phẩm: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc và viếtsách Xuân Thu để bộc lộ quan điểm của mình Các thế hệ học trò tiếp theo đãdựa vào tư tưởng của Khổng Tử, viết thành sách Luận Ngữ, Đại Học, TrungDung, Mạnh Tử (Tứ thư) Tứ thư và Ngũ kinh đã trở thành kinh điển của ĐạoNho, là con đường mà đi theo đó, nhân loại sẽ đạt tới một xã hội hoà mục, mộtthế giới đại đồng như Khổng Tử hằng mơ ước Người đời sau đã gắn học thuyếtnày với tên người sáng lập ra nó là Khổng Tử, cho nên Đạo Nho còn được gọi làĐạo Khổng

Khổng Tử (551 - 479 tr.CN), tên Khâu, tự Trọng Ni, sinh ra ở nước Lỗ,trong một gia đình quý tộc bị sa sút Sinh ra và lớn lên trong thời đại “Vươngđạo suy vi, bá đạo trị vì”, xã hội loạn lạc triền miên, vua quan chém giết lẫnnhau để tranh hùng, xưng bá; luân thường, đạo lý của xã hội bị đảo lộn, thiện áckhó phân minh… Vì thế, Khổng Tử muốn đem tài sức của mình để giúp ổn định

xã hội theo kiểu thời Tây Chu Ông đã đi nhiều nơi và ra sức truyền bá tư tưởngcủa mình nhưng vẫn không được trọng dụng Cuối đời, ông quay trở về quê đểdạy học, viết sách và trở thành người khai sáng học thuyết Nho giáo

Học thuyết của Khổng Tử được khái quát thành hệ thống quan niệm vềmối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội, về lẽ sống và tính cách củacon người Mục đích của học thuyết này chủ yếu là đề cao “lễ nhạc” và “nhânnghĩa”, chủ xướng đạo “trung thứ” (hết lòng vì người, điều gì mình muốn đạtđược thì cũng giúp cho người khác đạt được, điều gì mình không muốn thì cũngkhông đem áp đặt cho người khác) và đạo “trung dung” (không thiên lệch) Về

Trang 5

chính trị thì chủ trương thi hành “đức trị” và “nhân chính” (chính sách nhân từ).

Về đạo đức thì coi trọng việc giáo dục luân lý cũng như sự tu tâm, dưỡng tínhcho mỗi con người

Khổng Tử xây dựng hệ thống quan niệm ấy không trên cơ sở từ kinh tế

-xã hội, mà chỉ dựa vào những quan niệm về bản chất tâm lý - -xã hội và quanniệm về đạo đức của con người Cái bản chất tâm lý - xã hội và đạo đức đó, theoKhổng Tử là “nhân” Do vậy, phạm trù “nhân” vừa là xuất phát điểm, vừa là hạtnhân tạo nên hệ thống các phạm trù khác, có liên quan chặt chẽ với nhau Trong

hệ thống các phạm trù ấy thì ba phạm trù “nhân”, “lễ” và “chính danh” có nộidung và ý nghĩa quan trọng nhất, tạo nên một triết lý nhân sinh có bản sắc hếtsức độc đáo

Khổng Tử quan niệm “nhân” là đạo đức hoàn thiện nhất với cốt lõi là lòngthương yêu con người; vì thế, ông luôn đề cao “đức nhân”, bản thể hoá “đạonhân”, coi đó là đạo của trời đất, là bản chất của con người, là gốc rễ nảy sinhcác đức tính tốt khác của con người; trong “Luận ngữ” Khổng Tử đã hơn 100lần đề cập đến chữ “nhân” … Do vậy, Khổng Tử luôn khuyên con người phấnđấu để đạt tới đạo nhân, với những nội dung chủ yếu là: coi lợi ích của ngườikhác như của chính mình; mình muốn lập thân thì phải giúp cho người khác lậpthân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp cho người khác thành đạt; tôn trọng vàtuân theo các chuẩn mực của xã hội; thực hiện trọn đạo làm người Muốn trởthành người có lòng nhân thì phải thực hiện 5 điều cơ bản: “cung, khoan, tín,mẫn, huệ” Như vậy, “Nhân” là kết tinh cao nhất trong triết lý của Khổng Tử, là

cơ sở lý luận cho đường lối “đức trị” của Nho giáo

Để thi hành tốt đường lối “đức trị”, Khổng Tử chủ trương thi hành “lễ”; bởi

vì, “nhân” được biểu hiện trước hết thông qua “lễ”, “lễ” là phương tiện để đạt tớiđiều “nhân” và là căn nguyên quan trọng nhất tạo nên sự ổn định của xã hội

Khổng Tử cho rằng, trong xã hội, mỗi người đều có một chức năng, địa vịtrong mối quan hệ nhất định, tương ứng với nó là một danh nhất định; vì thế,theo ông, muốn thực hiện đúng lễ thì phải xác định đúng vị trí và danh phận củamình (chính danh); muốn chính danh thì phải lấy lễ làm chuẩn mực và phải hành

Trang 6

động sao cho tương xứng giữa thực với danh Danh - thực tương xứng với nhauvừa là điều kiện, vừa là kết quả của việc thực hiện đúng lễ Dó đó, chính danhcũng là con đường để đạt tới điều nhân.

Khổng Tử chia quan hệ của con người trong xã hội thành năm mối quan

hệ (ngũ luân): Quân - Thần, Phụ - Tử, Phu - Phụ, Huynh - Đệ, Bằng - Hữu vàquy định những tiêu chuẩn riêng cho từng mối quan hệ: Quân nhân - thần trung,phụ từ - tử hiếu, phu nghĩa - phụ thính, huynh lương - đệ đễ và bằng hữu phảithành tín Trong các quan hệ trên, Khổng Tử rất coi trọng ba mối quan hệ rườngcột là: Quân - Thần, Phụ - Tử, Phu - Phụ gọi là tam cương

Khổng Tử rất quan tâm đào tạo nên mẫu người Quân tử (Quân: cai trị,Quân tử: người cai trị) để tham gia quản lý điều hành xã hội Muốn thành quân

tử thì trước hết phải tu thân, vì không tu thân thì không thể giúp ích cho đời.Quá trình tu thân phải đạt cho được ba mục đích chính: “Đạt đạo” thông quacách ứng xử “trung dung”, “Đạt đức” thông qua các hành động chuẩn mực vàphải biết “thi”, “thư, “lễ”, “nhạc” Tu thân xong thì phải hành động để “tề gia”,

“trị quốc”, “bình thiên hạ” theo phương châm: đức trị - người cầm quyền phảiluôn nêu gương, cảm hoá người dưới bằng đạo đức trong sáng của mình; lễ trị -người cầm quyền thực hiện cai trị bằng cách duy trì các chuẩn mực mà conngười phải tuân theo và văn trị - người cầm quyền phải coi trọng văn hiến để thuphục nhân tâm

Tuy không thành công về hoạt động chính trị, nhưng về mặt văn hoá giáodục, Khổng Tử đã có nhiều cống hiến nên được coi là “Đại sư” đầu tiên củaTrung Quốc Trong dạy học, Khổng Tử chú trọng cả ba mặt: đạo đức, kiến thức

và thực tiễn; theo ông, đạo đức có tầm quan trọng hàng đầu Ông thường khuyênhọc trò phải gắn học với hành, phải khiêm tốn và có thái độ thực sự cầu thị tronghọc tập

Tóm lại, học thuyết của Khổng Tử tuy còn mâu thuẫn về thế giới quan vàthừa nhận đường lối chính trị đẳng cấp theo thuyết chính danh, nhưng chứađựng triết lý hành động đầy tính nhân văn, nặng đức nhẹ hình, khuyến khích tuthân để đạt tới một xã hội thái bình thịnh trị Sau khi Khổng Tử mất, học thuyết

Trang 7

của ông được các thế hệ học trò tiếp tục phát triển Tiêu biểu trong số họ làMạnh Tử.

Tư tưởng của Mạnh Tử tập trung vào những vấn đề triết lý nhân sinh,trọng tâm là bản thể nhân tính của con người Mạnh Tử cho rằng, bản tính conngười là thiện, do trời phú cho và chịu tác động của môi trường xã hội; vì thế,ông luôn khuyến khích mọi người tư dưỡng đạo lý để bảo tồn tính thiện

Trên cơ sở học thuyết về tính thiện, theo Mạnh Tử, để thuận với đạo trời vàhợp với lòng người thì nhà cầm quyền phải thi hành thuyết “nhân chính” để trịnước theo tinh thần cốt lõi là “trọng nhân” và “trọng dân” Ông là người đầu tiênnêu tư tưởng: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Mạnh Tử cho rằng, đểnâng cao hiệu quả giáo dục thì phải tuân theo chuẩn mực, chuẩn mực đó chính làđức độ của thánh hiền Ông không chỉ đòi hỏi người học phải chuyên tâm, từ chí,khiêm tốn, cầu tiến, không được tự thoả mãn…, mà còn đòi hỏi người dạy phảiluôn luôn tự sửa lấy mình, luôn giữ lấy cái tâm của mình cho chính, vì “mìnhcong queo thì không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”

Mạnh Tử đã khép lại một giai đoạn quan trọng - giai đoạn hình thành Nhogiáo; còn gọi là Nho giáo nguyên thuỷ, hay Nho giáo tiên Tần, và còn được gọi

là học thuyết Khổng - Mạnh Những công lao của Mạnh Tử thật xứng đáng đểhậu thế phong ông là Á thánh

Thời cổ đại các vua chúa Trung Quốc không tán thưởng Học thuyết Nhogiáo nguyên thuỷ theo tư tưởng Khổng - Mạnh Thế nhưng, từ thời Hán trở đi,Nho giáo được tôn là quốc giáo và trở thành tư tưởng thống trị kéo dài hơn2.000 năm

Nho giáo bị biến đổi lần thứ nhất vào thời Hán, gọi là Hán Nho, gắn vớivai trò của Đổng Trọng Thư Ông đã khuyếch trương những yếu tố duy tâmtrong học thuyết của Khổng - Mạnh, của phái “Âm dương - Ngũ hành” và cáctrường phái khác để nhào nặn nên thứ học thuyết của mình, mang đậm màu sắcthần bí, duy tâm và khắc nghiệt Nho giáo qua bàn tay “chế biến” của ĐổngTrọng Thư đã có bước thụt lùi, nghèo nàn, xơ cứng Nó đã đẻ ra cách học hành

Trang 8

thi cử máy móc, thiếu tính sáng tạo; đồng thời, để lại nhiều tấm gương hiếu trung mù quáng (ngu hiếu, ngu trung) sau này.

-Thời Tuỳ, Đường, không những Nho giáo mà cả Đạo giáo, Phật giáo đềuđược lưu hành và được triều đình ủng hộ Đến đời Tống thì Nho giáo mới quaytrở lại vị trí là quốc giáo và mang tính độc tôn hơn hết, song nó lại có nhữngđiểm khác biệt căn bản do đã tiếp thu khá nhiều tư tưởng của Đạo giáo và Phậtgiáo, nhất là về thế giới quan duy tâm Nho giáo đã bị biến đổi lần thứ hai vàođời Tống, gọi là Tống Nho, gắn với vai trò của các bậc danh nho thời đó, tiêubiểu là Chu Hy Chu Hy đã đưa các khái niệm “Lý” và “Khí” vào giải thích bảnthể luận một cách cụ thể và chặt chẽ, nhưng đã thủ tiêu mất ý nghĩa có tính biệnchứng trong học thuyết âm- dương Mặt khác, việc bổ sung khái niệm “tiết liệt”vào cách ứng xử đã tạo nên sự khác biệt lớn trong quan niệm về đạo đức giữaTống Nho với Nho giáo trước đó Tuy nhiên, Chu Hy cũng có công trong việcgiảng giải, chú thích các sách kinh điển của Nho giáo một cách sâu sắc hơn

Các triều đại Minh, Thanh về sau, mặc dù cũng xuất hiện nhiều nhà nhonổi tiếng và có bổ sung thêm một số tư tưởng mới vào Nho giáo; song, về cănbản đều theo những tư tưởng của Tống Nho

Như vậy, trước yêu cầu củng cố vương quyền và rút kinh nghiệm thất bạicủa nhà Tần, các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này đã sử dụng Nho giáogắn với thi hành pháp trị để thực hiện bá đạo Thực chất của việc đưa Nho giáolên vị trí độc tôn ở đời Hán là để ngăn cấm mọi tự do học thuật và tạo điều kiệncho việc diễn giải xuyên tạc các quan điểm của Nho giáo theo tư tưởng Phápgia, đời Tống lại càng mạo danh Nho giáo để thực hành Pháp gia quyết liệt hơn

Vì thế, những yếu tố tích cực trong học thuyết Nho giáo thời Khổng - Mạnhngày càng bị lu mờ theo thời gian

2 Vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo

Đào tạo con người - giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong triết lý củaNho giáo Vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo xuất phát từ luậnđiểm cho rằng tuy bản chất đơn sơ của mọi người gần giống nhau, song do sựtác động của môi trường, của điều kiện sống sẽ đem lại lại cho người này tính

Trang 9

lành, kẻ kia tính ác Nội dung đào tạo con người trong triết lý của Nho giáokhông đi vào các nghề làm ruộng, làm vườn, cầm quân, đánh giặc mà chuyêndạy cách làm người, dạy đạo lý, dạy nghĩa vụ cuộc đời, dạy tu dưỡng tinh thần,chau chuốt nhân cách và ít nhiều dạy văn chương, nhạc nghệ.

Chủ trương đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo là bình dân giáodục, xóa nạn mũ chữ trong toàn dân

Nội dung đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo là cho dân khônglàm điều ác, không phạm tội Nếu không giáo hóa dân, để dân phạm tội rồi giết,như vậy tàn ngược Với quyết định này, thì trước hết phải dạy cho dân biết điềuthiện, ác để mà thực thi

Về phương pháp đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo chủ trươngtrước hết phải dạy những điều đơn giản, sau đó dần dần dạy đến những điều

phức tạp Trả lời vấn đề học như thế nào và cách học, cách dạy “Tiên chi dĩ Thi

Thư, nhi đạo chi dĩ hiếu đễ, thuyết chi dĩ nhân nghĩa, quan chi dĩ lễ nhạc, nhiên hậu thành chi dĩ văn đức”: trước hết dùng những điều đơn giản hàng ngày mà

dạy, rồi lấy hiếu đễ mà dẫn dắt người ta, lấy nhân nghĩa mà giảng dụ, lấy lễ nhạc

khiến người ta xem xét, sau cùng mới lấy văn đức để dạy cho nên người (Khổng

Tử gia ngữ: Đệ tử hạnh, XII), bởi vì “Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc”: Thi

làm cho ý chí hứng khởi, lễ sửa sang cho phẩm cách đứng đắn, nhạc điều hoà cho

tính tình hoàn hảo (Luận ngữ: Thái bá, VII) Khi dạy điều gì cũng phải khơi dậy

tính năng động tư duy của người học, người học phải cố gắng suy nghĩ để tìm hiểu

vấn đề thì sự học mới vững chắc, ngược lại thì “Bất phẫn bất khải, bất phỉ bất

phát Cử nhất ngung bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã”: nếu không ham

hiểu biết thì không dạy cho, không nói ra được thì không bày cho Vật có bốn góc,bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa

Theo triết lý của Nho giáo, việc đào tạo con người có hai phần Phần côngtruyền nói về luân thường đạo lý để dạy cho mọi người Phần tâm truyền nói vềnhững điều cao xa, chỉ dạy riêng cho người có tư chất đặc biệt, người học phải tựhọc để hiểu lấy, người dạy không nhất thiết phải giảng giải nhiều Hơn nữa, conngười ai cũng có sẵn cái tính giống nhau do trời phú cho, nhưng vì tập nhiễm lâu

Trang 10

ngày nên khác nhau, chỉ có tính của bậc thượng trí và kẻ hạ ngu là không hềthay đổi Thế nhưng, trong xã hội, bậc thượng trí và kẻ hạ ngu luôn là số ít, phầnđông là hạng trung nhân có thể dạy bảo được.

Cũng theo triết lý của Nho giáo, để nâng hiệu quả dạy học thì cả người dạylẫn người học đều phải tuân theo chuẩn mực đức độ của thánh hiền Người dạyphải luôn tự sửa mình, giữ lấy cái tâm của mình cho chính, vì “mình cong queothì không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được”, càng không được xấu

hổ khi học hỏi người dưới, biết thì nói biết, không biết thì nói không biết, nhưthế mới là biết… Người học phải chuyên tâm, từ chí, khiêm tốn, cầu tiến, cầnmẫn, không tự thoả mãn, phải quan sát nhiều, nghe nhiều, hỏi nhiều, có tư duysáng tạo, ôn cũ biết mới, học đi đôi với hành, hành lễ trước rồi mới học văn.Triết lý của Nho giáo quan niệm giáo dục không phải là dạy dỗ đến tậncùng của vấn đề mà phải làm sao dạy ít, người học phải biết nhiều, tức là chỉđịnh hướng để người học phát huy được năng lực nội tại của mình Dạy dỗngười chỉ thúc đẩy chứ không bức bách, chỉ mở lối soi đường chứ không dẫn dắtđến kỳ cùng Nho giáo cũng chủ trương: “Kẻ nào chẳng cố gắng tìm hiểu, tachẳng chỉ cho Kẻ nào chẳng bộc lộ tư tưởng của mình, ta chẳng khai phóngcho Kẻ nào, ta nói một mà chẳng suy ra được ba, ta chẳng dạy cho”

Vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo là “trước hết để tuthân, để gần thì biết thờ cha mẹ cho trọn đạo làm con, xa thì biết thờ đế vươngcho trọn đạo quân thần”, Nho giáo rất quan tâm đến việc áp dụng kiến thức sach

vở vào cuộc sống đời thường của mỗi người Vấn đề đào tạo con người trongtriết lý của Nho giáo luôn nhắc nhở người học của mình: “ngay như cả thuộc hết

ba trăm thiên Kinh Thi nhưng đi sứ không biết ăn, không biết nói thì việc thuộc

ba trăm thiên Kinh Thi ấy cũng bằng thừa”

Vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo được thực hiện theophương châm “tiên học lễ, hậu học văn” Lễ là một trong những phạm trù lớn và

cơ bản của Nho giáo Nội hàm của Lễ phong phú Lễ là lễ nghi (của các việcquan, hôn, tang, tế); là quy định của xã hội về cách cư xử, giao tiếp giữa ngườivới người; là quy định ngôi thứ, vị trí mỗi người trong xã hội; là những chuẩn

Trang 11

tắc, quy củ không thái quá, không bất cập… Khổng Tử rất coi trọng lễ, một mặt,ông bảo vệ các lễ nghi, kỷ cương, luân lý của nhà Chu (Tây chu), mặt khác ông

đề ra những nguyên tắc, nội dung mới hợp lý hóa những tư tưởng đó theo chiềuhướng tiến bộ Chẳng hạn, ông yêu cầu mọi người khi thực hiện lễ cần phải chútrọng cả nội dung và hình thức, cần có thái độ thành tâm và kính trọng…

Sau Khổng Tử, lễ được bổ sung thêm nội dung mới, nhưng nhìn chung nộidung chính của lễ vẫn là luân lý, chuẩn mực, quy phạm của đạo đức phong kiến.Nho giáo coi việc giáo dục đạo đức là vị trí hàng đầu và đặc biệt quan trọng Tưtưởng trên đã chi phối nền giáo dục thời phong kiến ở Trung Quốc cũng như ởViệt Nam Lễ được giáo dục sâu sắc đến mức trở thành tiêu chuẩn để đánh giáhành vi con người, huy động được toàn thể xã hội biết quý trọng người có lễ,khinh ghét người vô lễ, thậm chí đến mức con người thà chết chứ không bỏ lễ.Việc đào tạo con người theo lễ mang tính khắt khe đã gò bó, trói buộc conngười, thủ tiêu tính năng động sáng tạo của cá nhân, làm cho con người thụđộng và do đó xã hội trì trệ Nhưng việc dạy và học theo lễ cũng có mặt tích cực

ở chỗ, nó đã thể hiện sự nghiêm khắc của việc tu dưỡng đạo đức cá nhân, nó làchất keo gắn bó con người trong xã hội, có vai trò quan trọng trong việc duy trì

ổn định, trật tự của xã hội phong kiến

Vấn đề đào tạo con người trong triết lý của Nho giáo chú ý giáo dục nhâncách con người theo các quy phạm đạo đức trong đạo “cương - thường” (tamcương - ngũ thường), khuyên con người giữ và thực hiện đạo lý, giữ cái danhtrong sáng của mình Thực hiện giáo dục nhân cách bằng sự gương mẫu, bằng

sự tu thân, cảm hóa người của người cầm quyền - người có nghĩa vụ giáo hóadân Khổng Tử nói: “Bản thân (nhà cầm quyền) ngay thẳng, tuy không ra lệnh,mọi việc vẫn trôi chảy; bản thân không ngay thẳng, dẫu có ra lệnh dân cũngchẳng theo” (Kỳ thân chính, bất lệnh nhi hành Kỳ thân bất chính, tuy lệnh bấtcùng - Luận Ngữ Tử Lộ) [8, tr.102] Khổng Tử cho rằng, làm chính sự (việcnước) cũng như giáo dục nếu bản thân mình không ngay thẳng thì không thể làmcho người khác ngay thẳng được Do vậy, việc giáo dục phải dùng nhân cáchcủa mình để cảm hóa học trò: “Chính trị là ngay thẳng nếu ngài lấy điều ngay

Trang 12

thẳng dẫn dắt mọi người, thì ai lại dám không ngay thẳng?” (Chính giả chính dã.Quân suất dĩ chính, thục cảm bất chính - Luận Ngữ Nhan Uyên) [8, tr.487].Nho giáo chủ trương giáo dục “Tứ giáo”: “Phu Tử lấy bốn điều để dạyngười: văn chương, đức hạnh, lòng trung thực và lòng thành tín” (Tử dĩ tứ giáo:văn, hạnh, trung, tín - Luận Ngữ Thuật Nhi) [8, tr.361] Trong “tứ giáo”, Khổng

Tử vẫn coi trọng và lấy đức hạnh là cơ bản Nội dung giáo dục là Thi, Lễ, Nhạc,Thư, Dịch và Xuân Thu (Lục Kinh) Mục đích của việc học nội dung trên chính

là để có được lòng nhân (Đức nhân - phẩm chất đạo đức cao quý nhất của conngười mà Nho giáo luôn mong muốn mọi người có được, đặc biệt là người quântử) Ông nói: “Người mà không có lòng nhân, dùng lễ sao được? Người màkhông có lòng nhân, dùng nhạc sao đươc?” (Nhân nhi bất nhân, như lễ hà? Nhânnhi bất nhân, như nhạc hà?- Luận Ngữ - Bát Dật) [8, tr.239]

Những nội dung giáo dục của Nho giáo nêu trên đã cho thấy việc Nho giáo

đề cao giáo dục đạo đức (dạy đạo làm người) là điều hợp lý và có ý nghĩa khôngchỉ trước đây mà còn cho đến ngày nay Ở đâu và lúc nào, nếu không chú trọngviệc giáo dục đạo đức cho con người là ở đó, khi đó, đạo đức xã hội có vấn đề,lấy yêu cầu của hiện tại ra mà phê phán người xưa là phi lịch sử

3 Sự vận dụng của Hồ Chí Minh về xây dựng con người xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Khác với các nhà triết học của giai cấp phong kiến, tư sản xem nhẹ vai tròcủa con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức đúng đắn về vai trò và vị trí củacon người trong mối quan hệ giữa con người, đặc biệt vai trò của con người laođộng với tự nhiên, con người với xã hội và con người với con người người đánhgiá rất cao vai trò nhận thức và cải tạo thế giới của con người Con người trongquan niệm triết học của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ thể của các quá trình xãhội Trong mối quan hệ Thiên - Địa - Nhân hay Thiên thời - Địa lợi - Nhân hoà,Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng cho rằng Nhân hay Nhân hoà là quan trọnghơn cả Người nói: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “Trong thếgiới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” [4, tr.97] Chủ tịch

Hồ Chí Minh phát triển quan niệm “dân vi bản” của các nhà triết học cổ Trung

Ngày đăng: 05/08/2021, 10:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w