Ngày nay, những sự cố nghiêm trọng như chảy máu não, có u… rất dễ dàng phát hiện được vị trí tổn thương nhờ chụp ảnh cắt lớp và đặc biệt là chụp các nhà thần kinh học, tâm lý học đã có
Trang 1Hoạt động của não
Não gồm hai bán cầu não và bốn thùy não với thể tích 1.400
cm3 (trong đó vỏ não
có thể tích 500 cm3),
có từ 10 đến 100 tỷ nơron (tế bào thần kinh) Cấu tạo của não đã
được mổ xẻ (khi cơ thể đã chết)
để tìm hiểu kỹ từ hàng trăm năm nay Trong những năm gần đây,
đã có những phương pháp mới
giúp nhìn được cấu tạo của từng
Trang 2lớp bên trong hộp sọ khi cơ thể đang sống Ngày nay, những sự
cố nghiêm trọng như chảy máu não, có u… rất dễ dàng phát hiện được vị trí tổn thương nhờ chụp ảnh cắt lớp và đặc biệt là chụp
các nhà thần kinh học, tâm lý học
đã có những chương trình nghiên cứu về chức năng, hoạt động của từng khu vực ở não và dần dần
Trang 3hé mở nhiều điều mới lạ Science
et Avenir số tháng 6.2005 đã đưa
ra một số thông tin mới về sử
dụng các phương pháp này
Trung tâm nghiên cứu về não
Neurospin của châu Âu
Cuối năm 2006 sẽ hoàn thành việc xây dựng Trung tâm Neurospin của châu Âu đặt tại Saint Aubin
(Essone, Pháp) Các thiết bị kỹ
thuật để nhìn thấy não hoạt động hiện đại nhất sẽ có ở đây Máy
chụp ảnh cộng hưởng từ hạt nhân phổ biến hiện nay làm việc với
cuộn dây siêu dẫn tạo ra từ trường
cỡ 1,5-3 T, cho phép thấy được não
Trang 4với độ phân giải không gian cỡ vài milimet, tức là thấy được những
cụm hàng triệu nơron Neurospin sẽ trang bị máy MRI với nam châm
11,7 T để nghiên cứu cơ thể người,
độ phân giải sẽ tốt hơn 10 lần,
nghĩa là thấy được những những
cụm hàng nghìn nơron Sẽ có MRI với nam châm 17 T để nghiên cứu tiền lâm sàng (ở chuột), lúc đó sẽ thử nghiên cứu MRI đối với từng nơtron một Bên cạnh việc cải tiến các phương pháp EEG, MEG và
PET, sẽ phát triển MRI chức năng (fMRI) và MRI khuyếch tán, nhằm nghiên cứu những chỗ nối, những tiếp xúc về thần kinh vỏ não, tìm ra những đường chính, đường phụ về
Trang 5truyền thông tin ở não
Máy phát hiện nói dối
Daniel Langleben ở Đại học
Pennsylvanie (Mỹ) đã làm một
thiết bị phát hiện nói dối trên cơ sở MRI Năm 2002, nghiên cứu trên những người tình nguyện, đã tìm thấy khi nói dối thì khu vực này
hoạt động, lúc nào nói thật thì khu vực kia hoạt động Bên cạnh những phương pháp khác như PET, EEG, MEG, phương pháp dùng MRI cho nhiều kết quả xác thực và người ta đang tìm cách để được công nhận
là một chứng cứ pháp lý
Trang 6Ở Mỹ, tháng 8.1999 có một kẻ giết người đã được trắc nghiệm bằng
EEG và xác minh là đúng Ngược lại, tháng 2.2003, một nghi can
được xử là vô tội nhờ kỹ thuật này
Có bướu toán học, có trung tâm tính toán ở não hay không?
Nhiều nghiên cứu chứng minh
được rằng, ở đỉnh vỏ não có một
vùng cứ nhộn nhịp hẳn lên khi thực hiện tính toán (so sánh, ước lượng, tính nhẩm…) Khi làm phép trừ,
phép cộng, khi thao tác với những con số, nơron vùng đó hoạt động Nhưng không phải đó là vùng duy nhất vì người ta phát hiện thấy một
Trang 7số vùng ở vỏ não trước, ở đỉnh bán cầu trái cũng làm việc Nhìn kỹ thì thấy ở những khu vực này có một
số môđun hoạt động khi tính toán Như vậy, hiện nay người ta chưa công nhận chức năng tính toán tập trung vào một khu vực ở não mà phân tán, kết hợp với nhiều vùng khác nhau
Nghiên cứu cũng thấy rằng, khả
năng toán học của trẻ em phát triển rất tự nhiên Trước khi biết nói, trẻ
em đã có ý niệm về con số qua
những ví dụ thực tế khi bắt đầu nói được và khi được luyện tập, khả
năng tính toán của trẻ em tăng dần lên
Trang 8Những người có biệt tài tính nhanh, nhớ nhiều con số, nhớ nhiều thứ… không phải là do các vùng tính toán thường có ở não phát triển hoạt
động mạnh Trái lại những người này kích hoạt được những vùng
phụ của vỏ não (những diện tích
Trang 9động thần kinh, người ta đã đi đến kết luận là việc đào tạo về âm nhạc, thể thao và một số năng khiếu…
phải bắt đầu từ tuổi nào thì mới có hiệu quả tốt
từ tương tự như có gắn một thanh
Trang 10nam châm cực nhỏ Dưới tác dụng của từ trường ngoài, momen từ của hạt nhân nguyên tử quay đảo tương
tự như con quay dưới tác dụng của trọng trường trên mặt đất Nếu hạt nhân đang quay đảo với tần số w
mà có thêm sóng vô tuyến cùng tần
số w tác dụng, hạt nhân sẽ quay
đảo cực mạnh vì có hiện tượng
cộng hưởng Đó là cộng hưởng từ hạt nhân Khi ngừng tác dụng sóng
vô tuyến, hạt nhân sẽ từ trạng thái quay đảo cực mạnh trở về trạng
thái quay đảo bình thường Hạt
nhân có momen từ quay như vậy sẽ sinh ra sóng điện từ phát ra không gian xung quanh, có thể đo được sóng điện từ đó nếu đặt vào đấy
Trang 11một cuộn dây điện
Việc hạt nhân từ trạng thái quay
đảo mạnh do cộng hưởng trở về
trạng thái quay đảo bình thường
nhanh hay chậm còn tùy thuộc vào các nguyên tử quanh hạt nhân cản trở chuyển động quay ít hay nhiều
Ví dụ, hạt nhân của nguyên tử H
trong phân tử nước (H2O) của máu,
từ trạng thái cộng hưởng quay về trạng thái thường rất nhanh nếu
máu đang lưu thông trong mạch
máu, trái lại quay về rất chậm nếu máu chảy thấm ra ngoài thịt, mỡ
Ở máy MRI, người ta có thể tạo ra cộng hưởng ứng với một loại hạt
Trang 12nhân nào đó (ví dụ hạt nhân hyđrô) trong từng thể tích cỡ milimet khối của não và theo dõi trạng thái cộng hưởng Lần lượt quét thể tích có
cộng hưởng này, sẽ có được hình ảnh cộng hưởng từ hạt nhân ở từng lớp
Có thể theo dõi ảnh để biết được
cấu tạo bên trong của não lúc cơ
thể đang sống (biết được có chảy máu trong não hay không, chảy ở chỗ nào) Có thể dùng MRI để theo dõi hoạt động của não, ví dụ như khu vực nào của não hoạt động,
máu đưa oxy về vùng đó mạnh hay yếu
Trang 13Đặc điểm MRI
- Phân giải không gian: 3 mm
- Phân giải thời gian: 3 giây
Thuận lợi/khó khăn: Phân giải
không gian rất cao, phân giải thời gian vừa phải Đây là phương pháp hiệu nghiệm và dễ sử dụng nhất
hiện nay để nghiên cứu về não
Người ta đã phát triển phương pháp chụp ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI) để nghiên cứu không chỉ về cấu tạo mà còn về chức năng hoạt động của não Tuy nhiên, phương pháp này khá tốn kém do phải dùng hêli lỏng để làm lạnh cuộn dây siêu dẫn
Trang 14EGG
Điện não đồ EEG
(Electroencephalography) là
phương pháp đo dòng điện chạy
qua các điện cực đặt trên da đầu,
đôi khi đặt trục tiếp trên vỏ não Từ các biến đổi của dòng điện ghi
được, có thể suy đoán nhiều hoạt động, tình trạng của não
Có nhiều cách mắc các điện cực
nhưng nói chung là bố trí để đo
hiệu thế giữa từng đôi điện cực nhờ các bộ khuyếch đại điện thế vi
phân, khuyếch đại chênh lệch điện thế từ 1.000 đến 100.000 lần Khi
Trang 15đo hiệu thế giữa hai điểm trên da đầu, hiệu thế đo được cỡ 100 mV, còn ở vỏ não hiệu thế đo được từ 1-
2 mV
Tùy hoạt động của vỏ não, các hiệu thế này thường biến thiên theo hình sin, có tên là sóng đenta (cỡ dưới 4 Hz), sóng teta (cỡ 4-8 Hz), sóng
anpha (cỡ 8-12 Hz), sóng bêta (cỡ trên 12 Hz) và sóng gamma (cỡ 26-
80 Hz) Mỗi loại sóng ở mỗi khu vực tương ứng với một dạng hoạt động của não Đặc biệt đối với
người chết, tất cả các dạng sóng
đều phẳng lỳ, nên người ta dùng để chứng minh chắc chắn là chết thật
Trang 16Có thể vẽ bản đồ sóng đối với cả
diện tích của da đầu hoặc theo dõi dạng sóng ở một số khu vực
Phương pháp điện não đồ đã bắt
đầu phát triển từ năm 1920, được dùng nhiều để nghiên cứu các bệnh tâm thần, tìm hiểu hoạt động của hệ thần kinh
Đặc điểm của EEG
- Phân giải không gian: 6 mm
- Phân giải thời gian: 1 ms
Thuận lợi/khó khăn: Là phương
pháp đo trực tiếp các tín hiệu điện, phân giải thời gian cao nhất (1 ms)
Trang 17Phân giải không gian không cao, khi đo phải làm thương tổn nhẹ da đầu để đặt điện cực, các phép đo
phải thực hiện nhiều lần Phương pháp này thường phải kết hợp với các phương pháp khác, đặc biệt là với MRI
PET
Ở phương pháp chụp ảnh cắt lớp phát xạ PET (Positron Emission
Topography), người ta dùng
nguyên tử phóng xạ làm nguyên tử đánh dấu để theo dõi Cho các
nguyên tử phóng xạ này (như C, N,
O, F…) kết nối với các phân tử của chất có hoạt tính chuyển hóa như
Trang 18đường rồi tiêm vào trong cơ thể,
thường là tiêm vào máu Chất hoạt tính chuyển hóa đi vào cơ thể, tập trung ở các mô quan tâm Ở đấy,
các nguyên tử phóng xạ phát ra
positron (hạt như điện tử nhưng
mang điện dương) đi được một
đoạn ngắn thì gặp điện tử vì trong
cơ thể có rất nhiều điện tử Khi một positron gặp một điện tử thì cặp hạt
- phản hạt này hủy nhau và phát ra hai photon đi thẳng, ngược chiều nhau Các photon này có năng
lượng rất lớn, vào cỡ tia gamma
nên xuyên qua được cơ thể, bay
thẳng ra ngoài Nếu bố trí hai
đêtectơ nhấp nháy ở hai đầu đối
diện, hai đêtectơ sẽ thu được đồng
Trang 19thời hai photon do hủy cặp positron
- điện tử tạo ra
Để chụp ảnh cắt lớp não, người ta
bố trí các đêtectơ từng đôi một đối diện nhau thành một vòng bao
quanh đầu Chỉ khi nào có hai
photon đồng thời đến hai đêtectơ của một cặp đối diện, hai đêtectơ mới ghi nhận, biến thành tín hiệu điện để máy tính xử lý Với cách
này, người ta ghi và vẽ ra được rất chính xác những vị trí có hạt nhân phóng xạ, tức là những mô có tập trung chất hoạt tính chuyển hóa
Các hạt nhân phóng xạ dùng ở PET phải là những hạt nhân có thời gian
Trang 20sống ngắn, thường dùng 11C (~20 phút), 13N (~10 phút) 150 (~2
phút) và 18F (~110 phút) Do thời gian sống ngắn nên phải chế tạo các chất phóng xạ tại chỗ gần nơi đặt máy PET Cách chế tạo phổ
biến là dùng một máy gia tốc điện
tử nhỏ bắn phá điện tử năng lượng cao vào các chất để tạo ra chất
phóng xạ
Đặc điểm của của PET
- Phân giải không gian: 6 mm
- Phân giải thời gian: 8 phút
Thuận lợi/khó khăn: Là phương pháp duy nhất thấy được các quá
Trang 22rất nhỏ nên từ trường do chúng sinh
ra ở bên ngoài não cũng rất nhỏ, cỡ vài trăm femtotesla (1 fT = 10-15 T) Để đo được từ trường cực nhỏ này phải dùng cảm biến cực nhạy SQUID và phải dùng nhiều biện
pháp để ngăn chặn nhiễu do từ
trường trái đất và từ trường nhiễu
do điện ở bên ngoài
Người ta bố trí khoảng 300 đầu dò đặt quanh đầu Trình độ kỹ thuật
hiện nay mới chỉ đo được từ trường
do dòng ion chạy qua phần hình
nón của các tế bào thần kinh ở gần
vỏ não, từ trường đo được ứng với dòng ion chạy qua cỡ 50.000
nơron Chưa đo được từ trường của
Trang 23dòng điện do từng nơron sinh ra
Phương pháp MEG bắt đầu xuất
hiện từ những năm 70 của thế kỷ
XX và có nhiều cải tiến nhờ máy tính Đây là phương pháp trực tiếp
đo được những tín hiệu ở não hoạt động phát ra và hoàn toàn không làm tổn hại đến não Phương pháp MEG rất hữu hiệu khi sử dụng để nghiên cứu những bệnh như động kinh, dễ phát hiện những vùng
nhạy cảm khi não hoạt động, đặc biệt dễ phát hiện vùng có ung thư ở não, vùng não không hoạt động,
không điều khiển được ở vỏ não Đặc điểm của MEG:
Trang 24- Phân giải không gian: > 6 mm
- Phân giải thời gian: 1 ms
Thuận lợi/khó khăn: Phân giải thời gian vào loại tốt nhất, tương đương với điện não đồ, hoàn toàn đo theo kiểu không tiếp xúc, không phải
đưa hóa chất vào cơ thể Độ phân giải không gian kém, không thấy được chi tiết, máy cồng kềnh, bệnh nhân phải giữ bất động lâu