000078455 THE OPENING SPEECH AT THE TEACHERS' SCIENTIFIC RESEARCH MEETING DIỄN VĂN KHAI MẠC TẠI BUỔI HỌP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA GIÁO VIÊN
Trang 2T R Ư Ờ N G Đ Ạ I H Ọ C N G O Ạ I N G Ữ
K H O A D À O TẠ O T Ạ I CHỨC
HỘI THẢO KHOA HỌC GIÁO VIÊN
NĂM HỌC 2005-2006
Trang 3M ỤC LỤC
2 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo
3 Những biến thể trong tiếng Anh của người Việt Phạm Ngọc Thưởng
4 Some idea about how to use modifier in English
5 Ngôn ngữ, dạy và học
6 Preventing cultural shock
7 Góp một ý về giáo trinh biên dịch
8 Kỹ năng nói - việc dạy và học
9 Như con kiến tha lâu đầy tổ
10 English teaching to Vietnamese
through American culture
Ngô Văn Đức (dịch) Nguyễn Thị Diến Đặng Đình Cung Nguyễn Thị Cúc Đinh Thị Thùy Mai
Nguyễn Văn Độ
11 Khai thác kiến thức văn hóa, văn học, nghệ thuật
trong giờ THT, giáo trình New Headway nhằm
thúc đẩy hoạt động nói của sinh viên Nguyễn Hương Liên
12 Xây dựhg chương trinh và giáo trình đọc hiểu
cho học phần 6 - chương trình cử nhân tiếng Anh
hệ vừa học vừa làm (A proposed syllabus) Hoàng Thu Hằng
49
192431404654
59
70
13 Hành động hỏi và vấn đề lịch sự Nguyễn Văn Độ
7580
Trang 4Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
THE OPENING SPEECH AT THE TEACHERS’
SCIENTIFIC RESEARCH MEETING
Dear A ll the representatives o f University Party Committee
A ll the representatives o f rector board
A ll the representatives o f all other Department, section in HaNoi
University o f foreign Studies
A ll the teachers and students o f inservice Education Department
In the meeting of lune-S^^OOó, the inservice Education Department organized the students’ scientific research meeting The students had a good chance to voice their ideas about how to learn English better and better With the wholehearted support of all teachers, the students make wonderful presentation refering to various aspects of English Today, more than a month since then-Our Derpartment once again, is holding the teachers’ scientific research meeting, the teachers themselves have got a good time to sit together talking about how to teach English better and better at the national historical atmosphere of welcoming the great success of the X Party Congress
On behalf of Department scientific research council, I ’d like to express our deep gratitude to our party committee, to Rector board for their loooking after, and great attention to our department
I’d like to thank all teachers from other Departments for their great assistance to our Depatment especially to express our thanks and deep gratitude to the teachers like Mr Binh, Mrs Hien, and some others for their special atention and great contribution to every professorial activities of our Department
On this occasion, I warmly welcome noble responsibility of all teachers who have made various good ideas contribution especially reports that you are going to enjoy her representation refering to the great importance of teachers in teaching language
Once again, on behalf of all teachers, thank all of you and wish our meeting great success
Q tụuụễn (Zftui DU uul
Trang 5Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO HỆ VỪA HỌC VỪA LÀM
NGUYỄN VĂN KHOA
T ừ khi đất nước thực hiện đổi mới chính sách mở cửa hội nhập kinh tếkhu vực và Thế Giới, chúng ta chứng kiến sự bùng nổ về nhu cầu học tập vànâng cao năng lực, đặc biệt là ngoại ngữ ở đây ta cũng thấy việc học ngoạingữ như là một cao trào đặc biệt là các thành phố lớn Việc học ngoại ngữ lôi cuốn đông đảo mọi tầng lớp nhân dân, học sinh, sinh viên, cán bộ các cấp, các ngành đủ mọi lứa tuổi
Từ cuối thập kỷ 70, đất nước ta thực sự chuyển sang đời sống hoà bình, khôi phục lại nền kinh tế bị tàn phá trong chiến tranh, các mối quan hộ, giao lưu quốc tế cũng dần được khôi phục Nhu cầu học ngoại ngữ trong tầng lớp tri thức, cán bộ trong các cơ quan nhà nước tăng dần Trong nhiều trường hợp, ngoại ngữ được coi là tiêu chuẩn hàng đầu trong việc xét duyệt đi công tác, học tập ở nước ngoài Tính từ thời điểm này, ngoại ngữ đã trở thành phương tiện giao tiếp, công cụ làm việc hỗ trợ cho những người hoạt động trong lĩnh vực khác Các hình thức học tập ngoại ngữ cũng bắt đầu xuất hiện, không nằm trong các hệ đào tạo chính quy của nhà nước
Nhiều năm trước đây ngoại ngữ được coi như một nghề, thay vì có nhu cầu ngoại ngữ trong công việc, phần lớn những người theo học ngoại ngữ đều coi đó là nghề của mình Họ học ngoại ngữ (đại học, cao đẳng) phần lớn nhằm mục đích là sau khi tốt nghiệp sẽ dùng ngoại ngữ như một công việc chuyên môn của mình
Đặc biệt từ thập kỷ 90, khi mà Việt Nam bắt đầu những nỗ lực mạnh
mẽ nhằm thoát nghèo, trỗi dậy, vươn ra thế giới thì việc nâng cao năng lực
Trang 6Hội thảo Khoa học Giảo vièn Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
ngoại ngữ lại càng trở nên quan trọng hơn Nó trở thành một vấn đề mang tính chiến lược trong sự phát triển của đất nước Một quốc gia khi tham gia vào quá trình hội nhập Thế Giới, thì các thành viên của nó phải có những khả năng ngoại ngữ ở trình độ nhất định, đủ để làm phương tiện giao tiếp, tìm kiếm thông tin và lĩnh hội tri thức, từ những nền văn hoá nhân loại Nhận thức được tầm quan trọng của việc đào tạo ngoại ngữ, nhà nước ta có nhiều quyết sách
để thúc đẩy quá trình này Vì vậy việc học ngoại ngữ đã phát triển nhanh chóng, rộng rãi trong mọi tầng lớp xã hội Ngoại ngữ ngày càng trở thành công cụ bổ trợ không thể thiếu được của nhiều thành viên xã h ộ i
Việc học ngoại ngữ trở thành nhu cầu cấp thiết của một số lớn thành viên trong xã hội mà môi trường công tác của họ đòi hỏi phải có ngoại ngữ Vì
lý do đó mà phong trào học ngoại ngữ phát triển nhanh chóng và các loại hình Đào tạo cũng đã xuất hiện - Ngoài hình thức đào tạo Chính quy đã xuất hiện nhiều loại hình đào tạo phi chính quy khác nhau về quy mô, trình độ tổ chức
và mục tiêu của người học
Tuy các loại hình đào tạo ngoại ngữ hiộn nay ở Việt Nam là rất đa dạng, thực chất ta có thể chia thành 3 dạng chính:
- Đào tạo chính quy
- Đào tạo phi chính quy: Là hình thức đào tạo tại chức, hàm thụ, cử nhân ngoại ngữ cho những người có một chuyên môn khác
- Đào tạo phi chính quy ở cấp độ thấp hơn( Đào tạo A- B- C)
Để hiểu rõ hơn về ba loại này ta phải phân tích các dấu hiệu đặc trưng của chúng
Trang 7Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
1 Về mục tiêu và đối tượng đào tạo
Về đào tạo chính quy: Mục tiêu và đối tượng, năng lực ngoại ngữ
thì chúng ta đều quá rõ
Ta chỉ cần đề cập đến:
1.1 Đào tạo phi chính quy (Hình thức đào tạo tại chức): Đời tượng
này về cơ bản đã có chuyên môn theo một nghành nghề khác Tuy nhiên do yêu cầu của nghề nghiệp, nhận thức tính quan trọng của ngoại ngữ họ có những mục đích rõ ràng, đầu tư thoả đáng để đạt được bằng cử nhân ngoại ngữ
ở mức độ khá cao đủ dùng cho việc giao tiếp hay các nhu cầu chuyên môn khác, tốt nghiệp đại học, tuổi có thể cao hơn hoặc bằng đối tượng ở hệ chính quy
1.2 Đào tạo phi chính quy( Hình thức A,B>C): Loại hình này bao
gồm các đối tượng khác nhau về độ tuổi, học vấn, địa vị, xã hội- Họ học các lớp trung tâm ngoại ngữ nhằm để đạt được một trình độ ngoại ngữ nhất định giúp ích cho nghề nghiệp chuyên môn Tuy nhiên, động cơ là rất quan trọng - Nhiều người học là vì họ cảm thấy cũng cần, người thì học sẵn để có thể cần trong tương lai, hay chỉ vì một đợt đi công tác nước ngoài Nói chung họ chưa đặt ra mục tiêu cụ thể, lợi ích của việc học ngoại ngữ chưa mang tính “sống còn”
2 Về tổ chức.
2.1 Đào tạo phi chính quy (Đại học tại chức) Hệ thống đào tạo này
vẫn được thực hiện bởi các cơ sở đào tạo ngoại ngữ của nhà nước vì mục tiêu đặt ra vẫn là đào tạo cử nhân ngoại ngữ Tuy nhiên, chất lượng đào tạo, trình
độ tổ chức chưa cao
Trang 8_ Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
Mật khác, kinh phí cho các hoạt động đào tạo này là do các cơ sở và người học đảm bảo Trong các cơ sở cũng cố gắng tuân thủ theo chương trình, tiến độ của các yêu cầu chuyên môn của nhà nước, nhưng trên thực tế các đòi hỏi này thường xuyên đơn giản hoá
2.2 Đào tạo phi chính quy (Đào tạo A, B, C): Hình thức này mang
tính tự phát Chất lượng đào tạo, trình độ tổ chức là không đồng đều, thống nhất, không được quản lý sát sao, và bản chất đây là loại hình mang tính kinh doanh giáo dục
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý tốt những loại hình đào tạo này
Một sô kiến nghị:
Tôi xỉn có một số đề nghị như sau:
- Giáo viên tham gia giảng dạy phải có trách nhiệm cao trong công
việc được giao Nhà trường cũng cần có các khoá đào tạo cập nhật phương pháp giảng dạy, tránh việc dập khuôn phương pháp đào tạo hộ chính quy hay hệ chính quy hoá tại chức.-
- Người học cần được xác định rõ ràng, đúng đắn động cơ học tập
Việc học tập của người học phải được thực hiện theo đúng quy định của
Bộ Giáo Dục Đào Tạo và trường Đại học Ngoại Ngữ
- Chương trình đào tạo: Cần được kiểm soát và đánh giá để có thể đưa
ra chương trình mới thống nhất chung
- Giáo trình sử dụng cụ thể cần được mềm hoá cho phù hợp với đối
tượng học và dễ thực hiộn Mạnh dạn sử dụng giáo trình mới, thí dụ đưa giáo trình “Discovery online” vào là rất tốt các môn học cần tính toán
Trang 9Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
lại cho phù hợp về số tiết và kinh phí đặc biệt là các môn KHXH và các môn cơ sở nghành
- Việc kiểm tra đánh giá cần được dựa trên chương trình giảng dạy
trong thực tế, để cung cấp được những thông tin phản hồi cần thiết cho qúa trình giảng dạy
- Việc coi thi chấm thi cần phải thực hiện nghiêm túc hơn cả thày và
trò, tránh để học sinh vừa được quay cóp, vừa phản ánh việc quản lý không nghiêm túc của cơ sở đào tạo
Trên đây là một số ý kiến về thực trạng nhằm đảm bảo chất lượng cho loại hình đào tạo này sẽ ngày càng được xã hội chấp nhận như là một hình thức đào tạo tin cậy nhất là trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá
Trang 10Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
NHŨNG BIẾN TH Ể TRONG TIẾNG ANH CỦA NGƯỜI VIỆT
Phạm Ngọc Thưởng
Việc sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp quốc tế ngày càng tăng, đặc biệt trong thời đại toàn cầu hoá Tiếng Anh được sử dụng như một ngôn ngữ chính thức ở nhiều nước như là một ngoaị ngữ quan trọng nhất ở hầu hết các nước trên thế giới để giao lưu, trao đổi, học tập, buôn bán, kinh doanh Do tác động tương hỗ giữa các nền văn hoá, ngôn ngữ cho nên tiếng Anh có những biến đổi (biến thể) rất mạnh, thậm chí có những sắc thái, đặc thù riêng ở các khu vực khác nhau, ở các nước khác nhau và ngày càng trở thành vấn đề đáng quan tâm trên phương diện thực hành cũng như lý thuyết Có lẽ không có ngôn ngữ quốc tế nào trước đây cũng như hiện nay có nhiều sự thay đổi và đa dạng
về mặt ngôn ngữ cũng như ngôn ngữ xã hội như tiếng Anh Trong khi nó vẫn giữ vững vị trí là phương tiện giao tiếp quốc tế hiộu quả nhất trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội trên thế giới
Khi chúng ta nói về những biến thể mới của tiếng Anh như: tiếng Anh của nguời Ấn Độ, tiếng Anh của người Singapo tức là chúng ta muốn ám chỉ tới những đặc tính địa phương, khu vực của người nói những biến thể đó Cũng không khó khăn lắm để nhận ra người này là người nước nào khi họ nói tiếng Anh Họ là người Trung Quốc, người Ấn Độ hay người Nhật Bản Sự biến thể kiểu này Quirk gọi là biến thể quốc gia (national variants), ông giải thích, trong mỗi biến thể đặc trưng của một quốc gia có sự thay đổi về lời nói theo khu vực, học vấn cũng như chuẩn mực xã hội Mỗi biến thể có chuẩn quốc gia
mà trong đó thể hiện lời nói của người có học khác với lời nói của người ít
Trang 11Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
gia này cũng khác với cái mà chúng ta gọi là tiếng Anh chuẩn (Standard English) - nó bao trùm và chung cho mọi chuẩn mực mỗi quốc gia, khu vực
Rõ ràng là tiếng Anh ở các khu vực và các nước được nói với các giọng, sắc thái khác nhau
Khi nói về sự đa dạng của một ngôn ngữ, người ta thường nói về sự đa dạng của ngôn ngữ của người bản ngữ (native speaker), nhưng ở đây chúng ta lại muốn nói tới sự đa dạng của tiếng Anh do người không phải là ngươi bản ngữ nói (non- native variants) Hai kiểu biến thể này cũng rất khác nhau
Khi nghiên cứu ngôn ngữ chúng ta có thể phân biệt 2 loại biến thể chính: biến thể nội tại (internal variation) và biến thể ngoại biên (external variation) Biến thể nội tại vốn có trong tất cả các ngôn ngữ Loại biến thể này liên quan tới môi trường ngôn ngữ hay ngữ cảnh của các đơn vị ngôn ngữ Ví
dụ, trong tiến Anh âm /p/ không bật hơi khi đứng sau âm /s/ trong cùng một từ
Biến thể ngoại biên có 4 loại nhỏ (Nababan- 1979):
1 Sự biến thể liên quan tói một nhóm người nói ở cùng một địa phương, khu vực địa lý mà người ta thường gọi là phương ngữ (dialect) Ví dụ như Yorshine dialect, Soutthem dialect
2 Sự biến thể liên quan tới vị trí xã hội của người nói người ta thường gọi là ‘sociolect” gồm ngôn ngữ xã hội của giớt bình dân (working class sociolect) và tằng lớp trung lưu và lớp trên (upper- middle class sociolect.)
3 Sự biến thể liên quan tới tình huống giao tiếp và chức năng sử dụng ngôn ngữ mà người ta gọi là functiolect
4 Sự biến thể liên quan tới thời gian, giai đoạn ngôn ngữ đó tổn tại gọi là chronolect Như tiếng Anh thời Nữ hoàng Victoria, tiếng Anh đầu thế kỷ 20
Trang 12Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới những biến thể ổ nhóm 1 (dialect) Nhóm này cũng bao gồm những biến thể tiếng Anh của người nói không phải là người bản ngữ liên quan tới khu vực, nguồn gốc xuất xứ của người nói
Khi chúng ta so sánh những thay đổi, khác biệt giữa tiếng Anh bản ngữ
và tiếng Anh không bản ngữ, một trong những sự khác nhau dễ nhận thấy nhất
là tiếng Anh bản ngữ có nhiều biến thể hơn so với tiếng Anh không bản ngữ Nói chung, tiếng Anh không bản ngữ chỉ có một loại biến thể, trong khi đó tiếng Anh bản ngữ có đủ các loại như phương ngữ, ngôn ngữ xã hội ( sociolect), ngôn ngữ chức năng (functiolect) ngôn ngữ đồng đại (chronolects).Nhìn chung, hầu hết những người nói tiếng Anh bản ngữ có khả năng hiểu đưọc và nhận ra những biến thể các loại trên Những biến thể này có thể nhận ra được chủ yếu là mhững sự khác nhau về ngữ âm và từ vựng Nếu chúng ta làm bảng phân chia đôi tiếng Anh trên hướng chuẩn, chúng ta có
tiếng Anh chuẩn và không chuẩn( Standard & nonstandard) Sự phân chia
này liên quan tới 4 loại biến thể tác động từ bên ngoài đã trình bày ở trên VI vậy chúng ta sẽ có 8 loại biến thể nhỏ: (standard + nonstandard) X (dialct + sociolect + functiolect + chronolect) Nếu chúng ta nhận ra 2 loại phương ngữ (dialect) chính (British and American), 3 nhóm ngôn ngữ xã hội, socioléct (lower, middle, upper) và 3 nhóm ngôn ngữ chức năng functiolects (formal, infornal và intimate), và 2 loại chronolects (trước thế chiến thư 2 và hiện nay) chúng ta sẽ có 2x3x3x2 = 36 biến thể nhỏ chính Nếu chúng ta đi phân tích sâu hơn chúng ta sẽ có hàng trăm biến thể nhỏ
Như chúng tôi đã trình bày ở trên, những biến thể của tiếng Anh không bản ngữ thường là độc nhất; chúng chỉ có một loại biến thể Ở đây chúng ta cũng cần phân biệt tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 đối với những ngưòi không phải là người bản n g ữ , những người có trình đô chuyên môn và ngoại ngữ cao,
Trang 13Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
chính phủ và biến thể tiếng Anh là ngoại ngữ đối với những người không phải
là người bản ngữ được sử dụng trong một xã hội mà ở đó tiếng Anh không có
vị trí như ngôn ngữ chính thống mà chỉ được dạy ở trường như một môn học như tiếng Anh ở Việt Nam chứ không phải tiếng Anh ở Singapore
Rõ ràng là sự biến thể của tiếng Anh do người Việt Nam nói ở Việt Nam là biến thể tiếng Anh ngoại ngữ Nó không phải là sử biến đổi mang tính phương ngữ, ngôn ngữ xã hội, ngôn ngữ chức năng hay ngôn ngữ đồng đại theo đúng nghĩa của nó Như người ta nói, một số đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt được chuyển vào tiếng Anh
Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chủ yếu tập trung phân tích những biến thể, khác biệt trong tiếng Anh không phải là bản ngữ mà sinh viên Việt Nam nói và sử dụng trên một số bình diện như ngữ âm, ngữ pháp
Những sự chệch lệch (deviation) phổ biến nhất trong tiếng Anh của người Việt thể hiện trong hệ thống âm vị, cách phát âm và ngữ pháp Chính hộ thống này làm nên đặc trưng của tiếng Anh của người Việt
Trong số các phụ âm, thì phụ âm vô thanh tiếng Anh (p, t, k) thường được phát âm không bật trong tiếng Anh của người việt Ví dụ /stop/ /past/ Các phụ âm hữu thanh không được phát âm rõ ràng đầy đủ đặc biệt ở vị trí cuối từ như các âm /b/d/g/ m/ n/ r / 1/ Có sự lẫn lộn trong các âm /v/ / f/ trong các từ “leave” và “le a f’ Trong các tổ hợp phụ âm như: /pr , pl, tr,kr,fl, sl,sr, / các vị trí cuối từ thường thêm nguyên âm / ơ/ chen vào giữa như : fly-? /fơlai/ hay booked- bu:kơ tơ/
Đặc biệt những âm tiếng Anh không có hay không đặc trưng trong tiếng Việt có xu hướng đồng nhất sang các âm đặc trưng trong tiếng việt như: /dg-z/ /sh-s/ / d -o.z)
Sự phát âm bị lẫn lộn lớn nhất thể hiện rõ trong hệ thống nguyên âm:
1 hoà trộn / /và / e/ thành một / e/ / / và / o/ thành / o/
Trang 14Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
/ U :/và/u/
Ví dụ: ‘head” và “neck” được phát âm thành / h d/ và / n/ hay hat / h t/
thành / het/ “ankle> / enkol/
2 Các nguyên âm đôi( iy, ey, ow) phát âm thành các nguyên âm riêng biệt đôi khi quá dài đôi khi lại quá ngắn, không có sự nối kết
Để tổng kết những biến thể về âm học trong tiếng Anh của người Việt
so với tiếng Anh bản ngữ, chúng ta có thể chỉ ra các điểm chính trong bảng
Sự khác biệt giữa mức độ nhấn mạnh trọng âm có xu hướng nhỏ đi
Điẻu đó tạo ra ấn tượng đơn điệu (monotony), rất nhiều từ phát âm không
đúng trọng âm Ví dụ: emphas’ire, sp’ecific, analy’sis, purp’ose Xu hướng
chung là chuyển trọng âm về âm tiết cuối cùng Trọng âm của câu cũng có
tình hình tương tự: không nhấn mạnh vào từ nào rõ ràng trong câu cả
Trang 15Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
Về trật tự từ, học sinh Việt Nam có xu hướng sử dụng trật từ cố định
như trong tiếng Vịêt Trạng ngữ chỉ thời gian thường đứng ở đầu câu như:
“Yesterday I did not go to the cinema Not once she came early to work.” T'rong câu hỏi có từ để hỏi, học sinh cũng hay sử dụng trận tự thường thay cho
trật tự đảo với trợ động từ Ví dụ: “Why you give me the moneýì” Thay cho
“Why did you give me the money?” Việc bỏ từ (cách nói ngắn) cũng là hiện tượng phổ biến trong tiếng Việt Chính vì vậy, học sinh bỏ bộ phận nào đó như trong tiếng Việt nhưng không chấp nhận được trong tiến Anh chuẩn So sánh:
There is no need to trouble him now- No need to trouble him now.
It was raining very heavily then - raining very heavily then.
It is useless trying to help him - useless trying to help him.
Từ hay bộ phận câu hay bị bỏ là đại từ tân ngữ (it) hay tính từ sở hữu như (her, his, its.,.)
• I would appreciate (it) if you reply soon
• Can you lend me a dollar? Okay, I lend you but you have to pay back soon
• Can I take (the, your) book I drive my friends in (my) car to school
Một trường hợp hay bỏ từ nữa khá điển hình trong lời nói tiếng Anh của
học viên Việt Nam là động từ ‘to be’ với nghĩa là ”là“, như: He very self
Hay trợ đồng từ “do” trong câu hỏi có từ để hỏi (wh- questions) Ví dụ: “Who you talk to there? Where you want to go now?” Tuy nhiên, trợ động từ được giữ lại trong khi biểu đạt phủ định: “Why you don’t you find another job? My parents don’t like me to stay out too late.”
* Một đặc điểm trong tiếng Anh học viên Việt Nam hay sử dụng nhầm lãn là coi ngoại động từ như nội động từ không cần tân ngữ trực tiếp:
Did you enjoy? Did you ẹnoyed yourself?
I ca n ’t afford I ca n ’t afford it.
Trang 16Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
I want to ask I want to ask you.
Sự phù hợp dạng thức chủ vị, thời thể cũng là một hiện tượng phổ biến trong tiếng Anh của người Việt Ví dụ như học sinh không chia động từ ngôi thứ 3 số ít:
My mother say she want me to help.
Động từ thời qua khứ không cấu tạo thêm ‘ED’\ như trong câu: He call (thay cho called) me a liar yesterday Yesterday we go home early.
Sự cắt giảm (reduction) Thuật ngữ này được sử dụng để ám chỉ các trường hợp mà trong đó lời nói tiếng Anh của học viên Việt Nam đã cắt giảm cấu trúc phức tạp hơn của tiếng Anh chuẩn xuống mức đơn giản hơn, dễ hơn theo kiểu tiếng Việt Quá trình giảm thiểu này thường liên quan tới việc bỏ bớt bộ phận nào đó của câu Sự cắt giảm liên quan tới hê thống (như thời thể) hơn là tới cấu trúc các loại câu Một trong những ví dụ dẫn đến qua trình giảm lược là câu hỏi có đuôi (tag questions) Một số ví dụ về câu hỏi này trong tiếng Anh chuẩn:
She will remember, w on't she?
You should speak to her fir St, should’n you?
He remembers you, doesn ’t he?
Một số ví dụ cấu trúc này trong tiếng Anh học viên Việt Nam hay dùng:
She used to live here, isn ’t it?
You want a lift, is it?
Hai dạng ‘isn’t it’ và ‘is it ‘ được sử dụng thay nhau mà không chú ý tới cấu trúc phía trước
Một ví dụ khác về sự giảm luợc này là cũng được thấy trong sử dụng hệ thống thời thể tiếng Anh.Thay vào thể hoàn thành hiện tại thì lại sử dùng thời
Trang 17Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
I work about four months already (= I have ( already) been working fo r four
Cấu trúc lại câu (restructuring)
Một trong những cách mà học sinh Việt Nam hay sử dụng là thay cách nói bị động sang cách chủ động Tuy nó không vi phạm về mặt ý nghĩa, nhưng không chuẩn về mặt tu từ trong tiếng Anh:
It is said that Vietnamese people are friendly = They say Vietnamese people
Will you have some cake? Inclination / willingness
You want some cake or not?
Where would you like to sit?
Where you want to sit /
Về phương diện tư duy, khái quát hoá trong từ loại danh từ người Việt
có xu hướng coi tất các danh từ đều có số ít và số nhiều, mọi thứ đều đếm, đo được, không phân biệt danh từ đếm được và không đếm được như trong tiếng Anh chuẩn Điều này dẫn đến dùng sai và hiểu sai:
Trang 18Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
Tóm lại, hiện nay chúng ta đang phải chấp nhận một thực tế là tiếng Anh được sử dụng không hoàn toàn đồng nhất ở các khu vực, các nước khác nhau Ai cũng có thể nói rằng người mỗi nước, mỗi khu vực nói tiếng Anh theo sắc thái riêng Một xu hướng đang phát triển là hợp lệ hoá ( legitimation) tiếng Anh của các khu vực, vùng lãnh thổ như tiếng Anh ở An Độ, Sing-ga- pore như là một biến thể tiếng Anh đồng hành với tiếng Anh-Anh Tiếng Anh-Mỹ, ÚC, Canada Sự đổi mới ở đây là sự chấp nhận không những về mặt ngôn ngữ mà còn về mặt xã hội khi nói về những biến đổi hay tính đa dạng của tiếng Anh tại các khu vực
Thực tế là giới ngôn ngữ mô tả buộc chúng ta phải công nhận rằng một người Việt nam được đào tạo tốt nhất tại nước Anh hoặc Mỹ vẫn cứ nói tiếng
Trang 19Hội tháo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
Là giáo viên, chúng ta cũng phải chấp nhận thực tế này, hiểu được bản chất của vấn đề, của hiện thực, chúng ta có thể có những giải pháp tốt hơn,giúp người học hiệu quả hơn trong khi tiếp thu một ngoại ngữ mà nó khác
xa với tiếng Việt
Tài liệu tham khảo
1 Quirk, R.1978 ” On the Grammar o f’ Nuclear English9
2 Varieties of English in Southeast Asia SEAMEO.RLC 1983.
Trang 20Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
SOME IDEA ABOUT HOW TO USE MODIFIER
IN ENGLISH WHEN TRANSLATING
The To- Group is a phrase which begin with the Infinitive verb The infinitive in Infinitive phrase may be a modifier as a clause and the clause is also
a part of Infinitive phrase Some examples of the formation of Infinitive phrase:
To drive carefully
Infinitive phrase also appear without “to” when infinitive goes after some verbs as, see, hear, watch, notice, perceive dare, feel, help, let, make, please
I saw him walk around the house
Trang 21Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
He never hear her sing What makes him think so Please show me your homework
I watch him write his assignment Let’s go to the park
We know that infinitive phrase is used as a noun, an adjective of an adverb When infinitive phrase is used as a noun it has functions as follow
1- The Infinitive phrase as subject
- To live in a world without fear is the goal of progressive mankind
- To become a doctor is her wish
- To sing well requires much practice
- To be conscious of Ignorance is a step toward knowledge
- To work hard is be happy
- To reject the scholarship or not depends on you
2' The infinitive phrase as object
To be used as a noun, Infinitive may be an object of the verb in sentence
He decided to visit Halong City
He wants to study French
I have never learnt to dance
He likes to read novels
We saw John play outside
The pilot tried to radio for assistance
An infinitive may have its own subject and may be called the subject of the infinitive and the subject
If subject of infinitive is a pronoun it’s then an objective case (him, her,
me, us)
He invited her to dance with him
Trang 22Hội thảo Khoa học Giảo vièn Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
He asked his boss to reconsider the decision
She wants us to be happy
3- The Infinitive phrase as subject complement
Subject complement or predicate word is a nouns or adjective helps fulfill / the meaning of verb “to be”
His purpose is to get more money
Robert’s ambition is to master Chinese language
The task now is to master Chinese language
The task now is to find the best man for the position
4- The infinitive phrase as appositive
Appositive is a word which is placed after a noun to explain meaning of the noun
Appositive always a noun or a pronoun when using as a noun, infinitive phrase may be acted as appositive and it is called appositive phrase
Mr John’s orders, to put the TV at the comer, were disordered
Michel’s job, to test chemical substances, is very dangerous
5- The infinitive phrase as adjective when infinitive is used as an adjective,it is a modifier o f a noun
This is the book to read during your holidays
- Her intention to become a doctor is clear to us
- We had a plan to help the poor
- Another attempt to conquer the mountain will be made next decade
- The infinitive phrase as adverb
When it’s used as an adverb , the infinitive phrase is a modifier of a verb, an abjective or an adverb
He rose to go
Trang 23Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
He went to Africa to die there
a) The infinitive phrase modifying a verb
The worker stopped to have lunch
He come to kill the king, not to praise him
They work to earn their living
b) The Infinitive phase modifying an adjective Infinitive phase is used as an adverb modifying an adjective
I ’m glad to meet you here
I’m very sorry not to come to your wedding party
c) The infinitive phrase modifying an adverb
Infinitive phrase is used as an adverb, modifying other adverb in the sentence
He is working hard to pass the exam
He came too early to meet his girl friend
The tense of infinitive
To take the verb “to invite” or “to take” as examples
Perfect infinitive is used to denote an action which happens earlier than the action of the main verb in the sentence
I am sorry to have offended you
I was sorry to have offended you
Trang 24Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
Present infinitive is use to show an action at the same time with the action of the main verb in the sentence
We are happy to know you
We were happy to know you
We know that the infinitive phrase is commonly used in English and It
is also difficult to use perfectly In this text we only deal with some functions
of infinitive group to help translates avoid mistates when using infinites phrase
Trang 25Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
Dạy ngoại ngữ sẽ thành công nếu người thày nắm được sự gắn bó giữa các mảng ngôn ngữ với nhau như thế nào Trên thực tế có người học ngoại ngữ thành công nhưng có người lại không thành công Để hiểu được những nguyên tắc học và dạy ngoại ngữ, người thày có thể bắt đầu bằng những câu hỏi như Ai? Ai học? Ai dạy? Người học và người dạy từ đâu tới? Tiếng mẹ đẻ của họ là thứ tiếng gì, trình độ học vấn, khả năng kinh tế, tính cách như thế nào? Kinh nghiệm đào tạo của người thày ra sao,tính cách của người thày và điều quan trọng nữa đó chính là mối quan hệ giao tiếp giữa con ngưòi với con người diễn ra trên lớp học ra sao?
Một câu hỏi nữa đó là Cái gì? Đây là câu hỏi nhằm tìm hiểu bản chất của vấn đề học cái gì và dạy cái gì? Giao tiếp là gì? Ngôn ngữ là gì? Bạn nói một người biết sử dụng ngôn ngữ, vậy thế nào là biết sử dụng ngôn ngữ? Cách tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai có gì giống nhau và có gì khác nhau?
Trang 26Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
Câu hỏi Như thế nào? Đây là câu hỏi được đặt ra cho việc học ngôn ngữ được thực hiện như thế nào, quá trình nhận thứcđược sử dụng khi học ngoại ngữ ra sao,chiến lược mà người học học ngoại ngữ là chiến lược gì?
Câu hỏi Khi nào? Đó là câu hỏi về việc học ngôn ngữ thứ hai được diễn
ra từ khi nào.Một trong những vấn đề cơ bản trong việc nghiên cứu và dạy ngôn ngữ là nghiên cứu tại sao khi học ngôn ngữ thứ hai, giữa người lớn và trẻ
em lại có những thành công khác nhau Phải chăng độ tuổi đã ảnh hưởng đến học tập? Và nhữngngười học ở các độ tuổi khác nhau đã học ngoại ngữ như thế nào? Ví dụ như tuổi mẫugiáo, thiếu nhi, vị thành niên, người lớn và ở mỗi giai đoạn đó thì người học đã sử dụng thời gian để học là bao lâu? Ví dụ như thời gian ở trên lớp, ngoài giờ học hay trong môi trường văn hoá của ngôn ngữ đang được hoc?
Câu hỏi “ở đâu” là câu hỏi liên quan đến việc người học ngôn ngữ thứ hai học trong môi trường nào? Trong môi trường của chính ngôn ngữ và văn hoá đó hay học ở trong môi trường nhân tạo của ngôn ngữ thứ hai đó? Liệu những điều kiện chính trị, xã hội có ảnh hưởng tới kết quả của ngưòi học ngôn ngữ thứ hai hay không? Sự giống nhau và khác nhau trong văn hoá ảnh hưởng tới quá trình học tập như thế nào?
Câu hỏi ”tại sao” là câu hỏi bao trùm nhất trong các câu hỏi: Tại sao người học lại muốn học ngôn ngữ thứ hai? Mục đích của họ là gì? Phải chăng
họ muốn thành công trong nghề nghiệp hay muốn tiếp xúc một cách gần gũi với mọi người của nền văn hoá đó? Hay người học còn có những lí do theo đuổi khác để học ngoại ngữ? Ví dụ như tình cảm cá nhân chẳng hạn
M ỘT SỐ ĐIỂM KHÁI QUÁT Đ ố i VỚI G IÁ O VIÊN NGÔN NGỮ Giáo viên ngôn ngữ cần nắm được bản chất ngôn ngữ để từ đó khai thác những phạm trù khác nhau, hay những phạm trù cụ thể mà mình quan tâm như
đi mô tả hệ thống ngôn ngữ, các cấp độ ngữ pháp, ngữ nghĩa, âm vị, hay đi tìm
Trang 27Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
hiểu bản chất các kí hiệu ngôn ngữ,hệ thống chữ viết, tâm lí ngôn ngữ,hệ thống giao tiếp, tác động qua lại giữa người nói và người nghe, các phương ngôn, ngôn ngữ xã hội học,ngôn ngữ và văn hoá, cách tiếp thu ngôn ngữ đầu tiên Người thầy dạy ngôn không nhất thiết phải là một nhà ngôn ngữ giỏi, nhưng cần phải biết được cái mình đang dạy hiện nằm ở khu vực nào trong mối tổng thể Do đó giáo viên ngôn ngữ nhất thiết phải hiểu được bản chất của ngôn ngữ, hiểu biết về xã hội, về chức năng, cấu trúc của ngôn ngữ mà mình đang dạy Sự hiểu biết đó quyết định rất nhiều đến việc người thày dạy ra sao
Ví dụ nếu bạn nhận thức ngôn ngữ có thể tháo rời ra thành từng mảng thì bạn
sẽ tập trung và việc tháo gỡ những mảng rời đó
HỌC VÀ DẠYHọc là gì? Dạy là gì? Chúng tương tác với nhau như thế nào? Theo những định nghĩa truyền thống thì học là việc tích luỹ hay hấp thu kiến thức
về một môn học hay một kĩ năng thông qua nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm hay những chỉ dẫn Một định nghiă khác: Học là một sự thay đổi tương đối liên tục trong xu hướng hành động và là kết quả của quá trình thực hành đă được củng cố (Kimble và Garmezy 1963:133) Dạy được định nghĩa như quá trình chỉ bảo hoặc giúp ai đó học làm được một điều gì đó, hoặc hướng dẫn ai
đó nghiên cứu một vấn đề nào đó, cung cấp kiến thức cho người học để họ hiểu biết Những định nghĩa truyền thống này rất khó xác định được những khái niệm phức tạp về học và dạy Chúng ta có thể chia nhỏ định nghĩa về học
ra thành những bộ phận nhỏ để nghiên cứu như sau:
1 Học là sự tích luỹ kiến thức hay là một sự tiếp nhận
2 Học là sự duy trì thông tin hay duy trì kĩ năng
3 Sự duy trì bao gồm hệ thống lưu giữ, trí nhớ, tổ chứcnhận thức
4 Học là sự tập trung nhận thức và hành động một cách tích cực vào những
sự kiện bên ngoài hoặc bên trong của một cơ thể
Trang 28Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
5 Học là để nhớvà cái nhớ đó cũng có thể sẽ bị quên
6 Học bao gồm một số hình thức như thực hành, có thể là thực hành củng cố
7 Học là sự thay đổi hành vi
Dạy không thể định nghĩa tách ra khỏi học Nathan Gage( 1964:269) nhấn mạnh rằng ”Để thoả mãn những đòi hỏi thực tế của giáo dục, những lí thuyết về học phải gắn liền với những lí thuyết về giảng dạy” Dạy tức là hướng dẫn và làm cho học được dễ dàng hơn , làm sao để người học có thể học được, dạy tức là tạo ra những điều kiện cho học Sự hiểu biết của bạn về người học cũng sẽ tác động đến phong cách, phương pháp dạy học, ảnh hưởng
tới những kĩ thuật giảng ở trên lớp của bạn Theo B.F Skinner, nếu bạn coi
như một quá trình của những thao tác thông qua chương trình củng cố đi theo từng bước thì bạn sẽ áp dụng phương pháp của mình theo cách đó Còn nếu bạn coi việc học ngôn ngữ thứ hai như một quá trình suy diễn chứ không phải
là một quá trình quy nạp thì bạn sẽ chọn cách trình bày các quy tắc ,các mẫu cho sinh viên, bạn sẽ không để cho sinh viên phát hiộn ra những quy tắc như theo cách quy nạp Nếu lí thuyết giảng dạy được kết hợp hài hoà với sự hiểu biết của bạn về người học thì nó sẽ giúp bạn tìm ra những bước giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học viên với những khối lượng thơi gian nhất định
Đã bao thế kỉ nay đề tài được nhiều người quan tâm đó chính là tại sao con người lại có khả năng tuyệt vời để có thể tiếp thu được tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo ngay từ những năm đầu đời Các giáo viên ngôn ngữ, các nhà
sư phạm đã lao vào ngiên cứu việc tiếp thu ngôn ngữ ở trẻ em, cố gắng phân tích, phát hiện bản chất tâm lí ngôn ngữ nhằm lí giải tại sao trẻ em lại có thể kiểm soát được ngôn ngữ giao tiếp tốt đến như vậy, từ đó đi tìm những điểm giống nhau giữa việc tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai Để tìm hiểu điều này các nhà ngôn ngữ đã nghiên cứu những lĩnh vực sau đây:
Trang 29Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
1 BIỆN PHÁP HÀNH VI
Vì ngôn ngữ là một phần cơ bản trong toàn bộ hành vi của con người nèn các nhà nghiên cứu đã xây dựng những lí thuyết về việc tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất Biện pháp này tập trung vào những khía cạnh nhận thức của hành vi ngôn ngữ Hành vi đó được tạo ra là do những phản ứng kích thích Nó được cúng cố và trở thành những thói quen có điều kiện Người ta hiểu được một phát ngôn là nhờ có một phản ứng thích hợp vói phát ngôn đó Lí thuyết hành
vi đã đượcSkinner nghiên cứu Tiếp theo là Jenkins và Palermo (1964) Họ cho ràng bắt chước là một khía cạnh quan trọng để tạo nên những phản ứng kích thích
2 BIỆN PHÁP DI TRUYỀN
Các nhà nghiên cứu biện pháp này cho rằng việc tiếp thu ngôn ngữ là do bẩm sinh Chomsky (1965) cho rằng việc trẻ em làm chủ được tiếng mẹ đẻ cứa mình là do đặc điểm bẩm sinh về ngôn ngữ Me Neil (1966) mô tả bốn đặc điểm bẩm sinh của ngôn ngữ: (1) Khả năng phân biệt lời nói so với những
âm thanh khác trong môi trường, (2) Khả năng tổ chức những yếu tố ngôn ngữ thành những lớp khác nhau và có thể sàng lọc, (3) Chỉ có một loại hộ thống ngôn ngữ nhất định mới có kiến thức,những hệ thống khác không có, (4) khả năng thường xuyên đánh giá sự phát triển của hệ thống ngôn ngữ để tạo ra một hệ thống đơn giản hơn Phương pháp di truyền này đã có những đóng góp vào việc tìm hiểu quá trình tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất; (1) nó tự do tìm hiểu những cấu trúc ngôn ngữ không nhìn thấy được vốn đang được hình thành trong đứa trẻ, (2) nó mô tả một cách có hệ thống các hình thức luyện tập ngôn ngữ của trẻ em, (3) nó xây dựng rất nhiều những đặcđiểm tiềm tàng đối với ngữ pháp phổ thông
Trang 30Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
3 BIỆN PHÁP CHỨC NĂNG
Các nhà ngôn ngữ bắt đầu nhận thấy rằng ngôn ngữ được dùng để phát triển chung, nó là một khía cạnh của khả năng ý thức để sử lí thế giới quanvà không thể tách ra khỏi phạm vi nhận thức của con người Lois Blôm (1971) qua nghiên cứu đã kết luận rằng trẻ em học những cấu trúc bên trên Theo Dan Sloben(1971-1986) có hai bước đã được hình thành trong quá trình phát triển ngôn ngữ, (1) ở cấp độ chức năng sự phát triển được diễn ra từng bước theo sự
phát triển của nhận thức (2) ở cấp độ hình thức sự phát triển được diễn ra do
nhận thức và quá trình chuyển hoá thông tin Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ, một vấn đề cốt lõi nhất của ngôn ngữ đang được nghiên cứu như một cuộc cách mạng về sự tiếp thu ngôn ngữ thứ nhất
4 CÁC BIỆN PHÁP KHÁC
Ngoài các biện pháp kể trên các nhà ngiên cứu còn đề cập đến vấh đề khả năng và sự thực hiện những hoạt động ngôn ngữ của trẻ em Khả năng ở đây chính là những kiến thức cơ bản về hộ thống ngôn ngữ như những nguyên tắc ngữ pháp, từ vựng Thực hiên chính là tạo ra những kĩ năng nói và viết, còn hiểu được đó là nghe và đọc
Trong khi nghiên cứu ngôn ngữ trẻ em, hầu hết các bằng chứng đều cho thấy rằng trẻ em dường như hiểu nhiều hơn là chúng có thể tạo ra Vấn đề tự nhiên hay nuôi dưỡng đã được Chomsky đề cập Ông cho rằng đứa trẻ sinh ra cùng với sự bẩm sinh ngôn ngữ hoặc có thiên hướng ngôn ngữ Con người đă được lập trình một cách bẩm sinh để có được những khả năng nhất định về ngôn ngữ ở những độ tuổi nhất định
Còn Benjamin Whorf vaEdward lại xây dựng một giả thuyết về tính tương đối của ngôn ngữ Họ cho rằng ngôn ngữ mang trên mình một thế giới quan nhất định, và cósự ảnh hưởng lẫn nhau giữ tư duy và ngôn ngữ
Trang 31Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
Vấn đề thực hành ngôn ngữ của trẻ em cũng được nhiều người nghiên cứu Chìa khoá để hình thành những thói quen ngôn ngữ chính là những hoạt động có điều kiện, đó là thực hành-nhắc lại-liên tưởng
Vấn đề nhập dữ liệu của trẻ em khi học ngôn ngữ cũng rất quan trọng, đặc biệt là những lời nói của bố mẹ, người thân trong gia đình
PHẦN LIÊN HỆ
Thông qua việc lược dịch để tìm hiểu những nét cơ bản về ngôn ngữ, về việc dạy và học, hy vọng rằng những nét hết sức cô đọng này phần nào giúp cả người học và người dạy có được những định hướng ban đầu trước khi khoá học diễn ra nhằm giúp quá trình học và dạy ngoại ngữ diễn ra được tốt hơn,
và trên cương vị của mỗi người, một chiến lược phù hợp sẽ được đề ra cho từng quá trình học tập và giảng dạy, cho từng đối tượng và từng khoá học,giúp người hoc và người dạy hiểu nhau, tạo ra một môi trường học tập và giao tiếp tốt Có như vậy mới thu được thắng lợi trong việc tiếp thu, củng cố và phát triển khả năng của mỗi cá nhân khi tham gia vào quá trình học tập Việc tìm hiểu các phương pháp về việc tại sao trẻ em lại có thể tiếp thu tiếng mẹ đẻ tốt đến như vậy là nhằm giúp các nhà ngôn ngữ, các giáo viên giảng dạy ngoại ngữ có được những định hướng cho hoạt động của mình để phát huy một cách
có hiệu quả nhất hoạt động giảng dạy
Trang 32Hội thẻo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
PREVENTING CULTURAL SHOCK
Nguyen Thi DienCan you prevent "culture shock"?
Is it inevitable? How do you notice when it hits you?
What can you do when you suspect it has?
Please read some of the following advices by Dianne Dicks, publisher and editor of Bergli Books and you will find the answer by yourselves
Everybody who has spent an extended time living among people who have a different language, values and attitudes, system of working and social etiquette will sooner or later realize it’s not all that much fun and at times often frustrating, even infuriating, to have to always to adapt your own way of living to the ways others seem to abide by
If you are going to spend a more than a few weeks abroad, the following tips can help you through the phases of feeling comfortable with foreign neighbors, friends and colleagues at work
In general, in any situation:
1 Make a conscious effort to observe how foreign people communicate with each other Do they smile a lot?
2 Watch their gestures, their handshaking, greeting and departing rituals Try
to distinguish if the people you are observing are close friends or ‘just’ acquaintances and their behavior that seems to point this out
3 Don’t assume that if you are being very friendly, smiling, open and generous with your emotions that the foreign people will understand your codes of behavior They may not have been brought up to express their
Trang 33Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
emotions openly and need more time to get to know you and may prefer to tread more carefully around personal topics
In your neighborhood, apartment:
1 People’s homes are their private and very personal spheres and place of recluse to rest from the demands of the outer world
2 Many foreign people do a lot of ‘entertaining’ at home but become active with their friends and associates through activities (sports, clubs, courses, excursions) outside homes
3 If you want to invite your neighbors into your home for a drink or for dinner, be aware that they will undoubtedly be pleased by your invitation but unsure of themselves about reciprocating hospitality since they are accustomed to going all out for guests they invite in their homes
4 If you make it somehow clear in your invitation that you just want to welcome them into your home for something simple (a drink, small snack) they will appreciate your gesture I suggest you leave it up to them to make the offer of your being on a first-name basis
5 Never assume you are on a first-name basis just because you live in the same neighborhood, housing, or occupy the same office
6 Do not feel insulted if your neighbors do not invite you into their homes - they might not invite even other Swiss who are their friends into their homes Try to mirror the behavior of the foreign people you want to get to know
7 Don’t hesitate to ask questions about things you are not sure about
8 If you find yourself getting angry, accusing the foreign people of what may appear as odd behavior to you, this is a good chance to analyze exactly what behavior sets this off and skillfully try to find new ways of
Trang 34Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
communicating to establish good and lasting relationships Keep in mind that you didn’t really like everybody ‘back home’ either
9 Don’t talk about ‘foreign people It is a country chock full of individualists and a wide variety of traditions and customs In time and with patience you will find your niche
On your job:
• Observe, observe, observe
• Don’t assume you can be on a first-name basis with your colleagues of same rank If you always enjoyed a lot of joking and teasing at your job
‘back home’, you may suffer some disappointment that this lively cheerfulness does not always win you friends and enable you to influence meetings or company relationships
• There’s nothing wrong with asking your colleagues to point out to you anything you do that shows that you are an ‘outsider’
• You will be appreciated more for being punctual, reliable, sincere and industrious than for being ‘jolly’
• There is a time for being ‘jolly’ with the foreign people (on weekend excursions, sport events, etc.) but not necessarily when you are on the job
or negotiating business arrangements
Homesickness:
Of course there will be things you had ‘back home’ you do not have here - especially your family and network of friends And you’ll miss all the routines you’d handled so easily before (your system of paying bills, shopping, getting medical help, dealing with transport, administrative affairs, caring for your clothing, obtaining the foods and services essential for your well-being.)
Trang 35Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
A lot of these things you have taken for granted How is it possible to live without ‘X’ facility or food or cope with stores closing almost before you can leave the office?
Give yourself time to observe and discover how the foreign people themselves deal with these situations (by being well-organized?) I can assure you that in time when you go home again to those old ways of daily living, you’ll see how much you profited from experiencing other ways of looking at these
• Don’t spend all your time contemplating what’s new and different here from the way you lived before but get out there and exchange experiences with other people
• Venture on your own into new territories
• Dare to be different You are in a country where people cherish being different, even among themselves and even within a system of many rules and regulations
• You will be comforted by reading about the experiences of other people who went through the process of adapting to living in foreign countries And for lots of advice about all the administrative issues (paying bills,
Trang 36Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
getting a driver’s license, renting an apartment, getting insurance, understanding the school system for your children, etc)
Dealing with culture shock
You have stepped off the plane into a new cultural world Initially you may experience a sense of overwhelming fascination and awe Everything around you is new: a different language, different dress, or a confusing transit system Slowly you begin to adapt You learn some Italian and begin to notice certain cultural nuances This process takes time
What is culture?
Culture is "an integrated system of learned behavior patterns that are
characteristic of the members of any given society Culture refers to the total way of life of particular groups of people It includes everything that a group
of people thinks, says, does and makes — its systems of attitudes and feelings Culture is learned and transmitted from generation to generation." (L Robert Kohls Survival Kit for Overseas Living, Maine: Intercultural Press, Inc 1996, Page 23.)
Culture Shock
You may have heard these words — Culture Shock - already and possibly within a negative context Conflict in our lives, however, does not have to be negative or incapacitating It can be used as a source of motivation,
introspection, and change Keep this in mind as you read on Culture shock is defined as a psychological disorientation that most people experience when living in a culture markedly different from one’s own Culture shock occurs when our " cultural clues, the signs and symbols which guide social
interaction, are stripped away A difficult part of this process for adults is
Trang 37Hội tháo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
the experience of feeling like children again, of not knowing instinctively the
‘right’ thing to do." (Piet-Pelon & Homby, 1992, p.2)
Symptoms of culture shock include:
• Stereotyping host nationals
• Hostility towards host nationals
Everyone experiences culture shock in different ways, at different times and
• Usually the cultural adjustment process follows a certain pattern
At first, you will be excited about going to Europe and starting a new
adventure When you first arrive, everything will appear new and exciting.However, after some time, you may start to feel homesick and question why the foreigners (Americans or French) do things differently than Vietnamese
do You may even become irritated with these differences
Trang 38Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
However, you will eventually get used to this new way of life And before you know it, you will be getting excited about the return home to your family and friends
• An orientation will be provided for you upon arrival to the Center This orientation will include information regarding culture shock and how to cope with it In addition, the Student Affairs Coordinator is available to assist
students with the cultural adjustment process
Cross culture Communication
Hopefully, while you are in foreign countries, you will take the time to talk with some of the locals Even though you may find that many people speak English, patterns of communication often differ
• Be patient and listen to the meaning, not the words
• Remember that body language (such as gestures, facial expressions, body motions, eye contact and voice inflections) convey meaning in
or Italians, Germans, French, Hungarians, etc.)
For example, a visitor from India to the u s observed: "Americans seem to be
in a perpetual hurry Just watch the way they walk down the street They never allow themselves the leisure to enjoy life; there are too many things to do."
Do you think this observation is accurate or just?
Trang 39Hội thảo Khoa học Giáo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
How would you explain the trait in question?
What underlying values of American culture might this exemplify?
Sometimes our values and beliefs will conflict and sometimes they will
converge with the cultures we visit
The better you are able to adjust to the differences, the greater the ability you will have in empathizing and communicating with those with whom you come
in contact The result will be a better understanding of your own values and the values of the people you will encounter in Europe
Stereotypes Europeans have about Americans
Just as you have certain perceptions about what Europeans are like, they have stereotypes about you as well Knowing what these pre-conceived views are will help you to understand how Europeans relate to you and why
Here is a list of some of the stereotypes that Europeans have about Americans:
Trang 40Hội thảo Khoa học Giảo viên Khoa Đào tạo tại chức (29.6.2006)
• Extravagant
• Wasteful
• Think they have all the answers
• Disrespectful of authority
• Know little about other countries
• All American women are promiscuous
• Wealthy
• Always in a hurry
• Disregard for the elderly