1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo trình thông tin văn hóa nghệ thuật

76 4 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương 1 một số vấn đề cơ bản về văn hóa nghệ thuật và thông tin
Chuyên ngành Văn hóa nghệ thuật và thông tin
Thể loại Giáo trình
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 119,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

VÀ THÔNG TIN 1.1 Khái niệm về văn hóa nghệ thuật.

1.1.1 Khái niệm về văn hóa.

1) Định nghĩa về văn hóa

Một số định nghĩa về văn hóa :

 Theo tuyên bố của UNESCO về những chính sách văn hóa (1982):

Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo ra Văn hóa là chìa khóa của sự phát triển

 Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa: Là sự tổng hợp của mọiphương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sảnsinh ra nhằm thích ứng các nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn(HCM- Tuyển tập, NXB Chính trị Quốc gia H 1995, tr3, tr431)0

 UNESCO: văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác vớidân tộc kia

 Văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con người sáng tạo ra trên nềncủa thế giới tự nhiên

Tóm lại:Văn hóa là các giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần do con người

sáng tạo ra và tạo dựng nên nhằm đáp ứng nhu cầu sống, tồn tại và phát triểncủa mỗi con người và cộng đồng xã hội

2) Đặc trưng của văn hóa:

- Văn hóa có tính truyền thống và là kết quả của một quá trình

- Văn hóa có được thông qua học hỏi

- Văn hóa có thể được chia sẻ

- Văn hóa có tình truyền bá

- Văn hóa có tính tượng trưng

- Văn hóa được kết cấu rất chặt chẽ

- Văn hóa có khả năng thích nghi

- Văn hóa tạo ra sự khác nhau giữa xã hội này và xã hội khác

Trang 2

- Văn hóa khẳng định sự phát triển của xã hội và thể hiện sức mạnh của

xã hội và dân tộc mà nó đại diện

3) Chức năng của văn hóa:

1.1.2 Khái niệm về nghệ thuật:

1) Định nghĩa: Nghệ thuật là những hoạt động có ý thức của con người

và những sản phẩm do con người tạo ra bằng nghững kỹ năng tinh xảo và tinh tếnhất đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ ngày càng cao của con người và xã hội

Nghệ thuật ngày nay đã mở rộng và ăn sâu đến tất cả các hoạt động có ýthức của con người và xã hội

2) Các loại hình nghệ thuật: Hội họa, Điêu khắc, Đồ họa, In ấn, Nhiếp

ảnh, Kiến trúc, Âm nhạc, Kịch, Điện ảnh, Múa, Nghệ thuật trình diễn, Vănchương, các phương tiện truyền thông, Thủ công, Mỹ nghệ, Khoa học và Yhọc,

1.2.3 Vai trò của văn hóa nghệ thuật trong đời sống xã hội:

1 Vai trò nâng cao dân trí

2 Vai trò giáo dục chính trị - tư tưởng

3 Vai trò nâng cao đời sống thẩm mỹ

4 Vai trò phát triển kinh tế - xã hội

5 Vai trò mở rộng quan hệ quốc tế, hội nhập toàn cầu

1.2.Khái niệm về thông tin

1.2.1.Định nghĩa về thông tin

Có lẽ trong khoa học cũng như trong thực tiễn hiện nay không có một kháiniệm nào phổ biến hơn khái niệm “Thông tin”, đồng thời cũng không có một

Trang 3

khái niệm khác nào lại gây ra nhiều cuộc thảo luận, tranh cãi, lại có nhiều quanđiểm khác nhau đến thế Những khác biệt này thể hiện trong nhiều vấn đề: vềthực thể thông tin, về những dấu hiệu, những hình thức biểu hiện, những quan

hệ của nó với các quy luật và phạm trù triết học, về vai trò của nó trong quản lý,trong đời sống và trong sự phát triển xã hội

Thuật ngữ “Thông tin” (Informatio) bắt nguồn từ tiếng La - tinh có nghĩa

là cắt nghĩa, trình bày, loan báo Trong suốt nhiều thế kỷ, khái niệm thông tin đẫtrải qua nhiều thay đổi, khi thì mở rộng, khi thì thu hẹp tối đa các ranh giới củamình Ban đầu, người ta hiểu nó là “quan niệm”, “khái niệm“ về sau là “tintức”, “truyền giao các thông báo” Vào thế kỷ XX, các phương tiện liên lạc đủloại (điện thoại, điện báo, đài phát thanh) dùng để truyền các thông báo, đã pháttriển mạnh mẽ

Trong sinh hoạt hàng ngày thông tin nghĩa là tri thức, sự hiểu biết thu nhậnqua sách báo, qua các câu chuyện kể, qua sự giao tiếp Khái niệm thông tin hiệnnay được sử dụng trong các khoa học: Triết học, Toán học, Ngôn ngữ học,Khoa học báo chí, Nghệ thuật học và nhiều ngành khoa học khác Trong mỗikhoa học này lại có những cách hiểu khác nhau về nội dung của khái niệmthông tin và cũng không trùng hợp với cách hiểu thông thường hàng ngày vềkhái niệm này Thông tin không chỉ xuất hiện trong giao tiếp giữa các thànhviên trong xã hội, mà còn trong các hệ thống tự động, trong quá trình di truyềncủa bố mẹ cho con cái, trong quá trình nhận thức thế giới bằng bộ não của conngười Các quá trình thông tin là đối tượng nghiên cứu của Thông tin học Với

tư cách là phương pháp luận khoa học, chúng ta dựa vào quan niệm triết học để

định nghĩa về thông tin: Thông tin là sự đa dạng của thế giới khách quan ( tự

nhiên, xã hội và con người ) được phản ánh

Quan điểm này được xây dựng trên cơ sở lý luận phản ánh của V.I Lê nin Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa kinh nghiệmphê phán, Người đã viết: “Tất cả mọi vật chất, về bản chất gần giống như cảm

Trang 4

-giác, chúng đều có thuộc tính phản ánh” Phản ánh nghĩa là sự thay đổi của đốitượng vật chất này dưới tác động của đối tượng vật chất khác, trong đó các đặctính của đối tượng được phản ánh dưới một hình thức nào đó được khôi phụclại, ghi ấn lại trên đối tượng phản ánh Theo quan điểm của các nhà triết họcMác - Lê nin thì thông tin là sự đa dạng được phản ánh Chẳng hạn khi đọc xuấthiện sự phản ánh bài đọc trong ý thức của con người (Sách là đối tượng đượcphản ánh, con người là đối tượng phản ánh) Thông tin mà con người thu nhậnđược từ sách là quá trình phản ánh nào đó Thông thường mỗi người khi đọcsách đều lấy được từ sách những thông tin khác nhau Điều này không có nghĩa

là cùng một cuốn sách có bao nhiêu người đọc thì cuốn sách đó có bấy nhiêunội dung, mà nói lên rằng các quá trình phản ánh cuốn sách ở từng người đọckhác nhau thì khác nhau, cuốn sách chỉ có một nội dung khách quan Đối tượngphản ánh nhận được từ đối tượng được phản ánh càng nhiều thông tin bao nhiêuthì càng nắm bắt được nhiều sự đa dạng bấy nhiêu Tuy nhiên, sự đa dạngkhông có nghĩa là sự lộn xộn của các đối tượng, hiện tượng mà các đặc tính của

nó được sắp xếp tuần tự theo một cấu trúc nhất định

Phản ánh tồn tại khách quan và do đó thông tin cũng tồn tại khách quan.Bất kỳ đối tượng vật chất nào, bất kỳ một hiện tượng khách quan nào cũng đều

là nguồn thông tin Đối tượng vật chất là vật mang thông tin gọi là thông báo

tin Như vậy bất kỳ đối tượng vật chất nào của thế giới hiện thực đều có thể

được coi là thông báo tin Nhưng đã có thông báo tin cũng chưa đủ điều kiện đểthông tin xuất hiện Thông tin chứa đựng trong thông báo chỉ là thông tin tồn tạidưới dạng tiềm năng Thông tin chỉ thành hiện thực khi xuất hiện người sử dụngtin có khả năng tách nó ra khỏi thông báo tin Thí dụ: Sách không có người đọc,tác phẩm điện ảnh, sân khấu không có người xem, lời nói không có người nghe,thì đó chỉ là những thông tin tiềm năng, chưa trở thành thông tin hiện thực.Mỗi một thông báo tin đều gắn liền với “Một người đưa tin" nào đó( nguồn, máy phát, người truyền thông, người xây dựng tin ) Thí dụ: Thác

Trang 5

nước đó là nguyên nhân gây ra các tiếng ầm mà ta nghe thấy, tiếng lá cây xàoxạc chứng tỏ rằng có cây và gió, sách báo do tác giả viết Nhìn chung cần phải

có ít nhất ba đối tượng vật chất tham gia vào quá trình truyền thông: Người đưatin, thông báo tin và người sử dụng tin

Quá trình phản ánh diễn ra hai lần trong việc truyền thông báo tin từ ngườiđưa tin đến người sử dụng tin Lần thứ nhất, tác động tương tác giữa người đưatin và thông báo tin do họ xây dựng; trong trường hợp này người đưa tin giữ vaitrò của đối tượng được phản ánh, còn thông báo tin - đối tượng phản ánh Lầnthứ hai, tác động tương tác giữa thông báo tin và người sử dụng tin; trongtrường hợp này thông báo tin giữ vai trò đối tượng bị phản ánh, còn người sửdụng tin - đối tượng phản ánh Sự tác động tương tác giữa thông báo tin vàngười đưa tin hoặc người sử dụng tin gọi là quá trình thông tin Nếu như nhữngngười hoặc các thiết bị kỹ thuật do họ tạo ra và điều khiển tham gia với tư cách

là những người đưa tin và những người sử dụng tin, thì tổ hợp các quá trình

thông tin và các trang thiết bị đảm bảo sự truyền tin gọi là sự truyền thông.

Qua sự phân tích trên, chúng ta có thể đi đến định nghĩa thông tin: Thông

tin là sự phản ánh thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội và con người) bằng ngôn ngữ, ký hiệu, hình ảnh…

1.2.2 Vai trò của thông tin

Có thể nói, thông tin là một hiện tượng tất yếu khách quan đóng một vaitrò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của muôn loài Với conngười và xã hội loài người thì thông tin càng trở thành một trong nghững nhucầu sống còn của mình Người nguyên thủy thông tin cho nhau về thú dữ, về sựtấn công của các thị tộc, bộ lạc khác, về nguồn thức ăn, về nhu cầu tình cảm…Con người hiện đại thông tin cho nhau về thời tiết, về kinh nghiệm sản xuất, đấutranh xã hội, về những vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, về nhu cầu tình cảm, vềnhững nguyên tắc đạo đức hay thị hiếu thẩm mỹ… Chúng ta có thể cảm nhậnđược thông tin ở mọi lúc, mọi nơi với vô vàn cách biểu hiện phong phú và đa

Trang 6

dạng của thế gới xung quanh Chúng ta thường xuyên nhận được tông tin vềtình hình chính trị, văn hóa - xã hội, thể thao trong nước và trên thế giới quativi, báo chí, đài phát thanh… chúng ta còn có thể nhận được thông tin về mộttrận động đất, sóng thần ở một nơi nào đó về nhật thực và nguyệt thực Ngàynay qua mạng Internet, con người có thể hàng ngày hàng giờ, có khi tới từngphú, từng giây trao đổi thông tin với tất cả mọi người trên thế giới, biết được vềquá khứ, hiện tại và những dự báo tương lai…

1.2.3.Các loại thông tin

Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất ở tất cả các cấp độ tổ chức của

nó, ở thế giới vô cơ (phản ánh cơ học), ở các cơ thể sinh vật (phản ánh sinhhọc), ở tư duy (phản ánh - nhận thức) Các thiết bị máy móc do con người tạo ra

có hình thức phản ánh đặc biệt (phản ánh máy) Mỗi loại phản ánh đều có ngườiđưa tin, người sử dụng tin và các thông báo tin chuyên biệt của nó Xuất phát từcác loại hình phản ánh tương ứng khác nhau của tổ chức vật chất, chúng ta cóthể phân thông tin thành các loại sau đây:

1 Thông tin vô cơ

Các quá trình thông tin trong thế giới vô cơ do các khoa học tự nhiên

nghiên cứu như: vật lý học, hóa học, cơ học, nhiệt động học, thiên văn họcv.v…

2 Thông tin hữu sinh

Phần tử mang thông tin này, thí dụ như: các mã di truyền, các mầm bệnh.Loại thông tin này là đối tượng nghiên cứu của các khoa sinh học tương ứng

3 Thông tin xã hội

Thông tin được truyền trong xã hội người và trong quá trình truyền thônggiữa con người với con người Các quá trình truyền thông giữ vai trò rất quantrọng trong xã hội Xã hội không thể tồn tại thiếu sự trao đổi thông tin, cũnggiống như cơ thể sống không thể tồn tại được nếu thiếu sự trao đổi chất Các cơ

Trang 7

quan chuyên môn được xây dựng nên để đảm bảo sự truyền thông trong xã hội,chẳng hạn như: Hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống truyền thông đại chúng(đài phát thanh, rạp chiếu phim, đài truyền hình…), các thư viện, các cơ quanthư mục, các bảo tàng, các cơ quan thông tin khoa học và công nghệ Các quátrình thông tin xã hội do nhiều ngành khoa học nghiên cứu, trong đó có Khoahọc báo chí, Thư viện học, Thư mục học, Khoa học về sách, Thông tin học…

4 Thông tin máy

Thông tin trong máy là thể hiện dưới dạng thông tin đọc bằng máy,được ghitrongcác thiết bị kỹ thuật, thí dụ như : máy tính điện tử, các phương tiện thôngtin liên lạc, các

máy tự động Đặc điểm của thông tin máy là ở chỗ nó đồng thời vừa là thông tin

cơ học, thông tin sinh học và vừa là thông tin xã hội, nghĩa là thông tin phục vụ

xã hội Thông tin máy do các khoa học kỹ thuật tương ứng nghiên cứu

1.3 Khái niệm thông tin xã hội

1.3.1 Định nghĩa về thông tin xã hội

Thông in xã hội là tri thức về thế giới khách quan (tự nhiên, xã hội, tư duy)được diễn đạt dưới hình thức các ký hiệu mà các thành viên xã hội có thể hiểuđược, có khả năng bổ sung, làm giầu thêm hệ kiến thức (Thesauruse) của ngườidùng tin và cũng có thể làm biến đổi tình trạng hệ kiến thức của họ về thế giớikhách quan, và do đó được ứng dụng trong thực tiễn đời sống xã hội nhằm mụcđích nhận thức, chung sống hòa đồng và cải tạo thế giới vì lợi ích của mỗi conngười và cả cộng đồng xã hội

Trong định nghĩa này có thể tách ra bốn yếu tố đặc trưng của thông tin xãhội:

- Tư duy: Thông tin xã hội là kết quả của sự phản ánh ngữ nghĩa thế giới

khách quan thông qua lao động và bằng bộ não của con người Trong trườnghợp ngược lại nó không thể tác động lên hệ kiến thức của người dùng tin

Trang 8

- HIểu: Các ký hiệu được sử dụng trong truyền thông xã hội phải có thể

hiểu được đối với các thành viên xã hội (hoặc một nhóm xã hội)

- Mới: Thông tin xã hội phải mang tri thức mới cho người dùng tin, các tri

thức mới đó làm giầu thêm, làm mới hoặc có thể làm thay đổi tình trạng hệ kiếnthức của họ và do đó được sử dụng trong thực tiễn lịch sử - xã hội

- Hiệu dụng: Thông tin xã hội được con người sử dụng vào đời sống xã

hội nhằm mục đích nhận thức thế giới, sống hòa đồng với thế giới và cải tạo thếgiới vì lợi ích của mỗi con người và cộng đồng xã hội

1.3.2 Vai trò của thông tin xã hội

Thông tin xã hội là kết quả tư duy của con người về sự tồn tại và phát triển

của thế giới khách quan như là một thể thống nhất; về mối quan hệ con ngườivới con người trong xã hội ( chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục… ); về mốiquan hệ con người với môi trường sinh thái, về dân số và phát triển, về pháttriển khoa học và công nghệ và về xu thế phát triển của thời đại…

Mỗi con người và cả xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển bênngoài môi trường khách quan trên đây và đồng thời không thẻ không tiến hànhcác quá trinh sản xuất- xã hội đẻ sáng tạo ra các giá trị vật chất và văn hóa

Như vậy thông tin xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng: trước hết, nó làcông cụ, phương tiện nhận thức thế gới khách quan; là một trong những cơ sở

và nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất - xã hội; là công cụ của việc nângcao dân trí và phát triển văn hóa; là công cụ thúc đây và tạo điều kiện thuận lợicho sự hội nhập quốc tế hiện nay

1.3.3.Các loại thông tin xã hội

Xác định các loại thông tin xã hội cũng có một ý nghĩa quan trọng giốngnhư xác định khái niệm thông tin xã hội trong phạm vi chương trình của chúng

ta Theo ý nghĩa xã hội, thông tin xã hội có thể chia thành hai loại: Thông tinđại chúng và thông tin chuyên ngành

Trang 9

1.3.3.1 Thông tin đại chúng

Thông tin đại chúng - thông tin xã hội dùng cho mọi thành viên của xã hộikhông phụ thuộc vào địa vị xã hội và loại công tác xã hội của họ

Thông tin đại chúng thông báo về các sự kiện của đời sống xã hội, mọithành viên của xã hội đều cần phải quan tâm tìm hiểu chúng để họ sống, tồn tại

và phát triển với tư cách là những thành viên xã hội thực sự Thông tin đạichúng lại được chia thành các loại nhỏ hơn dựa vào ý nghĩa xã hội cụ thể củanó: Thông tin chính trị, thông tin nghệ thuật và thông sinh hoạt

+ Thông tin chính trị

Thông tin chính trị là một loại của thông tin đại chúng, thực hiện chứcnăng tuyên truyền, cổ động, giáo dục và tổ chức để biến hệ tư tưởng chinh trịcủa giai cấp cầm quyền thành hệ tư tưởng của toàn dân Đặc điểm nổi bật củathông tin chính trị là phản ánh rõ khuynh hướng chính trị - tư tưởng và giáo dục

- xã hội Phương tiện để truyền đạt thông tin chính trị là xuất bản, phát thanh,truyền hình, phim ảnh thời sự… Các phương tiện này gọi là các phương tiệntruyền thông đại chúng Các phương tiện truyền thông đại chúng giữ một vai tròđặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hoá hiện đại của xã hội và vănhoá của từng thành viên xã hội

+ Thông tin nghệ thuật

Đây là loại hình thông tin đặc biệt của thông tin đại chúng, nó có đặc tínhtác động lên vùng xúc cảm của con người nhờ vào các hình tượng nghệ thuật.Thông tin nghệ thuật chỉ tồn tại trong lĩnh vực nghệ thuật Hệ thống truyềnthông nghệ thuật bao gồm ba khâu chính: 1) Người nghệ sĩ (người truyền tinnghệ thuật), 2) Tác phẩm nghệ thuật (thông báo tin), 3) Những người thụ cảmnghệ thuật (những người dùng tin nghệ thuật) Nghệ thuật là một hình thái ýthức xã hội có nhiều chức năng Nhưng tất cả các chức năng của nghệ thuật(nhận thức, giáo dục, tư tưởng ) đều được thực hiện thông qua chức năng

Trang 10

truyền tin Nghệ thuật hoạt động như một kênh liên lạc đặc biệt mà ở đó diễn ra

sự trao đổi tư tưởng, tình cảm, ước muốn của con người, xã hội hoá đời sốngtinh thần của cá nhân Các tác phẩm nghệ thuật dành cho xã hội nói chung(không những dành cho những người đương thời, mà cho cả những người hậuthế) Vì thế, "Thông tin nghệ thuật" thuộc về thông tin đại chúng Tất cả các loạithông tin xã hội đều có khả năng tác động lên cơ quan cảm giác của con người(Thí dụ: mọi người đều xúc động khi nhận được tin về Đại thắng Mùa xuân

1975 của dân tộc Việt Nam) Nhưng thông tin nghệ thuật có những phương tiệntác động cảm xúc đặc biệt Hình tượng nghệ thụât và các hệ thống ký hiệu đặcbiệt Thông tin nghệ thuật có rất nhiều đặc điểm riêng biệt khác hẳn với các loạithông tin xã hội khác và đòi hỏi phải nghiên cứu riêng mà ở trong chương trìnhnày không đề cập đến

+ Thông tin sinh hoạt

Thông tin sinh hoạt là loại thông tin đại chúng, nó được dùng để chế địnhhành vi của các thành viên xã hội và hướng dẫn họ trong môi trường xã hội.Thông tin này được chuyển tải dưới nhiều hình thức và bằng các phương tiệnkhác nhau, ví dụ như: các địa chỉ của những người sống ở thành phố, các bảnggiờ tàu, các tín hiệu giao thông, các biển quảng cáo thương mại, các băng khẩuhiệu, các panô áp phíc, các bộ luật, các hương ước, các điều lệ, các quy chế ,các tâp tục , tập quán và các câu châm ngôn tồn tại hàng ngàn đời nay…

1.3.3.2 Thông tin chuyên ngành

Thông tin chuyên ngành - thông tin xã hội dành cho các nhóm xã hội mụctiêu Nhóm xã hội mục tiêu là tập hợp những người có liên hệ với nhau bằng cácmối quan hệ nhất định (kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa ) và có một sốnguyên tắc phân định riêng Các nguyên tắc phân định đó là vai trò, vị trí trongsản xuất, trình độ văn hoá, cái chung của tiếng nói, cùng sống trên một vùnglãnh thổ v.v Khái niệm nhóm xã hội mục tiêu là một khái niệm quan trọng vàđược sử dụng rộng rãi trong xã hội học Khái niệm này có thể được dùng để chỉ

Trang 11

một giai cấp xã hội nhất định (giai cấp công nhân) hoặc một tầng lớp xã hội(tầng lớp tri thức), những người thực hiện chức năng lao động xã hội nhất định(các nhà bác học, các hoạ sĩ, các thương gia, những người quản lý hànhchính ) và những tập thể tương đối ít người (nhóm khoa học, nhóm sinh viên,chi bộ Đảng ) Những nhóm chỉ bao gồm vài chục người có thể quen biết nhauthì gọi là nhóm nhỏ Sự liên kết những nhóm có hàng chục nghìn người ở trênmột phạm vi lãnh thổ lớn thì gọi là các nhóm lớn Nét đặc trưng của nhóm lớn

là không có khả năng truyền thông tin bằng cách giao tiếp cá nhân giữa cácthành viên của nhóm Trong nhóm lớn lại bao gồm các nhóm nhỏ Các nhómđược xây dựng nên để thực hiện các nhiệm vụ xã hội nhất định Nhóm xã hộimục tiêu được xây dựng theo cấu trúc hình thức nhất định, có sự phân công laođộng và phân công chức năng theo chuyên môn hoá giữa các thành viên củanhóm; xây dựng mối quan hệ đẳng cấp quyền hạn và bộ máy quản lý Thí dụcác nhóm xã hội mục tiêu: Khoa học là lĩnh vực hoạt động của các nhà khoahọc, kỹ thuật là lĩnh vực của các kỹ sư, bộ máy quản lý kinh tế, tổ chức Đảng,quân đội Các nhóm xã hội mục tiêu liên kết với nhau bởi các nhiệm vụ chung,đòi hỏi phải có những kiến thức chuyên môn cần thiết Phương tiện để truyềnnhững kiến thức này là các hệ thống thông tin chuyên ngành Cần phải lưu ýrằng nhóm xã hội mục tiêu tạo ra các hệ thống ký hiệu riêng (hệ thống thuậtngữ, các ký hiệu quy ước ), mà chỉ có các thành viên của nhóm mới hiểu được

Để có thể hiểu được các thông tin lưu chuyển trong nhóm, đòi hỏi các thànhviên của nó phải nắm được các hệ thống ký hiệu, dấu hiệu quy ước, khái niệm

và thuật ngữ chuyên biệt thí dụ như các tài liệu khoa học chuyên ngành chỉ cóthể hiểu được đối với những người có đào tạo chuyên môn tương ứng

Thông tin chuyên ngành được chia thành nhiều loại Nói chung có baonhiêu nhóm xã hội mục tiêu thì có bấy nhiêu loại thông tin chuyên ngành.Chúng ta sẽ nghiên cứu tìm hiểu một số loại thông tin chuyên ngành Đối vớichúng ta, quan trọng hơn cả là thông tin khoa học

Trang 12

+ Thông tin khoa học Trước khi định nghĩa thông tin khoa học, chúng ta

cần làm rõ khái niệm khoa học Khái niệm khoa học có hai nghĩa:

1- Khoa học là hệ thống kiến thức tích luỹ được ở một thời kỳ nhất định vềtất cả các lĩnh vực của các khoa học chính xác, tự nhiên và xã hội (hệ kiến thứckhoa học của xã hội), và như vậy, khoa học là yếu tố quan trọng của văn hoátinh thần

2- Khoa học là hình thức nhận thức có nhiệm vụ phát hiện những quy luậttồn tại khách quan của tự nhiên, xã hội và hoạt động tinh thần của con người, vànhư vậy khoa học là lĩnh vực quan trọng của sản xuất tinh thần Với nghĩa thứnhất: khoa học là sự tổ hợp của thông tin khoa học; còn với nghĩa thứ hai: khoahọc là sự hoạt động xây dựng thông tin khoa học

Thông tin khoa học là thông tin chuyên ngành thu nhận được trong quátrình nghiên cứu khoa học

Trong định nghĩa này có những dấu hiệu của thông tin khoa học như sau:a) Thông tin khoa học là thông tin chuyên ngành, để truyền được nó cầnphải sử dụng các hệ thống ký hiệu chuyên biệt (các ngôn ngữ khoa học- các hệthống thuật ngữ và các ký hiệu quy ước) mà các chuyên gia của ngành tươngứng có thể hiểu được

b) Khác với các loại hình thông tin xã hội khác là ở chỗ, nội dung củathông tin khoa học là tri thức khoa học có những đặc điểm sau:

- Nó là kết quả của tư duy lôgic trừu tượng diễn đạt dưới dạng các kháiniệm lôgic, các phán đoán và các suy lý;

- Nó hướng đến nghiên cứu các quy luật khách quan của thế giới hiện thực,

xã hội và hoạt động tinh thần của con người

- Nó cần phải được thu nhận bằng các phương pháp khoa học bảo đảmchân lý của các tri thức

Trang 13

+ Thông tin kỹ thuật Thuật ngữ “kỹ thuật" cũng giống như thuật ngữ

“khoa học" cũng có nhiều nghĩa: Kỹ thuật là tổ hợp các công cụ kỹ thuật do conngười tạo ra (các máy móc thiết bị kỹ thuật ) và kỹ thuật là lĩnh vực hoạt độngcủa con người nhằm nghiên cứu vận dụng các tư tưởng khoa học vào sản xuất(xã hội hoá những tri thức khoa học) Kết quả của sáng tạo kỹ thuật là:

1) Các sản phẩm kỹ thuật mới (các máy móc, nguyên vật liệu và quá trìnhcông nghệ)

2) Những kiến thức được thể hiện dưới hình thức thông tin liên quan đếncác khoa học kỹ thuật cũng như dưới dạng các thông tin kỹ thuật chuyên biệt.Thông tin kỹ thuật- thông tin chuyên ngành được xây dựng trong lĩnh vực

kỹ thuật và dùng để giải quyết các nhiệm vụ kỹ thuật (nghiên cứu xây dựng cácsản phẩm kỹ thuật mới, nguyên vật liệu, các quá trình công nghệ mới) Loạiphần tử mang tin kỹ thuật điển hình là các tài liệu kỹ thuật chuyên dạng (các mô

tả sáng chế phát minh và giải pháp hữu ích, các mục lục công nghiệp, các địnhmức, tiêu chuẩn và quy phạm kỹ thuật )

Thông tin kỹ thuật, cũng giống như thông tin khoa học, là kết quả của tưduy lôgic trừu tượng Nhưng nếu tư duy của các nhà khoa học hướng đến việctìm ra các quy luật mới, thì tư duy của các kỹ sư hướng đến vận dụng các quyluật khoa học đã được biết để giải quyết các vấn đề kỹ thuật cụ thể

+ Thông tin công nghệ - Thông tin chuyên ngành được sử dụng trực tiếp

trong lĩnh vực sản xuất vật chất để sản xuất các sản phẩm khác nhau cho conngười (máy móc, quần áo, thức ăn, xây dựng nhà cửa ) Phần tử mang thôngtin công nghệ là các tư liệu kỹ thuật (các bản vẽ kỹ thuật, các điều kiện kỹ thuật,các sơ đồ công nghệ) được xây dựng trong lĩnh vực kỹ thuật

Thông tin công nghệ có những đặc điểm sau đây khác với các loại hình thông tinkhác:

Trang 14

a) Nó có địa chỉ xã hội chính xác: một địa chỉ sản xuất vật chất nhất định

và chỉ có một mà thôi Tư liệu kỹ thuật mang tính chất chỉ đạo và hướng dẫnsản xuất Trong tư liệu chỉ rõ và thống nhất các chế độ công nghệ sản xuất vàcác yêu cầu sản xuất đối với các sản phẩm, cũng như các biện pháp kiểm trachúng

b) Tài liệu công nghệ có ý nghĩa như một tài liệu pháp quy cần phải tuântheo nghiêm túc- Các bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm có trách nhiệmkiểm tra sản phẩm đã sản xuất có được phù hợp với tài liệu công nghệ nào đóhay không

c) Tài liệu công nghệ có hình thức ký hiệu chuyên biệt (các ký hiệu quy ước, tiêuchuẩn )

Các lĩnh vực khoa học - kỹ thuật và sản xuất vật chất có mối quan hệ hữu

cơ với nhau Kỹ sư và người sản xuất không thể chỉ quan tâm sử dụng các thôngtin kỹ thuật và tài liệu kỹ thuật, mà họ còn phải cần đến các tri thức khoa họcđược tạo ra trong lĩnh vực của các khoa học kỹ thuật Các tri thức ấy đượcchuyển vào lĩnh vực kỹ thuật và sản xuất bằng hai con đường: qua hệ thống giáodục nghề nghiệp (các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, cáctrường đại học và cao đẳng và các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ ) và qua

hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật Ở thời đại chúng ta nếu không xây dựngtốt hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật thì sẽ không có sự tiến bộ kỹ thuật,không có sự phát triển sản xuất Đặc biệt là có mối quan hệ qua lại khăng khítgiữa thông tin khoa học và thông tin kỹ thuật Vì thế chúng ta khó có thể phânđịnh rõ ràng ranh giới giữa thông tin khoa học và thông tin kỹ thuật Trong thực

tế người ta không tách rời hai loại thông tin khoa học và thông tin kỹ thuật màkết hợp thành một loại thông tin khoa học- kỹ thuật

+ Thông tin kinh tế - Thông tin chuyên ngành về hiện trạng và triển vọng

phát triển của nền kinh tế quốc dân, được dùng để lập kế hoạch và quản lý nềnsản xuất xã hội Trong loại thông tin này cái quan trọng nhất là các chỉ tiêu kinh

Trang 15

tế - Các đại lượng phản ánh tình trạng sản xuất và các yêu cầu đối với sảnphẩm: Giá trị sản phẩm, số lượng công nhân đang làm việc, danh mục các sảnphẩm cùng với các đặc trưng của chúng Cần lưu ý là: Các chỉ tiêu kinh tế đềuđược thể hiện dưới dạng số liệu dữ kiện Vì thế chúng ta phải sử dụng các biệnpháp đặc biệt để phổ biến các tài liệu kế hoạch và báo cáo, các hướng dẫn, chỉdẫn và các phần tử mang thông tin kinh tế khác Thông tin kinh tế thương mại

về lĩnh vực thương mại có liên quan chặt chẽ với loại thông tin này Thườngthường thông tin kinh tế nói chung và thông tin kinh tế thương mại được gọi cáitên chung là thông tin kinh tế

Đương nhiên, các nhà kinh tế không chỉ quan tâm sử dụng các tin tức dữ

kiện về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, họ cần phải nắm được các tri thức về các

quy luật của sản xuất xã hội, về qui luật "Cung- Cầu", đó là những thông tin

khoa học về kinh tế (chính trị kinh tế học, kinh tế học cụ thể ) và đồng thời cácnhà kinh tế học cũng cần đến các thông tin dữ liệu cụ thể của đời sống kinh tế

Vì thế, thông tin khoa học kinh tế, kinh tế kế hoạch đầu tư và kinh tế thươngmại có liên quan chặt chẽ với nhau

+ Thông tin văn hóa nghệ thuật – Đây là một loại thông tin xã hội chuyên

ngành rất đặc biệt và rất cần thiết cho đời sống xã hội Nó có những đặc điểmchung tương tự như các loại thông tin xã hội chuyên ngành khác, nhưng nó còn

có những đặc điểm riêng biệt Chính vì vậy mà chúng ta cần phải nghiên cứu nómột cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc trong nội dung của chương trình môn họcnày

Chúng ta không đề cập nghiên cứu các loại thông tin chuyên ngành khác(thông tin quân sự, thông tin Đảng, thông tin ngoại giao ) ở trong chương trìnhnày Nét đặc trưng của các loại thông tin này là có nhiều và rõ ràng

Chúng ta cần lưu ý rằng, không có ranh giới rõ ràng giữa các loại thôngtin Mỗi thành viên xã hội đều cần đến các loại thông tin xã hội khác nhau, cácloại thông tin này có tác động tương hỗ với nhau trong khi chúng ta thụ cảm

Trang 16

chúng Các phương tiện truyền thông đại chúng có thể được sử dụng một phần

để truyền thông tin khoa học, kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và văn hóa nghệthuật

CHƯƠNG II

KHÁI LUẬN VỀ THÔNG TIN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

2.1 Định nghĩa về thông tin văn hóa nghệ thuật.

Thông tin văn hóa nghệ thuật là loại thông tin xã hội chuyên ngành đặcbiệt phản ánh về hiện trạng lĩnh vực văn hóa nghệ thuật bao gồm cả ba khu vực:Khu vực sáng tạo sản phẩm, khu vực chuyển tải và khu vực công chúng hưởngthụ văn hóa nghệ thuật

Hình 1: Sơ đồ nội dung của thông tin về văn hóa nghệ thuật

2.2 Đặc điểm của thông tin văn hóa nghệ thuật

2.2.1.Đặc điểm nội dung của thông tin văn hóa nghệ thuật

Nội dung của văn hóa nghệ thuật là rất rộng lớn, bao quát tất cả các lĩnh vự

sản xuất và sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội loài người Vìvậy theo nghĩa rộng: nội hàm của thông tin văn hóa nghệ thuật cũng bao quát vàphản ánh về tất cả các lĩnh vực nói trên, trong đó đặc biệt trọng tâm phản ánh vềlĩnh vực sáng tạo các giá trị tinh thần - lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Ngoài rathông tin văn hóa nghệ thuật còn phản ánh cả các lĩnh vực khác có liên quan đến

sự hình thành và phát triển văn hóa nghệ thuật như: Chính trị, kinh tế, khoa học

và công nghệ, môi trường sinh thái, dân số và phát triển, xu thế của thời đại, vv

2.2.2 Đặc điểm hình thức thể hiện của thông tin văn hóa nghệ thuật:

Thông tin văn hóa nghệ thuật là thông tin xã hội chuyên ngành được thể hiệnbằng ngôn ngữ đặc biệt: bằng các khái niệm, thuật ngữ chuyên dụng, các ký

Trang 17

hiệu quy ước, các dữ liệu (các số liệu), các dấu hiệu, cử chỉ hành động, màu sắc,ánh sáng, âm thanh, các mô hình và các biểu tượng….

2.2.3 Đặc điểm đối tượng phục vụ của thông tin văn hóa nghệ thuật:

Ở mức độ khác nhau, tuỳ theo từng thời điểm cụ thể và tuỳ theo vào vị trítrong đời sống xã hội, mọi thành viên xã hội đều là đối tượng phục vụ của thôngtin văn hóa nghệ thuật

Đối tượng người dùng tin trong lĩnh vực thông tin này bao gồm:

- Các nhà quản lý văn hóa nghệ thuật

- Các nhà chuyên môn trong văn hóa nghệ thuật

- Các nhà nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ thuật

- Công chúng của văn hóa nghệ thuật

2.3 Các tính chất cơ bản của thông văn hóa nghệ thuật

2.3.1 Tính chính trị tư tưởng

Tính chính trị tưởng của thông tin văn hóa nghệ thuật thể hiện trong bakhía cạnh;

- Nội dung và hình thức thông tin

- Phương pháp xử lý phân tích-tổng hợp thông tin

- Mục đích chuyển tải thông tin

2.3.2 Tính hữu ích

Thông tin văn hóa nghệ thuật tác động vào hệ kiến thức của người dùng tin (nhàquản lý, nhà sáng tạo và công chúng), nó bổ sung, làm giàu thêm hoặc làm thayđổi hệ kiến thức của họ, giúp họ ra được quyết định nhanh chóng, kịp thời vàchính xác trong quản lý, trong hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật

Trang 18

2.3.3.Tính giá trị

Tính chất này tương tự như tính hữu ích trên của thông tin văn hóa nghệthuật Tuy nhiên, nó phụ thuộc vào ba điều kiện chủ yếu:

- Phụ thuộc vào nội dung của thông tin

- Phụ thuộc vào thời điểm cung cấp và nhận được thông tin

- Phụ thuộc vào năng lực tiếp nhận thông tin của người dùng tin (trình độ

học vấn, chuyên môn và kinh nghiệm sống của bản thân người dùng tin)

2.3.4.Tính lỗi thời

Hoạt động sáng tạo trong điều kiện của nền kinh tế thị trường là một loạihoạt động rất sôi động, có nhiều đột biến bất ngờ và luôn luôn thay đổi Lĩnhvực văn hóa nghệ thuật như là một cơ thể sống động biến đổi từng ngày, từnggiờ, nhiều khi những thông tin về nó vượt ra khỏi khả năng nắm bắt của các nhàchuyên môn trong lĩnh vực này Chính những nguyên nhân này làm cho thôngtin văn hóa nghệ thuật cũng chóng lỗi thời như tất cả các loại thông tin khác

2.3.5.Tính phụ thuộc tương đối giữa nội dung và hình thức biểu đạt của thông tin

Cùng một nội dung của thông tin có thể biểu đạt bằng nhiều hình thức khácnhau, bằng nhiều ký hiệu khác nhau Ngược lại, cùng một hình thức và cùngmột ký hiệu có thể chuyển tải những nội dung khác nhau về thông tin văn hóanghệ thuật Chẳng hạn như thông tin về nội dung một sản phẩm nghệ thuật nào

đố có thể chuyển tải bằng các phương tiện phim ảnh, quảng cáo, xuất bản sáchbáo hoặc kênh thông tin hình thức hoá (triển lãm, hội chợ, hội nghị, hội thảo…)

2.4 Vai trò của thông tin văn hóa nghệ thuật trong đời sống xã hội

Thông tin văn hóa nghệ thuật phản ánh tất cả các mặt hoạt động văn hóa

nghệ thuật của xã hội, phục vụ cho tất cả mọi người dùng tin

Trang 19

2.4.1 Thông tin văn hóa nghệ thuật là cơ sở và công cụ quyết định quản lý văn hóa nghệ thuật

Sản phẩm lao động của các nhà quản lý văn hóa nghệ thuật là các quyết địnhquản lý Trong tất cả các quá trình ra quyết định quản lý ( Chuẩn bị, xây dựng, tổchức thực hiên và kiểm tra đánh giá việc thực hiện quyết định ) đều cần đến cácloại thông tin văn hóa nghệ thuật và các loại thông tin xã hội khác

2.4.2.Thông tin văn hóa xã hội là sức mạnh của chủ thể văn hóa nghệ thuật

Cũng như thông tin nói chung, thông tin văn hóa nghệ thuật là sản phẩmtrí tuệ của con người, nó là tài sản đặc biệt quan trọng tạo nên sức mạnh củamỗi tổ chức, của mỗi quốc gia, đồng thời nó được lưu trữ và sử dụng nhằm làmtăng năng lực sáng tạo trong hoạt động văn hóa nghệ thuật

2.4.3.Thông tin văn hóa nghệ thuật là lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chính của hoạt động văn hóa nghệ thuật

Thông tin văn hóa nghệ thuật không chỉ là một lực lượng sản xuất trựctiếp mà nó còn giữ vai trò động lực chính của hoạt động văn hóa nghệ thuật.Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng trong các lĩnh vự sáng tạo sản phẩm văn hóanghệ thuật, vai trò của thông tin thể hiện một cách trực tiếp, đặc biệt quan trọngtrong vận hành toàn bộ quá trìn sáng tạo

2.4.4.Thông văn hóa nghệ thuật giúp các chủ thể chiến thắng cạnh tranh trên thị trường văn hóa nghệ thuật

Thông tin về tình hình phát triển hoạt động văn hóa nghệ thuật nói chung,

về tình hình thị trường văn hóa nghệ thuật nói riêng, về nhu cầu và thị hiếu củacông chúng, về cạnh tranh, về môi trường tự nhiên, chính trị, xã hội bên trong

và bên ngoài quốc gia giúp cho các cơ quan văn hóa và các quốc gia tìm kiếmlợi thế cạnh tranh của họ Chính vì vậy thông tin được xem như một tài sảnquan trọng của mỗi một tổ chức, của mỗi đơn vị văn hóa nghệ thuật Nó cầnphải được tổ chức khai thác và sử dụng một cách hợp lý, hợp pháp trên nguyên

Trang 20

tắc đảm bảo "Tính bảo mật" và "Bảo vệ quyền sở hữu thông tin" theo luật pháphiện hành của mỗi quốc gia và thông lệ quốc tế.

2.4.5.Thông tin văn hóa nghệ thuật giúp các chủ thể và các bộ phận văn hóa nghệ thuật liên hệ mật thiết với nhau

Trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật có rất nhiều mối quan hệ khác nhau củacác chủ thể kinh tế Một trong các mối quan hệ đặc biệt quan trọng là quan hệtrao đổi thông tin của các chủ thể, các bộ phận của văn hóa nghệ thuật Quan hệtrao đổi thông tin giúp cho các chủ thể và các bộ phận độc lập liên kết với nhauthành một khối thống nhất của nền văn hóa dân tộc Thông tin làm cho hoạtđộng văn hóa nghệ thuật phù hợp với nhu cầu thị hiếu của xã hội, tạo sự hiểubiết và thích ứng lẫn nhau giữa các nhà chuyên môn hoạt động văn hóa nghệthuật trên nguyên tắc quản lý vĩ mô của nhà nước, đảm bảo hài hoà cả ba lợiích: lợi ích của công chúng, lợi ích của những người làm công tác văn hóa nghệthuật và lợi ích của cộng đồng xã hội

2.4.6 Thông tin văn hóa nghệ thuật giúp cho nền văn hóa của một quốc gia hội nhập với nền văn hóa khu vực và thế giới

Với xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá hiện nay, thông tin văn hóa nghệthuật giúp cho văn hóa mỗi nước hội nhập với văn hóa khu vực và thế giới.Bằng nhiều biện pháp khác nhau để có thể rút ngắn nhanh chóng trình độ pháttriển giữa các nước, đó là bằng biện pháp thông qua trao đổi thông tin có vai tròđặc biệt quan trọng Trong thời đại ngày nay cách thức chủ yếu để tăng năngsuất và phát triển văn hóa nghệ thuật là các nước nghèo, kém phát triển, ít đượcthiên nhiên ưu đãi về tài nguyên phải nhanh chóng nắm bắt những thành tựukhoa học công nghệ mới nhất, vận dụng những thành tựu khoa học quản lý, cáckhoa học về văn hóa để đổi mới tư duy, nâng cao năng lực hoạt động văn hóanghệ thuật Để làm được như vậy các hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật củacác nước kém phát triển phải được tổ chức tốt và cập nhật được các thông tin vềmọi lĩnh vực hoạt động văn hóa

Trang 21

2.4.7.Thông tin văn hóa nghệ thuật có một vai trò cực kỳ to lớn trong việc góp phần khắc phục khuyết tật của cơ chế thị trường văn hóa nghệ thuật

* Thông tin giúp nhận dạng khuyết tật cơ chế thị trường thông tin văn hóa nghệ thuật

Nền kinh tế thị trường được điều tiết bởi cơ chế thị trường thuần tuý đượcnhà kinh tế học người Anh - Adam Smith, gọi là "Bàn tay vô hình" vào nhữngnăm 30 của thế kỷ XX, những khuyết tật của kinh tế thị trường hoạt động theo

"Bàn tay vô hình" càng bộc lộ rõ, chẳng hạn như những cuộc khủng hoảng chu

kỳ, sự tích tụ của các mâu thuẫn mà sau này chuyển thành các cuộc chiến tranhthế giới lần thứ nhất và thứ hai Vì vậy, ngay sau thời kỳ đó các nhà khoa họccủa trường phái kinh tế học cổ điển đã tổng kết thành 7 khuyết tật lớn sau:

- Thị trường là bất hợp lý và mất cân đối

- Thị trường bản chất là bất công và tái sản xuất mở rộng ra những bấtcông và bất bình đẳng xã hội

- Thị trường tất yếu dẫn đến độc quyền

- Thị trường mang theo những tệ nạn buôn gian bán lận, tham nhũng, hốilộ

- Thị trường trong nhiều trường hợp kìm hãm khoa học - kỹ thuật, đặc biệt lànhững khi thành tựu khoa học đó có mâu thuẫn với quyền lợi của các nhà tư sảnđộc quyền

- Thị trường là nhân tố sản xuất ra chiến tranh kinh tế

- Thị trường tàn phá môi sinh một cách có hệ thống và ngày càng nặng nề

* Thông tin giúp khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường thông tin văn hóa nghệ thuật:

- Thông tin là công cụ, phương thức xây dựng, ban hành, chỉ đạo, kiểm trathực hiện, các quyết định quản lý nhà nước

Trang 22

- Thông tin là công cụ, là phương thức để hướng dẫn hoạt động sáng tạo,hướng dẫn cong chúng trong cơ chế thị trường văn hóa nghệ thuật.

- Thông tin góp phần cải tạo, ngăn chặn những mặt trái của cơ chế thị trường,cảnh báo kịp thời những sai phạm, những chệch hướng trong hiện thực thị trườngvăn hóa nghệ thuật

- Thông tin giúp cho các cơ quan nhà nước xây dựng những văn bản luậtpháp về văn hóa phù hợp với thực tiễn trong nước, khu vực và quốc tế

- Thông tin là nguyên liệu, tư liệu quan trọng để phát triển nghiên cứu khoahọc, đổi mới tư duy về văn hóa nghệ thuật

- Thông tin là phương thức quan trọng để nhà nước thực hiện chức năngquản lý xã hội, đặc biệt là quản lý nhà nước về phát triển văn hóa, phát triển sảnxuất kinh doanh và dịch vụ trong lĩnh vực văn hóa

Qua sự phân tích và trình bày ở trên về vai trò của thông tin văn hóa nghệthuật, chúng ta có thể đi đến kết luận: Thông tin văn hóa nghệ thuật là đặc trưngsức mạnh của người sở hữu và sử dụng chúng, của mỗi chủ thể văn hóa trongnền kinh tế thị trường và của mỗi quốc gia Trong nền kinh tế thị trường nóichung, đặc biệt là ở nước ta hiện nay sức mạnh không những thể hiện ở nhữngnguồn lực vật chất hữu hình, mà cả ở những nguồn lực phi vật chất vô hìnhtrong đó có thông tin văn hóa nghệ thuật Chính vì vậy các tổ chức kinh tế mạnh

và các quốc gia có nền kinh tế mạnh như Anh, Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu, Nga,Trung Quốc đều rất đặc biệt quan tâm xây dựng cho mình các hệ thống thôngtin văn hóa nghệ thuật hoàn chỉnh, tích hợp tự động hoá Những bài học kinhnghiệm về phát triển hoạt động thông tin văn hóa nghệ thuật ở các nước có nềnkinh tế mạnh là các bài học vô cùng quý báu và quan trọng cho các nước đangphát triển và kém phát triển

2.5.Chức năng của thông tin văn hóa nghệ thuật

Thông tin văn hóa nghệ thuật có ba chức năng chủ yếu:

Trang 23

- Chức năng hướng dẫn thực tiễn hoạt động văn hóa nghệ thuật.

- Chức năng cung cấp tư liệu cho nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ

thuật

- Chức năng góp phần hình thành tư duy văn hóa nghệ thuật lành mạnh

2.5.1 Chức năng hướng dẫn thực tiễn hoạt động văn hóa nghệ thuật

Đây là chức năng quan trọng nhất trực tiếp phục vụ cho các hoạt động vănhóa nghệ thuật:

- Thông tin giúp cho các nhà quản văn hóa, các chuyên gia văn hóa xâydựng các chương trình kế hoạch, định hướng các hoạt động văn hóa lâu dài và

bố trí các nội dung hoạt động đó theo hướng chương trình kế hoạch

- Thông tin giúp cho các nhà chuyên môn điều chỉnh hoạt động hàng ngày

2.5.2 Chức năng cung cấp tư liệu cho nghiên cứu khoa học về vă hóa nghệ thuật

Thông tin khoa học là kết quả của nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệthuật Công tác nghiên cứu khoa học tạo ra tư liệu, vật liệu, phương tiện chothông tin văn hóa nghệ thuật Ngược lại đến lượt mình thông tin văn hóa nghệthuật lại tạo ra tiền đề mới, những vật liệu mới cho công tác nghiên cứu khoahọc về văn hóa nghệ thuật sáng tạo ra các nội dung mới, đề ra các khái niệm,các nội dung lý thuyết khoa học về văn hóa nghệ thuật mới

Thông tin văn hóa nghệ thuật giúp cho công tác nghiên cứu khoa học vềvăn hóa nghệ thuật phát hiện các nhu cầu mới của thực tiễn, biết cần nghiên cứucái gì, cần phải tránh điều gì, tránh được sự trùng lặp của các công trình khoahọc về văn hóa nghệ thuật, kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học về văn hóanghệ thuật, tiết kiệm được sức lực, tiền của đầu tư cho nghiên cứu - triển khainói chung và cho khoa học về văn hóa nghệ thuật nói riêng

Trang 24

2.5.3 Chức năng góp phần hình thành tư duy văn hóa nghệ thuật lành mạnh

Trong quá trình hoạt động, tư duy văn hóa nghệ thuật ngày được nâng lên, đượcphát triển từ vô thức, từ chỗ lấy lợi ích vụn vặt dần dần trở thành tư duy có ýthức, mang tính tự giác, tính khoa học

Tư duy văn hóa nghệ thuật được hình thành theo phương pháp khoa họcphải qua nhiều nấc thang khác nhau:

- Tư duy triết học: Cách nhìn nhận thế giới, xem xét lợi ích trong tổng thể thế

giới khách quan ( Tự nhiên , xã hội và con người )

- Tư duy xã hội: Con người văn hóa nghệ thuật kết hợp với con người xã

hội, lợi ích cá nhân quan hệ với lợi ích cộng đồng xã hội một cách hàihoà.Thông tin văn hóa nghệ thuật giúp con người triết học phát triển thành conngười kinh tế - văn hóa - xã hội

- Tư duy kinh tế: Từ nhận thức triết học và xã hội, con người văn hóa nghệ

thuật nhận thức mối quan hệ lợi ích giữa cá thể với cộng đồng xã hội Nếu giảiquyết tốt mối quan hệ này sẽ thúc đẩy nền kinh tế- văn hóa - xã hội phát triểnlành mạnh

Để giải quyết tốt chức năng này, thông tin văn hóa nghệ thuật cung cấp cáckiến thức cần thiết cho các nhà quản lý văn hóa, nhà sáng tạo hiểu biết về mụcđích, phương pháp, đối tượng khai thác các lợi ích

Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường như ở nước ta hiện nay, thôngtin văn hóa nghệ thuật còn góp phần xây dựng đạo đức, biểu dương mặt tích cựccủa thị trường văn hóa nghệ thuật và phê phán những tiêu cực, hạn chế của nó,góp phần đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện lừa đảo, tội phạm ,giúp mọi thành viên xã hội tham gia hoạt động văn hóa nghệ thuật một cách tíchcực và có hiệu quả trên cơ sở bảo đảm thực hiện cả ba lợi ích: Lợi ích của nhàsáng tạo, lợi ích của công chúng và lợi ích của cộng đồng xã hội

Trang 25

2.6 Phân loại thông tin văn hóa nghệ thuật

* Mục đích phân loại thông tin văn hóa nghệ thuật: Văn hóa nghệ thuật

là một lĩnh vực rộng lớn, phức tạp và góp phần đặc biệt quan trọng vào sự pháttriển xã hội Thông tin văn hóa nghệ thuật là loại thông tin hết sức phong phú,

đa dạng và phức tạp Để hiểu rõ bản chất của thông tin văn hóa nghệ thuật vàđồng thời để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyên truyền, phổ biến, quảng bá

và tiến hành tra cứu tìm tin một cách hiệu quả phục vụ các đ ối tượng ngườidùng tin, chúng ta cần phải tiến hành phân loại thông tin văn hóa nghệ thuật

*Cơ sở phân loại thông tin văn hóa nghệ thuật: Chúng ta tiến hành phân

loại thông tin này dựa vào nhiều cơ sở khác nhau: dựa vào nội dung thông tin;hình thức lưu trữ, bảo quản, chuyển tải và bao gói thông tin; hệ thống quản lývăn hóa nghệ thuật; đối tượng và hình thức phục vụ thông tin; hình thức thểhiện các hiện tượng và các quá trình hoạt động văn hóa nghệ thuật…Trong thựctiễn có nhiều cách phân loại dựa trên các cơ sở phân loại khác nhau

2.6.1 Căn cứ vào nội dung, có các thông tin văn hóa nghệ thuật:

- Thông tin tổng hợp

- Thồng tin chuyên ngành

- Thông tin chuyên đề

- Thông tin liên ngành

2.6.2 Căn cứ vào hình thức, có các thông tin văn hóa nghệ thuật:

- Thông tin dưới dạng in ấn truyền thống

- Thông tin dưới dạng in ấn hiện đại (ứng dụng công nghệ thông tin)

2.6.3 Căn cứ vào sự thể hiện, có các loại thông tin văn hóa nghệ thuật:

- Thông tin thể hiện dưới đạng hình ảnh (thị giác)

- Thông tin thể hiện dưới dạng âm thanh (thính giác)

2.6.4 Căn cứ vào đối tượng người dùng tin, có các loại thông tin văn hóa nghệ thuật:

- Thông tin phục vụ lãnh đạo, quản lý

- Thông tin phục vụ cho những người sáng tạo

Trang 26

- Thông tin phục vụ cho các nhà nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệthuật

- Thông tin phục vụ công chúng

2.6.5 Căn cứ vào thị trường văn hóa nghệ thuật, có các loại thông tin văn hóa nghệ thuật:

- Thông tin cung - cầu về các sản phẩm văn hóa nghệ thuật

- Thông tin giá cả các sản phẩm và dịch vụ văn hóa nghệ thuật

- Thông tin tình hình cạnh tranh trên thị trường văn hóa nghệ thuật

2.6.6 Căn cứ vào các thành tố của văn hóa, có các loại hình thông tin văn hóa nghệ thuật:

1) Thông tin về ngôn ngữ

2) Thông tin nghệ thuật trình diễn

3) Thông tin kiến trúc

4) Thông tin tín hiệu

5) Truyền thông đại chúng

6) Thông tin văn chương

7) Thông tin điện ảnh, nhiếp ảnh

8) Thông tin lối sống

9) Thông tin nghệ thuật tạo hình

10) Thông tin tín ngưỡng tôn giáo

11) Thông tin phong tục tập quán

12) Thông tin nghệ thuật âm thanh

13) Thông tin lễ hội

14) Thông tin sân khấu, tuồng, chèo, cải lương, kịch

15) Thông tin nghề thủ công

* Trong các loại thông tin trên, có 4 loại đặc biệt quan trọng và cơ bản:

1) Thông tin ngôn ngữ

2) Thông tin về tôn giáo (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo).3) Tín ngưỡng (tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ Thành Hoàng, tínngưỡng thờ Mẫu)

4) Lễ hội

Trang 27

2.6.7 Căn cứ vào các loại hình văn hóa, có các loại thông tin:

1) Thông tin về văn hóa vật chất

2) Thông tin về văn hóa tinh thần (phi vật chất)

2.6.8 Căn cứ vào cấu trúc của văn hóa, có các loại thông tin.

1) Thông tin văn hóa sản xuất (sản xuất các giá trị vật chất và tinh thần) 2) Thông tin văn hóa vũ trang (ý chí, nghị lực, tổ chức và mục đích sửdụng)

3) Thông tin văn hóa sinh hoạt (quy ước, tập tục, tập quán sinh hoạt củacộng đồng xã hội)

2.6.9 Căn cứ vào không gian văn hóa Việt Nam có các loại thông tin.

1) Thông tin văn hóa đồng bằng Bắc Bộ

2) Thông tin văn hóa Việt Bắc

3) Thông tin văn hóa Tây Bắc và miền núi Bắc Trung bộ

4) Thông tin đồng bằng Duyên hải Bắc Trung bộ

5) Thông tin văn hóa Duyên hải Trung và Nam Trung bộ

6) Thông tin văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên

7) Thông tin văn hóa Gia Định - Nam bộ

* Có thể phân chia thông tin văn hóa thành các loại gọn hơn, phù hợp hơn và

dễ hiểu hơn

1) Thông tin văn hóa vùng Văn hóa Tây Bắc

2) Thông tin văn hóa vùng Văn hóa Việt Bắc

3) Thông tin văn hóa vùng Văn hóa Châu thổ Bắc bộ

4) Thông tin văn hóa vùng Trung bộ

5) Thông tin văn hóa Trương Sơn - Tây Nguyên

6) Thông tin văn hóa vùng Văn hóa Nam bộ

(2.2 hệ thống các tổ chức có hoạt động thông tin VHNT

- các tổ chức nghiên cứu, đào tạo văn hóa nghệ thuật

- các tổ chức quản lý văn hóa nghệ thuật(quảng cáo sp , mặt hàng, xu thế pt vhnt trên thế giới, chủ chương chính sách: văn bản pháp luật,nhu cầu thì yếu

về văn hóa nghệ thuật là cơ sở ra quyết đinh, hoạch đinh chính sách vhnt ban hành chỉ đạo hoạt đọng triển khai kế hoạch)

Trang 28

- các tổ chức biểu diễn văn hóa nghệ thuật ( tt dự án phim, thời lượng giá vé trưng bày triển lãm biễu diễn tt thực tiễn về sp

Vd : thư viện TĐHVHHN sẽ hoạt động theo dây chuyền hđ qttt

mô tả bức trah kích thước chất liệu trường phái, thời kỳ, giá trị thông điệp, “bảo tàng” chất liệu thời kỳ tính chất ý nghĩa

2.3.3 tổ chức tt

2.3.4 tra cứu và phổ biến tt

3.1 Người dùng tin và nhu cầu tin

Trang 29

Tính lỗi thời

CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN

TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA NGHỆ THUẬT

3.1 Hoạt động thông tin văn hóa nghệ thuật

Hoạt động thông tin trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật bao gồm hai loạihoạt động cụ thể: Thông tin khoa học về văn hóa nghệ thuật và hoạt động thôngtin thực tiễn trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

a) Hoạt động thông tin khoa học: mang tính chuyên nghiệp chỉ mới được

hình thành trong mấy năm gần đây, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạtđộng nghiên cứu khoa học về văn hóa nghệ thuật Nó bao gồm các hoạt động sauđây:

- Thông tin các kết quả nghiên cứu khoa học.

- Xuất bản và phổ biến các tài liệu, tư liệu, sách báo, tạp chí (báo hình, báo

viết và báo nói)

- Giới thiệu các quan điểm, các học thuyết, lý thuyết văn hóa bằng các hình

thức khác nhau

- Giảng dạy là một hình thức thông tin đăc biệt: phổ biến kiến thức văn hóa

nghệ thuật cho học sinh, sinh viên các cấp, các lớp

b) Hoạt động thông tin thực: tồn tại khá lâu và vận hành trong lĩnh vực văn

hóa nghệ thuật Nó bao gồm các hoạt động sau đây:

Trang 30

- Thông tin về sản phẩm và dịch văn hóa: quảng cáo mặt hàng, giá cả và chấtlượng sản phẩm.

- Thông tin về xu thế phát triển văn hóa nghệ thuật trên thế giới, cũng nhưtrong mỗi nước, mỗi vùng, mỗi ngành Thông tin về pháp luật văn hóa nghệthuật, về đường lối chính sách quản lý văn hóa văn nghệ thuật của Đảng và Nhànước và các thông lệ quốc tế về văn hóa nghệ thuật

3.2 Nhu cầu tin, sở thích tin và yêu cầu tin văn hóa nghệ thuật

* Nhu cầu tin

Nhu cầu tin văn hóa nghệ thuật là loại nhu cầu tinh thần đặc biệt, là nhucầu hiểu biết (tri thức) cần phải được đáp ứng của các nhà quản lý văn hóa , nhàsáng tạo và công chúng về hiện trạng ngành văn hóa nghệ thuật Loại nhu cầunày hình thành, tồn tại và phát triển một cách khách quan Cũng giống như cácloại nhu cầu khác của con người, nhu cầu tin văn hóa nghệ thuật luôn luôn pháttriển không ngừng theo sự phát triển của đất nước và thời đại Các nhân tố chínhtrị, kinh tế – xã hội, nghề nghiệp và các điều kiện sinh hoạt cá nhân của ngườidùng tin… có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nhu cầu tin này Nhucầu tin văn hóa nghệ thuật được phân chia thành ba loại nhỏ: nhu cầu tin cánhân, nhu cầu tin tập thể và nhu cầu tin của cộng đồng xã hội về văn hóa nghệthuật

* Sở thích tin văn hóa nghệ thuật

Sở thích tin văn hóa nghệ thuật chính là nhu cầu tin được phản ánh qua ýthức chủ quan và qua các yếu tố cá nhân của người dùng tin (nhà quản lý vănhóa, nhà sáng tạo và công chúng) Vì vậy, khác với nhu cầu tin văn hóa nghệthuật, sở thích tin văn hóa nghệ thuật mang tính chủ quan riêng của từng ngườidùng tin cụ thể, nó phụ thuộc vào các nhân tố tâm lý cá nhân, trình độ học vấn,chuyên môn nghiệp vụ, sức khoẻ, thời điểm cụ thể của hoàn cảnh hoặc môitrường sống và làm việc của người dùng tin

Trang 31

Nhu cầu tin

* Yêu cầu tin văn hóa nghệ thuật

Yêu cầu tin văn hóa nghệ thuật là nội dung của nhu cầu tin hoặc sở thíchtin văn hóa nghệ thuật của người dùng tin được thể hiện dứơi dạng lời nói hoặcvăn bản để chuyển đến cơ quan thông tin văn hóa nghệ thuật, để cơ quan thôngtin đó đáp ứng thỏa mãn nhu cầu tin của họ

H.2: Sơ đồ mối quan hệ giữa nhu cầu tin, sở thích tin và yêu cầu tin

văn hóa nghệ thuật

3.3 Chiến lược đảm bảo thông tin văn hóa nghệ thuật cho xã hội

3.3.1 Khái niệm về sự thích hợp tin và sự phù hợp tin

* Sự thích hợp tin văn hóa nghệ thuật

Sự thích hợp tin văn hóa nghệ thuật là sự trùng khớp một cách khách quangiữa nội dung thông tin và yêu cầu tin văn hóa nghệ thuật Chẳng hạn như:người dùng tin đưa đến cơ quan thông tin một yêu cầu tin:“Thị trường xuất bảnphẩm văn hóa nghệ thuật của các nước ASEAN trong quý 1 năm 2016” Nếu cơquan thông tin có một tài liệu với nội dung thông tin hoàn toàn trùng khớp vớinội dung của yêu cầu tin, thì thông tin đó gọi là sự thích hợp tin Trong trườnghợp này sự trùng khớp khách quan giữa nội dung thông tin và nội dung yêu cầutin, không có sự đánh giá, phân tích của người dùng tin

*Sự phù hợp tin văn hóa nghệ thuật

Trang 32

Thông tin văn hóa nghệ thuật

Sở thích tin văn hóa nghệ thuật Yêu cầu tin văn hóa nghệ thuật

Sự thíchhợp tin Sự phù hợp tin

Nhu cầu tin văn hóa nghệ thuật

Sự phù hợp tin văn hóa nghệ thuật là sự tương hợp (có sự đánh giá chủquan của người dùng tin) giữa nội dung thông tin và sở thích tin văn hóa nghệthuật Chẳng hạn cũng lấy lại thí dụ trên, nhưng cơ quan thông tin không có mộtthông tin nào trùng khớp hoàn toàn với nội dung yêu cầu tin, cơ quan thông tincung cấp cho người dùng tin một thông tin với nội dung “Tình hình thị trườngxuất bản phẩm văn hóa nghệ thuật của các nước Châu - Á Thái Bình Dươngtrong quý 1 năm 2016” Trong trường hợp này người dùng tin phải tự mìnhtiến hành phân tích, đánh giá để rút ra những thông tin cần thiết tương hợp với

sở thích tin của họ Trong thông tin này chỉ có một phần hoặc một chương mụcnào đó có thể làm thoả mãn được yêu cầu tin mà người dùng tin đang có sởthích tìm kiếm

3.3.2 Chiến lược thích hợp tin và chiến lược phù hợp tin văn hóa nghệ thuật

Sự thích hợp tin và sự phù hợp tin được coi là hai chiến lược đáp ứng nhu

cầu tin, chúng có ý nghĩa phương pháp luận và ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng:

H.3: Sơ đồ sự thích hợp tin văn hóa nghệ thuật và sự phù hợp tin

văn hóa nghệ thuật

* Chiến lược thích hợp tin

Để đảm bảo thực hiện chiến lược “Thích hợp tin”, cơ quan thông tin văn hóa

nghệ thuật phải tổ chức được nguồn lực thông tin mạnh bao gồm đầy đủ và đa

Trang 33

dạng nguồn tài liệu, CSDL, sản phẩm và dịch vụ thông tin truyền thống và hiệnđại, v.v… nhằm sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu tin của người dùng tin trong lĩnhvực văn hóa nghệ thuật và toàn xã hội.

*Chiến lược phú hợp tin

Để đảm bảo thực hiện chiến lược “Phù hợp tin”, cơ quan thông tin văn hóanghệ thuật phải nghiên cứu sâu, nắm thật chắc nội dung nguồn lực thông tin hiện

có để khai thác một cách có hiệu quả phục vụ cho công tác quản lý và sáng tạo vănhóa nghệ thuật

Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng cơ quan thông tin văn hóa nghệ thuật

phải đồng thời thực hiện cả hai chiến lược “Thích hợp tin” và “Phù hợp tin” thì

mới có thể đạt được cả hai mục tiêu: nâng cao được hiệu quả thông tin và tiết kiệmtối đa được tiền của và vật chất chi cho công tác thông tin như một chiến lược pháttriển văn hóa nghệ thuật của đất nước Để đáp ứng thỏa mãn nhu cầu tin văn hóanghệ thuật, ngành văn hóa phải tạo dựng các kênh thông tin khác nhau nhằm đảmbảo thỏa mãn thông tin cho người dùng tin Dưới đây chúng ta lần lượt xem xét cáckênh thông tin văn hóa nghệ thuật thường được sử dụng trong thực tiễn ở nước ta

và trên thế giới:

3.4 Kênh thông tin văn hóa nghệ thuật

3.4.1 Khái niệm kênh thông tin văn hóa nghệ thuật

Kênh thông tin văn hóa nghệ thuật là con đường và các phương tiện kỹthuật từ thủ công đến hiện đại được dùng để chuyền tải các thông tin từ ngườiđưa tin đến người nhận tin (từ cơ quan thông tin đến mọi người dùng tin trong

xã hội)

3.4.2 Các loại kênh thông tin văn hóa nghệ thuật

Người ta có thể căn cứ vào nhiều cơ sở khác nhau để phân chia kênh thôngtin văn hóa nghệ thuật thành các loại khác nhau

Trang 34

* Căn cứ vào loại hình thông tin xã hội, kênh thông tin được phân chiathành các loại:

- Kênh thông tin đại chúng

- Kênh thông tin chuyên ngành

* Căn cứ vaò dạng tài liệu mang tin, kênh thông tin được phân chia thànhcác loại:

- Kênh thông tin dưới dạng giấy

- Kênh thông tin dưới dạng điện tử

* Căn cứ vào vật mang tin, kênh thông tin được chia làm hai loại:

- Kênh thông tin tài liệu là kênh thông tin mà trên đó nội dung của thôngtin được chuyển tải bằng các loại tài liệu (dưới dạng giấy, kim loại, chất dẻo,gỗ…)

- Kênh thông tin phi tài liệu là kênh thông tin mà trên đó nội dung thôngtin được chuyển tải bằng lời nói, cử chỉ hoặc hành động của con người

* Căn cứ vào sự tổ chức quản lý thông tin, kênh thông chia thành hai loại:

- Kênh thông tin hình thức hoá là kênh thông tin được hình thành nên bởicác cơ quan Đảng, Nhà nước hoặc tổ chức văn hóa-xã hội với một mục tiêu rõràng, được pháp luật thừa nhận chính thức Thí dụ: Hội nghị, hội thảo về vănhóa nghệ thuật

- Kênh thông tin phi hình thức hoá là kênh thông tin hình thành ngẫu

nhiên, không chính thức, không được tổ chức bởi các cơ quan Đảng, nhà nước

hoặc tổ chức văn hóa - xã hội, thí dụ: các cuộc tiếp xúc, giao lưu riêng giữa cácnhà chuyên môn văn hóa nghệ thuật bên ngoài các cuộc họp, hội nghị…

Phối kết hợp các loại kênh thông tin trên, chúng ta lại có thể tạo ra các loạikênh thông tin như sau:

+ Kênh thông tin tài liệu - hình thức hoá

Trang 35

+ Kênh thông tin tài liệu - phi hình thức hoá

+ Kênh thông tin phi tài liệu - hình thức hoá

+ Kênh thông tin phi tài liệu - phi hình thức hoá

Qua sự phân tích trên, chúng ta nhận thấy rằng kênh thông tin văn hóanghệ thuật là con đường trừu tượng, là con đường hữu hình và vô hình, vật thể

và phi vật thể, có tổ chức và phi tổ chức mà trên đó các thông tin được vậnchuyển từ người đưa tin (các cơ quan thông tin) đến người nhận tin ( các nhàchuyên môn văn hóa nghệ thuật và mọi thành viên xã hội …)

Mỗi loại kênh thông tin đều có những ưu điểm và có những hạn chế nhấtđịnh Để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động chuyển giao thông tin văn hóanghệ thuật, chúng ta cần sử dụng đồng thời, có lựa chọn hoặc phối hợp tất cả cáckênh thông tin trên tuỳ theo tình hình và yêu cầu cụ thể của từng loại người dùngtin trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và trong xã hội

3.5 Hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật

3.5.1 Định nghĩa hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật

Hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật là hệ thống bao gồm tổ hợp cácthành tố: các chuyên gia thông tin, các phương tiện vật chất – kỹ thuật truyềnthống và hiện đại, nguồn lực thông tin, phương pháp và các ngôn ngữ tìm tin…đảm bảo phục vụ thông tin cho người dùng tin trong lĩnh vực văn hóa nghệthuât

3.5.2 Vai trò của hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật

- Thu thập các số liệu, dữ liệu từ các nguồn thông tin khác nhau.

- Xử lý các số liệu, dữ liệu (bằng kỹ thuật truyền thống và hiện đại)

- Phân loại, tính toán, phân tích tổng hợp các số liệu, dữ liệu nhằm tìm ra bảnchất của các số liệu, dữ liệu

- Kiểm tra độ tin cậy của các số liệu, dữ liệu

Trang 36

- Tổ chức lưu trữ số liệu, dữ liệu

- Tra cứu tìm kiếm thông tin

- Cung cấp thông tin: phát hành, phổ biến thông tin

- Truyền số liệu, dữ liệu

- Đánh giá thông tin

- Tổ chức phối kết hợp và chia sẻ thông tin với các hệ thống thông tin kháctrong và ngoài nước

Để thực hiện chức năng trên, hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật cầnphải giải quyết tốt các vấn đề cụ thể sau đây:

+ Xác định chính xác mục đích, đối tượng phục vụ và diện phục vụ của hệthống thông tin

+ Xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên đảm bảo đầy đủ về số lượng,chất lượng phù hợp với yêu cầu của hệ thống và của thị trường thông tin hiệnđại

+ Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cần và đủ để thực hiện tốt công tácthông tin

+ Xây dựng nguồn lực thông tin đủ mạnh phù hợp với nhu cầu thông tincủa các nhà quản lý, nhà chuyên môn và công chúng trong lĩnh vực văn hóanghệ thuật

+ Xây dựng các phương pháp, thủ pháp, chương trình, định mức công tác tưliệu

3.5.3 Cấu trúc và thành phần của hệ thông tin văn hóa nghệ thuật

* Các bộ phận trợ giúp hoạt động của hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật:

Trang 37

Đó là các bộ phận được xem là các tiểu hệ thống của hệ thống thông tinvăn hóa nghệ thuật, chúng bao gồm:

- Bộ phận kỹ thuật: toàn bộ các trang thiết bị kỹ thuật từ thô sơ đến hiệnđại đảm bảo cho hoạt động của hệ thống

- Bộ phận dảm bảo thông tin: các CSDL, quản lý và quản trị các dữ liệu,thông tin đầu vào và đầu ra, các tiểu bộ phận tư liệu

- Bộ phận tính toán: đảm bảo tính toán phân tích, xây dựng các mô hìnhtoán học liên quan đến lĩnh vực văn hóa nghệ thuật

- Bộ phận lập trình: tạo ra các phần mềm quan lý và quản trị cơ quan vănhóa nghệ thuật

- Bộ phận quản lý cán bộ: xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ phù hợp vớiyêu cầu và đồi hỏi của hệ thống

- Bộ phận đảm bảo pháp lý của hệ thống: xây dựng các nguyên lý, nguyêntắc, định mức, các quy chuẩn cho việc họat động của hệ thống

* Các bộ phận chức năng của hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật:

Tùy theo tình hình thực tế của từng đơn vị văn hóa nghệ thuật, các bộ phậnchức năng của hệ thống thông tin bao gồm các tiểu hệ thống (Bộ phận nhỏ):

- Bộ phận thống kê, báo cáo làm nhiệm vụ thống kê báo cáo các số liệu, dữliệu liên quan đến công tác văn hóa nghệ thuật:

+ Thống kê lao động và tiền lương

+ Thống kê tài chính

+ Thống kê các phương tiện cơ bản

- Bộ phận phân tích văn hóa nghệ thuật

Trang 38

- Bộ phận xây dựng kế hoạch và thực thi giám sát kế hoạch: tiến hành phântích kết quả hoạt động cơ quan văn hóa nghệ thuật về tất cả các mặt từ việc đầu

tư đến kết quả cuối cùng

3.5.4 Các yêu cầu của hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật

Hệ thống thông tin không chỉ giúp cho quản lý, điều hành các hoạt độngvăn hóa nghệ thuật mà nó còn góp phần tạo ra các giá trị mới trong các hoạtđộng đó Hệ thống thông tin văn hóa nghệ thuật là một nhân tố quan trọng giúpcác chủ thể văn hóa nghệ thuật tìm kiếm các cơ hội hoạt động, các khả năngkhai thác các nguồn lực trong nước cũng như ngoài nước để phát triển hoạtđộng văn hóa nghệ thuật Chính vì vậy hệ thống thông tin phải đảm bảo các yêucầu chủ yếu sau đây:

- Làm thoả mãn đầy đủ mọi nhu cầu tin của các nhà quản lý, các nhà sảnxuất các giá trị, dịch vụ và của mọi thành viên xã hội

- Đảm bảo cung cấp thông tin chất lượng cao Chất lượng thông tin thểhiện ở các đặc trưng:

+ Tính chính xác: thông tin không bị sai lệch, phản ánh chính xác cácquá trình, hoạt động , hiện tượng văn hóa nghệ thuật

+ Tính kịp thời: thông tin phải được thu thập vào các thời điểm có ảnhhưởng đến quá trình ra quyết định và được cung cấp kịp thời, nhanh chóng + Tính triệt để: không bỏ sót các dữ liệu quan trọng mà người dùng tin dựkiến phải có trong thông tin

+ Tính hữu ích: thông tin phải bổ sung hiểu biết cho người dùng tin, giảm bớt

sự bất định, tăng khả năng dự đoán, hoặc khẳng định, sửa chữa dự đoán trước đó + Tính dễ hiểu: thông tin được diễn đạt dưới hình thức hữu dụng và dễ hiểu

Ngày đăng: 18/11/2025, 22:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Sơ đồ nội dung của thông tin về văn hóa nghệ thuật - Giáo trình thông tin văn hóa nghệ thuật
Hình 1 Sơ đồ nội dung của thông tin về văn hóa nghệ thuật (Trang 16)
Hình thức thi: Tự luận -Thời gian: 60 phút - Giáo trình thông tin văn hóa nghệ thuật
Hình th ức thi: Tự luận -Thời gian: 60 phút (Trang 60)
Hình thức thi: Tự luận - Thời gian: 60 phút - Giáo trình thông tin văn hóa nghệ thuật
Hình th ức thi: Tự luận - Thời gian: 60 phút (Trang 72)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w