1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ hội và thách thức Đối với thương mại việt nam trong Điều kiện thực thi cptpp giải pháp tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức

44 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1.2. So sánh CPTPP và TPP 3 (7)
  • 1.1.3. Nội dung của CPTPP 3 (7)
  • 2. Thực trạng của Việt Nam khi ký kết Hiệp định CPTPP 4 1.1. Năm 2019 4 1. Năm 2020 5 (8)
    • 2.1.3. Năm 2021 6 (10)
    • 2.1.4. Năm 2022 7 (11)
    • 2.1.5. Năm 2023 7 (11)
  • B. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA CPTPP 9 I. Cơ hội của thương mại Việt Nam khi tham gia CPTPP 9 1.Cơ hội đối với thương mại hàng hóa 9 2. Cơ hội đối với thương mại dịch vụ 12 3. Cơ hội đối với đầu tư 15 4. Cơ hội đối với sở hữu trí tuệ 18 (13)
    • II. Thách thức của thương mại Việt Nam khi tham gia CPTPP 20 1. Thách thức đối với thương mại hàng hóa 20 2. Thách thức đối với thương mại dịch vụ 23 3. Thách thức đối với đầu tư 26 (24)
      • 4. Thách thức đối với sở hữu trí tuệ 29 C. NHỮNG GIẢI PHÁP 33 I. Giải pháp từ nhà nước 33 II. Giải pháp doanh nghiệp 35 (33)

Nội dung

CPTPP là một “FTA thế hệ mới” với cách tiếp cận toàn diện, bao hàm những cam kết về tự do thương mại hàng hóa và dịch vụ như các “FTA truyền thống”; mức độ cam kết sâu nhất cắt giảm thuế

So sánh CPTPP và TPP 3

Hiệp định CPTPP cơ bản giữ nguyên các cam kết chính của Hiệp định TPP, đặc biệt là các cam kết mở cửa thị trường nhưng cho phép các nước tạm hoãn thực thi khoảng 20 nghĩa vụ trong các lĩnh vực quan trọng như sở hữu trí tuệ, đầu tư, mua sắm chính phủ, dịch vụ tài chính v.v.

● Về số lượng thành viên và dân số

Hiệp định CPTPP có 11 thành viên còn Hiệp định TPP có 12 thành viên gồm 11 thành viên của CPTPP và Hoa Kỳ.

● Về đóng góp vào thương mại và GDP toàn cầu

Giá trị đóng góp vào GDP và thương mại toàn cầu của Hiệp định TPP tương ứng là 40% và 30% trong khi giá trị đóng góp của Hiệp địnhCPTPP tương ứng là 15% và 15%.

Nội dung của CPTPP 3

CPTPP hướng đến việc giảm thiểu rào cản thương mại và tăng cường hợp tác kinh tế giữa các quốc gia thành viên Hiệp định này tập trung vào việc loại bỏ thuế quan, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ lẫn nhau Ngoài ra, CPTPP thiết lập các quy định liên quan đến nguồn gốc sản phẩm, quyền lợi của nhà đầu tư và doanh nghiệp trong nước, đồng thời thúc đẩy các tiêu chuẩn về môi trường, lao động, quyền sở hữu trí tuệ và thương mại kỹ thuật.

● Về cơ bản, Hiệp định CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ (gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương Sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới 7 Chương làQuản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường,Minh bạch hóa và Chống tham nhũng) để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các nước thành viên trong bối cảnh Hoa

Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP.

Thực trạng của Việt Nam khi ký kết Hiệp định CPTPP 4 1.1 Năm 2019 4 1 Năm 2020 5

Năm 2021 6

- Theo thống kê, từ năm 2021, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước thành viên Hiệp định CPTPP tăng 18,1% so với năm 2020, đạt khoảng 45,7 tỷ USD Giá trị xuất khẩu của chúng ta sang địa bàn cũng tăng tới 110% sau 5 năm, tức là thị trường tỷ USD có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao nhất trong nhóm các nước Hiệp định CPTPP Nếu duy trì mức tăng trưởng này, Việt Nam có thể trở thành đối tác nhập khẩu lớn thứ 7 của Canada, thặng dư thương mại cũng có thể lên tới 9 tỷ USD

- Mặc dù chịu tác động của đại dịch COVID-19, trong 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu sang các đối tác CPTPP của ViệtNam tại khu vực châu Mỹ vẫn tăng trưởng rất tích cực Tổng kim ngạch thương mại hai chiều đạt 6,32 tỷ USD (tăng 35,7% so với cùng kỳ năm 2020), trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang các nước này đạt 5,48 tỷ USD (tăng 46,8%), nhập khẩu đạt 833,3 triệu USD(giảm 9,2%).

Năm 2022 7

Tại báo cáo kết quả triển khai Hiệp định CPTPP, EVFTA và UKVFTA của các Bộ, ngành, địa phương trong năm 2022 mới đây,

Bộ Công Thương cho biết, trong năm 2022, kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước CPTPP đạt 104,5 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm 2021 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước CPTPP đạt 53,6 tỷ USD, tăng 17,3% so với năm 2021. Kim ngạch nhập khẩu từ các nước CPTPP đạt 50,9 tỷ USD, tăng 11,3% so với năm 2021 Xét về thị trường, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang 8/10 thành viên CPTPP đều tăng trưởng tích cực, có thị trường tăng tới 163% như Brunei.

Tỷ lệ sử dụng giấy chứng nhận xuất xứ CPTPP (C/O CPTPP) của hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực và tăng đáng kể so với năm 2021, cụ thể, thủy sản tăng 41,7%, giày dép tăng 51,7%, dệt may tăng 185,2%, cà phê tăng140,1%, rau quả tăng 62,3%, hạt điều tăng 39,4%, gỗ và sản phẩm gỗ tăng 23,5%, máy móc và thiết bị tăng 152,3% Thặng dư thương mại từ các nước CPTPP trong năm 2022 đạt 2,63 tỷ USD trong khi năm 2021 Việt Nam thâm hụt khoảng 74,5 triệu USD trong trao đổi thương mại với các nước CPTPP Đặc biệt, thặng dư thương mại từ trao đổi thương mại với 3 nước mới có quan hệ FTA là Canada,Mexico và Peru trong năm 2022 lên tới 11 tỷ USD, chiếm 94% tổng thặng dư thương mại năm 2022 của Việt Nam và tăng 6,7% so với năm 2021.

Năm 2023 7

Trong 8 tháng đầu năm 2023, về xuất nhập khẩu, kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các Thành viên CPTPP đạt 63 tỷ USD,giảm 11% với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 33,1 tỷUSD, giảm 9,3% so với cùng kỳ, nhập khẩu đạt 29,8 tỷ USD, giảm14,8% so với cùng kỳ Thặng dư thương mại với các nước CPTPP đạt 3,3 tỷ USD Trong khi đó, kim ngạch trao đổi thương mại giữaViệt Nam và EU đạt 38,5 tỷ USD, giảm 9,2% với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 29 tỷ USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ, nhập khẩu đạt 9,5 tỷ USD, giảm 5,8% so với cùng kỳ Thặng dư thương mại của Việt Nam với các nước EU đạt 9,5 tỷ USD.

Kim ngạch trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Vương quốc Anh đạt 4,6 tỷ USD, giảm 1,3% với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 4,1 tỷ USD, giảm 1,7% so với cùng kỳ, nhập khẩu đạt 530 triệu USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ Thặng dư thương mại của Việt Nam với Vương quốc Anh đạt 4,1 tỷ USD Trong khi đó, trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước RCEP đạt 242,4 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 93,2 tỷ USD, nhập khẩu đạt 149,2 tỷ USD Thâm hụt thương mại của Việt Nam với các nước RCEP là 56 tỷ USD.

Về đầu tư, Việt Nam thu hút được khoảng gần 18,1 tỷ USD tổng vốn đầu tư từ các nước CPTPP, tăng 13% so với cùng kỳ; khoảng 3,8 tỷ USD từ các nước EU, tăng 4,1% so với cùng kỳ và khoảng 48,27 triệu USD vốn đầu tư từ Vương quốc Anh, tăng 55,7% so với cùng kỳ.

Biểu đồ xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang Mexico - Nguồn: VASEP

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), trong 3 tháng đầu năm 2023, xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang Mexico tăng trưởng liên tục Chỉ riêng trong tháng 4/2023, xuất khẩu cá ngừ sang thị trường này tăng tới 117% so với cùng kỳ năm 2022, đạt gần 1,9 triệu USD.

Tính lũy kế 4 tháng đầu năm 2023, xuất khẩu sang Mexico đạt gần7,4 triệu USD, tăng 44% so với cùng kỳ năm 2022.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, Mexico nhập khẩu chủ yếu thịt/loin cá ngừ từ Việt Nam, với tỷ trọng chiếm 74% tổng giá trị xuất khẩu, còn lại là các sản phẩm cá ngừ chế biến khác.

Hiện Mexico và Việt Nam là hai thị trường khá tương đồng với nhau. Nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam có nhiều cơ hội thâm nhập vào thị trường đông dân thứ 11 trên thế giới, nhất là sau khi Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đi vào thực thi.

Với việc hiệp định CPTPP có hiệu lực, các sản phẩm thăn/philê cá ngừ đông lạnh mã HS0304 của Việt Nam xuất khẩu sang Mexico hiện đang được giảm từ mức thuế cơ sở 20% xuống còn 0% Còn các sản phẩm cá ngừ chế biến khác như loin cá ngừ hấp đông lạnh đang được miễn thuế khi NK vào Mexico.

Như vậy, việc CPTPP có hiệu lực sẽ tạo điều kiện thuận lợi để cho các DN cá ngừ của Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu cá ngừ sang thị trường Mexico, nhất là đối với mặt hàng thăn/phile cá ngừ đông lạnh mã HS0304.

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI THAM GIA CPTPP 9 I Cơ hội của thương mại Việt Nam khi tham gia CPTPP 9 1.Cơ hội đối với thương mại hàng hóa 9 2 Cơ hội đối với thương mại dịch vụ 12 3 Cơ hội đối với đầu tư 15 4 Cơ hội đối với sở hữu trí tuệ 18

Thách thức của thương mại Việt Nam khi tham gia CPTPP 20 1 Thách thức đối với thương mại hàng hóa 20 2 Thách thức đối với thương mại dịch vụ 23 3 Thách thức đối với đầu tư 26

1 Thách thức đối với thương mại hàng hóa

● Áp lực cạnh tranh từ các nước thành viên khác

CPTPP là một FTA thế hệ mới, với nhiều quy định cao hơn về tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ, lao động và môi trường Điều này có thể dẫn đến áp lực cạnh tranh lớn hơn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là trong các ngành hàng có độ cạnh tranh cao như dệt may, điện tử, ô tô,

● Nguy cơ mất thị tường nội địa

Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo CPTPP có thể dẫn đến việc hàng hóa nhập khẩu từ các nước thành viên khác có giá thành cạnh tranh hơn, gây ra nguy cơ mất thị trường nội địa cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

● Thách thức về chất lượng nguồn nhân lực

CPTPP đặt ra các yêu cầu cao về tiêu chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ,lao động và môi trường Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần có nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng các yêu cầu này Tuy nhiên, hiện nay, Việt Nam vẫn còn thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực này.

● Hạn chế về hỗ trợ doanh nghiệp

Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu, tuy nhiên, các chính sách này vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của doanh nghiệp Điều này có thể gây khó khăn cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam trong việc tận dụng các cơ hội từ CPTPP.

● Đối mặt với hàng loạt cam kết về vệ sinh an toàn thực phẩm

Canada luôn là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu, là đối tác thương mại lớn thứ hai, sau Mỹ, tại lục địa châu Mỹ Xuất khẩu sang Canada có nhiều mặt hàng, trong 26 mặt hàng chủ yếu có 19 mặt hàng tăng liên tục so với cùng kì năm trước, trong đó có 5 mặt hàng có mức tăng trưởng lớn đó là: thủy sản, dệt may, giày dép, máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại và linh kiện Nhưng mới đây nhất, số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sang thị trường Canada 10 tháng năm

Năm 2023, xuất khẩu giữa Việt Nam và Canada đạt 5,214 tỷ USD, giảm 16,3% so với năm 2022, trong đó Việt Nam xuất siêu 5,448 tỷ USD Tuy nhiên, con số này vẫn khiêm tốn so với tiềm năng của hai quốc gia Theo đại diện Vụ Thị trường châu u - châu Mỹ, yếu tố cản trở lớn nhất là năng lực vận tải và logistics nội địa cùng với tình trạng thiếu hụt lao động, khiến giá xuất khẩu của Việt Nam kém cạnh tranh hơn so với các nước Nam Mỹ Chính sách tỷ giá thấp của Canada càng làm cho hàng Việt trở nên đắt đỏ hơn Ngoài ra, một số mặt hàng xuất khẩu quan trọng như tấm pin năng lượng mặt trời, thép chống ăn mòn đang có nguy cơ bị áp thuế chống phá giá Thị trường CPTPP còn yêu cầu các tiêu chuẩn phát triển bền vững, đây là thách thức lớn cho doanh nghiệp Việt, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa Hơn nữa, tình trạng lừa đảo xuất khẩu vào Canada với các phương thức tinh vi cũng đang gia tăng, khiến doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều rủi ro.

Tính đến 15/9/2023, xuất khẩu cá tra Việt Nam sang khối thị trườngCPTPP đạt 167 triệu USD, giảm 32% so với cùng kỳ năm ngoái.Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam cho hay, thời điểm 5 tháng năm 2022, xuất khẩu cá tra sang thị trường các nướcCPTPP đạt gần 147 triệu USD, tăng 64% so với cùng kì năm 2021.

Một năm sau, do ảnh hưởng của lạm phát giá thực phẩm toàn cầu cùng với biến động thế giới, thị trường này cũng “ không phải là một ngoại lệ” của sự sụt giảm chung Riêng tháng 5/2023, xuất khẩu cá tra Việt Nam sang thị trường các nước thành viên CPTPP chỉ đạt 19 triệu USD, giảm 41% so với cùng kì năm ngoái

2 Thách thức đối với thương mại dịch vụ

● Cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp nước ngoài

CPTPP xóa bỏ gần như toàn bộ hạn chế về tiếp cận thị trường dịch vụ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài dễ dàng thâm nhập vào thị trường Việt Nam Sự gia tăng cạnh tranh từ các quốc gia thành viên khác trong khu vực có thể tạo áp lực lớn lên doanh nghiệp dịch vụ của Việt Nam, đòi hỏi họ phải nâng cao năng lực cạnh tranh và sáng tạo để giữ vững thị trường, cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài có nhiều kinh nghiệm và nguồn lực mạnh mẽ hơn.

● Tiêu chuẩn chất lượng cao

CPTPP quy định các tiêu chuẩn dịch vụ cao, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn này để có thể tham gia vào thị trường dịch vụ của các nước thành viên Điều này đặt ra thách thức đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ của mình Tăng cường chất lượng hàng hóa: Việt Nam cần tăng cường chất lượng hàng hóa theo yêu cầu của CPTTP, bao gồm chất lượng an toàn, chất lượng môi trường, và chất lượng người lao động.

● Sự khác biệt về pháp luật và quy định

CPTPP yêu cầu các nước thành viên phải tuân thủ các quy định chung về thương mại dịch vụ Điều này đặt ra thách thức đối với Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và quy định về thương mại dịch vụ của mình để phù hợp với CPTPP Việt Nam phải tuân theo các quy định về dịch vụ và môi trường kinh doanh được đưa ra trong CPTPP Điều này có thể yêu cầu thay đổi trong hệ thống luật lệ và tiêu chuẩn kinh doanh để đáp ứng yêu cầu quốc tế.

● Yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực để áp ứng tiêu chuẩn các nước thành viên

Chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực dịch vụ là một trong những thách thức Việt Nam đang phải đối mặt, cần đảm bảo nguồn nhân lực có đủ năng lực để cung cấp các dịch vụ chất lượng cao và đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế Việt Nam đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực dịch vụ như tài chính, viễn thông, vận tải, giáo dục, y tế, du lịch, Điều này cản trở các doanh nghiệp Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng của CPTPP.

● Hiệu quả hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại

Các tổ chức xúc tiến thương mại đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường quốc tế Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các tổ chức này còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp.

Thương mại dịch vụ có thể mang theo rủi ro liên quan đến biến động thị trường, biến đổi công nghệ, hoặc thậm chí là các tác động từ các biến cố toàn cầu Việt Nam cần phải có kế hoạch quản lý rủi ro để đối phó với những tình huống không lường trước được Hợp tác và đàm phán: Các nước thành viên sẽ luôn tìm kiếm thị trường mang lại lợi ích cho mình, đòi hỏi Việt Nam nắm bắt thông tin nhanh nhạy, sẽ phải liên tục tham gia đàm phán với các nước thành viên khác để tìm kiếm cơ hội hợp tác và tối ưu hóa lợi ích từ CPTPP.

VD: Với việc tham gia CPTPP, Việt Nam đã cam kết xóa bỏ nhiều hạn chế về tiếp cận thị trường dịch vụ, bao gồm:

Hạn chế số lượng doanh nghiệp, số lượng nhân viên, vốn pháp định,

Hạn chế về tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài,

Hạn chế về địa bàn hoạt động,

=>Thách thức trong ngành bảo hiểm: thị trường tái bảo hiểm trong nước vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài, các doanh nghiệp tái bảo hiểm sẽ chịu sự cạnh tranh mạnh hơn từ các doanh nghiệp tái bảo hiểm nước ngoài.

Ngày đăng: 25/09/2025, 21:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN VIỆC - Cơ hội và thách thức Đối với thương mại việt nam trong Điều kiện thực thi cptpp  giải pháp tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức
BẢNG PHÂN VIỆC (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w