TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ BÀI TẬP MÔN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ Đề tài Cơ hội và thách thức chủ yếu của nền kinh tế toàn cầu đối với m[.]
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN THƯƠNG MẠI VÀ KINH TẾ QUỐC TẾ
- -BÀI TẬP
MÔN NỀN KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
Đề tài: Cơ hội và thách thức chủ yếu của nền kinh tế toàn cầu đối với một
quốc gia trong đó có Việt Nam Làm thế nào tận dụng cơ hội và vượt qua
những thách thức đó với Việt Nam
Học viên thực hiện : Vũ Thị Hồng Nhung
Mã HSSV : CH230330
Trang 2Hà Nội, 12/2015
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ HỘI CỦA NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU ĐỐI VỚI MỘT QUỐC GIA 3
1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới 3
1.1.1 Giai đoạn 2005 -2010 3
1.1.2 Giai đoạn 2010 – 2015 5
1.2 Những cơ hội của nền kinh tế toàn cầu 6
1.2.1 Bước chuyển sang kinh tế trí thức: sự xuất hiện lợi thế mới và thời cơ phát triển “nhảy vọt” cho các nền kinh tế đi sau 6
1.2.2 Hệ thống phân công lao động quốc tế mới và khả năng đột phá phát triển trong “ mạng sản xuất toàn cầu” 7
1.2.3 Sự trỗi dậy của Trung Quốc , Ấn Độ và tính thế phát triển mới ở Đông Á 8
CHƯƠNG 2: NHỮNG THÁCH THỨC CỦA NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU ĐỐI VỚI MỘT QUỐC GIA 12
2.1 Bước nhảy sang kinh tế trí thức 12
2.2 Hệ thống phân công lao động quốc tế mới và khả năng đột phá phát triển trong "mạng sản xuất toàn cầu" 12
2.3.Cơ hội và thách thức của nền kinh tế toàn cầu đối với nền kinh tế Việt Nam .15
2.3.1 Cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam 16
2.3.2 Thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam 17
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TẬN DỤNG CƠ HỘI VƯỢT QUA NHỮNG THÁCH THỨC CỦA NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU TỪ PHÍA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 19
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính tất yếu của đề tài
Kinh tế thế giới đang phát triển trong những điều kiện và bối cảnh mới, với hai
xu hướng lớn bao trùm là toàn cầu hóa và chuyển sang kinh tế tri thức Theo hai xuhướng đó, nền kinh tế thế giới đang chuyển đổi sâu sắc và toàn diện, cả về trình độcông nghệ, cơ cấu sản phẩm lẫn thể chế kinh tế Tính chất toàn diện và sâu sắc củaquá trình này cho phép đề cập đến bước chuyển sang một thời đại phát triển kinh tếmới của loài người, trên phạm vi toàn thế giới - thời đại kinh tế tri thức - toàn cầuhóa
Quá trình tăng trưởng cao kéo dài trên phạm vi toàn cầu được coi là điều kiệnthuận lợi cơ bản hàng đầu cho sự phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia trong đókhông thể không có Việt Nam Nó cũng là căn cứ tổng quát để xem xét triển vọngtăng tốc phát triển toàn bộ thông qua các cú nhảy "đột phá" ở cấp độ chiến lược củamỗi nền kinh tế quốc gia Trên thực tế, giai đoạn tăng trưởng cao kéo dài này đãđược khởi động từ cách đây hàng chục năm, với hai nhóm dấu hiệu cơ bản
Một là sự bùng nổ phát triển các ngành công nghệ cao, đặc biệt là công nghệthông tin và viễn thông Sự “lên ngôi” của nền kinh tế thông tin là chỉ báo rõ nhấtcho quá trình chuyển đổi thời đại công nghệ Nó tạo thành động lực mạnh cho sựtăng trưởng kinh tế chung, đồng thời, kết nối tăng trưởng toàn cầu và tạo sự lan tỏaphát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới
Hai là sự trỗi dậy mạnh mẽ của một số nền kinh tế đang phát triển khác, trong
đó nổi bật nhất là Trung Quốc và Ấn Độ, tạo thành nhóm “tứ cường” BRIC (Brasil,Russia, India and China) Sự xuất hiện nhóm “tứ cường” này phản ánh sự thay đổisâu sắc đang diễn ra trong tương quan sức mạnh và cục diện kinh tế toàn cầu: lầnđầu tiên trong vòng hai thế kỷ trở lại đây, có những nền kinh tế đang phát triển trởthành “cường quốc kinh tế”; nhờ đó, xác lập vị thế mặc cả và khả năng can thiệpđáng kể của mình vào các quá trình kinh tế toàn cầu Sự thay đổi tương quan nàycòn bao hàm sự bùng nổ cơ hội do các nền kinh tế đang phát triển tạo ra trên cơ sởdịch chuyển cơ cấu cơ hội phát triển trên phạm vi toàn cầu, cả về cơ hội cơ cấu
Trang 5ngành - sản phẩm (theo chuỗi giá trị gia tăng) lẫn cơ cấu cơ hội theo vùng địa lý (ví
dụ, cơ hội thị trường Trung Quốc, Ấn Độ bùng nổ)
Bối cảnh quốc tế đó là yếu tố quy định tính toán chiến lược phát triển kinh tế
-xã hội của các quốc gia, đặc biệt là đối với những nước mà nền kinh tế có độ mởcửa cao và hội nhập sâu vào hệ thống kinh tế thế giới như nước ta
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài “ Những cơ hội và thách
thức chủ yếu của nền kinh tế toàn cầu đối với một quốc gia trong đó có Việt Nam
và làm thế nào để tận dụng cơ hội vượt qua những thách thức đó”
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là chỉ ra những cơ hội và thách thức của nền kinh tế toàncầu tác động đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia trong đó có Việt Nam vàNhà nước Việt Nam cần làm gì để tận dụng triệt để những cơ hội đó để vượt quanhững thách thức do nền kinh tế toàn cầu mang lại
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tác động hai mặt của nền kinh tế toàn cầuđối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: tổng hợp, phân tích và thốngkê
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đượctrình bày theo kết cấu 3 chương:
Chương 1: Những cơ hội của nền kinh tế toàn cầu đối với một quốc gia
Chương 2: Những thách thức của nền kinh tế toàn cầu đối với một quốc giaChương 3: Giải pháp tận dụng cơ hội vượt qua những thách thức từ phía Nhànước Việt Nam
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ HỘI CỦA NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU ĐỐI VỚI MỘT QUỐC GIA 1.1 Bối cảnh kinh tế thế giới
1.1.1 Giai đoạn 2005 -2010
Điểm chính của nền kinh tế thế giới giai đoạn 2005-2010 là sự tăngtrưởng nóng của nền kinh tế thế giới lên tới đỉnh cao vào năm 2007 và sau đó rơivào một cuộc Đại Suy giảm (Great Recession) tồi tệ nhất kể từ sau cuộc ĐạiSuy thoái (Great Depression) giai đoạn 1929-1933 Việc kinh tế thế giới pháttriển mạnh (và không vững chắc) cho tới trước năm 2007 chủ yếu bắt nguồn từchính sách vĩ mô nới lỏng thái quá của chính phủ Mỹ từ sau cuộc khủnghoảng dot.com vào năm 2000, sự trỗi dậy nhanh chóng của tứ cường mới nổi,Brazil, Nga, Ấn Độ và đặc biệt là Trung Quốc (nhóm BRIC), đã tích tụ sự mấtcân đối vĩ mô toàn cầu Những mất cân đối này là điều kiện cơ bản(fundamental) để các dòng tài chính dịch chuyển với những khối luợng lớn chưatừng có trong lịch sử, vượt qua tầm hiểu biết và kiểm soát của giới chính sách,châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ và sau đó lan ra các nước pháttriển; và đến lượt nó kéo theo sự suy giảm về kinh tế trên toàn thế giới
Hình 1 Tăng trưởng GDP toàn cầu (% theo quí)
Nguồn: IMF, 2009
Trang 7Xét theo khu vực, Trung Quốc và Ấn Độ đạt mức tăng ấn tượng nhất TrungQuốc duy trì được mức tăng trưởng cao, với tỷ lệ từ 10% đến 13% trong giai đoạn2003-2007 Ấn Độ cũng đạt được mức tăng trên 9% trong các năm 2005-2007 Cácnước thuộc cộng đồng các quốc gia độc lập (tức các nước thuộc Liên Xô cũ) cũngđạt mức tăng trưởng ấn tượng, đạt 7,5% năm 2006 và 8,4% năm 2007 Các nướcthuộc ASEAN có mức tăng trưởng trung bình Riêng Việt
Nam đạt mức tăng trưởng tương đối cao, với mức tăng trưởng từ 6,2% đến8,5% trong các năm 2006-2008 Tiếp đến là những nước thuộc khu vực Nam vàTrung Mỹ, với mức tăng trưởng trên 6% trong các năm 2005-2007 Các nước pháttriển, đặc biệt là Mỹ và Nhật, có mức tăng thấp hơn cả, chỉ trong khoảng từ 2% đến2,8% trong các năm 2005-2007 Năm 2008 hầu hết các nền kinh tế đều có tốc độtăng trưởng thấp hơn so với năm các trước đó, nhưng thứ tự tăng trưởng hầu nhưkhông thay đổi
Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005-2010
Trong giai đoạn 2005-2010, đà tăng trưởng của Việt Nam có dấu hiệu chậmlại trong nửa đầu của giai đoạn (2005-2007) với những bất ổn vĩ mô bắt đầu tích tụ
và bộc lộ Điển hình là chính sách kích thích kinh tế thông qua nới lỏng tín dụng bắtnguồn từ những năm đầu thập niên 2000 để chống lại đà suy giảm tăng trưởng xuấthiện vào năm 1999-2000 đã tích tụ nguyên nhân gây ra lạm phát cao bắt đầu bộcphát từ giữa năm 2007 Thêm vào đó, việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO) vào tháng 11-2006 mở ra một thời kỳ hội nhập sâu rộng chưa từng có, khiếnmức giao lưu thương mại và đầu tư quốc tế tăng vọt, dẫn đến những bất ổn do dòngvốn vào (cả đầu tư trực tiếp lẫn gián tiếp) tăng mạnh, khiến việc kiểm soát vĩ mô trởnên lúng túng Cộng với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, trong hai năm 2008-
2009, tăng trưởng kinh tế ở mức thấp đi liền với lạm phát cao (đặc biệt trong 2008),thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách đều cao Năm 2010 được xem là nămbản lề để ổn định kinh tế vĩ mô, khắc phục các khó khăn sau khủng hoảng và lấy lại
đà tăng trưởng cho giai đoạn tiếp theo
Trang 81.1.2 Giai đoạn 2010 – 2015
Năm 2010 được xem là năm nhiều biến cố đối với nền kinh tế thế giới khi
phải vượt qua những khó khăn, thách thức gây ra bởi cuộc suy thoái lớn nhất kể
từ cơn Đại khủng hoảng trong những năm 1930 Một trong những biến cố lớn
đó là cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu với nạn nhân đầu tiên là Hy Lạp, vàtiếp đến là Ireland Khủng hoảng nợ công không chỉ đe dọa các nước khu vựcđồng Euro mà còn đe dọa nhiều Chính phủ khác khi chi tiêu quá mức cho cácchương trình kích cầu
Vừa thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế 2008 – 2009 và còn chưakịp phục hồi trong năm 2010, kinh tế thế giới lại trải qua một năm 2011 đầy sónggió với một loạt thách thức như khủng hoảng nợ công nghiêm trọng tại khu vựcđồng tieenfchung Châu Âu, sức phục hồi èo uột của nền kinh tế Hoa Kỳ, đà tăngtrưởng chậm lại của các nền kinh tế mới nổi, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát cao, tìnhhình chính trị bất ổn và thiên tai
Kinh tế thế giới năm 2012 cũng không mấy khả quan hơn khi trải qua nhiềunốt trầm và bị hạ mức dự báo tăng trưởng nhiều lần trong năm Tăng trưởng chungcủa thế giới giảm xuống mức 3% trong năm này, trong đó các nền kinh tế phát triển
có tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ ở mức 1,1%/năm trong khi các nền kinh tế đangphát triển và mới nổi tăng trưởng ở mức 5,5%
Kinh tế Mỹ, trong năm 2013 đã khởi sắc, thị trường việc làm cũng có nhiềudấu hiệu khả quan, do đó FED quyết định cắt giảm dần gói QE3 Theo đó, sau khicắt giảm số tiền mua trái phiếu hàng tháng từ 85 tỷ USD xuống còn 75 tỷ USD vàotháng 1/2014 thì FED tuyên bố sẽ tiếp tục thu hẹp gói cứu trợ QE-3 xuống còn 65 tỷUSD mỗi tháng trong biên bản cuộc họp ngày 19/2/2013 Với đà nền kinh tế tiếptục đi đúng hướng và thị trường lao động về tổng thể diễn biễn tích cực, dự báo nềnkinh tế mỹ sẽ tăng trưởng ở mức 2,8% vào năm 2014, 2,7% vào năm 2015 và đạtmức 3,1% cho giai đoạn 2016-2020
Khu vực châu Âu đến năm 2015 sẽ phục hồi ổn định với mức tăng trưởngGDP của khu vực Eurozone đến năm 2015 sẽ tăng 1,4% dựa trên sự tăng trưởng
Trang 9mạnh của các lĩnh vực như đầu tư và xuất nhập khẩu Bên cạnh đó, các vấn đề đángquan ngại như lạm phát, thất nghiệp của khu vực sẽ dần được giải quyết Dự báođầu tư của khu vực Eurozone đến năm 2015 sẽ chiếm 18,204% GDP, kim ngạchxuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 3,7%; kim ngạch nhập khẩu hàng hóa và dịch
vụ tăng 3,461% trong khi tỷ lệ lạm phát sẽ là 1,465%; thất nghiệp cải thiện hơn chút
ít (chiếm 11,9% lực lượng lao động)
Bảng 2: Tăng trưởng kinh tế thế giới 2014-2020 (%)
Nguồn: Tính toán của Nhóm nghiên cứu theo mô hình NiGEM
1.2 Những cơ hội của nền kinh tế toàn cầu
1.2.1 Bước chuyển sang kinh tế trí thức: sự xuất hiện lợi thế mới và thời cơ phát triển “nhảy vọt” cho các nền kinh tế đi sau.
Có thể định vị nền kinh tế tri thức bằng 2 đặc trưng:
Thứ nhất, sự hiện diện của một lực lượng sản xuất mới về chất, đóng vai tròquyết định quá trình phát triển của thế giới hiện đại Đó là tri thức - trí tuệ conngười (công nghệ cao là một dạng kết tinh vật chất của sức mạnh này) Thay chođất đai, tài nguyên, là những lợi thế tự nhiên đóng vai trò quyết định trong nền kinh
tế nông dân cổ truyền, và thay cho vốn tài chính, là lợi thế quyết định trong nềnkinh tế công nghiệp cổ điển (công nghiệp cơ khí), trong nền kinh tế tri thức, lợi thếphát triển cơ bản của bất cứ chủ thể kinh tế nào - nền kinh tế quốc gia, doanh nghiệphay cá nhân - cũng đều là trí tuệ con người
Thứ hai, sự vận hành của kinh tế tri thức dựa vào một nguyên lý mới: tốc độcao Trong thế giới hiện đại, tốc độ cao là một thuộc tính chi phối Các quá trìnhđều diễn ra với tốc độ ngày càng cao Tốc độ cao mở ra nhiều cơ hội Nhưng mặtkhác, nó đi liền với sự bất thường (tính khó dự đoán) của các quá trình Điều đó đòihỏi các chủ thể kinh tế phải có những năng lực rất mới để đáp ứng được yêu cầu tốc
độ Đó năng lực tư duy ở cấp độ chiến lược quốc gia, năng lực phản ứng nhanh của
Trang 10toàn bộ hệ thống thể chế cơ chế3 và khả năng đáp ứng của các cá nhân trước sựthay đổi nhanh chóng của hoàn cảnh.
Tốc độ cao của quá trình biến đổi đồng nghĩa với xu hướng dịch chuyển cơcấu và công nghệ nhanh Đặc trưng này vừa chứa đựng khả năng, vừa đặt ra yêu cầuphát triển “nhảy vọt cơ cấu” cho các nền kinh tế và các công ty Trước sự thay đổinhanh của công nghệ, một nền kinh tế hay một công ty có điều kiện đi tắt cơ cấu,đón đầu công nghệ bằng cách thức phát triển nhảy vọt cơ cấu ( bỏ qua một số nấcthang công nghệ để tiến lên nấc thang công nghệ cao hơn) Đây chính là cơ hội đểcác nước đi sau thực hiện cách phát triển “ đi trước để đuổi kịp” các nước đi trước.Cách phát triển nói trên biểu hiện giống như một nghịch lý Tuy nhiên, đó là loại cơhội mang nhiều tính khả thi Trong giai đoạn chuyển thời đại công nghệ, loại cơ hộinày có điều kiện để “nở rộ” Do mang tính thời đại, sự nở rộ cơ hội này tạo thànhmột cơ hội lịch sử - thời đại cho sự bứt phá, vượt lên hoặc tiến kịp Với tính chấtnhư vậy, cơ hội đó thực sự là hiếm hoi
1.2.2 Hệ thống phân công lao động quốc tế mới và khả năng đột phá phát triển trong “ mạng sản xuất toàn cầu”.
Toàn cầu hóa tạo ra một cấu trúc mới cho quá trình phát triển - cấu trúc mạngkinh tế toàn cầu Trong mạng này, mỗi nền kinh tế quốc gia, mỗi chủ thể phát triểnchỉ là một bộ phận hữu cơ, một “vùng lãnh thổ” hay một “nút” mạng Trong mạngtoàn cầu, biên giới quốc gia không còn là giới hạn chủ yếu quy định không gianphát triển của các chủ thể kinh tế Giống như trước đây, các quá trình sản xuất cụthể vẫn được thực hiện ở từng quốc gia Điểm khác biệt là ở chỗ các quá trình đódiễn ra trên cơ sở kết nối mạng toàn cầu và bị chi phối ngày càng mạnh bởi các quytắc, luật lệ toàn cầu
Với kết cấu như vậy, toàn cầu hóa được coi là một cơ hội lớn để các nước đisau nhanh chóng gia nhập vào quỹ đạo phát triển hiện đại, tiếp cận sớm đến cácthành tựu phát triển cao của loài người để giải quyết các vấn đề phát triển của mình(tăng trưởng, việc làm, nâng cao trình độ công nghệ - kỹ thuật) Bỏ qua toàn cầuhóa, quốc gia đi sau đứng trước nguy cơ bị “đặt ra bên lề” của sự phát triển hiện đại
Trang 11Đặc trưng của mạng lưới kinh tế hiện đại là sự kết nối mang tính toàn cầu (ngôilàng toàn cầu) Mạng lưới này có 4 đặc trưng cơ bản: i) các thị trường mới; ii) cáccông cụ mới; iii) các nhân vật mới và iv) những quy tắc mới Bốn đặc trưng nàyphát huy tác dụng trong điều kiện thời gian “rút ngắn lại”, “không gian thu hẹp lại”
và “các đường biên giới quốc gia hạ thấp xuống” (UNDP, 1999) Kết cấu mạng củanền kinh tế thế giới hiện đại không đơn thuần là một mạng “phẳng” như trước đây.Nhờ các công nghệ hiện đại, trước hết là công nghệ thông tin - viễn thông, mạngkinh tế hiện đại có cấu trúc của một “mạng không gian toàn cầu”, trong đó, mỗiđiểm “nút” đều đóng vai trò là một trung tâm kết nối bình đẳng của mạng (J.Naisbitt “Từ Nhà nước quốc gia đến hệ thống mạng nối kết”, trong Rowan Gibson,1998)
1.2.3 Sự trỗi dậy của Trung Quốc , Ấn Độ và tính thế phát triển mới ở Đông Á
Bước vào thế kỷ 21, dưới tác động của khủng hoảng và của sự chuyển hướngdòng đầu tư nước ngoài, sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc
- khổng lồ cả về quy mô lẫn tính đa dạng về cấp độ và tiềm lực phát triển - đã làmbiến đổi làn sóng công nghiệp, tạo ra khuynh hướng mới trong tiến trình phát triểnkinh tế của Đông Á
Thứ nhất, quá trình di chuyển cơ cấu công nghiệp theo kiểu làn sóng giữa cácnước trong khu vực vẫn tiếp tục được duy trì nhưng với một tốc độ cao hơn, nhờ đó,khoảng cách phát triển giữa các nền kinh tế ngày càng được thu hẹp
Thứ hai, phân công lao động theo “chuỗi giá trị gia tăng” giữa các nước trongkhu vực là xu hướng ngày càng trội bật, trở thành mô hình phát triển công nghiệpmới ở Đông Á Xu hướng này tạo cơ sở cho sự liên kết phát triển giữa các nước cónhiều nội dung mới và chặt chẽ hơn Về nguyên tắc, tất cả các nền kinh tế, nếu thamgia vào chuỗi liên kết này, sẽ có nhiều cơ hội để nhận được lực kéo phát triển của cảkhu vực
Thứ ba, ngoài hai khả năng trên, trong các điều kiện toàn cầu hóa và phát triểnkinh tế tri thức, xuất hiện khả năng các nước đi sau tăng tốc rượt đuổi các nước đitrước bằng cách bỏ qua một số giai đoạn phát triển để chuyển nhanh sang trình độ
Trang 12công nghệ cao hơn Cách thức phát triển rút ngắn đến mức có thể được coi là bỏ quagiai đoạn công nghiệp hóa để tiến thẳng vào giai đoạn công nghệ cao mà Hàn Quốc
và Malaysia thực hiện thành công trước đây (J Naisbitt, 1988) trước đây, nay đangđược lặp lại khá thành công ở Trung Quốc và Ấn Độ Tất nhiên, để tận dụng khảnăng này, cần một số điều kiện xác định (ví dụ tiềm lực tài chính, công nghệ, nguồnnhân lực, thị trường, chiến lược phát triển và mức độ liên kết kinh tế với thế giới vàkhu vực) Những điều kiện này các nước kém phát triển đi sau không dễ có được
Từ các đặc trưng phát triển mới của Đông Á nêu trên, dễ nhận thấy rằng tùythuộc vào các điều kiện và năng lực cụ thể của mỗi nước, tốc độ tiếp nhận “làn sóng
cơ cấu” [trong mô hình “làn sóng”] và tốc độ di chuyển trên các nấc thang côngnghệ [trong mô hình “chuỗi giá trị gia tăng”] là rất không đều giữa các nền kinh tế.Nói chung, những nước đi sau kém phát triển hơn, rõ nhất là ASEAN -4(Campuchia, Laos, Mianma và Việt Nam), gặp nhiều khó khăn hơn khi tham gia hệthống phân công lao động khu vực theo cả hai mô hình công nghiệp hiện có ở Đông
Á Trong khi đó, nhờ vào ưu thế về quy mô và sức mạnh tổng thể, Trung Quốc cóthể tiến nhảy vọt trên các nấc thang công nghệ, nêu một ví dụ điển hình về khả năngthu hẹp khoảng cách với các nước đi trước để qua đó, tạo nên sự thay đổi mạnh mẽcục diện (tương quan) phát triển trong khu vực
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc và Ấn Độ đang tạo ra cơ hội phát triển
to lớn cho cả thế giới
Trước hết, đó là cơ hội thị trường, mở ra từ sự bùng nổ tăng trưởng của hainền kinh tế có quy mô dân số tổng cộng 2,5 tỷ người và tốc độ tăng trưởng GDPbình quân hàng năm 8-9% Đây là sự bùng nổ thị trường lớn chưa từng thấy Nó tạothành động lực tăng trưởng mạnh hiếm có cho cả thế giới Về triển vọng, theo dựđoán của nhiều học giả, cơ hội này vẫn tiếp tục được duy trì và mở rộng ít nhấttrong vài thập niên tới Lý do chính là dư địa cải cách thể chế theo hướng thị trường
- mở cửa và hội nhập của Trung Quốc và Ấn Độ còn rất rộng Thêm vào đó, khônggian công nghệ cho sự phát triển nhảy vọt cơ cấu của hai nền kinh tế này, trongbước chuyển lên kinh tế tri thức, hầu như không bị giới hạn
Trang 13Thứ hai, sự bùng nổ kinh tế của Trung Quốc và Ấn Độ kéo theo sự dịchchuyển mạnh dòng FDI, cả về khối lượng lẫn cơ cấu Trung Quốc và Ấn Độ là haiyếu tố chủ chốt đang tái định hướng dòng FDI toàn cầu Chúng hút FDI đổ mạnhvào hai nền kinh tế này, đồng thời, tạo sức lan tỏa đầu tư cho cả khu vực Nam Á vàĐông Á.
Chắc chắn Việt Nam sẽ được hưởng lợi từ sự dịch chuyển dòng đầu tư này.Nhưng vấn đề là lợi được hưởng lớn đến mức nào Đây là điều tùy thuộc vào đườnglối phát triển, thái độ chính sách và nỗ lực tạo môi trường kinh doanh của Việt Nam
Tóm lại, Kinh tế toàn cầu mang lại những lợi ích sau cho nền kinh tế mỗi quốc
gia như sau:
Thứ nhất, kinh tế toàn cầu giúp mở rộng thị trường để thúc đẩy thương mại vàcác quan hệ kinh tế quốc tế khác, từ đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế-xãhội
Thứ hai, kinh tế toàn cầu cũng tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó nâng cao hiệu quả và năng lựccạnh tranh của nền kinh tế, của các sản phẩm và doanh nghiệp; đồng thời, làm tăngkhả năng thu hút đầu tư vào nền kinh tế
Thứ ba, kinh tế toàn cầu giúp nâng cao trình độ của nguồn nhân lực và nềnkhoa học công nghệ quốc gia, nhờ hợp tác giáo dục-đào tạo và nghiên cứu khoa họcvới các nước và tiếp thu công nghệ mới thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài vàchuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến
Thứ tư, làm tăng cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trườngquốc tế, nguồn tín dụng và các đối tác quốc tế
Thứ năm, tạo cơ hội để các cá nhân được thụ hưởng các sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ đa dạng về chủng loại, mẫu mã và chất lượng với giá cạnh tranh; được tiếp cận
và giao lưu nhiều hơn với thế giới bên ngoài, từ đó có cơ hội phát triển và tìm kiếmviệc làm cả ở trong lẫn ngoài nước
Trang 14Thứ sáu, tạo điều kiện để các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tốt hơn tìnhhình và xu thế phát triển của thế giới, từ đó có thể đề ra chính sách phát triển phùhợp cho đất nước và không bị lề hóa
Thứ bảy, kinh tế toàn cầu giúp bổ sung những giá trị và tiến bộ của văn hóa,văn minh của thế giới, làm giàu văn hóa dân tộc và thúc đẩy tiến bộ xã hội
Thứ tám, tạo động lực và điều kiện để cải cách toàn diện hướng tới xây dựngmột xã hội mở, dân chủ hơn, và một nhà nước pháp quyền
Thứ chín, kinh tế toàn cầu tạo điều kiện để mỗi nước tìm cho mình một vị tríthích hợp trong trật tự quốc tế, giúp tăng cường uy tín và vị thế quốc tế, cũng nhưkhả năng duy trì an ninh, hòa bình và ổn định để phát triển
Thứ mười, kinh tế toàn cầu giúp duy trì hòa bình và ổn định khu vực và quốc
tế để các nước tập trung cho phát triển; đồng thời mở ra khả năng phối hợp các nỗlực và nguồn lực của các nước để giải quyết những vấn đề quan tâm chung của khuvực và thế giới