Những người trong lực lượng lao động tìm được việclàm được gọi là những người có việc làm: Lực lượng lao động = Số người có việc làm + Số người thất nghiệp.. Tỷ lệ thất nghiệp = Số người
Trang 1tế luôn luôn phải chịu một số thất nghiệp và những cách mà các nhà hoạch định chínhsách có thể sử dụng để giúp đỡ người thất nghiệp.
1 NĂNG SUẤT
Thuật ngữ năng suất phản ánh lượng hàng hoá và dịch vụ mà một công nhân sản xuất
ra trong mỗi giờ lao động
1.1 Vai trò của năng suất
Năng suất đóng vai trò then chốt trong việc định ra mức sống của một nước Nhưchúng ta đã biết tổng sản phẩm trong nước phản ánh đồng thời hai thứ: (1) tổng thunhập của tất cả các thành viên trong nền kinh tế và (2) tổng chi tiêu cho sản lượnghàng hoá và dịch vụ của nền kinh tế Nói đơn giản, thu nhập của nền kinh tế cũngchính là sản lượng của nền kinh tế Đất nước chỉ có thể hưởng thụ cuộc sống tốt đẹphơn khi có sản xuất được lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn Người Mỹ sống sungtúc hơn người Nigêria vì công nhân Mỹ có năng suất cao hơn công nhân Nigêria.Người Nhật hưởng sự gia tăng mức sống nhanh hơn người Achentina vì năng suất củacông nhân Nhật tăng nhanh hơn năng suất của công nhân Achentina Như vậy mứcsống của một nước phụ thuộc vào năng lực sản xuất hàng hoá và dịch vụ của nước đó
Do vậy, để hiểu được sự khác biệt to lớn trong mức sống của người dân giữa các nướchay giữa những thời kỳ khác nhau, chúng ta buộc phải nhìn vào quá trình sản xuấthàng hoá và dịch vụ Nhưng xem xét mối quan hệ giữa mức sống và năng suất mới chỉ
là bước khởi đầu Điều này tất yếu dẫn chúng ta đến câu hỏi: vì sao một số nền kinh tếlại có khả năng sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ giỏi hơn rất nhiều so với các nền kinh
tế khác?
1.2 Yếu tố quyết định năng suất
Các nhân tố như tư bản hiện vật, vốn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và tri thức côngnghệ tồn tại và quyết định năng suất của các nền kinh tế
Tư bản hiện vật : Công nhân làm việc với năng suất cao hơn nếu họ có nhiều công cụlao động hơn Khối lượng trang thiết bị và cơ sở vật chất dùng trong quá trình sản xuất
ra hàng hoá và dịch vụ được gọi là tư bản hiện vật Ví dụ, một người nông dân làmviệc trên đồng, anh ta cần có cuốc, xẻng, máy cày, máy gặt…Việc có nhiều máy móc
và công cụ hơn cho phép người nông dân tiết kiệm được công lao động hơn và năngsuất lao động cũng cao hơn
Một đặc tính quan trọng của tư bản hiện vật là nhân tố sản xuất được sản xuất ra.Nghĩa là tư bản hiện vật biểu thị yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà trước đó đãtừng là sản lượng của quá trình sản xuất khác
Trang 2Vậy tư bản hiện vật là nhân tố sản xuất được dùng để sản xuất ra tất cả các loại hànghoá và dịch vụ, trong đó có bản thân tư bản hiện vật.
Vốn nhân lực: là thuật ngữ được dùng để chỉ kiến thức và kỹ năng mà người côngnhân thu được thông qua giáo dục đào tạo và tích lũy kinh nghiệm Vốn nhân lựcđược tích luỹ từ thời đi học phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, đại học và cácchương trình đào tạo nghề nghiệp dành cho lực lượng lao động
Cũng giống tư bản hiện vật, vốn nhân lực làm tăng năng lực sản xuất hàng hoá và dịch
vụ của đất nước Vốn nhân lực cũng là nhân tố được quá trình sản xuất tạo ra.Việc sảnxuất vốn nhân lực đòi hỏi các yếu tố đầu vào dưới dạng giáo viên ,thư viện, và thờigian nghiên cứu Có thể coi sinh viên như những “ công nhân” có nhiệm vụ quantrọng là sản xuất vốn nhân lực nhằm phục vụ cho sản xuất trong tương lai
Tài nguyên thiên nhiên: là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất do thiên nhiên manglại, như đất đai, sông ngòi và khoáng sản Có hai loại tài nguyên thiên nhiên, loại táitạo được và loại không tái tạo được ví dụ: rừng cây là loại tái tạo được còn dầu mỏ làloại không thể tái tạo được
Sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ra một số khác biệt về mức sốngtrên thế giới Sự thành công có ý nghĩa lịch sử của Mỹ một phần bắt nguồn từ cung đấtđai mênh mông, thích hợp cho nghành nông nghiệp Ngày nay, một số nước ở vùngTrung Đông như Co- oet và Ả rập Xê –út rất giàu chỉ vì họ vô tình sống trên nhữnggiếng dầu lớn nhất thế giới Mặc dù nguồn tài nguyên có ý nghĩa quan trọng, nhưng
đó không nhất thiết phải là nguyên nhân làm cho nền kinh tế có năng suất cao trongviệc sản xuất hàng hoá và dịch vụ.Ví dụ, Nhật là nước thuộc loại giàu có trên thế giớimặc dù không có mấy tài nguyên thiên nhiên Thương mại quốc tế là nguyên nhânthành công của Nhật Nhật xuất khẩu hàng công nghiệp sang các nước có tài nguyên Tri thức công nghệ: là những hiểu biết về cách thức tốt nhất để sản xuất hàng hoá vàdịch vụ Tri thức công nghệ khác với vốn nhân lực Tri thức công nghệ phản ánh kiếnthức của xã hội trong việc nhận thức thế giới vận hành ra sao.Vốn nhân lực liên quanđến các nguồn lực được sử dụng để truyền sự hiểu biết này vào lực lượng lao động.1.3 Hàm sản xuất
Hàm sản xuất cho biết các nhân tố sản xuất quyết định mức sản lượng được sản xuất
ra như thế nào
Y = Af ( L, K, H, N )
Trong đó:Y biểu thị sản lượng, L biểu thị lượng lao động, K là khối lượng tư bản hiệnvật, H là khối lượng vốn nhân lực, N là khối lượng tài nguyên thiên nhiên f( ) là mộthàm biểu thị cách kết hợp các đầu vào để sản xuất ra sản lượng A là biến số phản ánhtrình độ công nghệ sản xuất hiện có Khi công nghệ phát triển, A sẽ tăng và nền kinh
tế sản xuất nhiều sản lượng hơn từ bất cứ kết hợp đầu vào nào
Hàm sản xuất có hai đặc tính quan trọng Thứ nhất, nó phản ánh mối quan hệ cùngchiều giữa sản lượng đầu ra và các yếu tố đầu vào được sử dụng Thứ hai, sản phẩmbiên của mỗi yếu tố đầu vào sẽ có xu hướng giảm dần khi chúng ta sử dụng ngày càngnhiều yếu tố đó trong điều kiện các yếu tố khác không đổi
Trang 3Lượng tư bản trong nền kinh tế được hình thành bởi hoạt động đầu tư trong quá khứ,
và trong ngắn hạn nó được coi là không đổi Trình độ công nghệ và tài nguyên cũngđược giả định là cho trước Với giả thiết đơn giản hoá này chúng ta sẽ nghiên cứuhàm sản xuất phản ánh mối quan hệ giữa sản lượng đầu ra và lượng lao động được sửdụng:
Y = f (L)
Hình 5.1 Đường biểu diễn hàm sản xuất
Tại các mức lao động khác nhau các doanh nghiệp sẽ sản xuất ra các mức sản lượngkhác nhau Hàm sản xuất có độ dốc dương và độ dốc này có xu hướng ngày càng giảmdần - phản ánh qui luật năng suất biên giảm dần của yếu tố lao động Đây chính là haiđặc điểm của hàm sản xuất mà chúng ta đã bàn ở trên
Lượng lao động mà các doanh nghiệp sử dụng cho quá trình sản xuất sẽ được xác địnhbởi cung và cầu trên thị trường lao động
2 THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Trên thị trường lao động, các hộ gia đình cung ứng sức lao động và các doanh nghiệp
có nhu cầu thuê lao động Do vậy người lao động đóng vai trò là người bán, còndoanh nghiệp đóng vai trò là người mua Cả doanh nghiệp và người lao động đều quantâm đến vấn đề tiền lương thực tế chứ không phải tiền lương danh nghĩa Tiền lươngdanh nghĩa (Wn) là số tiền mà người lao động nhận được sau một đơn vị thời giannhất định Tiền lương thực tế (Wr) phản ánh số đơn vị hàng hoá và dịch vụ mà tiềnlương danh nghĩa có thể mua được và nó được tính bằng tiền lương danh nghĩa chicho mức giá (Wr = Wn/P)
Trang 4Hình 5.2 : đường cầu lao động
Khi tiến hành thuê lao động các doanh nghiệp phải cân nhắc giữa chi phí thuê laođộng, tức là tiền lương thực tế, và lợi ích mà những người lao động đó đem lại chodoanh nghiệp tức là sản phẩm cận biên của lao động Một doanh nghiệp theo đuổimục tiêu tối đa hoá lợi nhuận sẽ thuê lao động cho tới khi sản phẩm cận biên của laođộng đúng bằng tiền lương thực tế:
Hình 5.3 : đường cung lao động
Thị trường lao động đạt trạng thái cân bằng khi cầu lao động bằng đúng mức cung laođộng, tức là khi đường DL cắt đường SL Khi đó nền kinh tế không có thất nghiệpkhông tự nguyện và nó đạt mức sản lượng tiềm năng Trạng thái này còn được gọi làtrạng thái toàn dụng nhân công
Trang 5Hình 5.4 : Cân bằng cung cầu lao động
3.THẤT NGHIỆP
3.1 Thất nghiệp và đo lường thất nghiệp
Thất nghiệp được định nghĩa là tổng số người trong lực lượng lao động không có việclàm Trong đó, lực lượng lao động bao gồm những người trên 15 tuổi, có khả năng laođộng và mong muốn lao động Những người trong lực lượng lao động tìm được việclàm được gọi là những người có việc làm:
Lực lượng lao động = Số người có việc làm + Số người thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp = (Số người thất nghiệp/ Lực Lượng lao động) x100
Qui mô thất nghiệp của nền kinh tế luôn có sự biến động theo thời gian, tại một thờiđiểm nào đó luôn có những người gia nhập đội quân thất nghiệp nhưng đồng thờicũng có những người tìm được việc làm và do vậy thoát khỏi đội quân thất nghiệp.3.2 Phân loại thất nghiệp
Để phân loại thất nghiệp người ta có thể sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau ví dụ nhưphân loại theo độ tuổi, giới tính, khu vực….Tuy nhiên cách phân loại thường được sửdụng nhất trong kinh tế vĩ mô là phân loại theo nguồn gốc (nguyên nhân) và theo tínhchất ( tự nguyện và không tự nguyện) của thất nghiệp:
Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp được chia thành những loại sau:
- Thất nghiệp tạm thời: Đây là loại thất nghiệp phát sinh do người lao động cần cóthời gian tìm kiếm việc làm Tìm kiếm việc làm là quá trình tạo ra sự trùng khớp giữacông nhân và việc làm thích hợp Người lao động nghỉ việc nhanh chóng tìm đượcviệc làm mới và thích hợp hoàn toàn với nó Nhưng trong thực tế, người lao độngkhác nhau về sở thích và kỹ năng, việc làm khác nhau ở nhiều thuộc tính và thông tin
về người cần việc và chỗ làm việc còn trống làm cho sự gặp gỡ giữa nhiều doanhnghiệp và hộ gia đình trong nền kinh tế bị chậm trễ Do đó, thất nghiệp tạm thời là loạithất nghiệp cố hữu trong mọi nền kinh tế, nó không thể tránh khỏi đơn giản vì nềnkinh tế luôn luôn thay đổi để giảm loại thất nghiệp này cần có những thông tin đầy đủhơn về thị trường lao động
- Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự mất cân đối giữa nhu cầu sửdụng lao động và cơ cấu của lực lượng lao động hay nói cách khác là lượng cung laođộng vượt lượng cầu về lao động Các nguyên nhân dẫn đến cung lao động vượt cầu
Trang 6lao động: do thay đổi cơ cấu kinh tế, do lao động được đào tạo không đáp ứng đượcnhu cầu thị trường lao động, do luật tiền lương tối thiểu.
Hình 5.5 : Thất nghiệp do tiền lương ở trên mức cân bằng
Trên thị trường lao động, tiền lương làm cho cung và cầu về lao động bằng nhau tạiWr0 Tại mức lương cân bằng đó, cả lượng cung và lượng cầu về lao động đều bằngL0 ngược lại, nếu tiền lương buộc phải duy trì ở mức cao hơn tiền lương cân bằng, cóthể do luật tiền lương tối thiểu, lượng cung về lao động tăng lên LS và lượng cầu vềlao động giảm xuống LD mức thặng dư về lao động LS - LD chính là số người thấtnghiệp
Chúng ta cần lưu ý thất nghiệp tạm thời nảy sinh từ tiền lương cao hơn mức cân bằngkhác với thất nghiệp tạm thời nảy sinh từ quá trình tìm kiếm việc làm Nhu cầu tìmviệc làm không phải là do thất bại của tiền lương trong việc làm cân bằng cung cầu vềlao động gây ra Khi sự tìm việc là lý do giải thích cho thất nghiệp, công nhân đangtìm việc làm thích hợp nhất với sở thích và kỹ năng của họ Ngược lại, khi tiền lươngcao hơn mức cân bằng, lượng cung về lao động vượt lượng cầu về lao động và côngnhân bị thất nghiệp vì họ đang chờ việc làm mới
- Thất nghiệp chu kỳ hay còn gọi là thất nghiệp do thiếu cầu: Đây là loại thất nghiệpphát sinh khi nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái do tổng cầu quá thấp Để giảmloại thất nghiệp này chính phủ cần sử dụng chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng,nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế trở về mức toàn dụng
Phân loại theo tính chất thất nghiệp được chia thành những loại sau:
- Thất nghiệp tự nguyện: là loại thất nghiệp phát sinh do người lao động không chấpnhận những công việc hiện thời với mức lương tương ứng.Thất nghiệp tự nguyện diễn
ra trong một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo có tiền lương linh hoạt, khi những người
đủ tiêu chuẩn quyết định chọn không đi làm tại mức lương hiện tại Thất nghiệp tựnguyện có thể là một kết cục không hiệu quả của thị trường cạnh tranh
- Thất nghiệp không tự nguyện: là loại thất nghiệp phát sinh dù người lao động sẵnsàng chấp nhận những công việc hiện thời với mức tiền lương tương ứng
3.3 Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp khi thị trường lao động cân bằng Nềnkinh tế ở mức thất nghiệp tự nhiên tức là có công ăn việc làm đầy đủ và mức sảnlượng cân bằng
Trang 7Hình 5.6 : Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên
Chúng ta cần phân biệt cung lao động ( SL ) phản ánh số người chấp nhận việc làmvới lực lượng lao động (LF) phản ánh số người mong muốn làm việc Khoảng cáchtheo chiều ngang giữa LF và SL chính là số người trong lực lượng lao động không sẵnsàng chấp nhận công việc với mỗi mức tiền lương tương ứng, đây chính là số ngườithất nghiệp tự nguyện
Giao điểm giữa đường cung và đường cầu xác định trạng thái cân bằng của thị trườnglao động Đây chính là trạng thái toàn dụng nhân công Ngay cả khi thị trường laođộng đạt trạng thái cân bằng nền kinh tế vẫn tồn tại thất nghiệp (từ điểm A đến điểmB) Thất nghiệp tại trạng thái cân bằng này chính là thất nghiệp tự nhiên Như vậychúng ta có thể kết luận được là thất nghiệp tự nhiên luôn là thất nghiệp tự nguyện.Tuy nhiên thất nghiệp tự nguyện chỉ là thất nghiệp tự nhiên khi thị trường lao độngđạt trạng thái cân bằng
Hình 5.7 Tỷ lệ thất nghiệp từ năm 1969 tại Mỹ Biểu đồ sử dụng số liệu hàng năm về
tỷ lệ thất nghiệp để chỉ ra tỷ lệ lực lượng lao động không có việc làm
Trang 8Hình 5.8 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam và nữ từ 1950 Hình này chỉ raphần trăm nam và nữ là người lớn nằm trong lực lượng lao động Nó cho thấy trongnhiều thập kỷ qua, phụ nữ gia nhập lực lượng lao động, còn nam giới rời bỏ nó nhưthế nào.
Tỷ lệ thất nghiệp có phản ánh cái mà chúng ta muốn tìm không?
Việc tính toán tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế dường như rất dễ dàng Thực tếkhông phải như vậy Trong khi dễ dàng phân biệt người đi làm cả ngày và người hoàntoàn không đi làm, thì người ta lại rất khó phân biệt giữa người thất nghiệp và ngườikhông nằm trong lực lượng lao động
Trên thực tế, sự gia nhập và rời bỏ lực lượng lao động là chuyện rất bình thường Hơnmột phần ba số người thất nghiệp là những người mới gia nhập lực lượng lao động.Những người mới gia nhập bao gồm các công nhân trẻ tuổi đang tìm việc làm đầutiên, chẳng hạn sinh viên vừa mới tốt nghiệp Họ cũng bao gồm khá nhiều công nhânlớn tuổi trước đây đã rời bỏ lực lượng lao động, nhưng nay quay lại tìm việc làm Hơnnữa, không phải mọi người thất nghiệp tìm việc cuối cùng đều tìm được việc làm Gầnmột nửa số người thất nghiệp tìm được việc làm và rời bỏ lực lượng lao động
Vì mọi người gia nhập và rời bỏ lực lượng lao động thường xuyên như vậy, nên rấtkhó giải thích con số thống kê thất nghiệp Một mặt, một số người được coi là thấtnghiêp, nhưng trong thực tế không nỗ lực tìm việc làm Họ có thể tự gọi mình làngười thất nghiệp vì họ muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp của chính phủ hoặcđang thật sự làm việc và được tả lương “chui” Có lẽ sẽ thực tế hơn nếu đưa nhữngngười này ra khỏi lực lượng lao động hoặc trong một số trường hợp coi họ là có việclàm Mặt khác, một số người được coi là nằm ngoài lực lượng lao động, nhưng trongthực tế lại muốn có việc làm Những người này có thể đã nỗ lực tìm kiếm việc làm,nhưng nản lòng sau nhiều lần thất bại Họ được gọi là những công nhân thất vọng vàkhông được đưa vào con số thống kê thất nghiệp, cho dù họ thật sự là người không cóviệc làm Theo hầu hết các con số ước tính, nếu cộng số công nhân này vào con sốthất nghiệp, nó sẽ làm tỷ lệ thất nghiệp thực tế tăng khoảng 0,5 % Không dễ dàng đểlàm cho tỷ lệ thất nghiệp được cơ quan thống kê công bố trở thành tỷ số đáng tin cậyhơn về tình hình thị trường lao động Xét cho cùng, cách tốt nhất là coi tỷ lệ thấtnghiệp được công bố là chỉ tiêu hữu ích, nhưng chưa hoàn hảo về tình trạng không cóviệc làm
Trang 9Người thất nghiệp không có việc làm trong bao lâu?
Khi đánh giá tính chất nghiêm trọng của vấn đề thất nghiệp, chúng ta cần xét xem thấtnghiệp nhìn chung có tính chất ngắn hạn hay dài hạn Nếu thất nghiệp có tính chấtngắn hạn, chúng ta có thể kết luận rằng nó không phải vấn đền lớn Công nhân có thểcần một vài tuần để chuyển từ việc này tới nơi làm việc khác, thích hợp hơn với sởthích và năng lực của họ Nhưng nếu thất nghiệp có tính chất dài hạn, chúng ta phảikết luận rằng nó là một vấn đề nghiêm trọng Công nhân thất nghiệp trong nhiều thángphải chịu đựng sức ép về kinh tế và tâm lý nhiều hơn
Vì thời gian thất nghiệp có thể ảnh hưởng đến quan điểm của chúng ta về mức độnghiêm trọng của thất nghiệp, nên các nhà kinh tế dành nhiều công sức để nghiên cứu
số liệu về độ dài của các phiên thất nghiệp Trong các công trình này, họ đã phát hiện
ra một thực tế quan trọng, rõ ràng, nhưng có vẽ mâu thuẫn: Hầu hết các phiên thấtnghiệp đều ngắn và hầu hết số người thất nghiệp quan sát được tại bất cứ thời điểmnào cũng dài
Để hiểu tại sao nhận định này lại đúng, chúng ta cần xem xét một ví dụ Giả sử tuầnnào bạn cũng đến cơ quan phụ trách vấn đề thất nghiệp của chính phủ trong suốt mộtnăm để điều tra số người thất nghiệp Mỗi tuần bạn thấy có 4 công nhân thất nghiệp
Ba trong số những công nhân này vẫn là những người cũ trong cả năm, còn người thứ
tư thay đổi hằng tuần Nếu dựa vào kinh nghiệm này, bạn sẽ nhận định rằng thấtnghiệp nhìn chung có tính chất ngắn hạn hay dài hạn?
Một vài phép tính đơn giản giúp chúng ta trả lời câu hỏi này Trong ví dụ trên, bạn cómột tổng 55 người thất nghiệp, 52 người thất nghiệp một tuần, và ba người còn lại thấtnghiệp cả năm: Tức 52/55 người thất nghiệp trong một tuần Như vậy, hầu hết sốphiên (tức lượt người) thất nghiệp là ngắn Bây giờ chúng ta hãy xét tổng thời gianthất nghiệp Ba người thất nghiệp một năm (52 tuần) tạo ra 156 tuần thất nghiệp Cùngvới 52 người thất nghiệp một tuần, chúng ta có 208 tuần thất nghiệp Trong ví dụ này,156/208 hay 75% số tuần thất nghiệp là do những người thất nghiệp cả năm gây ra.Như vậy, hầu hết số người thất nghiệp quan sát được tại bất cứ thời điểm nào đều cótính chất dài hạn
Kết luận rõ ràng này hàm ý rằng các nhà kinh tế và hoạch định chính sách phải thậntrọng khi diễn giải số liệu thất nghiệp và thiết kế chính sách trợ giúp cho người thấtnghiệp Hầu hết những người trở thành thất nghiệp sớm tìm được việc làm Chính vìvậy, vấn đề thất nghiệp của nền kinh tế gắn với một số tương đối ít công nhân không
có việc làm trong thời gian dài
Vì sao luôn luôn có một số người thất nghiệp?
Chúng ta đã thảo luận cách thức mà chính phủ sử dụng để tính toán thất nghiệp, cácvấn đề nảy sinh trong việc lý giải các số liệu thống kê thất nghiệp và phát hiện của cácnhà kinh tế kinh doanh về độ dài của thất nghiệp Bây giờ bạn đã hiểu rõ thất nghiệp
là gì
Tuy nhiên, phần trình bày này không cho biết vì sao nền kinh tế lại có thất nghiệp.Trong hầu hết các thị trường của nền kinh tế, giá cả điều chỉnh để đưa cung và cầu đếntrạng thái cân bằng Trong thị trường lao động lý tưởng, tiền lương điều chỉnh để cân
Trang 10bằng cung và cầu về lao động Sự điều chỉnh như vậy của tiền lương bảo đảm rằngmọi công nhân đều có việc làm.
Tất nhiên, thực tế không giống trạng thái lý tưởng này, Luôn luôn có một số côngnhân không có việc làm ngay cả khi nền kinh tế vĩ mô vận hành tốt Nói cách khác, tỷ
lệ thất nghiệp chưa bao giờ giảm xuống số 0; thay vào đó, nó biến động xung quanh tỷ
lệ thất nghiệp tự nhiên Để hiểu được tỷ lệ tự nhiên này, bây giờ chúng ta xem xét cácnguyên nhân giải thích vì sao thị trường lao động lệch khỏi trạng thái toàn dụng lýtưởng
Khi xem xét vấn đề một cách khái quát, chúng ta nhận thấy có bốn cách lý giải thấtnghiệp trong dài hạn Cách lý giải đầu tiên là công nhân cần có thời gian để tìm đượcviệc làm phù hợp nhất đối với họ Dạng thất nghiệp phát sinh từ quá trình làm chocông nhân và việc làm gặp nhau đôi khi được gọi là thất nghiệp tạm thời và nó thườngđược coi là cách lý giải đúng các phiên thất nghiệp ngắn
Ba cách lý giải tiếp theo về thất nghiệp chỉ ra rằng số việc làm hiện có trong một số thịtrường lao động có thể không đủ để tạo cho mỗi người có một việc làm Điều này xảy
ra khi lượng cung vượt lượng cầu về lao động Dạng thất nghiệp này đôi khi được gọi
là thất nghiệp cơ cấu, và nó thường được coi là cách giải thích đúng cho các phiên thấtnghiệp dài Như chúng ta sẽ thấy, dạng thất nghiệp này xảy ra khi vì một vài nguyênnhân nào đó, tiền lương cao hơn mức có thể làm cho cung và cầu cân bằng Chúng ta
sẽ xem xét ba nguyên nhân có thể làm cho tiền lương cao hơn mức cân bằng: luật tiềnlương tối thiểu, công đoàn và tiền lương hiệu quả
Tìm kiếm việc làm
Một nguyên nhân lý giải vì sao nền kinh tế luôn phải chịu một số thất nghiệp và việctìm kiếm việc làm Tìm kiếm việc làm là quá trình tạo ra sự trùng khớp giữa côngnhân và việc làm thích hợp Nếu tất cả công nhân và tất cả việc làm đều như nhau, saucho tất cả các công nhân đều thích hợp như nhau đối với tất cả việc làm, thì việc tìmkiếm việc làm sẽ không thành vấn đề Công nhân nghỉ việc nhanh chóng tìm đượcviệc làm mới và thích hợp hoàn toàn với nó Nhưng trong thực tế, công nhân khácnhau về sở thích và kỹ năng, việc làm khác nhau ở nhiều thuộc tính và thông tin vềngười cần việc và chỗ làm việc còn trống làm cho sự gặp gỡ giữa nhiều doanh nghiệp
và hộ gia đình trong nền kinh tế bị chậm trễ
Vì sao một số thất nghiệp tạm thời là không tránh khỏi?
Thất nghiệp tạm thời là kết quả của sự thay đổi trong nhu cầu lao động giữa các doanhnghiệp khác nhau Khi người tiêu dùng quyết định rằng họ thích máy tính Compaqhơn Dell, Compaq tăng số việc làm và Dell sa thải bớt công nhân Công nhân cũ củaDell bây giờ phải tìm việc làm mới và Compaq phải quyết định những công nhân mớiđược thế cho các việc làm khác nhau đã mở rộng Kết quả của sự chuyển đổi này làmột thời kỳ thất nghiệp
Tương tự như vậy, vì các vùng khác nhau của đất nước sản xuất những hàng hóa khácnhau, thất nghiệp có thể tăng ở vùng này trong khi giảm ở vùng khác Ví dụ, chúng tahãy xem điều gì sẽ xảy ra khi giá dầu thế giới giảm Các công ty sản xuất dầu ở Texasphản ứng với giá thấp hơn bằng cách cắt giảm sản xuất và việc làm Cùng lúc đó, xăng
rẻ hơn kích thích nhu cầu sử dụng ô tô, làm cho các công ty chế tạo ô tô ở Michigan
Trang 11tăng sản lượng và việc làm Những thay đổi trong cơ cấu nhu cầu giữa các ngành vàvùng được gọi là sự dịch chuyển khu vực Bởi vì công nhân cần có thời gian tìm kiếmviệc làm trong các khu vực mới, sự dịch chuyển khu vực tạm thời gây ra thất nghiệp.Thất nghiệp tạm thời không thể tránh khỏi đơn giản là vì nền kinh tế luôn luôn thayđổi Một thế kỷ trước, bốn ngành công nghiệp có số việc làm lớn nhất nước Mỹ làhàng bông, len, trang phục nam và đồ gỗ Ngày nay, bốn ngành công nghiệp lớn nhất
là ô tô, máy bay, viễn thông và thiết bị điện Vì sự dịch chuyển này xảy ra, nên việclàm đã được tạo ra trong một số doanh nghiệp và bị hủy bỏ trong một số doanh nghiệpkhác Kết quả cuối cùng của quá trình này là năng suất cao hơn và mức sống cao hơn.Nhưng trong quá trình dịch chuyển, công nhân trong các ngành suy giảm trở nên thấtnghiệp và phải tìm kiếm việc làm mới
Số liệu chỉ ra rằng hàng năm ít nhất 10% việc làm trong ngành chế biến Mỹ bị hủy bỏ.Ngoài ra, bình quân mỗi tháng có trên 3% công nhân bỏ việc, đôi khi là do họ nhận rarằng việc làm không phù hợp với sở thích và kỹ năng của họ Nhiều người trong số
họ, đặc biệt thanh niên, tìm được việc làm mới với mức lương cao hơn Sự chuyển đổicủa lực lượng lao động là bình thường trong nền kinh tế thị trường năng động và thựchiện tốt chức năng của nó, nhưng một mức thất nghiệp tạm thời nào đó phải tồn tại.3.4 Chính sách công cộng và tìm kiếm việc làm
Ngay cả khi một số thất nghiệp tạm thời là không thể trách khỏi, chúng ta vẫn khôngbiết số lượng chính xác là bao nhiêu Thông tin về việc làm mới và số công nhân hiện
có được truyền đi càng nhanh chóng, thì nền kinh tế càng làm cho công nhân và doanhnghiệp gặp nhau nhanh chóng hơn Ví dụ, Internet có thể tạo thuận lợi cho quá trìnhtìm việc và làm giảm thất nghiệp tạm thời Ngoài ra, chính sách công cộng có thểđóng một vai trò Nếu chính sách có thể làm giảm thời gian người công nhân thấtnghiệp cần có để tìm được việc làm mới, thì nó có thể cắt giảm tỷ lệ thất nghiệp tựnhiên của nền kinh tế
Các chương trình của chính phủ tìm cách tạo thuận lợi việc tìm kiếm việc làm theonhiều cách Một cách là thông qua các văn phòng giới thiệu việc làm của chính phủ:chúng cung cấp thông tin về những việc làm còn trống Cách khác là thông quachương trình đào tạo của chính phủ nhằm mục đích làm cho quá trình chuyển đổi củacông nhân từ ngành công nghiệp suy giảm sang ngành tăng trưởng trở nên dễ dànghơn và giúp đỡ các nhóm dân cư bị thiệt thòi thoát khỏi cảnh đói nghèo Những ngườibênh vực các chương trình như vậy tin rằng chúng làm cho nền kinh tế vận hành hiệuquả hơn thông qua việc giữ cho lực lượng lao động có việc làm đầy đủ hơn và rằngchúng làm giảm tình trạng bất công bằng gắn với nền kinh tế thị trường thường xuyênthay đổi
Những người phê phán các chương trình này đặt câu hỏi là không biết chính phủ cónên can thiệp vào quá trình tìm kiếm việc làm không Họ lập luận rằng tốt nhất hãy đểcho thị trường tư nhân làm cho công nhân và việc làm gặp nhau Trong thực tế, hầuhết quá trình tìm kiếm việc làm trong nền kinh tế của chúng ta xảy ra mà không cầntới sự can thiệp của chính phủ Đăng quảng cáo trên báo, bản tin về việc làm, cơ quangiới thiệu việc làm ở các trường đại học, công ty tuyển mộ nhân viên cao cấp và tinnhắn miệng, tất cả đều góp phần truyền bá thông tin về việc làm còn trống và ngườitìm việc Tương tự, nhiều loại hình đào tạo công nhân được cá nhân tiến hành thông
Trang 12qua trường lớp hoặc đào tạo nghề ở ngay nơi làm việc Những người phê phán nàykhẳng định rằng chính phủ không làm tốt hơn - thậm chí còn kém hơn – trong việcphổ biến thông tin thích hợp cho những công nhân thích hợp và quyết định loại hìnhđào tạo công nhân có giá trị nhất Họ quả quyết rằng các quyết định như vậy tốt nhấtnên để bản thân công nhân và người thuê lao động đưa ra.
3.5 Bảo hiểm thất nghiệp
Một chương trình của chính phủ làm tăng lượng thất nghiệp tạm thời, mặc dù khôngphải mục tiêu của nó, là bảo hiểm thất nghiệp Chương trình này được thiết kế để trợgiúp công nhân, nhằm bảo vệ họ một phần khi bị mất việc Người thất nghiệp lànhững bỏ việc, bị sa thải hoặc vừa mới gia nhập lực lượng lao động không đượchưởng trợ cấp thất nghiệp Trợ cấp được trả cho người thất nghiệp bị mất việc vìngười thuê họ không cần đến chuyên môn của họ nữa Mặc dù các điều kiện củachương trình thay đổi theo thời gian, người công nhân Mỹ điển hình có bảo hiểm thấtnghiệp nhận 50% tiền lương trước đó của anh ta trong 26 tuần
Trong khi bảo hiểm thất nghiệp giảm bớt khó khăn của người bị thất nghiệp, nó cũnglàm tăng lượng thất nghiệp Cách lý giải này dựa trên một trong Mười Nguyên lý củakinh tế học trong Chương 1: Mọi người phản ứng với các kích thích Bởi vì trợ cấpthất nghiệp sẽ chấm dứt khi công nhân nhận được việc làm mới, nên người thất nghiệpdành ít nỗ lực để tìm kiếm việc là và muốn tránh các việc làm kém hấp dẫn Ngoài ra,
vì bảo hiểm thất nghiệp làm cho người thất nghiệp ít khó khăn hơn, nên công nhân ít
có nguyện vọng tìm kiếm sự bảo đảm việc làm khi họ thương lượng với giới chủ vềđiều kiện lao động
Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế lao động đã tập trung xem xét ảnhhưởng của bảo hiểm thất nghiệp Một công trình nghiên cứu đã tiến hành thực nghiệmtại bang Illinois vào năm 1985 Khi công nhân thất nghiệp đến nhận trợ cấp thấtnghiệp, bang này đã chọn ngẫu nhiên một số người và hứa thưởng cho mỗi người 500
đô la nếu họ tìm được việc làm mới trong 11 tuần Sau đó nhóm này được đem sosánh với nhóm không được khuyến khích Phiên thất nghiệp bình quân của nhómđược thưởng ngắn hơn 7% so với phiên thất nghiệp hình quân của nhóm đối chứng.Thực nghiệm này chỉ ra rằng việc thiết lập hệ thống bảo hiểm thất nghiệp đã ảnhhưởng đến nổ lực tìm việc của người thất nghiệp
Một số công trình nghiên cứu đã xem xét nỗ lực tìm việc thông qua việc theo dõi mộtnhóm công nhân theo thời gian Trợ cấp thất nghiệp không phải kéo dài mãi, màthường chấm dứt sau sáu tháng hoặc một năm Các công trình nghiên cứu phát hiện rarằng khi tăng lên đáng kể Như vậy, việc nhận trợ cấp thất nghiệp đã làm giảm nỗ lựctìm việc của người thất nghiệp
Mặc dù bảo hiểm thất nghiệp làm giảm nỗ lực tìm việc và tăng thất nghiệp, chúng takhông được kết luận rằng đó là chính sách tồi Chương trình đã đạt được mục tiêutrước hết của nó là làm giảm bớt biến động bất thường của thu nhập mà công nhânphải đối mặt Ngoài ra, khi công nhân từ chối việc làm không hấp dẫn hiện có, họ có
cơ hội làm được việc làm phù hợp hơn với sở thích và kỹ năng của mình Một số nhàkinh tế nhất trí rằng thất nghiệp cải thiện khả năng của nền kinh tế trong việc tạo điềukiện cho công nhân nhận được việc làm thích hợp nhất