TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HỒ ANH THẮNG ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ MỨC BÓN PHÂN CHUỒNG ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG CỦA CÂY THỨC ĂN MORINGA LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HỒ ANH THẮNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG
VÀ MỨC BÓN PHÂN CHUỒNG ĐẾN NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CỦA CÂY THỨC ĂN MORINGA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HỒ ANH THẮNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ TRỒNG
VÀ MỨC BÓN PHÂN CHUỒNG ĐẾN NĂNG SUẤT,
CHẤT LƯỢNG CỦA CÂY THỨC ĂN MORINGA
Ngành: Chăn nuôi
Mã ngành: 8.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Hoan
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác và chưa từng sử dụng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn Thạc sĩ khoa học Nông nghiệp, cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Trần Thị Hoan và GS.TS Từ Quang Hiển với cương vị người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin cảm ơn tới các thầy cô trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Viện Khoa học Sự sống, Khoa Chăn nuôi Thú y, bộ phận quản lý đào tạo Sau Đại học thuộc phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn thành luận văn của mình
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 10 năm 2019
Tác giả
Hồ Anh Thắng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Giới thiệu về cây M oleifera 3
1.2 Đặc điểm sinh vật học, thành phần hóa học của cây Moringa oleifera 3
1.2.1 Đặc điểm sinh vật học 3
1.2.2 Thành phần hóa học của Moringa oleifera 5
1.2.3 Giá trị dinh dưỡng của cây Moringa oleifera 6
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây thức ăn gia súc 7
1.3.1 Ảnh hưởng của phân bón 7
1.3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng 12
1.3.3 Ảnh hưởng của tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt 12
1.3.4 Ảnh hưởng của chiều cao cắt 14
1.3.5 Ảnh hưởng của nước 15
1.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về cây M oleifera 16
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 16
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 17
Trang 6Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
2.3.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu 24
2.4 Xử lý số liệu 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất và chất lượng của M oleifera trong năm thứ hai 26
3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất sinh khối 26
3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất lá tươi 28
3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến vật chất khô 29
3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến sản lượng 31
3.2 Ảnh hưởng của mức bón phân chuồng đến năng suất và chất lượng của M oleifera trong năm thứ hai 34
3.2.1 Ảnh hưởng của mức bón phân chuồng đến năng suất sinh khối 34
3.2.2 Năng suất lá tươi của M.oleifera ở các mức bón phân chuồng 37
3.2.3 Năng suất vật chất khô của M.oleifera ở các mức bón phân chuồng 38
3.4 Thành phần hóa học của lá ở các mức bón phân chuồng 40
3.3.5 Sản lượng M.oleifera ở các mức bón phân chuồng 41
3.3.6 Hiệu lực sản xuất của các mức bón phân chuồng 44
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
PHỤ LỤC 55
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bố trí thí nghiệm 1 22Bảng 2.2 Bố trí thí nghiệm 2 23
Bảng 3.1 Năng suất sinh khối của M.oleifera ở mật độ trồng khác
Bảng 3.5 Năng suất sinh khối của M.oleifera ở các mức bón phân
chuồng khác nhau (tạ/ha/lứa) 34
Bảng 3.6 Năng suất lá tươi của M.oleifera ở các mức bón phân
chuồng khác nhau (ta/ha/lứa) 37
Bảng 3.7 Năng suất vật chất khô của M.oleifera ở các mức bón phân
chuồng khác nhau (ta/ha/lứa) 39Bảng 3.8 Thành phần hóa học lá M.oleifera ở các mức bón phân
chuồng khác nhau 40
Bảng 3.9 Sản lượng sinh khối, lá tươi, vật chất khô của M.oleifera ở
các mức bón phân chuồng khác nhau (tấn/ha/năm) 42Bảng 3.10 Hiệu lực sản xuất ở các mức bón phân chuồng khác nhau 45
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Biểu đồ mối quan hệ giữa mật độ trồng với năng suất sinh khối 28
Hình 3.2 Biểu đồ mối quan hệ giữa mật độ trồng và năng suất lá tươi 29
Hình 3.3 Biểu đồ mối quan hệ giữa mật dộ trồng và năng suất VCK 31
Hình 3.4 Biểu đồ mối quan hệ giữa mật độ trồng và sản lượng VCK 32
Hình 3.5 Biểu đồ mối quan hệ giữa mức phân chuồng và năng suất sinh khối 36
Hình 3.6 Biểu đồ mối quan hệ giữa mức phân chuồng và năng suất lá tươi 38
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Hiện nay, chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ Người chăn nuôi sử dụng thức ăn hỗn hợp kết hợp với thức ăn xanh nhằm giảm chi phí thức ăn, đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm Việc nghiên cứu nguồn cây thức ăn xanh
có giá trị dinh dưỡng cao, ít nhiễm mầm bệnh phục vụ cho chăn nuôi là rất cần thiết Trong những năm gần đây, người dân đã trồng và sử dụng nhiều loại cây thức ăn cho gia súc, gia cầm, trong đó có cây Cây Moringa oleifera
vùng nhiệt đới, á nhiệt đới thuộc châu Mỹ La Tinh, Châu Phi, Châu Á Lá của
cây M oleifera giàu protein, từ 30 - 40 % vật chất khô tùy theo tuổi lá và khu vực trồng, giàu sắc tố, carotenoids tổng khoảng 700 mg/kg VCK, carotene khoảng 300 mg/kg VCK Vì vậy, lá tươi và bột lá M oleifera là một nguồn thức ăn quý, giàu protein và sắc tố đối với vật nuôi và M oleifera là một trong
các cây thức ăn xanh có triển vọng tốt cho việc sản xuất bột lá bổ sung vào
thức ăn cho vật nuôi
Đề tài này là một phần đề tài của nghiên cứu sinh, chúng tôi hợp tác cùng nhau thực hiện Nghiên cứu sinh đã theo dõi năm thứ nhất, tôi tiếp tục thực hiện
đề tài và theo dõi năm thứ hai
Trong chăn nuôi gia cầm, chính vì muốn cải thiện độ vàng của da, lòng đỏ trứng, đồng thời làm tăng hương vị thịt gia cầm, người chăn nuôi
đã bổ sung bột thực vật giàu sắc tố vào thức ăn Bổ sung bột lá cây thức ăn chứa sắc tố để được sản phẩm vừa có màu sắc hấp dẫn người tiêu dùng, vừa đảm bảo an toàn thực phẩm lại không ảnh hưởng đến sức khỏe con người Hiện nay, các loại bột lá cây thức ăn xanh thường được sản xuất là
bột lá keo giậu, bột hoa cúc, bột cỏ Stylo, bột lá sắn…
Trang 11Tuy M oleifera là loại cây trồng có tiềm năng nhưng lại ít được nghiên cứu và quan tâm nhiều tới kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác để có được năng suất tốt nhất phục vụ cho việc sản xuất bột lá thực vật
Chính vì vậy, để góp phần xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác cây M
mật độ trồng và mức bón phân chuồng đến năng suất, chất lượng của cây thức ăn Moringa oleifera”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xác định được mật độ trồng và mức bón phân chuồng thích hợp để áp
dụng vào canh tác cây M oleifera nhằm đạt được năng suất chất xanh và
bột lá cao
Xác định được thành phần hóa học của lá và bột lá để làm dữ liệu xây
dựng công thức thức ăn hỗn hợp cho gà mà trong đó bột lá M oleifera là một
trong những nguyên liệu thức ăn
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cho ngành thức ăn gia súc những hiểu biết về ảnh hưởng của mật độ trồng và mức bón phân chuồng đến năng suất
chất xanh và thành phần hóa học của cây M oleifera Kết quả nghiên cứu này
có thể sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực thức ăn
và dinh dưỡng vật nuôi
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Ứng dụng các kết quả của đề tài này trong sản xuất sẽ nâng cao năng suất chất xanh, bột lá, nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Giới thiệu về cây M oleifera
Cây Moringa oleifera Lam (Chùm Ngây) thuộc ngành ngọc lan
Chùm Ngây Moringaceae, chi Chùm Ngây Moringa (Foidl, 2001)
sinh trưởng nhanh và là cây trồng quan trọng ở nhiều nước như: Ấn Độ, Ethiopia, Philippines hiện đang phát triển tại một số nơi thuộc Châu Phi, châu
Á nhiệt đới, châu Mỹ La tinh, vùng Caribean, Florida và quần đảo thuộc Thái Bình Dương (Fahey, 2005) cây mọc hoang và được trồng, khai thác, sử dụng
ở nhiều nơi trên thế giới do có giá trị kinh tế cao (Từ Quang Hiển, 2019)
Ở nước ta, cây này mọc hoang hoặc được trồng ở các tỉnh phía Nam từ
Đà Nẵng, Nha Trang, Phan Thiết vào đến Kiên Giang và cả đảo Phú Quốc
600m, chịu hạn, sinh trưởng tốt ở những nơi có lượng mưa hàng năm từ 250
– 1.500 mm Tuy nhiên ở những nơi có độ cao 1.200m cây M oleifera vẫn
phát triển bình thường (Bennett và cs, 2003)
đất cát khô và có khả năng chịu hạn hán Theo một số báo cáo thì chi Chùm Ngây chịu được nhiệt độ từ 18,7 – 28,5 0C và pH khoảng 4,5 – 8 (Lê Văn Huấn, 2010)
1.2 Đặc điểm sinh vật học, thành phần hóa học của cây Moringa oleifera 1.2.1 Đặc điểm sinh vật học
phân nhánh nhiều, thân có thiết diện tròn Thân non màu xanh có lông, thân già màu xám có nốt sần Lá kép hình lông chim 3 lần lẻ, dài 30 - 60 cm, màu
Trang 13xanh mốc, mọc cách, có 5 - 7 cặp lá phụ bậc 1,4 - 6 cặp lá phụ bậc 2,6 - 9 cặp
lá chét Lá chét dài 12 - 20 mm hình trứng, mọc đối, mặt trên xanh hơn mặt dưới, gai nhỏ có lông ở chỗ phân nhánh, lá kép lông chim, gân lá hình lông chim, nổi rõ mặt dưới, cuống lá dài 18 - 25 cm
Cụm hoa dạng chùm sim mọc ở nách lá hay ngọn cành Hoa không đều lưỡng tính, màu trắng hơi vàng, mùi thơm, hình dạng giống hoa đậu, có cuống dài 1 – 2 cm, có lông tơ Trục phát hoa màu xanh, có lông dài 10 - 15 cm Lá bắc hình vảy nhỏ, có lông Đài hoa 5, rời, đều, hơi cong hình lòng muỗng, màu trắng, dài 1 cm, rộng 0,4 cm Cánh hoa 5, rời, không đều, cánh hoa dạng thìa, màu trắng hơi vàng, phấn nằm ngoài, dài hơn nhị bất thụ và đối diện với cánh hoa, nhị bất thụ nằm xen kẽ cánh hoa Chỉ nhị có kích thước to ở dưới, màu vàng, dài 0,6 – 1 cm, có lông Bao phấn 2 ô, hình bầu dục, màu vàng, hướng trong Bộ nhụy 3 lá noãn dính, tạo thành bầu trên 1 ô, mang nhiều noãn, đính noãn bên, có lông Vòi nhụy màu xanh, dài 1,8 cm, có nhiều lông Đầu nhụy hình trụ, màu vàng, có lông (Trần Việt Hưng và Võ Duy Huấn, 2007) Cây cho nhiều lá vào cuối mùa khô và trổ hoa vào các tháng 1 – 2 Quả dạng nang treo, dài 25 - 30
cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên, dọc theo quả có khía rãnh, quả khô màu vàng xám Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ hạt đậu Hà Lan
Khi để giống M oleifera bằng hạt cần lưu ý rằng: Tỷ lệ nẩy mầm của hạt
giảm rất nhanh theo thời gian bảo quản, hạt mới thu hoạch tỷ lệ nẩy mầm là
60 - 90%, sau 2 tháng giảm xuống chỉ còn 48%, sau 3 tháng trong điều kiện bảo quản thông thường thì chỉ còn 7,5%
Cây trồng từ hạt, trong giai đoạn cây con thường yếu nên cần được chăm sóc tốt và trong điều kiện bóng mát còn đối với biện pháp giâm cành cũng có thể thực hiện, tuy nhiên hiệu quả không cao do hệ số nhân giống thấp, người
ta thường tiến hành giâm cành vào mùa mưa, khi điều kiện không khí đạt được độ ẩm thích hợp Ở Việt Nam cây trổ hoa nhiều đợt trong một năm Quả chín, hạt giống phát tán khắp nơi theo gió và nước hoặc được mang đi bởi những loài động vật ăn hạt
Trang 14Do M oleifera có khả năng tái sinh chồi mạnh nên người ta thường lựa chọn phương pháp nhân giống in vitro để nhân giống cây M oleifera
nhằm khắc phục những hạn chế của phương pháp trồng bằng hạt hoặc giâm cành Với nguồn nguyên liệu là đoạn chồi từ cây mẹ đã chọn lọc, chỉ trong một thời gian ngắn người ta có thể tạo ra lượng lớn cây con có chất lượng tốt, đồng đều, đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và thương mại vớigiá thành sản xuất thấp, phù hợp với sản xuất đại trà
1.2.2 Thành phần hóa học của Moringa oleifera
Tác giả Caceres và cs (1991) đã cho biết rễ cây M oleifera chứa các
hợp chất glucosinolat như: 4-(α-L-rhamnosyloxy) benzyl glucosinolat (khoảng 1%), sau khi chịu tác động của enzym myrosinase sẽ cho 4- (α-L-rhamnosyloxy) benzylisothiocyanat, glucotropaeolin (khoảng 0.05%) và benzylisothiocyanat
Nhựa cây M oleifera chiết từ vỏ cây có chứa arabinose, galactose, acid
glucuronic và vết rhamnose Từ chất leucoanthocyanin đã được chiết và xác định
là leucodelphinidin, galactopyranosyl, glucopyranosid theo Vidya Sabale (2008)
Lá M oleifera Chứa các hợp chất thuộc nhóm flavonoid và phenolic như
kaempferol 3- O - α - rhamnosid, kaempferol, syringic acid, gallic acid, rutin, quercetin 3-O-β- glucosid Các flavonol glycosid được xác định đều thuộc nhóm kaempferid nối kết với các rhamnosid hay glucosid (theo Manguro và Lemmen, 2007)
nghệ dược phẩm (theo Vidya Sabale, 2008)
Hạt M oleifera chứa glucosinolat như trong rễ, có thể lên đến 9%
sau khi hạt đã được khử chất béo Các acid loại phenol carboxylic như 1-
β - D - glucosyl 2, 6 dimethyl benzoat Ngoài ra hạt còn chứa chất béo (33 – 38%) được dùng trong dầu ăn và kỹ nghệ hương liệu, thành phần chính gồm các acid béo như acid oleic (60 – 70%), acid palmitic (3 – 12%), acid
Trang 15stearic (3 – 12%) và các acid béo khác như acid behenic, acid eicosanoic
và acid lignoceric Chùm Ngây là mặt hàng thực phẩm quan trọng, được chú ý đến như là một nguồn dinh dưỡng tự nhiên của vùng nhiệt đới Lá
Chùm Ngây giàu β-caroten, protein, vitamin C, calcium, kali và dồi dào
chất chống oxi hóa tự nhiên như acid ascorbic, flavonoids, phenolic và carotenoid (theo Sudhir Kumar và cs, 2010)
1.2.3 Giá trị dinh dưỡng của cây Moringa oleifera
Theo Fahey (2005) lá Chùm Ngây chứa rất nhiều vitamin và muối khoáng với hàm lượng cao: vitamin C cao gấp 7 lần trong cam, provitamin A cao gấp 4 lần trong cà rốt, calcium cao gấp 4 lần trong sữa, potassium cao gấp
3 lần trong chuối, sắt cao gấp 3 lần trong rau diếp và ngay cả protein cũng cao gấp 2 lần trong sữa
Ngoài ra, trong lá Moringa oleifera còn chứa hàm lượng cao carotenoid
hoạt tính sinh học, tocopherols và vitamin C Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các loại rau quả giàu carotenoid có liên quan đến giảm nguy
cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoái hoá điểm vàng và sự hình thành đục thuỷ tinh thể (Bennett và cs, 2003) Những chất dinh dưỡng thiết yếu có thể giúp làm giảm sự thiếu hụt dinh dưỡng và chống lại nhiều căn bệnh mãn tính Hoa Chùm Ngây có thể dùng làm rau ăn hoặc làm trà (nhiều nước phương Tây sản xuất trà hoa Chùm Ngây bán ngoài thị trường) Nó cũng là nguồn cung cấp nguyên liệu rất tốt cho người nuôi ong Quả non của nó có thể chiên xào để ăn với hương vị như măng tây
Hạt Chùm Ngây chứa nhiều dầu, lượng dầu chiếm đến 30 – 40% trọng lượng hạt, trong đó chứa 65,7% acid oleic, 9,3% acid palmitic, 7,4% acid stearic và 8,6% acid behenic Ở Malaysia, hạt được dùng để ăn như đậu phụng Dầu Chùm Ngây ăn được và còn được dùng để bôi trơn máy móc, dùng cho công nghệ mỹ phẩm, xà phòng
Trang 161.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây thức ăn gia súc
Có nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng cây trồng: khí hậu, đất, giống, nước, sâu bệnh, môi trường, khoảng cách giữa các lần thu cắt, phân bón… trong số đó, phân bón, mật độ trồng, tưới nước và khoảng cách cắt đóng vai trò quan trọng, cần được nghiên cứu
1.3.1 Ảnh hưởng của phân bón
Phân bón là những chất, hợp chất có chứa một hoặc nhiều nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng, nhằm thúc đẩy sự phát triển, sinh trưởng của cây trồng, cung cấp dinh dưỡng cho đất, có thể làm thay đổi chất đất phù hợp với nhu cầu của loại cây trồng Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau từ đó sẽ dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần các chất dinh dưỡng của cây trồng
Theo tác giả Từ Quang Hiển và cs (2002) hàng năm chúng ta cần bón bổ sung một lượng phân bón nhất định cho cây trồng để bù đắp sự thiếu hụt dinh dưỡng trong đất Tác giả cho biết, cứ mỗi năm, một bãi chăn thả với sản lượng
cỏ khô khoảng 2,5 tấn/ha/năm (bãi chăn thuộc loại trung bình) sẽ tiêu tốn khoảng
70 kg N; 7,5 kg P; 60 kg K2O và 37 kg Ca/ha do đó phải bù đắp một lượng phân bón lớn hơn thế
1.3.1.1 Ảnh hưởng của phân chuồng
Thành phần của phân chuồng phụ thuộc nhiều vào loài gia súc và phương pháp bảo quản Bón phân chuồng thường có tác dụng ngay, vì trong phân chuồng có một lượng đạm nhất định (Lê Văn Căn, 1978) Tuy nhiên, phân chuồng chưa phải là loại phân hoàn chỉnh Vì vậy, khi dùng phân chuồng phải kết hợp với các phân giàu đạm, lân, kali để tăng độ phì nhiêu cho đất (Đào Văn Bảy và Phùng Tiến Đạt, 2007)
Bón nhiều phân chuồng cũng có tác dụng khử chua của đất, Amoniac trong nước tiểu và các sản phẩm mang tính kiềm cao có trong phân chuồng cũng làm cho đất mất chua, đồng thời không ảnh hưởng tới các chất dinh dưỡng khác trong đất (trích Từ Quang Hiển, 2019)
Trang 17Bón phân chuồng có thể cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng cho cây, làm tăng năng suất và phẩm chất cây trồng Đặc biệt, bón phân hữu cơ làm tăng số lượng và cường độ hoạt động của vi sinh vật trong đất, góp phần làm tăng thêm hàm lượng các chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng
Kết quả nghiên cứu giống keo giậu Hawaii trồng trên đất xám có pH = 4,7 của Viện Chăn nuôi Quốc gia phối hợp với Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh tại Thủ Đức cho thấy: Keo giậu Hawaii được bón lót
5 tấn phân chuồng/ha và bón thúc bằng phân hóa học N, P, K cho năng suất chất khô là 3,5 tấn/ha/năm Nhưng khi được bón lót 10 tấn phân chuồng/ha và bón thúc bằng 30 kg N, 60 kg P2O5, 40 kg K2O/ha đã đưa năng suất chất khô đạt 4 tấn/ha/năm Trong đó, số lượng lá chiếm tới 46%, hàm lượng protein trong chất khô chiếm 20,5% và xơ thô chiếm 17,0% (Bùi Xuân An và Ngô Văn Mận, 1981)
Mức bón phân chuồng cho sắn dao động từ 5 đến 10 tấn/ha, tùy thuộc vào hàm lượng các chất dinh dưỡng và tỷ lệ mùn trong đất cao hay thấp (Nguyễn Thế Đặng và cs, 2003)
Nếu tăng mức bón phân chuồng thì lượng đạm, khoáng từ phân hóa học
có thể giảm xuống Đó là hệ quả của việc tăng dung tích hấp thu, tạo diện tích thừa để giữ ion NH4+, đồng thời quá trình này sẽ làm tăng lượng phức chất, làm tăng pH đất và làm giảm độ chua của đất, mặt khác, nó cũng giải phóng lân và tăng độ hòa tan của lân Chính vì vậy, tăng lượng phân chuồng bón cho đất sẽ tăng độ phì của đất và tăng khả năng sử dụng của cây trồng Liều lượng phân chuồng thường được sử dụng bón cho cây thức ăn xanh thường vào khoảng 10 - 20 tấn/ha/năm
Như vậy, bón phân chuồng đã cung cấp cho đất mùn, các khoáng đa, vi lượng và đã làm tăng sản lượng cây thức ăn xanh Tuy nhiên phân chuồng có thể là nguồn lây nhiễm mầm bệnh cho vật nuội do đó cần phải ủ và xử lý cẩn thận trước khi bón
Trang 181.3.1.2 Ảnh hưởng của phân đạm
Trong 13 loại dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng thì đạm đứng vị trí hàng đầu Cây trồng hấp thu nitơ từ đất dưới 2 dạng ion: nitơ oxy hóa (NO3-) và nitơ khử (NH4+), sau đó ion kết hợp với carbohydratio tạo thành aminoacids, amides, amines; các aminocaid kết hợp lại với nhau tạo thành protein (Ngô Ngọc Hưng và cs, 2004) Do vậy, nếu cây được cung cấp nitơ cao thì hàm lượng protein trong cây sẽ cao Tuy nhiên, đây là loại phân bón dễ thất thoát, đặc biệt thường bay hơi khiến lượng đạm mà cây trồng hấp thụ được chỉ từ 30 - 40% lượng cung cấp Việc sử dụng phân đạm sao cho hiệu quả, tránh lãng phí là vấn
đề cần được quan tâm
Ngoài ra, đạm còn là thành phần của diệp lục tố tạo nên màu xanh cho lá cây, đây chính là yếu tố thiết yếu giúp thực vật quang hợp, biến đổi năng lượng của ánh sáng để chuyển đổi nước và carbonic thành đường bột Phân đạm là thức
ăn chính cho cây, giúp cho chồi, cành lá phát triển, lá có khích thước lớn từ đó tăng khả năng quang hợp và tăng năng suất cây trồng
Đạm ure dùng để bón cho cây (NH2)2CO là chất rắn màu trắng, tan tốt trong nước, chứa khoảng 46% N Khi gặp nước sẽ bị thủy phân tạo thành đạm amôn (NH4+), đây là loại đạm cây có thể hấp thụ được Tuy nhiên lượng amôn lớn, cây trồng không hấp thụ hết thì amôn nhanh chóng thủy phân, phân giải thành amoniac (NH3-)
Đạm (nitơ) có trong thành phần chất diệp lục, nguyên sinh chất, đạm có trong thành phần protein, các axit amin và các hợp chất khác tạo nên tế bào Đạm còn có trong các men của cây, trong ADN, ARN, nơi khu trú các thông tin di truyền của nhân bào (Ngô Thị Đào và Vũ Hữu Yêm, 2007)
Trần Thị Hoan (2012) khi bón phân đạm cho sắn cho thấy thành phần hóa học của lá sắn thay đổi không lớn Khi bón đạm tăng từ 0 kg N lên 80 kg N/ha/lứa cắt, tỷ lệ lipit, khoáng tổng số, xơ trong VCK giảm dần (tỷ lệ lipit từ 9,09% xuống 8,18%; khoáng tổng số từ 14,28% xuống 13,31%; tỷ lệ xơ giảm từ
Trang 1914,28% xuống 13,31%) Do bón đạm tăng làm hàm lượng xơ giảm, điều này giải thích cho việc bón đạm nhiều lá mềm hơn, gia súc thích ăn hơn Khi tăng lượng đạm từ 0 kg lên 80 kg thì hàm lượng dẫn xuất không đạm tăng dần, chứng tỏ tăng lượng đạm làm tăng khả năng tích lũy dẫn xuất không đạm của lá sắn Điều đặc biệt là khi tăng mức bón đạm lên 80 kg N/ha/lứa cắt thì không những không làm tăng mà còn làm giảm sản lượng lá sắn tươi Theo nghiên cứu thì sản lượng lá sắn tươi đạt cao nhất ở mức bón 60 kg N tương tự cũng mức bón đó sản lượng protein đạt cao nhất
Nguyễn Đặng Toàn Chương (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của 3 mức phân NPK (công thức 2:1:1) và 3 loại phân hữu cơ đến sự sinh trưởng, năng
suất và chất lượng lá cây M oleifera Kết quả là mức bón 70 kg N - 35 kg
P2O5 - 55 kg K2O/ha/năm đã giúp cây sinh trưởng và năng suất chất xanh cao hơn hẳn các mức bón NPK thấp hơn Điều này phù hợp với đặc tính sinh học của cây trồng, khi được cung cấp một lượng dinh dưõng cao, hợp lý sẽ sinh
trưởng tốt hơn Trong các loại phân hữu cơ bón cho M Oleifera, phân gia súc
có tác động đến sinh trưởng và năng suất lớn hơn phân xanh, phân rác
Bùi Quang Tuấn (2005) đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phân ure khác nhau đến năng suất, thành phần hóa học, cũng như hiệu quả của đầu tư phân bón đối với cỏ Voi, cỏ Ghi nê Kết quả cho thấy mức bón phân urê thích hợp đối với cỏ Voi là 100kg N/ha/lứa cắt, cỏ Ghi nê là 50 kgN/ha/lứa cắt Điểm nổi bật là bón phân urê đã cải thiện được tỷ lệ protein thô trong cây thức ăn Tuy nhiên, ảnh hưởng của mức bón phân urê đến chất lượng của thức ăn không rõ như ảnh hưởng đến năng suất của cây thức ăn Với mức phân bón 100 kg urê/ha, năng suất chất xanh của cỏ voi đạt 36,30 tấn/ha/lứa cắt, của cỏ ghi nê đạt 23,40 tấn/ha/lứa cắt, còn với mức bón
200 kg urê/ha năng suất của cỏ voi và cỏ ghi nê tương ứng đạt 45,88 tấn và 27,97 tấn/ha/lứa (Bùi Quang Tuấn, 2005) Năng suất chất xanh lứa 1 của 2 dòng cao lương trong thí nghiệm của Nguyễn Thanh Nhàn năm 2014 cao hơn
so với năng suất của cỏ voi, nhưng ở 2 lứa tiếp theo thì thấp hơn
Trang 20Mendieta araica và cs (2013) đã nghiên cứu về mức bón đạm cho cây M
thấy khi bón ở mức 521 kg N/ha/năm thì cây M oleifera cho năng suất chất
xanh và VCK cao nhất
Khi lượng đạm bón cho đồng cỏ, cây thức ăn tăng, mức nitrat sẽ tăng theo Vì vậy, chúng ta nên cảnh giác với khả năng ngộ độc nitrat, nếu bón quá liều lượng Do đó, cần xác định mức bón phân đạm thích hợp cho từng loại đất, từng loại cây trồng nhằm tăng năng suất, chất lượng, tăng hiệu quả kinh
tế, không để lại hậu quả cho cây trồng và môi trường
1.3.1.3 Ảnh hưởng của phân lân
Photpho là một nguyên tố đa lượng đóng vai trò rất quan trọng trong sự sinh trưởng của thực vật và động vật Photpho còn có tác dụng làm tăng cường phát triển bộ rễ cây (đặc biệt là thời kỳ đầu sinh trưởng) Photpho giúp cho quá trình photphoril hóa cacbonhydrat để hình thành nên tinh bột
(Nguyễn Công Vinh, 2002)
Kết quả nghiên cứu của Công Doãn Sắt và Hoàng Văn Tám (2000) cho thấy tùy thuộc vào loại đất và giống cỏ để bón liều lượng lân cho phù hợp Hàm lượng photpho bón cho đất thích hợp vào khoảng 40 kg đến 120 kg
P2O5/ha Phân lân phân giải chậm, vì vậy phải bón toàn bộ lượng phân một lần khi gieo, trồng và bón vào cuối thu hoặc đầu xuân đối với đồng cỏ từ năm thứ 2 trở đi
1.3.1.4 Ảnh hưởng của phân Kali
Kali là một khoáng đa lượng vô cùng thiết yếu cho cây sắn sinh trưởng Kali làm tăng sức trương, tăng áp suất thẩm thấu trong tế bào, kích thích sự hoạt động của các men, làm cho cây tăng cường trao đổi chất, tăng hình thành axit hữu cơ, tăng trao đổi đạm, do vậy mà hạn chế tích lũy nitrat trong lá Nó còn giúp cây trồng tăng khả năng quang hợp, tăng cường sự hình thành bó mạch, giúp cây cứng cáp, góp phần vào việc chống đổ lốp cho cây, chống
Trang 21bệnh, chống rét Kali còn có vai trò vận chuyển hydratcacbon từ thân, lá
về củ và làm tăng tỷ lệ tinh bột trong củ Khi bón đầy đủ đạm, lân nhưng thiếu kali thì năng suất giảm rõ rệt (Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thế Hùng, 1999) Kết quả nghiên cứu của Trần Ngọc Ngoạn (2007) cho thấy tùy thuộc vào hàm lượng kali trong đất nhiều hay ít mà mức bón kali cho sắn dao động từ 80
kg đến 180 kg K2O/ha
Phân kali chủ yếu được bón kết hợp với các loại phân khác như N P liều lượng phân kali bón riêng biệt cho cây thức ăn thường ít được quan tâm
và nghiên cứu, chính vì thế mà ảnh hưởng của phân kali tới các loại cây thức
ăn cũng chính là sự ảnh hưởng của các loại phân bón kết hợp cùng
Tóm lại: xác định được mức bón phân đạm hợp lý sẽ giúp cho ta có cơ
sở để bổ sung hàm lượng cho cây giúp cây thức ăn tăng năng suất và phẩm chất lá làm nguồn bổ sung thức ăn trong chăn nuôi
1.3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng
Theo Từ Quang Hiển (2019), khoảng cách trồng được biểu thị bằng hàng cách hàng và cây cách cây; khoảng cách trồng càng dày thì mật độ trồng càng cao Nếu trồng quá thưa cây không sử dụng hết đất cũng như không gian dẫn đến lãng phí đất, cỏ dại mọc nhiều, sản lượng cây thức ăn xanh thấp; ngược lại trồng quá dày cây không đủ đất cũng như không gian cho sự sinh trưởng, phát triển của phần trên và dưới mặt đất dẫn đến cây phát triển mạnh chiều cao, thân bé, yếu ớt, che bóng lẫn nhau và gây ảnh hưởng tới quá trình quang hợp của cây, rễ nhỏ không khỏe, không đâm sâu
và vươn xa hệ quả là cây chết nhiều sau vài lần thu hoạch và sản lượng thấp Tùy theo giống cây trồng, tuổi thu hoạch và các yếu tố khác mà xác định khoảng cách/mật độ trồng thích hợp
1.3.3 Ảnh hưởng của tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt
Thời gian giữa các lần thu hoạch kể từ lứa cắt lần thứ nhất trở đi gọi là tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt Ví dụ: Trồng từ tháng 3 đến tháng 7 được
Trang 22cắt đợt thứ nhất, sau khoảng thời gian nhất định để cây tái sinh chồi, dự trữ đủ dinh dưỡng ta tiến hành thu cắt đợt 2 Tiếp tục như vậy thu cắt đợt 3,4,5 thì khoảng thời gian giữa các đợt thu cắt người ta gọi là khoảng cách cắt (KCC) Voisin (1963) đã tiến hành nghiên cứu về vấn đề KCC và khẳng định: Một cây thức ăn nếu được cắt trước khi rễ và những phần còn lại của lứa cắt trước chưa dự trữ đủ dinh dưỡng thì tái sinh sẽ gặp khó khăn
và có thể không tái sinh được Nếu tuổi thu hoạch chỉ bằng 1/2 tuổi thu hoạch thích hợp thì năng suất chỉ còn 1/3 Nếu tăng thêm 50% thời gian của tuổi thu hoạch thích hợp thì chỉ tăng năng suất 20%, nhưng chất lượng giảm, tỷ lệ chất xơ tăng
Tùy theo vĩ độ (khu vực) khác nhau và dạng đồng cỏ sinh trưởng có thể thu hoạch cỏ 2 - 10 lần/năm Tuy nhiên, để thu hoạch đạt đến sản lượng cao nhất và chất lượng tốt nhất thường dựa vào thời điểm cây thành thục Nếu cắt quá thưa (ít lần/năm), cây sẽ già, chất lượng kém đi, lứa tái sính sau (đối với cây có khả năng tái sinh) cũng bị ảnh hưởng và sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng cây thức ăn Ngược lại, nếu cắt với tần suất dày (quá nhiều lần/năm), lúc này cây chưa sinh trưởng tối đa đã bị thu cắt, không đủ thời gian cho việc tổng hợp các chất dinh dưỡng dư thừa ở bộ phận trên mặt đất (thân, lá) để vận chuyển ngược xuống phần gốc, rễ dùng cho việc tái sinh tiếp theo Từ Trung Kiên (2011)
Theo Từ Quang Hiển và cs (2002) đưa ra khoảng cách cắt một số giống
cỏ phổ biến như sau: cỏ voi có tuổi thu cắt lứa sinh trưởng (tính từ lúc trồng tới lúc thu hoạch lần đầu - lứa đầu) là khi cây được từ 2 - 2,5 tháng và những lần cắt lứa tái sinh sau đó thì phụ thuộc vào mùa vụ, đối với vụ hè thu cứ 30 -
50 ngày và vụ đông xuân cứ 50 - 65 ngày cắt một lần; tương tự với cỏ pangola thu hoạch lứa đầu khi cây được từ 2 - 3 tháng, các lứa tiếp theo cũng tùy theo mùa vụ, cắt ở 50 - 60 ngày đối với vụ hè thu và 60 - 90 ngày đối với
vụ đông xuân; cỏ Tây Nghệ An (cỏ ghi nê) cắt lứa đầu lúc cây được 50 - 70 ngày, cắt lứa tiếp theo lúc cây 40 - 50 ngày đối với vụ hè thu và 70 - 80 ngày đối với vụ đông xuân
Trang 23Bùi Quang Tuấn (2005a) khi tăng tuổi thu cắt của cỏ voi từ 30 ngày tuổi lên 60 ngày tuổi, tỷ lệ chất khô tăng, xơ thô tăng từ, trong khi đó tỷ lệ protein thô giảm Tương tự ở cỏ ghi nê cũng như vậy Còn theo nghiên cứu của Vũ Chí Cương và cs (2010) cho biết, khi tăng tuổi thu cắt của cỏ voi từ 35 ngày tuổi lên
50 ngày tuổi, tỷ lệ chất khô tăng, xơ thô tăng, nhưng tỷ lệ protein giảm Như vậy, hai kết quả của hai nghiên cứu này trùng khớp với nhau
Theo Điền Văn Hưng (1964) thì cỏ thân đứng thu hoạch sau trồng và sau thu hoạch là trên 60 ngày Cỏ thân bụi thu hoạch sau trồng là 60 ngày, sau cắt là 30 - 45 ngày Cỏ thân bò thu hoạch sau trồng là 50 - 55 ngày, sau cắt là 30 - 45 ngày
Cây keo giậu thu hoạch lứa đầu khi cây cao 1,5 - 1,6 m, thông thường mất 4-5 tháng để đạt được độ cao như trên Các lứa tiếp sau, thời gian thu cắt
khoảng 40 - 45 ngày (khi nhánh tái sinh đạt từ 60 - 70 cm) Cây Flemingia
0,8-1m (cắt ngọn lá làm thức ăn cho bò cắt chừa lại gốc cây cách mặt đất 35cm để cây tạo tán) Sau lần cắt trước 90 - 100 ngày khi tán cành mọc cao lên 50cm, nếu có nhu cầu sử dụng thì lại cắt tiếp Thân lá cắt được sử dụng làm thức ăn cho dê, làm phân xanh hoặc phủ gốc cây lâu năm để tạo mùn (theo Lê Đức Ngoan và cs, 2006)
30-Như vậy, có thể thấy tuổi thu hoạch hay khoảng cách cắt không chỉ ảnh hưởng tới năng suất mà còn ảnh hưởng tới chất lượng, thành phần hóa học của cây thức ăn Khoảng cách giữa hai lần cắt vào khoảng 30- 60 ngày, tùy thuộc vào giống cây Ở tuổi như vậy, cây thức ăn vừa đạt được sản lượng cao, vừa đạt được chất lượng tốt, nâng cao tỷ lệ tiêu hóa đồng thời tạo điều kiện cho cây tái sinh tốt hơn và kéo dài tuổi thọ của cây
1.3.4 Ảnh hưởng của chiều cao cắt
Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật thu hoạch (chiều cao cắt) và thời gian thu hoạch (tháng) đến năng suất và hàm lượng dinh dưỡng cây Chùm Ngây tại Pakistan, Nouman (2012b) đã ghi nhận kỹ thuật thu hoạch (chiều cao cắt) và thời gian thu hoạch (tháng) ảnh hưởng một cách có ý nghĩa đến năng
Trang 24suất ngọn và lá tươi, trọng lượng khô, hàm lượng diệp lục, hàm lượng phenolic tổng số và các chất chống oxi hoá Trong đó năng suất ngọn và lá tươi, hàm lượng diệp lục, các chất chống oxi hoá, hàm lượng dinh dưỡng đạt cao nhất tại thời điểm thu hoạch sau trồng 4 tháng và cắt ở độ cao 30 cm Năng suất ngọn và lá tươi, số chồi trên cây, hàm lượng vitamin A đạt cao nhất
ở độ cao thu hoạch 30 cm, kế đến là 90 cm, thấp nhất ở 150 cm Hàm lượng phenolic tổng số không bị ảnh hưởng bởi chiều cao cắt nhưng đạt cao nhất ở thời điểm thu hoạch 4 tháng sau trồng Hàm lượng đạm, kali, canxi, magiê và phốt pho đạt cao nhất cũng được ghi nhận ở công thức cắt 30 cm và thu hoạch vào thời điểm sau trồng 4 tháng
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đặng Toàn Chương (2011), cây Chùm Ngây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản sinh trưởng tốt nhất khi đốn ở
độ cao 100 cm Ở độ cao này cây chịu sự tác động ít nhất, khả năng phục hồi nhanh hơn khi đốn xuống 50 cm và 30 cm Đối với việc sử dụng chất kích thích ra chồi, cây Chùm Ngây có số lượng chồi phát triển sau khi đốn rất tốt khi được phun urê 1% Các nghiệm thức được phun chất kích thích đều có sự khác biệt về số chồi so với nghiệm thức đối chứng không được phun chất kích thích Năng suất thực thu đạt cao nhất (1.801,6 kg/2 lần thu/ha) ở nghiệm thức đốn ở độ cao 100 cm và phun urê 1%
1.3.5 Ảnh hưởng của nước
Nước có tác dụng hòa tan các chất dinh dưỡng trong đất nhờ đó cây hút được dễ dàng, nước còn tham gia các quá trình sinh học của cây trồng Nhu cầu nước của cây trồng rất khác nhau tùy thuộc vào đặc tính sinh lý của chúng Các cây trồng cạn có nhu cầu nước không lớn nhưng trong mùa khô
nếu tưới nước cho chúng thì năng suất có thể tăng thêm tới 50% M oleifera
là cây trồng yêu cầu đất có độ thoát nước cao, đất úng nước cây không sinh trưởng phát triển được và có thể bị chết hàng loạt tuy nhiên nếu được tưới nước hợp lý trong mùa khô vẫn có khả năng tăng năng suất sinh khối và vật chất khô của cây thức ăn này
Trang 251.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước về cây M oleifera
1.4.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam các nhà khoa học nghiên cứu về ảnh hưởng của khoảng cách trồng (40 x 20, 40 x 30, 40 x40cm) đến sinh trưởng, năng suất ngọn và lá tươi
cao và năng suất Moringa oleifera Nghiên cứu cũng cho biết có thể thu hoạch
nhiều lần trong một năm và năng suất lá có thể đạt từ 42 – 53 tấn/ha/năm Tuy nhiên, ở những lần cắt sau năng suất thường thấp hơn lần cắt trước và cây
nghi với điều kiện ngập nước kéo dài
Lưu Hữu Mãnh (2007) thí nghiêm với 3 mật độ 125; 83,25 và 62,5 nghìn cây/ha, kết quả là mật độ 83,25 nghìn cây/ha cho năng suất cao nhất
Nguyễn Đặng Toàn Chương (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của 3 mức phân NPK (công thức 2:1:1) và 3 loại phân hữu cơ đến sự sinh trưởng, năng
suất và chất lượng lá cây M oleifera Kết quả là mức bón 70kg N - 35kg P2O5-55kg P2O/ha/năm đã giúp cây sinh trưởng và năng suất chất xanh cao hơn
hẳn các mức bón NPK thấp hơn Trong các loại phân hữu cơ bón cho M
xanh và phân rác
Dương Đức Tiến (2012) đã tiến hành nghiên cứu đặc điểm lâm học và
khả năng gây trồng Moringa oleifera tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ và
Tây Nguyên Kết quả nghiên cứu cho thấy mật độ trồng (600, 700, 800 cây/ha) ảnh hưởng đến chiều cao, đường kính thân cây khác nhau
Cây Moringa oleifera trong giai đoạn kiến thiết cơ bản sinh trưởng cắt ở
độ cao 100 cm là thích hợp nhất Ở độ cao này cây chịu sự tác động ít nhất, khả năng phục hồi nhanh hơn so với cắt ở độ cao 50cm và 30cm so với mặt
đất Cây Moringa oleifera có số lượng chồi phát triển nhiều nếu sau sau cắt
được phun urê 1% Các nghiệm thức được phun chất kích thích đều có sự
Trang 26khác biệt về số lượng chồi so với nghiệm thức đối chứng không được phun chất kích thích Năng suất chất khô thực thu đạt cao nhất (1.801,6kg/2 lần thu/ha) ở nghiệm thức cắt ở độ cao 100 cm và phun urê 1% (trích dẫn Từ Quang Hiển, 2019)
1.4.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tác giả Foidl và cs (1999), Foidl và cs (2001) đã thực hiện một dự án
sản xuất sinh khối và thử nghiệm trồng Moringa oleifera ở mật độ khác nhau
để xác định giá trị sinh khối cao nhất Kết quả cho thấy mật độ càng dày thì năng suất sinh khối càng cao Khối lượng chất khô (trên và dưới mặt đất) của
cây Moringa oleifera tăng tỷ lệ thuận với mật độ trồng từ 49.384 - 197.528 cây/ha Các nhà nghiên cứu cho rằng Moringa oleifera trồng ở mật độ cao sẽ
xảy ra hiện tượng cạnh tranh về không gian dinh dưỡng và kết quả là làm cho
rễ và đốt thân dài ra
Một số nghiên cứu đã thí nghiệm trồng Moringa oleifera làm rau ăn với
các mật độ, khoảng cách trồng khác nhau từ 1 x 1m (10.000 cây/ha) đến 2,5 X 2,5cm (16.000.000 cây/ha) Sau khi tính đến các yếu tố chi phí giống, số cây
bị chết (vì không đủ ánh sáng), chi phí chuẩn bị đất thì sản xuất Moringa
dinh dưỡng thì khoảng cách trồng tốt nhất là 10 x 10cm ( mật độ 1.000.000 cây/ha) Foidl và cs (2001) cho biết mật độ trồng cao (trên một triệu cây/ha)
sẽ khó thực hiện vì khâu thu hoạch mất nhiều thời gian Vì vậy cách tốt nhất
là trồng ở mật độ tối ưu để có thể sử dụng hữu hiệu các nguồn lực trong các điều kiện canh tác cụ thể
Theo kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng (250.000, 500.000
và 750.000 cây/ha) và KCC đến năng suất sinh khối của cây Moringa oleifera
tại Managua và Nicaragua thì KCC 75 ngày/lần cắt cho năng suất sinh khối đạt cao nhất tương ứng với 100,7 và 57,4 tấn/ha/năm; khối lượng khô đạt cao nhất 25,7 và 10,4 tấn/ha/năm trong năm thứ nhất và thứ hai Tất cả mật độ
Trang 27trồng cho năng suất khô cao nhất ở KCC 75 ngày/lần Trong năm thứ nhất ở mật độ 750.000 cây/ha cho năng suất sinh khối tươi và chất khô cao nhất, tương ứng là 88,0 và 18,9 tấn/ha/năm, tuy nhiên trong năm thứ hai mật độ 500.000 cây/ha lại cho năng suất sinh khối tươi và chất khô cao nhất, tương ứng là 46,2 và 8,1 tấn/ha (Sanchez, 2006)
Muhl (2011) đã nghiên cứu trong điều kiện nhà kính về ảnh hưởng của
nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển cây Moringa oleifera với ba chế độ
nhiệt 10/20°C, 15/25°C và 20/30°C ứng với đêm và ngày Kết quả cho thấy ở chu kỳ nhiệt 20/30°C cho tỷ lệ nảy mầm, tốc độ nảy mầm của hạt giống, sinh trưởng cây con trong vườn ươm và ngoài đồng ruộng như chiều cao cây, chu
vi thân, diện tích lá đạt cao nhất và đây là tiền đề cho cây Moringa oleifera
đạt năng suất và chất lượng lá tốt nhất
Ngược lại ở chu kỳ nhiệt độ 10/200C độ dày của lá cao nhất, thấp nhất ở nhiệt độ 20/300C, việc giảm độ dày và hàm lượng diệp lục của lá không bị chi phối bởi cường độ ánh sáng mà chịu tác động của yếu tố nhiệt độ môi trường Nhiệt độ cao làm giảm sự phát triển của lớp tế bào mô dậu dẫn đến làm giảm
độ dày của lá Ở chu kỳ nhiệt độ 15/250C cho tỷ lệ ra hoa và thụ phấn đạt cao nhất 87,5% và 82,7%
Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cắt và tuổi thu hoạch đến năng suất
và hàm lượng dinh dưỡng cây Moringa oleifera tại Pakistan, Nouman (2012)
cho biết chiều cao cắt và tuổi thu hoạch ảnh hưởng một cách có ý nghĩa đến năng suất ngọn và lá tươi, khối lượng VCK, hàm lượng diệp lục, hàm lượng phenolic tổng số và các chất chống oxi hóa Trong đó năng suất ngọn và lá tươi, hàm lượng diệp lục, các chất chống oxi hóa , hàm lượng dinh dưỡng đạt cao nhất lại thời điểm thu hoạch sau trồng 4 tháng và cắt ở độ cao 30 cm Năng suất ngọn và lá tươi, số chồi trên cây, hàm lượng vitamin A đạt cao nhất
ở độ cao thu hoạch 30cm, kế đến là 90cm, thấp nhất là 150cm Hàm lượng phenolic tổng số không bị ảnh hưởng bởi chiều cao cắt nhưng đạt cao nhất ở
Trang 28thời điểm thu hoạch 4 tháng sau trồng Hàm lượng đạm, kali, canxi, magiê và phốt pho đạt cao nhất cũng được ghi nhận ở công thức cắt 30cm và thu hoạch vào thời điểm sau trồng 4 tháng
Tại Pakistan, khoảng cách cắt tối ưu làm rau xanh là 30 ngày, ngọai trừ mùa đông (Nouman, 2012)
Các nghiên cứu đều cho thấy cây M oleifera có thể thu hoạch được nhiều
lần trong năm; mật độ trồng, KCC tùy thuộc mục đích sử dụng và mùa vụ trong năm
chất Lá M oleifera rất giàu protein và khoáng chất, điều này có nghĩa là đất
canh tác phải đáp ứng đủ đạm và khoáng chất cho sự sinh trưởng và phát triển Nên kết hợp phân hoá học với phân chuồng hoặc phân hữu cơ (phân xanh, phân rác) để có thể cung cấp các dưỡng chất cần thiết cho cây trồng đồng thời cải thiện cấu trúc đất Bón phân chuồng hoặc phân hữu cơ khi cày bừa đất, trước khi gieo hạt
250kg N, 35 kg P2O5, 270 kg K2O/ha/năm từ đất Tỷ lệ các chất dinh dưỡng
trong lá tươi cây Moringa oleifera khoảng 0,25% N; 0,07% P; 0,25% K; 0,44%
Ca; 0,025 % Mg, 0,025 % Fe, 0,13 % S Từ đó suy ra nhu cầu phân bón hàng
năm cho Moringa oleifera trồng với mật độ 1 triệu cây ha khoảng 250 kg N + 70
kg P2O5 + 280 kg K2O/ha Ngoài ra cần bổ sung các chất khoáng thiết yếu như
Ca, Fe, Mg, S, Cu, Zn, B giúp Moringa oleifera sinh trưởng, phát triển tốt
Từ những thông tin trên cho thấy Moringa oleifera là cây có yêu cầu
dinh dưỡng khá cao, cần chế độ bón phân cân đối và hợp lý Việc sử dụng
nhiều phân bón hóa học giúp Moringa oleifera sinh trưởng nhanh, tăng năng
suất nhưng làm giảm chất lượng sản phẩm do tồn dư NO3 cao, làm đất trồng ngày càng chua, chai cứng, bạc màu, ảnh hưởng đến vi sinh đất, làm mất đi sức sản xuất của đất, tổn hại đến môi trường và sức khỏe con người Để hạn
Trang 29chế nhược điểm sử dụng phân bón hóa học, xu hướng hiện nay là sử dụng
phân bón hữu cơ trong canh tác Moringa oleifera nhằm cải thiện độ phì của
đất, bảo vệ môi trường
Kỹ thuật trồng và thu hoạch cây thức ăn cho người và cho vật nuôi có sự khác nhau Ví dụ: Nếu trồng làm rau xanh cho người thì cần thu hoạch lúc rau còn non dẫn tới khoảng cách thu hoạch (tuổi của rau) phải ngắn, còn cho vật nuôi thì khoảng cách giữa các lứa phải dài hơn (thu hoạch ở thời điểm cây thức ăn đạt được tối đa về dinh dưỡng và năng suất) Với mục đích khác nhau như trên dẫn đến khoảng cách trồng (mật độ trồng) cũng phải khác nhau Cụ thể: Mật độ trồng rau ăn cho người (khoảng cách thu hoạch ngắn) thì phải trồng dày hơn so với mật độ trồng thu hoạch lá cho vật nuôi
Cũng tương tự như vậy, tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong lá ở thời điểm còn non (rau ăn cho người) khác với thời điểm thu lá làm thức ăn cho vật nuôi
Mặc dù, đã có một số nghiên cứu về cây Moringa oleifera nhưng các
nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích phục vụ sản xuất rau ăn cho người và dược liệu Do đó, cần phải có các nghiên cứu tương tự với mục đích phục vụ sản xuất thức ăn (chất xanh, bột lá) cho vật nuôi
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Cây thức ăn M oleifera ở năm thứ hai
* Địa điểm nghiên cứu
Trồng cây thức ăn tại trường Đại học Nông Lâm, tỉnh Thái Nguyên
* Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/2018 đến tháng 2/2019
2.2 Nội dung nghiên cứu
Đề tài sẽ có 2 nội dung nghiên cứu như sau:
- Xác định ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất và thành phần hóa
học của cây M oleifera
- Xác định ảnh hưởng của mức bón phân chuồng đến năng suất và thành
phần hóa học của cây M oleifera
2.3 Phương pháp nghiên cứu
là phân chuồng 20 tấn, lân: 40 kg P2O5, Kali: 80 kg K2O tính cho 1 ha/năm, đạm: 60 kg N/ha/lứa cắt Lượng phân bón trên áp dụng cho cả năm thứ nhất
và năm thứ hai Thu cắt lứa đầu tiên sau khi trồng 3,5 - 4 tháng, khoảng cách cắt (KCC) giữa lần cắt sau và lần cắt trước 50 ngày trong mùa mưa (tháng 4 - 9) và 60 ngày trong mùa khô (tháng 10 - tháng 3 năm sau)
Bố trí thí nghiệm được trình bày tại bảng 2.1
Trang 31Các chỉ tiêu theo dõi
Năng suất và sản lượng sinh khối, lá tươi, bột lá, thành phần hóa học của
lá tươi và quy ra trong vật chất khô
Cách thu hoạch: Khi cây chùm ngây năm hai bắt đầu cao lên khoảng 1,5 m thì cắt, khoảng cách từ mặt đất đến điểm cắt khoảng 45-50cm Sau đó tách cuống lá, tách lá, phơi khô và nghiền thành bột lá
Năng suất sinh khối là toàn bộ thân, cành, lá thu được trên 1 ha trong 1 lứa thu hoạch, đơn vị tính là tạ/ha/lứa Năng suất sinh khối được xác định bằng cách cắt cây ở khoảng cách 45-50 cm so với mặt đất của toàn bộ ô thí nghiệm, từ năng suất của các ô, tính năng suất sinh khối trung bình /ha/lứa, đơn vị tính là tạ/ha/lứa
Năng suất lá tươi là khối lượng lá tươi thu được sau khi tách lá khỏi cuống lá tính trên 1 ha trong 1 lứa thu hoạch, đơn vị tính là tạ/ha/lứa Năng suất lá tươi và bột lá được tính bằng cách: Cân 10 kg thân, cành, lá (sinh khối thu được)/ 1 điểm nghiên cứu (Tổng là 10 x 5 = 50 kg) tách lá ra khỏi cuống
và cân từ khối lượng lá tươi, sau đó phơi khô, nghiền thành bột và cân khối
lượng bột lá Tính tỷ lệ lá tươi so với thân cành lá tươi (sinh khối) (1), tính tỷ