1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình

85 633 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Phát Triển Ngành Du Lịch Tỉnh Ninh Bình
Tác giả Vũ Thị Liên
Người hướng dẫn TS. Phạm Văn Hùng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản Trị Kinh Doanh
Thể loại Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Ninh Bình
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 839 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, mở cửa của Đảng và Nhà nước,đặc biệt là chính sách đổi mới về đối ngoại và kinh tế đối ngoại cùng với xu hướngtoàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng nhanh ở hầu hết các quốc gia trênthế giới, ngành du lịch Việt Nam nói chung và ngành du lịch của Ninh Bình nói riêngcũng có những bước tiến nhất định và ngày càng có tác động tích cực hơn đến nhiềulĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội đất nước Du lịch được xác định “ là một ngànhkinh tế mũi nhọn” trong các ngành kinh tế quốc dân và đang hội nhập với trào lưu pháttriển du lịch của khu vực và thế giới Khách du lịch đến Việt Nam đặc biệt là NinhBình đang ngày một tăng Phát triển du lịch của Ninh Bình là phù hợp với xu thế củathời đại, phù hợp với chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam đặc biệt là chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Với vị trí địa lý và tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú, những chính sáchphù hợp, thời gian qua du lịch Ninh Bình đã có bước phát triển đáng ghi nhận, đónggóp tích cực vào sự nghiệp phát triển du lịch của cả nước Tuy nhiên trong quá trìnhphát triển, nhiều tiềm năng du lịch chưa được khai thác hiệu quả, sự phát triển du lịchNinh Bình chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí của mình Cơ sở hạ tầng, vật chất

kĩ thuật của Tỉnh mặc dù đã được cải thiện rất nhiều trong những năm gần đây nhưngvẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển, chất lượng phục vụ còn thấp, sản phẩm dulịch còn nghèo nàn, chưa phong phú Đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn Tỉnh còndàn trải và thiếu tập trung, khả năng thu hút vốn từ các nhà đầu tư không được cao

Chính vì thế trong thời gian đi thực tập vừa qua, em đã nghiên cứu và viết báocáo thực tập, tên đề tài là:

“Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình.”

Nội dung báo cáo được chia làm 2 chương:

Chương I: Thực trạng đầu tư phát triển du lịch Ninh Bình giai đoạn 2006-2009 Chương II: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư vào du lịch Tỉnh Ninh Bình

CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH

NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2006-2009

I Những đặc điểm và tình hình kinh tế - xã hội của Ninh Bình ảnh hưởng tới đầu

tư phát triển du lịch của tỉnh.

1 Điều kiện tự nhiên

Trang 2

1.1 Vị trí địa lý:

Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ Vị trí giới hạn từ

19o50 đến 20o26 vĩ độ Bắc, từ 105o32 đến 106o20 kinh độ Đông Phía Bắc giáp HàNam; phía Đông giáp Nam Định; phía Đông Nam giáp biển Đông; phía Tây và TâyNam giáp Thanh Hóa; phía Tây giáp Hòa Bình

Nằm cách thủ đô Hà Nội hơn 90 km, nằm trên tuyến đường giao thông đườngsắt, đường bộ xuyên Việt, Ninh Bình trở thành một cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóagiữa hai miền Nam-Bắc Ninh Bình lại nằm trong vùng dồi dào năng lượng; có biển và

hệ thống sông thông ra biển rất thuận lợi trong việc giao lưu với các tỉnh và quốc tế

Ninh Bình có các quốc lộ đi qua là 1A, 10, 12B, 45, có đường sắt Bắc Nam, cónhiều sông chảy qua (sông Đáy, sông Hoàng Long, sông Vân, sông Vạc, sôngLạng…)

Toàn bộ lãnh thổ của tỉnh nằm ở rìa Tây Nam đồng bằng sông Hồng, giáp với

đồng bằng sông Mã qua vùng núi thấp Tam Điệp là phần cuối cùng của vùng núi TâyBắc, trong khu đệm Hòa Bình – Thanh Hóa và tiếp giáp biển Đông Do là vùngchuyển tiếp nên địa hình Ninh Bình khá phong phú, đa dạng, bao gồm cả các núi, đồngbằng, bờ biển Đặc biệt là ở Ninh Bình, dạng địa hình Karst khá phổ biến và đây làdạng địa hình đặc biệt tạo nên các hang động và cảnh quan hấp dẫn, rất có giá trị trongviệc thu hút khách du lịch

1.2 Địa hình:

Ninh Bình có một địa hình đa dạng, vừa có đồng bằng, đồi núi, nửa đồi núi vàvùng ven biển Về địa hình có ba vùng khá rõ:

- Vùng đồi núi, nửa đồi núi với các dãy núi đá vôi, núi nhiều thạch sét, sa

thạch, đồi đất đan xen các thung lũng lòng chảo hẹp, đầm lầy, ruộng trũng ven núi, cótài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đá vôi, có nhiều tiềm năng phát triển là phát triển dulịch

- Vùng đồng bằng trung tâm là vùng đất đai màu mỡ, bãi bồi ven sông, có

nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực tại chỗ, và sảnxuất hàng hóa xuất khẩu

- Vùng ven biển và biển có nhiều điều kiện phát triển nuôi trồng thuỷ sản khai

thác các nguồn lợi ven biển

Đồi núi trùng điệp chiếm quá nửa diện tích tự nhiên của tỉnh; các vùng nửa đồinúi tuy không lớn nhưng lại phân bố rải rác, xen kẽ chạy dài từ điểm cực Tây huyệnGia Viễn theo hướng Đông Nam qua huyện Hoa Lư, Yên Mô xuống Kim Sơn và ra tới

Trang 3

biển Đông (giáp huyện Nga Sơn - Thanh Hoá) Điểm cao nhất so với mặt biển là đỉnhMây Bạc trên vườn Quốc gia Cúc Phương cao 656m, điểm thấp nhất so với mực nướcbiển là xã Gia Trung huyện Gia Viễn (-0,4m) Huyện Gia Viễn, Yên Mô và một phầnhuyện Hoa Lư là vùng trũng, hay bị úng lụt Toàn tỉnh có 18 km bờ biển thuộc huyệnKim Sơn, có cửa sông Đáy đổ ra biển tạo ra vùng bãi bồi hàng năm tiến thêm ra biểnkhoảng 100 - 120m và quĩ đất tăng thêm hàng năm khoảng 140 - 168ha Với địa hình

đa dạng như vậy, Ninh Bình có đủ điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp.Đứng về mặt địa hình, Ninh Bình cần tính tới các phương án khai thác hợp lý lãnh thổ

để có sự phát triển tổng hợp, đạt nhịp độ tăng trưởng cao

1.3 Khí hậu:

Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng, ngoài ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam, còn chịu ảnh hưởng của khí hậu ven biển, khí hậu rừng núi và nửa rừng núi Thời tiết trong năm chia làm hai mùa khá rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 - 12 năm trước đến tháng 4 năm sau; mùa mưa từ tháng 5 - tháng 10

Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,2oC và có sự chênh lệch không nhiều giữa các vùng (hơn kém nhau từ 0,3-0,4oC); tháng 7 có nhiệt độ trung bình cao nhất là 29,3oC, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 17,9oC Số giờ nắng trung bình mỗi tháng là 117,3 giờ, tháng 6 cao nhất là 187,4 giờ, tháng 2 thấp nhất là 24,3 giờ Tổng

số giờ nắng trung bình năm trên 1.400 giờ Tổng nhiệt độ năm đạt tới trị số trên

8.500oC, có tới 8-9 tháng trong năm có nhiệt độ trung bình trên 20oC

Độ ẩm trung bình hàng năm là 83% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm: tháng 2 cao nhất là 89%, tháng 11 thấp nhất là 75%; giữa các vùng chênh lệch nhau trên dưới 1%

Lượng mưa rơi trung bình toàn tỉnh đạt từ 1.860 - 1.950 mm, phân bố tương đốiđồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của Tỉnh Trung bình một năm có 125 - 127 ngày mưa Lượng mưa trung bình mỗi tháng là 238,8 mm; tháng 9 cao nhất là 816 mm, tháng 1 thấp nhất là 8,5 mm Lượng mưa phân bổ không đều trong năm, thường tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm từ 86 - 91% tổng lượng mưa trong năm

1.4 Thuỷ văn

Ninh Bình có nhiều sông và đầm hồ Đây là nguồn nước mặt cung cấp nước chocông nghiệp, nông lâm nghiệp và bồi đắp phù sa cho đồng ruộng Hàng năm, hệ thống

Trang 4

sông ngòi ở Ninh Bình được nuôi dưỡng bằng nguồn nước mưa dồi dào, tạo nên lượngdòng chảy tương đối phong phú (khoảng 30 l/s/km2) Mật độ mạng lưới sông ngòikhoảng 0,6-0,9 km/km2 Các sông lớn thường chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam

để đổ ra biển Ninh Bình có nhiều hồ lớn như hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng, hồ ĐồngChương, hồ Yên Quang, hồ Đầm Cút, đầm Vân Long Với điều kiện thủy văn nhưvậy rất thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc tự nhiên từnhiều miền địa lý khác nhau: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới Trên cơ sở đó có thể pháttriển nền nông nghiệp đa dạng Đồng thời cũng là điều kiện thuận lợi cho phát triểncông nghiệp, du lịch và các hoạt động phát triển kinh tế khác

1.6 Đất đai:

Ninh Bình có tổng diện tích tự nhiên là 139.011 ha, trong đó đất cho sản xuấtnông nghiệp là 61.959 ha (chiếm 44,57% diện tích tự nhiên), đất lâm nghiệp 27.644 ha(chiếm 19,89% diện tích tự nhiên), đất chuyên dùng 15.197 ha (chiếm 10,93% diệntích tự nhiên), đất khu dân cư 5.346 ha (chiếm 3,85% diện tích tự nhiên) và đất chưa

sử dụng 17.094 ha (chiếm 12,3% diện tích tự nhiên)

Nhìn chung, tài nguyên đất ở Ninh Bình có độ phì trung bình với ba loại địahình ven biển, đồng bằng và bán sơn địa nên có thể bố trí được nhiều loại cây trồngthuộc nhóm cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồngthủy sản; đồng cỏ chăn nuôi, cây rừng đa tác dụng Vùng gò đồi có nhiều tiềm năng đểchuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển công nghiệp Đây là một lợi thếcủa Ninh Bình so với một số tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng Hiện nay, diệntích đất chưa sử dụng là 17.094 ha trong đó khả năng đưa vào khai thác cho các hoạtđộng kinh tế (trừ núi đá không rừng cây) còn 12.139 ha chiếm 8,73% diện tích tựnhiên

1.7 Tài nguyên khoáng sản:

Trang 5

Đá vôi: đây là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình Với những

dãy núi đá vôi khá lớn, chạy từ Hòa Bình qua Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, TamĐiệp, Yên Mô ra tới tận Biển Đông dài hơn 40 km; diện tích trên 1,2 vạn ha, với trữlượng hàng chục tỷ m3 đá vôi, chất lượng tốt

Đất sét: Phân bố rải rác ở các vùng đồi núi thấp thuộc xã Yên Sơn, Yên Bình,

thị xã Tam Điệp, các huyện Gia Viễn, Yên Mô, dùng để sản xuất gạch ngói và làmnguyên liệu cho ngành đúc, đảm bảo cho xây dựng các nhà máy sản xuất gạch côngsuất 20-50 triệu viên/năm, khai thác ổn định trong vài chục năm

Tài nguyên nước khoáng: Nước suối Kênh Gà (Gia Viễn) có vị mặn, trữ lượng

lớn, thường xuyên có nhiệt độ tới 53 - 54OC, có thể khai thác đưa vào tắm, ngâm chữabệnh kết hợp với du lịch rất tốt Nguồn nước khoáng Cúc Phương dùng để sản xuấtnước giải khát và tắm ngâm chữa bệnh, có thành phần magiêbicarbonat cao

Tài nguyên than bùn: có trữ lượng nhỏ (khoảng 2 triệu tấn), phân bố ở Gia Sơn,

Sơn Hà (Nho Quan), Quang Sơn (thị xã Tam Điệp)

Một số khoáng sản khác như: cát xây dựng, sét gốm sứ, sét ximăng, gạch ngóitrữ lượng nhỏ, phân bố rải rác ven vùng đồi núi thấp ven thị xã Tam Điệp, Gia Viễn,Yên Mô

Bên cạnh đó, Ninh Bình còn nằm gần các nguồn năng lượng lớn của quốc gia ởmiền Bắc như: bể than Quảng Ninh; thuỷ điện Hoà Bình; Nhiệt điện Phả Lại giúpcho Ninh Bình thoả mãn các nhu cầu về than, điện phục vụ cho phát triển sản xuấtcũng như nhu cầu dân sinh

2 Điều kiện dân cư, kinh tế - xã hội:

Dân số của Ninh Bình là 936.262 người trong đó số dân trong độ tuổi lao độngxấp xỉ 60%, mật độ dân số 659 người/ km2 Dân tộc ngoài dân tộc Kinh và dân tộcMường chiếm 1,7% dân số thì các dân tộc khác như Tày, Nùng, Thái, Hoa, H’Mông,Dao…mỗi dân tộc có từ trên một chục đến hơn một trăm người Dân tộc Mường đãđịnh cư khá lâu đời ở các xã thuộc miền núi cao như Nho Quan, Tam Điệp, còn lưugiữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống hấp dẫn du lịch Các dân tộc khác sống rảirác ở các địa phương trong tỉnh, không hình thành cộng đồng dân tộc nhất định, đa số

có quan hệ hôn nhân và chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục tập quán sinh hoạt, sảnxuất, truyền thống văn hóa của người Kinh

Trong những năm qua, Ninh Bình đã thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xãhội mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và XIV đề ra với kết quả năm

Trang 6

sau cao hơn năm trước Kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng được tăng cường, văn hoá - xãhội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện Tốc độ tăng trưởngkinh tế hàng năm đạt cao; tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn từ năm 1996-2000 đạtbình quân: 8,12%/ năm; từ năm 2001-2005 bình quân đạt 11,9%/năm; năm 2006 đạt12,6%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch

vụ Thu nhập bình quân đầu người năm 1991 đạt 0,51 triệu đồng, năm 2006 đạt 6,42triệu đồng, tăng 12,5 lần Thu ngân sách năm 1991 đạt 24,4 tỉ đồng, năm 2006 đạt 878

tỉ đồng, tăng 35,98 lần

Về nông nghiệp: tỉnh đã tập trung chỉ đạo chuyển được gần 9000 ha đất nôngnghiệp trồng cây có giá trị thấp sang nuôi trồng các loại cây, con có giá trị kinh tế caonhư: nuôi tôm sú, trồng cói ở Kim Sơn, nuôi tôm càng xanh, trồng dứa ở Tam Điệp,Nho Quan, nuôi thả cá chim trắng ở Gia Viễn, Hoa Lư, cấy các giồng lúa đặc sản: tám,nếp, dự ở Kim Sơn, Yên Khánh Cả tỉnh có 294 trang trại mỗi năm doanh thu bìnhquân từ 20 triệu đồng trở lên

Về công nghiệp: tỉnh đã phê duyệt quy hoạch 22 khu công nghiệp, cụm côngnghiệp với diện tích 880 ha trong đó có các khu công nghiệp, cụm công nghiệp lớnnhư: khu công nghiệp Tam Điệp, khu công nghiệp Ninh Phúc, cụm công nghiệp GiánKhẩu Ninh Bình đã ban hành các cơ chế, chính sách như: chính sách khuyến khích,

ưu đãi đầu tư vào các khu công nghiệp, khu du lịch; chính sách khuyến khích tài năngthu hút nhân tài; quỹ khuyến công ; quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển Trên địa bàn tỉnh đãkhởi công nhiều công trình lớn về giao thông, thuỷ lợi, du lịch, thể thao như: hồ YênThắng; dự án phân lũ, chậm lũ Nho Quan và Gia Viễn; sân vận động, Nhà thi đấutrung tâm; Nhà máy cán thép Tam Điệp công suất 36 vạn tấn/ năm; Nhà máy xi măngTam Điệp công suất 1,4 triệu tấn/ năm Các công trình đầu tư trên lần lượt đưa vào sửdụng sẽ tạo ra bước chuyển biến mạnh trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Các hoạt độngdịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, bảo hiểm, tín dụng, du lịch đều đạt mức tăngtrưởng bình quân trên 25%/ năm Thu ngân sách tăng bình quân trên 20%/ năm

3.Tài nguyên du lịch

3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Với diện tích tự nhiên 1.390,11 km2, tuy là một tỉnh không lớn nhưng NinhBình là một tỉnh có địa hình rất đa dạng: có núi, đồng bằng, vùng ven biển, mang đầy

đủ sắc thái địa hình Việt Nam thu nhỏ… Đặc điểm về địa hình kết hợp với các thànhphần tự nhiên khác như hệ thống thủy văn, lớp phủ thực vật đã tạo cho Ninh Bìnhtiềm năng du lịch đa dạng và phong phú Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất nàynhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nhiều hang động nổi tiếng, quần thể hang độngTràng An, Tam Cốc – Bích Động, vườn quốc gia Cúc Phương với hệ động thực vật

Trang 7

phong phú, khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long, khu du lịch sinh thái hồ Yên Thắng,Yên Đồng, Yên Thái với cảnh quan đặc sắc và tính đa dạng sinh học cao… Đây là tiền

đề quan trọng cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như du lịch sinh thái,

du lịch vui chơi giải trí, du lịch chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch tham quan… Một

số tài nguyên tiêu biểu:

Vườn quốc gia Cúc Phương (huyện Nho Quan):

Cúc Phương là vườn quốc gia đầu tiên của Việt Nam, thành lập vào 7/7/1962.Vườn quốc gia Cúc Phương có một quần thể hệ động thực vật vô cùng phong phú, đadạng và độc đáo Vườn có diện tích 22.200 ha, trong đó ắ là núi đá vôi cao từ 300 đến600m so với mặt biển Tại đây có đỉnh Mây Bạc cao 648,2m

Khí hậu ở Cúc Phương thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bìnhnăm khoảng 24,7ºC Địa hình phức tạp, rừng ở dạng nguyên sinh chứa nhiều bí ẩn, vàcảnh quan độc đáo Tại đây có rất nhiều hang động với cảnh quan kỳ thú và ẩn chứanhững chứng tích văn hoá lịch sử lâu đời như động Trăng Khuyết, động Chúa, độngThuỷ Tiên, động Người Xưa, hang Con Moong, động San Hô

Trong vườn còn có suối nước nóng 38ºC Hệ thực vật rất phong phú với 1.944loài thuộc 908 chi và 229 họ Đặc biệt có cây chò xanh, cây sấu cổ thụ đều trên dưới1.000 năm tuổi, cao từ 50-70m Riêng hoa phong lan có tới 50 loài, có loài cho hoa vàhương thơm quanh năm Hệ động vật đa dạng bao gồm 71 loài thú, hơn 300 loài chim,

33 loài bò sát và 16 loài lưỡng cư Nhiều loài thú quí như: gấu, ngựa, lợn lòi, hổ, báo,chồn, sóc, khỉ Khu chăn nuôi nửa tự nhiên với các loài hươu sao, nai, khỉ vàng, voọcquần đùi, sóc bay là nơi phục vụ công tác nghiên cứu của các nhà khoa học và dukhách có dịp chiêm ngưỡng như khi sống trong rừng tự nhiên Cúc Phương còn là quêhương của hàng trăm loài chim, bướm đẹp và lạ

Hiện nay, vườn quốc gia Cúc Phương đã trở thành một trung tâm cung cấp các loàithực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế cao phục vụ cho các chương trình trồng rừng trong khuvực và trên cả nước Nơi đây đã có những khu gây giống tự nhiên đạt kết quả cho các loài chòchỉ, chò xanh, kim giao Trong tương lai vườn còn xây dựng và mở rộng thêm cơ sở thựcnghiệm để cung cấp giống nhiều loài cây thuốc, cây cảnh quý hiếm cho những nơi có nhu cầu

Đến Cúc Phương đẹp nhất vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, khi những cơn mưarừng dữ dội đã đi qua Đường tới Vườn Quốc gia Cúc Phương rất thuận tiện Một khu rừngnguyên sinh với hệ sinh thái rừng nhiệt đới đa dạng, phong phú được bảo vệ nghiêm ngặt lạinằm trên tuyến đường du lịch với những điểm du lịch hấp dẫn như Bích Động, cố đô Hoa Lư,bãi biển Sầm Sơn đang cuốn hút khách du lịch đến tham quan và các nhà khoa học đếnnghiên cứu Tại vườn còn có một số chương trình du lịch cho khách lựa chọn như đi bộ, dulịch mạo hiểm, leo núi…

Trang 8

Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long:

Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long là khu bảo tồn sinh cảnh đặc trưng cho hệsinh thái núi đá ngập nước có diện tích lớn nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng (khoảng2.643 ha) Đây cũng là nơi khoanh vùng bảo vệ loài Voọc quần đùi trắng - một loàilinh trưởng quý hiếm đã được ghi trong Sách đỏ thế giới Vân Long là một vùng đấtcòn ít được khám phá với cảnh quan đặc biệt hấp dẫn Du khách từ Hà Nội về xuôitheo quốc lộ 1A xuống phía Nam, đến km 85 rẽ vào đường 12B tới vườn quốc gia CúcPhương, đến km 6 rẽ phải vào đường Thống Nhất của xã Gia Vân, đi thêm 1 km nữatới đê Đầm Cút là tới khu bảo tồn Vân Long

Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long nằm trên địa phận 7 xã thuộc huyện GiaViễn, Ninh Bình là các xã: Gia Hưng, Liên Sơn, Gia Hòa, Gia Vân, Gia Lập, Gia Tân,Gia Thanh ở phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình, cách thị xã Ninh Bình gần 20km về phíaBắc Địa hình Vân Long bằng phẳng, độ chênh không quá 0,5m nhưng có kiểu hình ôtrũng giữa các dòng sông lớn nhất của Ninh Bình, nằm về phía Nam của châu thổ Bắc

Bộ Đất ngập nước với mức sâu khoảng vài mét, đan xen là các dãy núi đá vôi nổi lêncao sàn sàn dưới 300m, đỉnh núi Ba Chon cao nhất tới 428m Ranh giới giữa chân cácdãy núi và cùng đất trũng ngập nước còn xen kẽ một số đồi đá thấp có độ cao khôngquá 50m Núi đá vôi và đồi cát chiếm ắ diện tích Là khu vực có đa dạng sinh học, cóHST núi đá vôi là nơi sinh sống của quần thể “Voọc quần đùi” lớn nhất Việt Nam

Rừng Vân Long có 457 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 327 chi, 127 họ.Đặc biệt có 8 loài được ghi trong sách Đỏ Việt Nam (1996) là kiêng, lát hoa, tuế lárộng, cốt toái bổi, sắng, bách bộ, mã tiền hoa tán… Về động vật có 39 loài, 19 họ, 7 bộthú; có 12 loài động vật quý hiếm như Voọc quần đùi (với số lượng lớn nhất ở ViệtNam), gấu ngựa, sơn dương, cu li lớn, khỉ mặt đỏ, cày vằn,… Trong các loài bò sát có

9 loài được ghi trong sách Đỏ Việt Nam là rắn hổ chúa, kỳ đà, trăn đất, rắn ráo trâu,

rắn ráo thường, rắn sọc đầu đỏ, rắn cạp nong, rắn hổ mang, tắc kè Điều đáng chú ý là

tại khu vực ngập nước Vân Long có loài cà cuống thuộc họ chân bơi, một loài côn

trùng quý hiếm, hiện còn rất ít ở Việt Nam Cà cuống sống được thể hiện sự trong lànhcủa môi trường nước, của không gian cảnh quan xung quanh

Không chỉ là khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước, Vân Long còn là nơi cócảnh quan và di tích văn hóa có giá trị Đây là núi Nghiên, núi Hòm Sách, núi Đá Bàn,núi Mèo cào, kia là núi Cô tiên, núi Voi dựng, núi Cánh cổng… Mỗi trái núi là mộthuyền thoại hấp dẫn Khu Vân Long còn có 32 hang động đẹp, nhiều hang rộng có giátrị như hang Cá, hang Bóng, hang Rùa, hang Chanh… ở đây còn có Kẽm Chăn và đềnthờ Mẫu, nơi thờ mẹ của bốn tướng Hồng Nương…

Trang 9

Non nước Vân Long, một cảnh núi ẩn mây trời, mây che ấp núi Nước ở đâymênh mông phẳng lặng, không có sóng to gió lớn, mang phong cảnh một miền quê êm

ả - một Vịnh Hạ Long không có sóng Đây chính là một nơi du lịch sinh thái rất tốt, làhiện trường nghiên cứu, học tập cho các nhà khoa học, sinh viên khi muốn nghiên cứu

về vùng đất ngập nước nội đồng của Việt Nam

Quần thể khu du lịch hang động Tràng An:

Nằm ở thôn Tràng An, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, cách cố đô Hoa Lưkhoảng 4km về phía Nam, diện tích trên 1.500ha, với những dải đá vôi, các thung lũng

và những dòng sông ngòi đan xen vào nhau tạo nên một không gian huyền ảo và thơmộng Sau khi du khách dâng hương tưởng niệm tại hai đền vua Đinh và vua Lê, đếnbến thuyền sông Sào Khê Từ đây những chiếc thuyền nan lướt nhẹ trên mặt nước quaXuyên Thuỷ Động sẽ đưa du khách vào thăm quần thể hang động Tràng An Hai bêndòng sông là những phong cảnh sơn thuỷ hữu tình mà thiên nhiên đã ban tặng nơi đây:đây là núi ông Trạng, núi Hòm Sách, núi Mỏ Trả, kia là núi con mèo

Khu du lịch Tràng An có quần thể hang động như: hang Ba Giọt, hang ĐịaLinh, hang Tối, hang Sáng, hang Ao Trai, hang Seo, và các thung lũng như: thungđền Trần, thung Mây, thung Nấu rượu, thung Khống các hang xuyên thuỷ dài và đẹpmới được khai thác sẽ làm cho du khách ngỡ ngàng Tất cả dường như hoà quyện vàonhau tạo nên một không gian kỳ thú

Tam Cốc nghĩa là ba hang: hang Cả, hang Hai và hang Ba ở thôn Văn Lâm, xãNinh Hải, huyện Hoa Lư Du khách vào thăm Tam Cốc chỉ có một con đường thủyduy nhất, vào ra mất khoảng hơn 1 giờ đồng hồ Đến đình Các ở thôn Văn Lâm, ra bếnsông Ngô Đồng - con đường thủy dẫn vào Tam Cốc Lúc thuyền luồn vào ba hang, dukhách sẽ cảm nhận được làn không khí trong lành, mát lạnh của hương đồng gió nội.Thạch nhũ từ trần hang rủ xuống lô nhô óng ánh như những khối châu ngọc kỳ ảo

Động Địch Lộng:

Động thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, được nhân dân phát hiện từ năm

1739 Trong động có một nhũ đá giống tượng Phật nên đã lập bàn thờ Phật ở đây Đếnnăm 1740 động được nhân dân trong vùng tu bổ thành một ngôi chùa để thờ Phật.Động rộng chừng 10 gian nhà, trong động được bày nhiều tượng Phật, tượng La hán,

Trang 10

tượng Hộ pháp đặt trên các bệ đá Đặc biệt có hai tượng Phật được tạc bằng đá xanhnguyên khối rất đẹp.

Động gồm có ba hang nối liền nhau, hang ngoài thờ Phật, rồi đến hang Tối,hang Sáng Vào động Địch Lộng du khách như đang lạc vào cõi trùng điệp của đá.Nhiều nhũ đá mang hình dáng như voi uống nước, voi chầu, hổ phục, phượng múa,rồng uống nước, khỉ cõng con… Mỗi không gian của vách động, trần động là một bứctranh nghệ thuật, một nét chạm khắc tuyệt với của thiên nhiên, của thời gian trên đá

Một điều độc đáo là nhũ đá trong động thay đổi màu theo ánh sáng mặt trời.Lúc rạng đông có màu hồng, buổi trưa lấp lánh như pha lê, và chuyển màu đỏ thẫm khihoàng hôn Trong động còn có lối lên Trời, lối xuống Âm phủ, lối xuống Âm phủ củađộng đầy huyền bí bởi nước của các nhũ đá đều đặn nhỏ giọt tạo nên một bản nhạckhông bao giờ dứt Cảnh đẹp của Địch Lộng được vua Minh Mạng ban tặng cho 5 chữkhi đến tham nơi đây - “Nam thiên đệ tam động” (Động đẹp thứ 3 Trời Nam)

Động Tiên:

Động Tiên còn có tên gọi khác là động Móc, ở thôn Đam Khê, xã Ninh Hải,huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách Bích Động gần 1km Động gồm có ba hang lớn,rộng, và cao vời vợi Đường vào động phải đi qua một khe hang nhỏ, mấp mô Trầnđộng là vân đá, nhũ đá rủ xuống lấp lánh nhiều sắc màu Nhiều khối nhũ đá từ trên trần

rủ xuống nền động cao hơn chục mét tựa như những rễ cây đa cổ thụ Nhiều nhũ đáđược đặt tên như: cây tiền, cây thóc, ông tiên, cô tiên, con voi, con hổ, kỳ đà Xungquanh vách động và trên nền cũng có rất nhiều măng đá, nhũ đá Những nhũ đá đượcthiên nhiên chạm trổ vừa phóng khoáng, vừa tinh xảo mà sống động Đứng từ bênngoài nhìn vào, dưới ánh sáng kỳ ảo động Tiên như một lâu đài nguy nga tráng lệtrong huyền thoại Đến thăm động Tiên, du khách sẽ như lạc bước vào chốn bồng lai,tiên cảnh, được khám phá và hoà mình vào khung cảnh tự nhiên kỳ thú

Động Sinh Dược:

Động Sinh dược thuộc địa phận thôn Xuân Trì, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, làđộng xuyên thủy dài gần 2km Vào động bằng một trong hai cửa, ngồi thuyền mất hơnmột giờ đồng hồ, du khách vào cửa động bên này sẽ ra cửa động bên kia Những dảinhũ đá thiên hình vạn trạng, quyến rũ sức tưởng tượng của du khách Chỗ này nhũ đánhư được gọt dũa một cách tinh tế, chỗ kia như bột dẻo nặn ra rất mềm mại Có nhiều

“con vật” như sống ở thời hồng hoang hiện về Tùy theo hướng ngồi và ánh sáng chiếuvào, du khách sẽ thấy nhũ đá với những dáng hình khác nhau Đặc biệt là có chỗ nhũ

đá nhỏ li ti, có chỗ nhũ đá chảy dài xuống mặt nước, sống trong nước như san hô Điều

kỳ lạ nữa là rất nhiều nhũ đá ở trên trần hang trắng muốt như dát bạc, như muối trắng

Trang 11

phau bao bọc xung quanh Thành động là những vách đá phẳng dựng đứng, chỗ nàynhư đá xây, chỗ kia đá bào mòn đến trơ trụi, nhẵn bóng Chắc chắn du khách sẽ bịcuốn hút bởi vẻ đẹp kỳ ảo của động và không thể khám phá hết cái thế giới kỳ thú nàychỉ thông qua một chuyến đi.

Đèo Tam Điệp:

Đèo Tam Điệp còn có tên là đèo Ba Dội đã đi vào trong thơ ca của bà chúa thơNôm Hồ Xuân Hương Đèo thuộc thị xã Tam Điệp, cách thị xã Ninh Bình 18km vềphía Nam Nơi đây có 3 dãy núi đá vôi chạy suốt từ Hòa Bình về, ăn ra biển Đông theohướng Tây Bắc - Đông Nam Chỗ núi đá hạ thấp xuống gọi là Đèo Vì có ba đèo liềnnhau nên gọi là Tam Điệp

Điều độc đáo ở đây là đèo Tam Điệp có đất đỏ Từ đây, du khách có thể quansát cả một vùng rộng lớn Toàn cảnh đèo là những dãy núi hùng vĩ, hiểm trở, quanh conhư những con rồng uốn khúc, đan xen là những thung lũng rộng và nhiều dòng suốitrong xanh uốn lượn Đèo Tam Điệp không chỉ có cảnh đẹp mà còn là một phongtuyến phòng ngự rất lợi hại, mang vị trí chiến lược trong quân sự như bức tường thànhthiên nhiên án ngữ con đường thiên lý ra Bắc vào Nam Vì vậy, từ xa xưa nơi đây đãđược chọn là cửa ải (quận Cửu Chân - Thanh Hóa và quận Giao Chỉ - Bắc Bộ) Nhưvậy, đèo Tam Điệp không chỉ là một thắng cảnh mà còn là một di tích lịch sử nổi tiếng

đã đi vào lịch sử, đi vào thơ văn của các thi nhân xưa và nay

Suối nước nóng Kênh Gà:

Suối nước nóng mặn Kênh Gà thuộc thôn Kênh Gà, xã Gia Thịnh, huyện GiaViễn Du khách đến bến sông ở cống Đồng Trưa trên dòng sông Hoàng Long để bắtđầu hành trình tham quan suối nước nóng Kênh Gà Thuyền ngược dòng Hoàng Long,

du khách thỏa sức ngắm nhìn cảnh trời mây, sông nước Núi Kênh gà trông xa nhưhình một con lạc đà đang đi, nơi đây có một nguồn nước suối nóng mặn, vì thế suối cótên là Kênh Gà Dòng nước từ trong núi chảy ra, trong vắt, chưa bao giờ ngừng Mạchnước này có từ lâu lắm, nhưng đến năm 1940 người Pháp mới biết tới và bắt đầunghiên cứu và đưa vào khai thác Nước khoáng Kênh gà chứa nhiều muối natriclorua,kaliclorua, canxi, magieeclorua và muối Bicacbonat, nước không màu, trong, nhiệt độ

ổn định cho quanh năm là 53ºC Nước khoáng Kênh Gà dùng để tắm hay ngâm mìnhnhiều lần sẽ khỏi các bệnh như khớp mãn tính, viêm dây thần kinh, các bệnh ngoài da

và phụ khoa Nước suối Kênh gà uống vào có tác dụng kích thích hoạt động của gan,mật, chữa bệnh bướu cổ, và dùng để bào chế thành huyết thanh tiêm tĩnh mạch

Động Vân Trình:

Trang 12

Động Vân Trình rộng gần 3.500m2, là một động lớn nhất và đẹp nhất của tỉnhNinh Bình, sánh ngang với động Thiên Cung ở Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) Độngnằm trong núi Mõ, thuộc thôn Vân Trình xã Thượng Hòa huyện Nho Quan Núi Mõ làtên gọi tượng hình của dân gian, còn tên chữ thời xưa gọi là núi Thổ Tích Theo sách

Đại Nam nhất thống chí “núi Thổ Tích cách huyện Gia Viễn 32 dặm về phía Tây,

sườn núi có động, động lại chia làm hai, động trước có khe hở ánh sáng thấu suốt,động sau rất sâu, khi vào tất phải dùng đuốc, phần này rộng rãi có thể chứa được vàitrăm người; thạch nhũ kết tụ, sắc óng ánh đáng yêu”

Động Vân Trình gồm 2 hang liền nhau, so le một cao một thấp là hang Cả vàhang Hai Trong cả hai hang đều là những nhũ đá đẹp như những “vách gấm”, nhiềukhối nhũ đá từ trên nóc động chảy xuống, có khối chạm đến nền hang, như nhữngnhánh rễ cây đa cổ thụ to lớn thả xuống mặt đất Động Vân Trình còn giữ nguyên đượcnét đẹp trinh nguyên, tinh khiết của đá Du khách đến đây không cần phải tưởng tượng

về chốn bồng lai tiên cảnh, mà chính hang đã là cảnh thần tiên hiện giữa cõi trần

Hồ Đồng Chương:

Một hồ nước trong nằm giữa hai xã Phú Lộc và Phú Long, huyện Nho Quan cótên gọi là Đồng Chương Xung quanh hồ là những dải đồi thông xanh mướt, nhấp nhô,trùng điệp vây phủ lấy mặt hồ làm cho nước hồ đã xanh lại càng thêm xanh Gần hồ cóthác Ba Tua, và dòng Chín Suối Đi thăm hồ, rồi leo đồi lên đến đỉnh du khách sẽ gặpđược một hồ nước nhỏ gọi là Ao Trời, cũng trong xanh và không lúc nào cạn nước Dukhách đến đây sẽ thấy được vẻ đẹp hòa quyện của thiên nhiên và con người nơi đây, vì

thế Đồng Chương được ví như “Đà Lạt” của Ninh Bình.

mà còn là một điểm du lịch sinh thái lý tưởng

Núi chùa Bái Đính:

Ninh Bình là địa phương có nhiều hang động nổi tiếng Trong đó, có một động

được người xưa khẳng định “Nào Địch Lộng, nào Thiên Tôn, Bàn Long, Bích Động

Trang 13

xem còn kém đây”, đó là hang động ở núi Bái Đính thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia

Viễn

Núi Bái Đính đứng độc lập, cao đến hơn 200m, có diện tích khoảng gần150.000m2, quay hướng Đông, có dáng vòng cung hai bên khép lại tựa tay ngai tạothành một thung ở dưới rộng khoảng 3ha gọi là thung Chùa Nhìn theo một góc khác,núi lại trông giống một người khổng lồ ngồi quay lưng ra biển, hai chân duỗi về phíaTây Bắc và Tây Nam Đứng từ xa nhìn lên thấy cảnh núi ẩn mây trời, mây che ấp núitạo thành một bức tranh phong cảnh sơn lâm ngoạn mục Núi Bái Đính hiện còn giữđược cái nguyên sơ của núi rừng xa xưa, cây cối tươi tốt, có nhiều cây cao to bao phủnúi non, xanh mướt một màu dịu mát

Lên thăm động, du khách phải bước lên trên 300 bậc đá Đi được nửa quãngđường là đến hang Voi Phục, trong hang đặt tượng Đức Ông mặt đỏ - người có nhiệm

vụ trông coi toàn bộ cảnh chùa Tiếp tục leo hết 300 bậc đá, phía bên tay phải là độngSáng - động thờ Phật Chiều cao của động trên 2m, dài 25m và rộng 15m, nền hangbằng phẳng Một điều rất kỳ lạ là trần hang không có các nhũ đá chảy xuống mà bằngphẳng, nhẵn lỳ Chỉ lác đác ở thành hang có nhũ đá Tương truyền, xưa kia Thiền sưNguyễn Minh Không (1065-1141) khi đến đây tìm cây thuốc đã phát hiện ra động này

Thời kỳ Cách mạng tháng 8 năm 1945, núi chùa Bái Đính là nơi hoạt động bímật của các chiến sỹ cộng sản Trong thời gian kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ,núi chùa Bái Đính là nơi ở, làm việc của công an, bộ đội, ban tôn giáo vận khu ủy…Nơi đây cũng dùng làm khu vũ khí, kho quân lương, bệnh viện… rất an toàn Ngày

18/6/1997 Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định số 1543, cấp bằng “Di tích lịch sử

văn hóa Núi Chùa Bái Đính” Hiện nay, khu vực núi chùa Bái Đính đã được UBND

tỉnh phê duyệt dự án tu bổ tôn tạo lại chùa Bái Đính thành một tổ hợp vui chơi giải trí,văn hóa tín ngưỡng tâm linh vào loại lớn của tỉnh và vùng đồng bằng Sông Hồng.Chùa Bái Đính đã được đầu tư tu bổ, tôn tạo khang trang hơn, với pho tượng Phật ngồibằng đồng nặng 150 tấn (to nhất khu vực Đông Nam á), 3 pho tượng Tam thế nặng

Trang 14

100 tấn và quả chuông đồng nặng 50 tấn Ngoài ra, còn có khu vườn tượng với 108pho tượng các vị la hán được chế tác từ đá xanh Ninh Bình Khi dự án hoàn thành, nơiđây sẽ là một trung tâm dịch vụ du lịch lịch văn hóa tín ngưỡng hấp dẫn.

Ngoài các điểm danh lam thắng cảnh trên, Ninh Bình còn có nhiều vùng cảnhquan khác có giá trị, đặc biệt là hệ thống các hang động karst nằm trải dài dọc theolãnh thổ của tỉnh Ninh Bình (đáng chú ý là khu vực huyện Yên Mô và Tam Điệp)

trong đó đáng chú ý như động Mã Tiên, động Hang Mát, động Trà Tu, động chùa

Hang, hang Dơi, hang Bụt đều là những tài nguyên du lịch có giá trị; cùng với hệ

thống các hồ thủy lợi như hồ Yên Thắng, hồ Yên Đồng bên cạnh việc cung cấp nước

cho thủy lợi, sinh hoạt còn sẽ là những điểm tài nguyên du lịch sinh thái hồ có nhiềukhả năng hấp dẫn du khách

Hệ sinh thái vùng ven biển:

Với 18 km đường bờ biển nơi có cửa sông đổ ra với sự hình thành 2 cồn nổi(Cồn Thoi và Hòn Nẹ), thảm thực vật ngập mặn đã hình thành tạo thành nơi cư trú củanhiều loài sinh vật, đặc biệt là một số loài chim di cư quý hiếm như Cò thìa… Đâycũng là một dạng tài nguyên du lịch tự nhiên có ý nghĩa đối với sự phát triển du lịchcủa Ninh Bình

3.2 Những đặc điểm văn hoá, phong tục tập quán ảnh hưởng tới phát triển ngành

du lịch của tỉnh.

Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị vật chất cũng như tinh thần do bàntay và khối óc của sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc anh em cùng chung sống ởNinh Bình sáng tạo và gìn giữ trong dòng chảy của cuộc sống Các tài nguyên này baogồm những di tích lịch sử - văn hóa, di tích lịch sử - cách mạng, các làng nghề thủcông truyền thống, những giá trị văn hóa phi vật thể như văn nghệ dân gian, lễ hội thể hiện bẳn sắc văn hóa hết sức đa dạng của nhân dân Ninh Bình và là nguồn lực thuhút khách du lịch trong và ngoài nước

3.2.1 Các di tích lịch sử - văn hóa

♦ Cố đô Hoa Lư

Cố đô Hoa Lư là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền ở nước ta, thuộc xãTrường Yên, huyện Hoa Lư, nằm trên một diện tích trải rộng khoảng 400ha

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tênnước là Đại Cồ Việt và chọn Hoa Lư là kinh đô Kinh đô Hoa Lư tồn tại 41 năm (từnăm 968 đến năm 1009) trong đó 12 năm là triều đại nhà Đinh và 29 năm kế tiếp làtriều đại nhà Tiền Lê (người đầu tiên là Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế hiệu là Lê Đại

Trang 15

Hành) Trước khi rời đô về kinh thành Thăng Long, Lý Công Uẩn lên ngôi vua tại Hoa

Lư, lấy đế hiệu là Lý Thái Tổ

Hơn ngàn năm trước, Hoa Lư là đế đô thật nguy nga, tráng lệ Những núi đồitrùng điệp xung quanh vòng đai kinh đô như tấm bình phong; sông Hoàng Long uốnkhúc và cánh đồng Hoa Lư Nho Quan, Gia Viễn mênh mông là hào sâu thiên nhiên rấtthuận lợi về mặt quân sự Khu thành Hoa Lư rộng đến 300ha Thành gồm hai khu làkhu trong và khu ngoài, thông với nhau bằng một lối đi nhỏ hẹp và hiểm trở Mỗi khugồm có nhiều vòng, nhiều tuyến nhỏ Theo truyền thuyết, cung điện được xây ở thànhngoài ở phía Đông có lối đi chính vào thành Đến năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa

Lư ra Thăng Long, từ đó kinh đô Hoa Lư trở thành cố đô Ngày nay trên nền cung điệnnăm xưa là hai ngôi đền cách nhau chừng 500m Một đền thờ Đinh Tiên Hoàng và mộtđền thờ Lê Đại Hành Về thăm lại đất Hoa Lư là dịp để chúng ta chiêm ngưỡng cáccông trình kiến trúc, những nét đẹp của toàn bộ khu di tích, ghi dấu thời kỳ mở nướchuy hoàng, độc lập, tự chủ của đất nước Đại Cồ Việt từ ngàn năm về trước

♦ Đền vua Đinh (làng Trường Yên Thượng, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư):

Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng Đền toạ lạc trên khuôn viên diện tích chừng 5 ha, thờ

vua Đinh Tiên Hoàng Đền được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 17, theo kiểu “nội công, ngoại quốc” Lớp ngoài là Ngọ môn quan (cổng ngoài) có 3 gian lợp ngói Qua

một sân ngắn vào đến lớp thứ hai là đến Nghi môn (cổng trong) 3 gian dựng bằng gỗlim kiến trúc theo 3 hàng chân cột Bốn góc ngoài của Nghi môn nội có xây bốn cột trụcao Đi hết chính đạo, qua hai cột trụ lớn là đến sân rồng Giữa sân rồng có một longsàng bằng đá xung quanh chạm nổi, dài 1,8m, rộng 1,4m Hai bên sập rồng có 2 connghê đá chầu, được tạc trên hai tảng đá xanh nguyên khối đẹp

Từ sân rồng bước lên là Bái đường 5 gian, kiến trúc độc đáo Tiếp đến là Thiêuhương, kiến trúc theo kiểu ống muống, nơi thờ tứ trụ triều đình nhà Đinh Đi hết toàThiêu hương du khách bước vào chính cung 5 gian Gian giữa thờ tượng vua Đinhđược đúc bằng đồng đặt trên bệ thờ bằng đá xanh nguyên khối Hai bên bệ đá có haicon rồng chầu bằng đá, tạc theo kiểu yên ngựa Gian bên phải thờ tượng Đinh HạngLang (ngoài), Đinh Toàn (trong) đều quay mặt về phía Bắc, là hai con thứ của vuaĐinh Tiên Hoàng Gian bên trái thờ tượng Đinh Liễn quay mặt về phía nam là contrưởng của vua Đinh Tiên Hoàng

Đền Đinh Tiên Hoàng là một kiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc gỗ

và đá của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam ở thế kỷ 17 - 19 Đền vua Đinh nằm giữa cáctán cây đại thụ, các vườn cây ăn quả, cây cảnh đan xen nhau càng tạo nên vẻ bề thế,hoành tráng tôn nghiêm của ngôi đền

Trang 16

♦ Đền vua Lê (làng Trường Yên Hạ, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư):

Đền thờ vua Lê Đại Hành cách đền vua Đinh chừng 300m Đền nằm ở làng TrườngYên Hạ nên còn gọi là đền Hạ Trước mặt đền là núi Đèn, sau lưng là núi Đìa Đền cóqui mô nhỏ hơn đền vua Đinh Qua Nghi môn ngoại (cửa ngoài) theo đường chính đạolát gạch, phía bên trái là một hòn non bộ lớn, cao 3m tượng hình chim phượng múa,

mỏ quay vào đền, hai cánh như đang bay Bên tay phải là nhà Tiền bái, ở mặt tiền cóhòn non bộ “Hổ phục” gồm gốc cây duối thân to có 9 núi, tuổi thọ trên 300 năm Bêntrái nhà Tiền bái có hòn non bộ có dáng “voi quỳ” được khắc hai chữ Hán “Bất di”.Qua Nghi môn nội (cửa trong) cũng 3 gian, theo chính đạo kiến trúc đăng đối là haivườn hoa, tiếp đó là hai dãy nhà vọng ở giữa vườn hoa bên phải có hai non bộ

“Phượng ấp”, bên trái là hòn non bộ “Long Mã” ở sân rồng gần gian giữa của Báiđường có long sàng bằng đá Đền có ba toà: toà ngoài là Bái đường; toà giữa là Thiêuhương thờ Phạm Cự Lượng (người có công với vua Lê Đại Hành) và Chính cung nơiđặt tượng vua Lê Đại Hành (gian giữa), tượng thái hậu Dương Vân Nga (bên trái) vàtượng Lê Long Đĩnh con thứ 5 của vua Lê (bên phải) Điều đặc biệt ở đền thờ vua LêĐại Hành là nghệ thuật chạm khắc gỗ ở thế kỷ 17 đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinhxảo Đền được xây dựng để tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với ông vua đã có cônglớn lao trong việc xây dựng đất nước vào thế kỷ thứ 10

♦ Nhà thờ đá Phát Diệm

Nhà thờ đá Phát Diệm (thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn): cách Hà Nội 129

km về phía Nam, được xây dựng từ năm 1875 đến năm 1898 Phát Diệm có nghĩa là phát sinh ra cái đẹp, tên Phát Diệm do Nguyễn Công Trứ đặt Nhà thờ được xây dựng với trình độ kỹ thuật và điều kiện giao thông của những năm cuối thế kỷ 19 thì chỉ việcvận chuyển hàng nghìn tấn đá, có những phiến nặng 20 tấn, hàng trăm cây gỗ lim về tới Phát Diệm để xây nhà thờ cũng là một kỳ công Kim Sơn vốn là vùng đất mới khai khẩn, trước đây rất lầy lội, để xử lý độ lún của khu đất trước khi xây dựng người ta đã chuyển cả một quả núi nhỏ cách 40km về Phát Diệm, khách về thăm nhà thờ còn thấy núi Sọ, đấy chính là một phần của trái núi đã được dân rời về Phát Diệm Đây là một quần thể kiến trúc gồm có: Ao hồ, Phương Đình, Nhà thờ lớn, Nhà nguyện kinh thánh

Rô Cô, Nhà nguyện kinh trái tim chúa, Nhà nguyện kinh thánh Giu-Se, Nhà nguyện kinh thánh Phê-Rô, ba hang đá nhân tạo, nhà thờ đá

♦ Đền Thái Vy:

Đền Thái Vy được xây dựng theo kiểu “nội công, ngoại quốc” Trước đền có giếng

Ngọc xây bằng đá xanh Qua nghi môn phía bên phải là gác chuông hai tầng, tám mái,

Trang 17

xây theo kiểu chồng diêm Gác chuông làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, các đầuđao cong vút như đuôi chim phượng Bên hông có quả chuông đúc năm 1698 Từ sânrồng bước theo các bậc đá có độ cao 1,2m là đến Ngũ Đại môn (5 cửa lớn), có 6 cột đátròn song song đều được chạm khắc nổi chầu và chính điện Qua 5 cửa lớn là đến BáiĐường 5 gian uy nghi cũng có 6 cột đá vuông chạm khắc câu đối ở mặt ngoài, các mặtkhác chạm khắc nổi: long, ly, quy, phượng, cá chép hoá long Tiếp theo 4 hàng cột,đều được chạm khắc nổi long vân Qua Trung đường vào 5 gian Chính tẩm cũng có 8cột đá tròn được chạm khắc nổi: cầm, kỳ, thi, họa Trong cung khám của Chính Tẩmgiữa là tượng Trần Thánh Tông, bên trái là tượng Trần Thái Tông, bên phải là tượnghoàng hậu Thuận Thiên Ngoài ra, trong Chính Tẩm còn phối thờ Trần Nhân Tông (bài

vị thờ), Trần Anh Tông

Hàng năm cứ đến ngày 14 tháng 3 (âm lịch), lễ hội đền Thái Vy được tổ chức,gọi là quốc lễ Đây là dịp để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ cônglao các vua Trần - những người có công lớn với dân, với nước Hình thức tổ chức lễhội gồm hai phần: phần lễ và phần hội Phần lễ được tiến hành hai hình thức: rước kiệu

và tế Phần hội ở đền Thái Vy thực sự là phần vui chơi giải trí của nhân dân và nhữngngười đến dự với các trò múa lân, múa rồng, đánh cờ người, đấu vật, bơi thuyền

Di lặc bằng đồng cao 6 trượng, được coi là một trong “An Nam tứ đại khí” (Bốn báuvật lớn của Việt Nam) Không chỉ là một nhà tu hành lớn, Nguyễn Minh Không còn làmột danh y Tương truyền, khi vua Lý Thần Tông mắc trọng bệnh, Ngài được mời vềcung chữa trị cho vua khỏi bệnh và được vua ban cho hiệu “Quốc sư”, từ đó ngài đượcgọi là “Lý Quốc sư” Nguyễn Minh Không còn được suy tôn là ông tổ của nghề đúcđồng Vua Lý Anh Tông (1138-1175) cho lập đền thờ ở Kinh đô (phố Lý Quốc Sưngày nay); Ngài còn được thờ ở chùa Keo xã Xuân Hồng huyện Giao Thủy Nam Định;chùa Địch Lộng xã Gia Thanh huyện Gia Viễn Ninh Bình và ở nhiều chùa ở các nơikhác trong cả nước và được tôn là Bậc Thánh

Trang 18

Đền đức Thánh Nguyễn vốn là một ngôi chùa nhỏ do chính ông xây dựng vàokhoảng năm 1121 Đền được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc trên một khu đấtrộng gần 2 mẫu Đền quay hướng Nam, trước đền có một con ngòi hình rồng chínkhúc (một nhánh của sông Hoàng Long), xa hơn nữa là sông Hoàng Long, rồi đến cácdãy núi phía Tây Nam có núi Rồng, núi Rắn, núi Phượng, núi Voi, núi Đính Bài vịcủa đức Thánh Nguyễn được thờ ở gian giữa của Chính Tẩm, phía sau bài vị là báthương và tượng Thánh ở tuổi 40 ngồi xếp bằng trong tư thế thiền định.

3.2.2 Các lễ hội

Với lịch sử hình thành lâu đời, là nơi sinh sống của một số dân tộc thiểu số như Mường, Tày, Nùng, Thái, Dao…, lại có truyền thống đấu tranh anh dũng, cần cù lao động, chất phác, thật thà đã tạo nên một sắc thái văn hóa đặc trưng riêng có của Ninh Bình Các lễ hội như lễ hội Trường Yên, lễ hội đền Thái Vi, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Nguyễn Công Trứ…, các làng nghề truyền thống như làng thêu ren Ninh Hải, làng nghề chiếu cói Kim Sơn, làng chạm khắc đá Ninh Vân… góp phần tạo nên một

hệ thống tài nguyên du lịch văn hóa hấp dẫn, có giá trị để phát triển du lịch

* Lễ hội Trường Yên: Hội được tổ chức vào ngày mồng 10 đến 13 tháng 3 âm

lịch hàng năm tại xã Trường Yên, Huyện Hoa Lư (Cố đô Hoa Lư) để tưởng nhớ công

đức vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành, bao gồm hai phần lễ và hội Phần Lễ

Tổ chức rước nước ở bến Trường Yên (sông Hoàng Long) và được tổ chức tế lễ rất

trang nghiêm ở hai đền vua Đinh và vua Lê Phần Hội: Tổ chức diễn trò “Cờ lau tập

trận”, thi viết chữ nho, cờ tướng, múa rồng, kéo chữ Mùa xuân trẩy hội Trường Yêncũng là dịp du khách đi thăm di tích đền vua Đinh, đền vua Lê, thăm lăng vua Đinhtrên đỉnh núi Mã Yên, độ cao khoảng 150m, tưởng nhớ về nguồn cội, tổ tiên - mộtvùng đất “địa linh nhân kiệt”

* Lễ hội đền Thái Vi: Hội được tổ chức hàng năm từ ngày 14 đến ngày 17

tháng 3 âm lịch tại thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư Đây là dịp để nhân dânNinh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ công lao các vua Trần - những người có

công lớn với dân với nước Phần Lễ được tiến hành dưới hai hình thức: rước kiệu và

tế Rước kiệu ở đền Thái Vi không chỉ có một đoàn, mà là trên 30 đoàn của các xãtrong huyện Hoa Lư và trong tỉnh Ninh Bình Sau phần rước kiệu là đến phần tế Tế là

nghi lễ quan trọng được tổ chức trước đền Phần Hội ở đền Thái Vi thực sự là phần

vui chơi giải trí của nhân dân và những người đến dự hội, gồm các trò: múa lân, múarồng, đánh cờ người, đấu vật, bơi thuyền ngoạn mục

* Lễ hội đền Địch Lộng: Lễ hội được tổ chức vào hai ngày: mùng 6 và mùng 7 tháng 3 (âm lịch) tại chùa Địch Lộng thuộc huyện Gia Thanh, huyện Gia Viễn Phần

Trang 19

Lễ tổ chức dâng hương và lễ Phật theo nghi thức nhà Phật Phần Hội cũng tổ chức các

trò chơi dân gian như: múa lân, múa rồng, cờ tướng, thi viết chữ nho

* Lễ hội chùa Bái Đính: được tổ chức vào ngày mồng 6 tháng giêng hàng năm

tại thôn Sinh Dược xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn Cũng như các lễ hội khác, hội gồm

có hai phần là phần lễ và phần hội Phần Lễ thường tổ chức dâng hương, tưởng nhớ các vị anh hùng có công với nước với dân Phần Hội kéo dài từ 3 đến 5 ngày, tổ chức

các trò chơi dân gian như: đánh cờ, đấu vật

* Lễ hội Báo bản Nộn Khê: Lễ hội được tổ chức vào ngày 14 tháng giêng (âm lịch) hàng năm tại đình làng Nộn Khê, xã Yên Từ, huyện Yên Mô Phần Lễ ngoài việc

tổ chức tế, dâng hương tôn vinh công đức của các vị tiền bối lập ra làng xã, còn dânghương tưởng nhớ, tỏ lòng biết ơn các liệt sỹ là con em của làng Một nét độc đáo của

lễ hội Báo bản là kính báo lên Thành Hoàng, các bậc tiên tổ về sự thành đạt, hiếu học

của con em dân làng và những thành tích của làng đã đạt được trong năm cũ Phần

Hội cũng có những trò vui chơi giải trí như các lễ hội khác.

* Lễ hội đền Nguyễn Công Trứ: tổ chức vào 3 ngày, từ ngày 13 đến ngày 15

tháng 11 (âm lịch) tại đền Nguyễn Công Trứ thuộc xã Quang Thiện, huyện Kim Sơn.Ngày 13 tế yết cáo, ngày 14 tế chính kỵ, ngày 15 tế tạ Hình thức tế theo phong tục tế

lễ như các lễ hội khác Phần Hội có các trò dân gian như: múa lân, đấu vật, thi bơi trải

trên sông Ân

3.2.3 Các làng nghề truyền thống

* Thêu ren Ninh Hải : Tương truyền, từ năm 1285, khi vua Trần Thái Tông tròn 40

tuổi, nhường ngôi cho con lên làm Thái Thượng Hoàng đã về vùng núi Vũ Lâm tu hành (xãNinh Hải, huyện Hoa Lư), bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ theo triều đình nhàTrần về đây đã truyền dạy cho nhân dân thôn Văn Lâm nghề thêu ren Như thế, nghề này đếnnay đã có trên 700 năm

Hiện nay ở Ninh Hải, gia đình nào cũng có nhiều loại khung thêu, có khung to bằng cảchiếc chiếu nằm, có khung nhỏ chỉ bằng bàn tay Bằng những sợi chỉ mảnh mai, cùng nhữngmiếng vải rộng, hẹp, đủ mọi mầu sắc, với đôi bàn tay khéo léo, người thêu ren đã tạo nênnhững tác phẩm nghệ thuật Đường nét thêu ren rất tinh xảo, uyển chuyển, mềm mại, thanh tú,nhưng lại sống động, mịn màng như những nét vẽ Sản phẩm thêu ren rất phong phú: ga trảigiường, rèm cửa, gối, khăn bàn, tranh, ảnh

* Mỹ nghệ cói Kim Sơn: Cây cói xuất hiện ở Kim Sơn mới gần 2 thế kỷ nhưng

đã có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế của huyện Người dân Kim Sơn đãdùng cây cói làm nhiều sản phẩm như: chiếu, thảm, làn, khay, hộp, đĩa, cốc, tách, túixách, mũ Đặc biệt, khi nói đến nghề mỹ nghệ cói cở Kim Sơn phải nói đến nghề dệtchiếu Dệt chiếu là cả một quá trình lao động sáng tạo, vất vả, thận trọng từ khâu chọn

Trang 20

cói, phơi cói, nhuộm cói sao cho đỏ tươi và bền mầu, sợi đay dệt phải nhỏ và bền, đếnkhâu đan dệt cải hoa của chiếu Người cải hoa phải nhanh, uyển chuyển, mềm mại,mắt phải tinh, tay phải chính xác, thuộc từng nét cải để không đan lỗi Người tạo cóiphải nhanh, đặc biệt là phải nhịp nhàng theo người dệt Sự hài hoà, ăn ý giữa người laocói và dệt chiếu phải cẩn thận, trau chuốt, tỷ mỉ.

* Chạm khắc đá Ninh Vân: Nói đến xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, nhân dân cả

nước đều biết đến nghề cổ truyền chạm khắc đá Từ những hòn đá sù sì, qua bàn tay của người thợ đã thành những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo Sản phẩm đá gồm các loại: tượng, chim thú, bể cảnh, bia, thống, chậu hoa, bàn, ghế, sập, hương án, ngai, cầu, cổng, ngưỡng cửa, xà nhà Ngoài ra còn có các mặt hàng thủ công mỹ nghệ và những đồ vật bằng đá như: bộ ấm trà, gạt tàn thuốc lá, khóm trúc, bé cưỡi trâu, đĩa, bát, tranh ảnh Tất cả đều được chạm khắc tinh tế, sống động, đường nét tao nhã, uyển chuyển, mềm mại, dường như có phép lạ ở đôi bàn tay và khối óc của các nghệ nhân

3.2.4 Ẩm thực

Bên cạnh những món ăn của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ, ẩm thực NinhBình có đặc trưng riêng Đó là:

* Tái dê Hoa Lư: Huyện Hoa Lư có những dãy núi đá vôi nên dê thường sống

trên đó rất nhiều Người ta bắt dê núi về làm lông, thui vàng, mổ ra ướp với lá hươngnhu hoặc lá cúc tần hơn chục phút, rồi lọc lấy thịt (để cả da) đem nhúng vào nước sôicho chín tái, sau đó thái nhỏ, mỏng đều (thái ngang xớ) Lấy vừng đã rang giã dập, sảthái nhỏ, lá chanh, gừng, ớt tươi thái nhỏ, nước chanh, bột ngọt đổ vào thịt dê tái đãthái, tất cả trộn đều là thành tái dê Ăn tái dê phải kèm theo lá sung, chuối xanh, khế, lá

mơ và không thể thiếu tương gừng để chấm Có thêm chén rượu Lai Thành để uống thìquả là điều thú vị

* Nhất hưởng thiên kim (cơm cháy): Cơm cháy được làm từ cơm đã nấu chín,

dàn mỏng ra thành hình tròn, để cho nguội và khô, rồi bỏ vào chảo dầu rán cho đến khigiòn vàng lấy ra bẻ thành từng tảng nhỏ để vào bát to Thịt bò thăn thái lát, tim cật lợnthái mỏng, ướp gia vị cùng với cà chua, cà rốt, hành tây, nấm hương trộn đều, xào chochín, rồi đổ vào bát cơm cháy Cơm cháy kêu xèo xèo, bốc khói, toả mùi thơm Nhaicơm cháy giòn tơi, chứa nhiều hương vị của món ăn thập cẩm nóng sốt, đậm đà, khôngbao giờ quên được

Trang 21

* Nem Yên Mạc (Yên Mô): Nem chua Yên Mạc có từ lâu lắm rồi, nhưng hiện

nay ở Yên Mạc số người làm được loại nem đặc biệt này không nhiều, bởi ngoài bíquyết nhà nghề đòi hỏi phải có niềm đam mê, yêu nghề Quy trình chế biến phải tuânthủ nghiêm ngặt: nem làm ra bảo đảm phải sạch, thơm ngon, mầu sắc tươi, sợi tháiphải đều, để hàng tuần vẫn dùng được và không bị biến chất Nem Yên Mạc sau thờigian ủ men là ăn được ngay, để từ 5 đến 7 ngày mở ra sắc vẫn hồng, hương vị thơm vàngọt Dù ăn ngay hay để lâu, khi gỡ nem ra vẫn rời, tơi cho lên đĩa gắp từng dúm nhỏ,lấy lá ổi tầu, lá sung, cùng rau thơm cuộn lại, chấm với nước mắm chanh, tỏi giã nhỏthêm ớt hoặc hạt tiêu người ăn sẽ cảm nhận đủ vị ngọt, cay, thơm lan toả khắp cơ thể

* Rượu Lai Thành: Lai Thành là miền quê nằm ở cực Nam huyện Kim Sơn, có

nhiều đặc sản như gạo tám xoan, dự hương, nếp mùa, nếp hoa cau, chiếu cải Nhưng nổi tiếng hơn cả vẫn là thứ rượu được chưng cất từ gạo trồng trên chính đất này Hạt gạo tròn, thơm, vỡ ra trắng như mầu sữa, thoang thoảng một vị hương dịu ngọt Mỗi năm, người Lai Thành đều giành một phần quỹ đất để trồng thứ lúa nếp truyền thống

đó Lúa nếp gặt về, phơi khô, sàng sẩy thật kỹ đưa vào chum bảo quản để nấu rượu ở đây đã có nhiều gia đình hàng chục đời theo nghề nấu rượu, có vài tộc họ chuyên làm men rượu và họ có những bí quyết riêng, nên men của họ dù có để hàng năm vẫn thơm

và khô Để có một loại men quý họ còn dùng cả một vài thứ dược liệu có tác dụng lưu thông khí huyết, diệt khuẩn, nên rượu Lai Thành, khi nấu ra càng để lâu rượu uống càng ngon, càng chắc

Qua những đặc điểm kể trên ta thấy, khách đến với Ninh Bình sẽ được thăm các di tích lịch sử văn hóa, chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên rừng núi trùng điệp các dãy núi đá vôi và hệ thống các hang động karst huyền bí kỳ ảo, thăm vường quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn đất ngập nước đồng bằng Vân Long, tìm hiểu nét văn hóa của cộng đồng các dân tộc anh em, tham gia vào các sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống của nhân dân địa phương và thưởng thức các món ăn đặc sản của vùng đất Ninh Bình Đây có thể coi là nguồn tài nguyên du lịch vô tận của Ninh Bình trong sự nghiệp phát triển du lịch.

4 Đánh giá chung về tiềm năng, nguồn lực phát triển du lịch

Trang 22

sinh thái, du lịch văn hóa - tín ngưỡng tâm linh… Các di tích danh thắng như VQGCúc Phương, khu du lịch sinh thái Tràng An, khu Tam Cốc-Bích Động, khu suốikhoáng Kênh Gà-Vân Trình, khu BTTN đất ngập nước Vân Long, hệ thống các hangđộng karst như động Tiên, động bà chúa Mát, cảnh quan các vùng hồ thủy lợi… đều

có sức hấp dẫn đối với du khách

- Với vị trí thuận lợi trong giao thông, trên địa bàn tỉnh Ninh Bình có cảđường sắt và đường bộ chạy qua thuộc hệ thống đường giao thông huyết mạch xuyênsuốt Bắc-Nam, có đường Hồ Chí Minh chạy qua…, nếu biết liên kết với các tỉnh,thành phố lớn thuộc vùng đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây) và cáctỉnh thuộc miền núi Tây Bắc và Trung Bộ, Nam Bộ thì sẽ tạo được những tuyến dulịch hấp dẫn, có khả năng đón tiếp cả khách du lịch nội địa lẫn quốc tế

- Một trong những yếu tố tạo nên sự độc đáo của du lịch Ninh Bình đó là sựtồn tại của một hệ thống núi đá vôi Karst già với diện tích hàng ngàn ha tập trung ởkhu vực phía Bắc và Tây Bắc của tỉnh Nhiều du khách trong và ngoài nước khi đến

thăm Ninh Bình đã ví nơi đây như là “Hạ Long cạn”, đó là quần thể núi đá vôi tại cố

đô Hoa Lư, Tam Cốc-Bích Động, và gần đây là khu vực Kênh Gà-Vân Trình, khu bảotồn đất ngập nước Vân Long, khu du lịch sinh thái Tràng An… Ngoài ra, khu vực núi

đá vôi Trường Yên, khu vực thị xã Tam Điệp huyện Yên Mô, cũng là những vùngcảnh quan đẹp có giá trị cho phát triển du lịch Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác cácnguồn tài nguyên tự nhiên để phát triển kinh tế xã hội ở Ninh Bình, đặc biệt là khaithác tài nguyên núi đá vôi cho phát triển công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng đã vàđang đe dọa đến tài nguyên, môi trường du lịch

4.2.Những hạn chế và nguyên nhân:

- Các tài nguyên du lịch của Ninh Bình phần lớn vẫn ở dạng tiềm năng, một số

đã được quan tâm nhưng vẫn ở dưới dạng quy hoạch mà chưa triển khai thành các dự ánđầu tư cụ thể, hoặc đã lập dự án đầu tư nhưng công tác triển khai còn chậm… nên chưathể biến tiềm năng thành những sản phẩm du lịch

- Là một địa phương nằm trong vùng Bắc Bộ, hoạt động của du lịch Ninh Bình mang tính “mùa vụ” rất rõ nét do chịu ảnh hưởng sâu sắc của đặc điểm khí hậu á nhiệt đới ở khu vực phía Bắc bên cạnh những ảnh hưởng khác mang tính xã hội như

“mùa” lễ hội; “mùa” nghỉ hè của học sinh, sinh viên; “mùa” du lịch của khách du lịch quốc tế, đặc biệt từ các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Đại dương

- Một số tai biến tự nhiên bất lợi như lũ quét, bão lụt, úng ngập… cùng nhữngtác động tiêu cực của con người như phá rừng, khai thác vật liệu xây dựng bừa bãi…

Trang 23

cũng gây ra những cản trở không nhỏ đối với công tác gìn giữ và khai thác tài nguyên dulịch, một số vùng cảnh quan đã bị ô nhiễm và xuống cấp.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch (cấp thoát nước, cấp điện, bưu chínhviễn thông…) tuy thời gian gần đây đã được chú trọng đầu tư nhưng nhìn chung vẫnchưa đáp ứng được yêu cầu; một số khu vực vẫn chưa được cấp nước sạch sinh hoạt,một số khu vực chưa có sóng di động… Hệ thống dịch vụ y tế, bảo hiểm, ngân hàng…chưa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch

- Trình độ dân trí còn thấp, nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ quản lý và kinhdoanh còn thiếu, lao động nhàn rỗi thiếu việc làm còn nhiều

II Tình hình đầu tư phát triển Ngành Du lịch Ninh Bình giai đoạn 2006-2009 1.Thực trạng đầu tư vào cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành Du lịch Tỉnh Ninh Bình

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường không mang lại những lợi ích kinh tế cụ thể

hay thời gian thu được lợi nhuận là rất dài, đồng thời đây là lĩnh vực yêu cầu nguồnvốn khá lớn Chính vì vậy các nhà đầu tư thường không đủ khả năng hoặc không mongmuốn đầu tư vào lĩnh vực này Nhưng cơ sở hạ tầng lại là yếu tố tiên quyết để pháttriển kinh tế - xã hội Vậy để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Nhànước có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn vốn Trong thời gian qua,những công trình lớn, trọng điểm đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường là do Nhà nước đầu

tư Sự hỗ trợ từ ngân sách, kết hợp cả nguồn vốn địa phương và nguồn vốn đầu tư pháttriển hạ tầng du lịch của Trung ương thật sự là “xúc tác” góp phần quan trọng trongviệc tạo ra môi trường thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế.Tỉnh Ninh Bình có nguồn tài nguyên du lịch phong phú nhưng với ngân sách địaphương eo hẹp nên những năm trước đây đã không cho phép tỉnh đầu tư phát triểntrong lĩnh vực này Từ năm 2000 đến nay, với nguồn vốn hỗ trợ của Ngân sách TrungƯơng nhiều dự án đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ chiến lược phát triển du lịch đã đượctriển khai

 Năm 2004, Chính phủ tiếp tục hỗ trợ 500 tỷ đồng vốn ngân sách cho đầu tư cơ

sở hạ tầng du lịch (tổng số vốn được cấp 4 năm 2001-2004 là 1.596 tỷ đồng), trong đó hơn 70% vốn đầu tư vào các địa phương có khu du lịch Quốc gia Nguồn vốn trên đã được các địa phương triển khai nghiêm túc, có hiệu quả, làm "mồi" thu hút các nguồn vốn đầu tư khác trong nước và ngoài nước Năm 2004, có 18 dự án đầu tư nước ngoài(FDI) vào lĩnh vực du lịch, với tổng số vốn đăng ký đạt trên 110 triệu USD; nguồn vốn ODA chủ yếu tập trung vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực (Dự án EU, Dự án VIE

Trang 24

015), xây dựng Luật Du lịch và phát triển du lịch cộng đồng Các dự án đào tạo nguồn nhân lực do EU tài trợ với số vốn 11,8 triệu EURO, Dự án "Phát triển du lịch Mêkong" vay của ADB, dự án đào tạo nghiệp vụ Khách sạn do Luxembourg tài trợ đã được triển khai

 Năm 2006, toàn Tỉnh có 5 dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng được chuyển tiếp từnăm trước vào các khu du lịch với tổng mức đầu tư là 2.879,378 tỷ đồng ( từ nguồnvốn ngân sách TW và ngân sách địa phương) Bao gồm các dự án:

- Dự án đầu tư xây dựng phát triển tôn tạo, nâng cấp CSHT khu du lịch TamCốc- Bích Động: tổng mức đầu tư là 199,850 tỷ đồng

- Dự án đường lang nghề truyền thống ( Ninh Thắng, Ninh Hải, Ninh Xuân,Ninh Vân): tổng mức đầu tư là 18,965 tỷ đồng

- Dự án nạo vét tuyến giao thông đường thuỷ Bích Động- hang Bụt, ThạchBích- thung Nắng với tổng mức đầu tư là 50,8 tỷ đồng

- Dự án khu du lịch Tràng An, diện tích 1961 ha Đây là là dự án đầu tưCSHT trọng điểm của tỉnh với tổng mức vốn là 2.572,243 tỷ đồng

- Đầu tư vào CSHT khu du lịch sinh thái Vân Long với tổng số vốn đầu tư là37.520 tỷ đồng

Năm 2007 không có dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng mới, 5 dự án chuyểntiếp từ năm trước với tổng số vốn kế hoạch được giao là 399 tỷ đồng ( 100% từ nguồnvốn ngân sách TW)

Năm 2008, cơ sở hạ tầng của du lịch Ninh Bình đã được đầu tư 913,2546 tỷđồng tập trung vào 11 dự án, bằng 29,1% tổng mức đầu tư đã được duyệt Trong đóvốn đầu tư từ Ngân sách Trung ương là 908,9196 tỷ đồng, riêng khu du lịch Tràng Anđược xác định là điểm nhấn quan trọng để thu hút khách du lịch đến Ninh Bình

Năm 2009,cơ sở hạ tầng của du lịch Ninh Bình đã được đầu tư là 1.395.124,6

tỷ đồng tập trung vào 9 dự án,bằng 40% tổng mức đầu tư đã được duyệt

Theo kế hoạch, trong năm 2010 các doanh nghiệp sẽ phấn đấu đầu tư cơ sở vậtchất, hạ tầng kỹ thuật du lịch trên 1.557 tỷ đồng Tập trung vào những hạng mục củaKhu du lịch sinh thái Tràng An, Bái Đính, Tam Cốc - Bích Động, Thạch Bích - ThungNắng, Khu tắm ngâm Kênh Gà, Khu liên hiệp thể thao sân golf 54 lỗ hồ Yên Thắng…Các công trình kiến trúc văn hoá được chú trọng xây dựng, trùng tu, tôn tạo, bảo tồnnhư vùng bảo vệ đặc biệt Cố đô Hoa Lư, Quảng trường tượng đài Đinh Tiên Hoàng

Đế, xây dựng quảng trường sân lễ hội trước đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê

Trang 25

Đại Hành Cùng với đó Tỉnh phối hợp với Viện Kiến trúc nhiệt đới – Trường Đại họcKiến trúc Hà Nội từng bước hoàn chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch NinhBình giai đoạn 2007 – 2015, có một số khu du lịch đã quy hoạch đến năm 2020 Cácbản quy hoạch của từng vùng du lịch được công bố công khai để từng người dân đượcbiết, từ đó họ ý thức hơn về làm du lịch, đây cũng là điều kiện thuận lợi để tiến đến xãhội hóa du lịch Trong những năm qua, Tỉnh đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu

du lịch Những khu du lịch trọng điểm của Ninh Bình được ưu tiên vốn đầu tư, đanggấp rút xây dựng và hoàn thành xong phần cơ bản về hạ tầng, bắt đầu tiến hành khaithác như khu Tam Cốc – Bích Động, Tràng An, núi chùa Bái Đính, nước nóng Kênh

Gà Các dự án khác như: Cơ sở hạ tầng tuyến du lịch đường thủy Bích Động- HangBụt, Thạch Bích- Thung Nắng, cơ sở hạ tầng Khu du lịch các làng nghề truyền thốngcũng đang được gấp rút hoàn thiện để đưa vào khai thác

Bảng 2.1 Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ 2002-2009

Đơn vị: Triệu đồng

thực hiện

Dự toán được duyệt

Vốn giải ngân đến 31/12/2008

1 XD Trụ sở làm việc của Sở Du lịch 2005-2006 5.181,6 4,185.20

3 Bổ sung Qui hoạch Khu DL Tam Cốc

1.Khu du lịch Kênh Gà, Vân Trình, Vân Long 2002-2007 43.289 21.300,6

Trang 26

Cơ sở hạ tầng được đầu tư cải thiện là đệm phóng cho những dự án đầu tư củakhu vực tư nhân Những năm gần đây, các doanh nghiệp trong Tỉnh cũng như ở trongnước đang liên tiếp đăng kí đầu tư Hiện nay, các dự án đang được triển khai thực hiệnđầu tư theo đúng tiến độ đã phê duyệt Nhiều hạng mục công trình của các dự án đãđưa vào khai thác, sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả

2 Đầu tư kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Đầu tư phát triển CSHT sẽ có tác động rất lớn đến sự phát triển du lịch NinhBình Nó chính là nền tảng ,bước đệm để thu hút đầu tư của các nhà đầu tư trong nướccũng như các nhà đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó vốn đầu tư kinh doanh du lịch cũngđóng vai trò quan trọng không kém nó tác động trực tiếp đến kết quả của ngành Dulịch nói riêng và toàn bộ nền kinh tế Ninh Bình nói chung

Năm 2005, có 5 dự án được cấp phép đầu tư vào hoạt động Du lịch,với tổngvốn đầu tư là 1.020,387 tỷ đồng:

- Dự án đầu tư xây dựng khu du lịch Tràng An của doanh nghiệp xây dựng XuânTrường, tổng mức vốn là 630,937 tỷ đồng

- Dự án đầu tư khu du lịch sinh thái Vân Long của công ty TNHH Thương mại vàvận tải Hoàng Gia- Hà Nội , tổng mức đầu tư là 18,4 tỷ đồng

- Dự án khu văn phòng siêu thị, khách sạn cao tầng địa điểm tại phường TânThành, TXNB của công ty TNHH Đầu tư phát triển Thương mại sản xuất Hoàng Phát,tổng mức đầu tư là 199 tỷ đồng

- Dự án mở rộng cơ sở du lịch Vân Long của công ty TNHH Thảo Sơn với tổngmức 22,25 tỷ đồng

- Dự án khu giao lưu nghỉ dưỡng Vân Long của công ty Cổ phần bất đông sảnHợp Phát – Hà Nội với tổng vốn 149,8 tỷ đồng

- Dự án xây dựng sân gôlf Gia Sinh của công ty Hwasung Spa Co.LTD HànQuốc, tổng vốn đầu tư là 9,5 triệu USD ( 100% vốn nước ngoài)

- Dự án của tập đoàn đầu tư Việt Nam Hotel, Prọiect BT vớ tổng vốn đầu tư là 5triệu USD đầu tư tại xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư (100% vốn nước ngoài)

Năm 2006 Tỉnh đã chấp thuận cho 18 dự án vào kinh doanh du lịch với tổngvốn là 2.245,572 tỷ đồng Riêng các dự án được chấp thuận năm 2005-2006 với tổngmức vốn đầu tư là: 1.060,387 tỷ đồng

Năm 2007 Tỉnh đã chấp thuận cho 25 dự án vào kinh doanh du lịch với tổngvốn là 2.929 tỷ đồng Riêng các dự án dược chấp thuận 2007 là 610,347 tỷ đồng, dựkiến kế hoạch năm 2008 là 392,63 tỷ đồng, khối lượng thực hiện là 422 tỷ đồng đạt107% kế hoạch năm 2007

Trang 27

Năm 2008 tỉnh đã chấp thuận cho 36 dự án đầu tư vào kinh doanh du lịch vớitổng số vốn là: 6.576,756 tỷ đồng Riêng năm 2008 có 8 dự án được chấp thuận đầu tưvới tổng số vốn là: 4.055,324 tỷ đồng Thực hiện năm 2008 so với năm 2007 là 142%.Hiện các dự án đang triển khai thực hiện đầu tư theo tiến độ đã được phê duyệt Nhìnchung các dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kinh doanh phát triển du lịch thực hiện

cơ bản đúng tiến độ đã được phê duyệt Nhiều hạng mục công trình của các dự án đãđưa vào khai thác sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả Tuy nhiên vẫn còn một số

dự án tiến độ đầu tư còn chậm như: dự án Làng quần thể du lịch Ninh Bình

Đến hết ngày 31/12/2009 UBND Tỉnh Ninh Bình đã chấp thuận 43 dự án trongnước kinh doanh dịch vụ với tổng số vốn là 8.005,343 tỷ đồng ( trong đó có 34 dự án

tư nhân) và 2 dự án 100% vốn nước ngoài Trong những năm gần đây, đầu tư tronglĩnh vực này tăng lên nhanh chóng cả về số dự án và vốn đầu tư Năm 2008 có 6 dự ánđầu tư được chấp thuận đầu tư với tổng mức vốn đầu tư là 610,347 tỷ đồng Năm

2009, đã có 8 dự án lớn được chấp thuận với tổng số vốn đầu tư là 4.055 tỷ đồng

Hiện các dự án đang triển khai thực hiện đầu tư theo tiến độ đã được phê duyệt.Nhìn chung các dự án đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kinh doanh phát triển du lịch thựchiện cơ bản đúng tiến độ đã được phê duyệt Nhiều hạng mục công trình của các dự án

đã đưa vào khai thác sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả Kế hoạch đầu tư cơ sở vậtchất kỹ thuật năm 2010 các doanh nghiệp phấn đấu đầu tư là 1.157,406 tỷ đồng

Bảng 2.3 Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư kinh doanh du lịch tính đến 31/12/2009

Đơn vị: triệu đồng

nhân

Vốn Ngân sách

Tổng vốn đầu tư

1 Khu DL Kênh Gà, Vân Trình, Vân Long 1.674.017 43.289 1.717.306

6 Khu DL Trung tâm thành phố Ninh Bình 973.160 1.937.000 2.487.092

7 Khu DL Tam Cốc Bích Động, Tràng An 544.000 4.142.257 4.781.854

Tổng vốn đầu tư vào DL của Tỉnh 4.939.789 6.159.165 10.807.483

Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du Lịch Ninh Bình

Trang 28

Đặc biệt là các dự án lớn đều tập trung vào các khu du lịch trọng điểm như:

♦ Khu trung tâm liên hợp du lịch và thể thao sân golf 54 lỗ Hồ Yên Thắng ( huyện Yên

Mô và Thị xã Tam Điệp), trên diện tích 670 ha, với tổng vốn đầu tư 1.757 tỷ đồng, giaiđoạn 1 là 495,6 tỷ đồng

♦ Dự án Ninh Bình Anna Mandara Resort có diện tích 16 ha do công ty Cổ phần dulịch Tân Phú đầu tư với tổng vốn đầu tư là 255 tỷ đồng ( tại khu du lịch Vân Long,huyện Gia Viễn)

♦ Dự án Suối nước khoáng Kênh Gà- huyện Gia Viễn, tổng vốn đầu tư 11 tỷ đồng (tạituyến du lịch Kênh Gà – Vân Trình)

♦ Dự án Khách sạn và văn hóa Cung đình Vân Long, do công ty TNHH Thảo Sơn đầu

tư với tổng vốn đầu tư 27 tỷ đồng ( tại Vân Long, Gia Viễn)

Trong đó phải kể đến 2 dự án FDI:

♦ Dự án khu du lịch sinh thái Đông Phương Sư ( 100% vốn của Đài Loan), tổng vốnđầu tư là 32 triệu USD ( tại Vân Long, Gia Viễn)

♦ Làng quần thể du lịch Ninh Bình, cụm biệt thự bằng đá ( tại khu Tam Cốc- BíchĐộng, huyện Hoa Lư) do tập đoàn Hotel Project BV – Hà Lan đầu tư với tổng số vốn2,35 triệu USD

3 Đầu tư xúc tiến, quảng bá du lịch

Từ năm 2000, Sở Văn hóa – Thể thao - Du lịch ( mà dưới đây gọi tắt là Sở Dulịch) đã tham mưu cho UBND Tỉnh thành lập Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch và xâydựng qui chế, chương trình hành động về du lịch giai đoạn 2001-2005 làm cơ sở choviệc đầu tư, phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Cũng trong năm 2000, Sở đã tổ chứccác lớp học tập, nghiên cứu về du lịch, tổ chức đi khảo sát và học tập kinh nghiệm thực

tế tại các tỉnh miền Trung và miền Nam, tham gia triển lãm gian hàng hội xuân Du lịch– Văn hóa Việt Nam tại Vân Hồ - Hà Nội và đã đạt được giải ba toàn quốc; phối hợpvới các ban ngành trong tỉnh tổ chức thành công Lễ hội Trường Yên 2000

Trong khuôn khổ chương trình hành động về du lịch của Tỉnh, năm 2002, Sở

Du lịch Ninh Bình đã chính thức đưa trung tâm xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch đivào hoạt động và bước đầu đạt được kết quả tốt Đơn vị này đã phối hợp với các doanhnghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh tích cực triển khai thực hiện các chương trình quảng

bá, xúc tiến hình ảnh du lịch Ninh Bình Tổ chức thành công hội thi “ Nấu các món ăndân tộc Việt Nam ngành du lịch Ninh Bình – 2002”, phát động chương trình Báo chíviết về du lịch Ninh Bình và đã thu hút được nhiều tầng lớp dân cư tham gia

Nhận thức được tầm quan trọng của xúc tiến quảng bá những năm qua, ngành

du lịch đã tích cực tuyên truyền quảng bá, giới thiệu sản phẩm du lịch Ninh Bình trêncác phương tiện thông tin đại chúng ( Internet, báo, đài truyền hình ), hội thảo, hội

Trang 29

nghị, hộichợ, lễ hội , xuất bản hàng vạn ấn phẩm quảng bá: sách, tập gấp, tập tin,băng đĩa hình , bản đồ hướng dẫn du lịch, các panô tấm lớn quảng bá du lịch ở cácđiểm nút giao thông quan trọng ra vào Tỉnh

Năm 2005 Sở du lịch đã phối hợp với Ban Tuyên Truyền đối ngoại VTV4 –Đài truyền hình Việt Nam xây dựng bộ phim

“ Du lịch Ninh Bình thức dậy tiềm năng”; Hợp tác với nhà Xuất Bản Thế Giới xâydựng sa bàn du lịch điện tử sử dụng công nghệ 3D với nhiều lớp giao diện, kết hợp vớiquảng cáo CDROM truyền thống; xây dựng trang Wed Ninh Bình để giới thiệu du lịchNinh Bình

Cũng trong năm này, lần đầu tiên ngành Du lịch Ninh Bình đã xuất bản “Thông tin Du lịch Ninh Bình” là tiếng nói của ngành để kịp thời thông tin những thôngtin cần thiết về hoạt động Du lịch trong và ngoài Tỉnh

Năm 2006 Sở Du lịch phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam xây dựng 4 bộphim giới thiệu về tiềm năng du lịch Ninh Bình, gồm: “ Non nước Tràng An – NinhBình”, “ Non nước Ninh Bình”, “ Làng đá Ninh Vân”, “ Về thăm Gia Viễn” với tổngvốn đầu tư được phê duyệt là 1,243 tỷ đồng Đã được xuất bản và đưa vào lưu hànhcuốn sách “ Non nước Ninh Bình”, đưa vào sử dụng website du lịch Ninh Bình, xuấtbản “ Thông tin du lịch Ninh Bình”.Ngành Du lịch tỉnh Ninh Bình cũng đã tổ chứcthành công các cuộc thi “ Hướng dẫn viên du lịch giỏi toàn ngành”, hoàn thiện 10 bàithuyết minh tại các điểm du lịch nổi tiếng của Ninh Bình và đã được dịch ra tiếng Anh,Pháp, Hoa làm tài liệu phục vụ công tác tuyên truyền quảng bá và cho hướng dẫn viênlàm tài liệu cơ sở để hướng dẫn du khách

Năm 2007 Sở Du lịch đã phối hợp với Đài Truyền hình giới thiệu Du lịch NinhBình trong các chuyên mục “ Mỗi tuần 1 chuyến đi”, “ Ấn tượng Hạ Long cạn”, Hoa

Lư huyền thoại”, Làm mới 1 biển quảng cáo tấm lớn tại thị xã Tam Điệp, sửa 2 biểnquảng cáo tại xã Gia Xuân và trung tâm thị xã Ninh Bình

Đặc biệt, trong năm 2008 tỉnh đã tổ chức “ Tuần lễ du lịch” với nhiều nét văn hóađặc sắc, là dịp để quảng bá, giới thiệu tiềm năng du lịch Ninh Bình, không những thuhút đông đảo du khách mà còn mời gọi mạnh mẽ đầu tư, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng.Nhiều giải pháp tổng thể đã được đặt ra như: thu hút đi đôi với quản lí có hiệu quảnguồn vốn; tạo các điểm vui chơi giải trí, dịch vụ, nhà hàng, khách sạn hấp dẫn, đào tạo

và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nhân viên phục vụ và nâng cao kiến thức về du lịch chongười dân

Năm 2009, là thời điểm phát triển rất mạnh của Du lịch Ninh Bình Khách đến NinhBình ngày càng nhiều Tuy nhiên Du lịch Ninh Bình vẫn đang còn rất mới mẻ với nhiều

Trang 30

du khách trong và ngoài nước Để quảng bá hình ảnh Du lịch tuyệt đẹp của Ninh Bình,Tỉnh đã đầu tư rất mạnh mẽ vào công tác quảng bá, xúc tiến.

- Về công tác thông tin quảng bá trên mạng internet: Đã được tăng cường và đẩymạnh, thường xuyên cập nhật đầy đủ tin bài giới thiệu quảng bá hình ảnh du lịch NinhBình cũng như phản ánh hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch của ngành trên trangthông tin điện tử du lịch Ninh Bình:

+ Ngày 01/9/2009, Trang web du lịch Ninh Bình đã được Cục Quản lý phát thanhTruyền hình và Thông tin điện tử – Bộ truyền thông cấp phép thành Trang thông tinđiện tử tổng hợp du lịch

+ Để quảng bá website, Trung tâm đã hợp đồng đặt banner quảng cáo trên các trangweb du lịch lớn như: vietnamtourism.com.vn, hotel84s.com, vietnamtourism.gov.vn vàtrao đổi banner với các trang web du lịch của các tỉnh bạn

+ Thiết kế và sản xuất 2500 tập gấp kẹp file giới thiệu thông tin, hình ảnh, hoạt độngxúc tiến quảng bá du lịch Ninh Bình

+ Cung cấp 5681 ấn phẩm quảng cáo, quà tặng: sách hướng dẫn, bản đồ du lịch, tậpgấp, đĩa phim, móc khóa, logo… cho các công ty du lịch, lữ hành, khách sạn và cơ quan,

tổ chức trong và ngoài nước

+ Đã hoàn thành việc xây dựng kết cấu, biên tập nội dung sách hướng dẫn tiếngAnh, Pháp và sách ảnh Non nước Ninh Bình chuẩn bị cho kế hoạch kỷ niệm 1000 nămThăng Long – Hà Nội Đã tổ chức chụp và xây dựng bộ tư liệu ảnh mới về các điểm dulịch để chuẩn bị cho việc in sách Đang triển khai thiết kế ma két

- Về hội chợ – triển lãm: Đã tham gia được 01 hội chợ du lịch, 01 liên hoan ẩm thựccác tỉnh phía bắc 2009 tại Sầm Sơn – Thanh Hóa; Tham gia quảng bá tại hội thảo du lịch

ở Lào và Thái Lan do Tổng cục Du lịch tổ chức vào tháng 4 Tham gia 02 hội thảo xúctiến đầu tư và du lịch tại Hà Nội do VCCI và Tổng cục Du lịch tổ chức vào tháng 7

- Về công tác quảng cáo trực quan: Sửa chữa và thay mới được 02 mặt biển quảngcáo du lịch tấm lớn tại trung tâm thành phố Ninh Bình và thị xã Tam Điệp

- Về công tác tuyên truyền quảng bá trên báo, đài truyền hình: Đã phối hợp với đàitruyền hình Ninh Bình thực hiện được 9 chuyên mục du lịch, gồm cả chuyên mục dulịch qua màn ảnh nhỏ Các chuyên mục tập trung giới thiệu các điểm di tích liên quanđến kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, đặc biệt là phản ánh các hoạt động thựchiện Nghị quyết 15 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch đến năm 2020,định hướng đến 2030 như: công tác xúc tiến quảng bá du lịch, đầu tư cơ sở vật chất kỹ

Trang 31

thuật, công tác đào tạo nhân lực, nâng cao chất lượng dịch Đặc biệt, Trung tâm cònphối hợp với Đài truyền hình Việt Nam thực hiện bộ phim Sắc mầu không gian Văn hóaNinh Bình phát trên sóng VTV3, số 1 về Khu văn hóa tâm linh chùa Bái Đính pháttháng 2, số 2 là nhà thờ đá Phát Diệm phát tháng 3; Bộ phim phát triển loại hình du lịchcộng đồng ở Ninh Bình phát tháng 3; phối hợp với Truyền hình cáp kênh VCTC1 giớithiệu khu du lịch Tam Cốc – Bích Động.

- Về công tác hướng dẫn và lữ hành: Xây dựng chương trình du lịch ấn tượng NinhBình phục vụ các đoàn khách đến tham quan Ninh Bình đăng tải trên website Ngoàiviệc tư vấn thông tin qua điện thoại, email cho hàng trăm khách du lịch, hàng tháng,Trung tâm đã đón và hướng dẫn cho các đoàn khách đến tham quan Ninh Bình

- Về công tác tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật: Tư vấn hỗ trợ kỹ thuật 03 doanh nghiệp dulịch khách sạn xây dựng và phát triển các trang thông tin điện tử giới thiệu quảng bá sảnphẩm dịch vụ: khách sạn Thùy Anh, Hoàng Hải và Ngôi Sao Phối hợp với Công ty ViệtHưng Phú – Thành phố Hồ Chí Minh tư vấn cho tập đoàn Briskheat – Hoa Kỳ khảo sáttìm hiểu cơ hội đầu tư xây dựng khu nghỉ dưỡng cao cấp tại Ninh Bình

- Ngoài ra, Trung tâm đã phối hợp với Bến xe khách Ninh Bình xây dựng phòngThông tin giới thiệu du lịch Ninh Bình tại Trạm nghỉ ven đường

Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện vốn đầu tư xúc tiến quảng bá du lịch Ninh Bình

Trang 32

Nhìn vào biểu đồ trên cho ta thấy du lịch Ninh Bình đang trên đà phát triển rấtmạnh và công tác xú tiến quảng bá là không thể thiếu Tỉnh đã ngày càng nhận thứcđược vai trò quan trọng của việc đầu tư vào xúc tiến quảng bá Trong giai đoạn 2006-

2009 Tỉnh đã không ngừng đầu tư vào lĩnh vực này và đã thu được thành tựu đáng kể.Kết quả, trong 9 tháng đầu năm 2009 đã thu hút được 208.380 lượt truy cập, trong đótrang tiếng Việt là 160.703 lượt (chiếm 77%) Mặc dù chịu tác động của cuộc khủnghoảng kinh tế toàn cầu, các trang web quảng bá điểm đến du lịch khác đều tăng trưởng

âm, nhưng riêng trang web du lịch Ninh Bình có tốc độ phát triển lượt truy cập đạt trên20% (Theo Alexa.com)

4 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch

Với tiềm năng và sự tăng trưởng nhanh của ngành Du lịch, năm 2009 đã đánhdấu nhiều nét mới trong việc thu hút đầu tư, khai thác tiềm năng, sự quan tâm chútrọng phát triển du lịch của tỉnh

Tuy nhiên so với rmột số điểm du lịch khác ở nước ta, thì du lịch Ninh Bình cónhiều lợi thế hơn về tài nguyên, nhưng chưa phát huy được lợi thế so sánh sẵn có đểtạo ra lợi thế cạnh tranh Du lịch Ninh Bình phát triển chưa tương xứng với tiềm năng,thế mạnh của tỉnh Hiệu quả kinh tế, xã hội còn ở mức độ thấp Một trong nhữngnguyên nhân cơ bản của sự phát triển kém hiệu quả này, theo đánh giá của các chuyêngia là do nguồn nhân lực du lịch của Ninh Bình hiện nay vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu,lại mất cân đối về cơ cấu lao động trong du lịch Đội ngũ cán bộ quản lý du lịch và laođộng làm dịch vụ du lịch còn vừa yếu về năng lực chuyên môn vừa yếu về ngoại ngữ,vừa thiếu tính chuyên nghiệp và thái độ làm việc để thực thi các công việc theo chứcdanh đảm nhiệm

Nguồn nhân lực du lịch được coi là yếu tố quan trọng để thực hiện thắng lợi chủtrương phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, động lực thúc đẩy sự pháttriển các ngành nghề dịch vụ và nâng cao đời sống nhân dân theo tinh thần Nghị quyết

số 03-NQ/TƯ của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khóa XIV về phát triển du lịch đến 2010 và

kế họach số 17/KH - UBND ngày 16/8/2006 của UBND tỉnh về việc thực hiện thôngbáo 192-TB/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về việc tiếp tục triển khai thực hiện nghịquyết 03-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy (khoá XIV) về phát triển du lịch đếnnăm 2010 Sở Du lịch nay là Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Ninh Bình chủ động tham

Trang 33

mưu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh tổ chức các lớp đào tạo, đào tạo lại tại chỗ và bồi dưỡngkiến thức du lịch cộng đồng cho nhân dân địa phương nơi có khu, điểm du lịch

Từ năm 2002 đến nay, ngành du lịch đã phối hợp với các cơ sở đào tạo lớn nhưKhoa du lịch Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Trường đại họcKinh tế và trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội… tổ chức được 10 lớp đào tạo, bồi dưỡngnghiệp vụ du lịch cho 564 lao động của các đơn vị quản lý khu, điểm du lịch, kháchsạn, nhà hàng, công ty du lịch trên địa bàn toàn tỉnh, với kinh phí là 430 triệu đồngchiếm 58% tổng số lao động trực tiếp trong ngành Trong đó nghiệp vụ du lịch tổnghợp (Lễ tân, buồng, bàn, bar và bếp) cho 275 lao động, nghiệp vụ hướng dẫn viênthuyết minh cho 163 lao động, đào tạo ngoại ngữ du lịch tiếng Anh và tiếng Pháp trình

độ A và B cho 126 lao động Trong 3 năm từ 2007-2009, kinh phí dành cho công tácđào tạo nguồn nhân lực du lịch đạt 8,102 tỷ đồng, vượt 69% mục tiêu đề ra Công tácđào tạo, đào tạo lại lực lượng lao động trực tiếp làm du lịch đã được tổ chức và thựchiện sát với nhu cầu đào tạo thực tế qua đó đã cập nhật và làm mới lại kiến thứcchuyên môn nghiệp vụ, thái độ làm việc và tăng cường khẳ năng giao tiếp ngoại ngữcủa đội ngũ lao động góp phần đáng kể vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ và hìnhảnh du lịch Ninh Bình trong thời gian qua

Một trong những đặc điểm của du lịch Ninh Bình là phát triển dựa vào cộngđồng do yếu tố xen ghép và hòa quyện giữa tài nguyên du lịch và cộng đồng dân cư.Nên số lượng lao động gián tiếp (bán chuyên nghiệp) hiện nay chiếm tỷ trọng khá lớn,với trên 6250 lao động, chiếm 86,4% tổng số lao động làm du lịch Nhưng hầu hếtchưa qua các lớp đào tạo về nghiệp vụ du lịch từ sơ cấp trở lên, do vậy nhận thức, hiểubiết về du lịch và giao tiếp ứng xử trong quá trình phục vụ khách du lịch còn nhiều hạnchế làm ảnh hưởng xấu tới hình ảnh và chất lượng phục vụ tại các khu, điểm du lịchtrong tỉnh Với mục đích nâng cao nhận thức của nhân dân địa phương về phát triển dulịch, từ năm 2005 Tỉnh đã đầu tư 895 triệu đồng cho Sở Du lịch phối kết hợp với các

cơ sở đào tạo và chính quyền địa phương nơi có khu, điểm du lịch mở các lớp bồidưỡng kiến thức du lịch cộng đồng cho các lao động tham gia làm dịch vụ du lịch(chụp ảnh, chèo đò, bán hàng lưu niệm,…) cho 4.050 người

Tổ chức các lớp học nghiệp vụ cho các học viên là cán bộ, công nhân viên đangcông tác tại các đơn vị kinh doanh du lịch Đến nay đã có 25 lượt cán bộ của các kháchsạn nhà hàng trong tỉnh được tham gia các lớp học về chế biến món ăn, 20 học viêntham gia lớp bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch, 55 hướng dẫn viên được đào tạo bồi dưỡngnghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ Năm 2005, 2006, ngành du lịch tỉnh đã phối hợp vớikhoa Du lịch – Khách sạn của trường đại học Kinh tế quốc dân tổ chức 3 lớp đào tạokiến thức về du lịch cộng đồng với kinh phí là 1,326 tỷ đồng cho hơn 300 cán bộ quản

Trang 34

lí của các huyện Hoa Lư và Yên Mô, 1.500 người dân tham gia làm du lịch, nội dungchương trình bồi dưỡng được phát liên tục trên hệ thống loa truyền thanh công cộngcho toàn thể người dân ở các huyện trên nghe.

Để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch đặc biệt là trong các khách sạn, nhàhàng du lịch, khu vui chơi giải trí đào tạo nguồn nhân lực du lịch là rất cần thiết Từ năm

2010 đến 2015 trên địa bàn tỉnh có từ 8 – 10 cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí từ 3 saotrở lên với số phòng từ 300 – 1500 phòng khách sạn, biệt thự cao cấp Nhu cầu lao độngcần cho 1500 phòng khoảng 1800 lao động nghiệp vụ du lịch Trước mắt năm 2009 tậptrung đào tạo từ 300 – 500 cán bộ có trình độ trung cấp du lịch trở lên (Tập trung chocác chuyên môn nghiệp vụ: lễ tân, buồng, bàn, bar, bếp)

Kế hoạch cho đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh giai đoạn 2009-2015:

- Năm 2009: Tổ chức đào tạo cho 400 sinh viên với tổng kinh phí là: 3,625 tỷđồng, ngoài ra Tỉnh còn đầu tư kinh phí đầu tư xây dựng 4 phòng thực hành cho cácnghiệp vụ bếp, bar, lễ tân, buồng khoảng 800 triệu đồng

0 0.5 1 1.5 2 2.5 3 3.5 4

2006 2007 2008 2009

Với quan điểm “mưa dầm thấm lâu”, các bồi dưỡng kiến thức du lịch cộngđồng được ngành du lịch tổ chức liên tục hàng năm, luân phiên giữa các khu, điểm dulịch đã từng bước nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân địaphương trong quá trình phục vụ khách du lịch và xây dựng hình ảnh điểm đến của địaphương mình Tuy nhiên, lực lượng lao động gián tiếp này chủ yếu là những người có

độ tuổi từ 40 trở lên, trình độ học vấn thấp, nên khẳ năng tiếp thu kiến thức và thay đổi

tư duy còn chậm, do đó chất lượng của lực lượng lao động này vẫn còn nhiều vấn đềphải bàn và tiếp tục phải được đào tạo bồi dưỡng trong những năm tới

Trang 35

Mặc dù ngành du lịch Ninh Bình đã có nhiều nỗ lực trong việc đào tạo, đào tạolại lực lượng lao động trực tiếp trong ngành và bồi dưỡng kiến thức du lịch cho nhândân địa phương tham gia làm du lịch nhưng chất lượng đội ngũ lao động du lịch cònrất yếu, cả về chuyên môn và trình độ ngoại ngữ, chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụcác thị trường khách du lịch có khẳ năng chi trả cao, đặc biệt là thị trường khách quốc

tế Vấn đề cấp thiết đặt ra đối với du lịch Ninh Bình là phải có nguồn nhân lực du lịchchất lượng cao, đủ tài, đủ tầm để đưa du lịch Ninh Bình từng bước hội nhập với khuvực và thế giới

0 20 40 60 80 100

1st Qtr 2nd

Qtr

3rd Qtr 4th Qtr

East

5 Thực trạng đầu tư vào một số khu du lịch của Tỉnh

5.1 Đầu tư vào khu du lịch Suối nước nóng Kênh Gà - động Vân Trình, Vân Long, chùa Ðịch Lộng

Sự phát triển nổi trội của khu vực này với “hiện tượng” Vân Long trong nhữngnăm qua là yếu tố đặc biệt của du lịch Ninh Bình hiện nay Với những nỗ lực củangười dân địa phương, các nhà khoa học, các nhà quản lí, các giá trị tự nhiên, văn hóacủa khu vực đã được “phát lộ” và nghiên cứu, đồng thời việc phát triển du lịch của khuvực đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, lượng khách du lịch, đặc biệt là khách

du lịch quốc tế, đã gần tương đương với khu du lịch Tam Cốc – Bích Động – Tràng

An – cố đô Hoa Lư cho đến thời điểm hiện nay

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch sinh thái Vân Long: Dự án đá đầu tưxong đường, cầu cống từ đường 477A qua 2 xã Gia Vân và Gia Lập, san nền xong 2bến xe, nạo vét xong 2 tuyến đường thủy trong khu du lịch sinh thái Vân Long

Một số vấn đề cần quan tâm đối với phát triển du lịch khu vực Vân Long là việcđầu tư của một số cơ sở công nghiệp, đặc biệt là hoạt động của nhà máy xi măng nằmgần khu du lịch Do đó đã xuất hiện một số dao động trong ý chí quyết tâm của cácnhà đầu tư du lịch Việc phối hợp với Hà Nam trong công tác bảo tồn và phát triển dulịch cần được quan tâm

Ngoài những dự án đầu tư trong nước như được trình bày ở bảng tổng hợp dướiđây, khu du lịch suối nước nóng Kênh Gà và bảo tồn đất ngập nước Vân Long còn có

dự án FDI Đó là dự án khu du lịch sinh thái Đông Phương Sư ( 100% vốn của ĐàiLoan), tổng vốn đầu tư là 32 triệu USD ( tại Vân Long, Gia Viễn)

Bảng 2.4 Tổng hợp những dự án đầu tư vào khu du lịch Vân Long

Đơn vị: triệu đồng

tư Thời gian

1 Khu du lịch nước nóng Kênh Gà CTCP Việt - Thái 180.000 2004-2012

Trang 36

3 XD khu du lịch dịch vụ thể thao văn

4 XD nhà hàng, khách sạn và khu giải

5 XD khu nghỉ dưỡng ANA

1 Trùng tu di tích đền thờ vua Đinh

3 Bảo tồn, tôn tạo Khu Di tích lịch sử

4 Nạo vét sông Hoàng Long từ bế

Nguồn: Phòng Thẩm định, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình

Đối với khu vực Đầm Cút, Kênh Gà, việc thu hút đầu tư du lịch còn nhiều khókhăn Khu du lịch nước khoáng nóng hiện nay đang được đầu tư xây dựng, tuy nhiêncòn nhiều khó khăn do khả năng tài chính hạn chế Một số nhà đầu tư nước ngoài đãbày tỏ ý định đầu tư xây dựng những khu du lịch lớn nhưng việc triển khai cụ thể chưađược rõ ràng Nếu hoạt động du lịch được khai thác bền vững, kết hợp với những giátrị tự nhiên cao của khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long, thì khi đó việc lập hồ sơ đềnghị công nhận di sản thế giới cho Vân Long sẽ rất thuận lợi

Để nâng cao hiệu quả đầu tư Ban Quản lý khu du lịch Suối nước nóng Kênh Gà động Vân Trình, Vân Long, chùa Ðịch Lộng đã tích cực kiểm tra giám sát đôn đốc cáccông trình thi công theo đúng tiến độ, và các công trình kinh doanh du lịch phải đầy đủthủ tục đồng thời theo đúng quy hoạch của Tỉnh cũng như của khu Với việc hoạt độngtích cực của Ban Quản lý khu đã đóng góp đáng kể vào kết quả kinh doanh du lịch củakhu Bên cạnh đó năm 2009, ngành Du lịch Ninh Bình đã tham mưu cho UBND tỉnhNinh Bình phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình đến 2010, địnhhướng đến 2015; Quy hoạch chi tiết khu du lịch sinh thái Vân Long Phối hợp vớiUBND các huyện, thành phố công bố công khai cho nhân dân biết Quy hoạch chi tiếtkhu du lịch sinh thái Vân Long và Điều chỉnh bổ sung quy hoạch chi tiết khu du lịchTam Cốc – Bích Động; Quy hoạch chi tiết khu du lịch sinh thái Tràng An

Trang 37

-Cùng với Tam Cốc - Bích Động, Tràng An, các khu du lịch như Kênh Gà - VânTrình, Vân Long, Vườn Quốc gia Cúc Phương đầu năm cũng thu hút khá đông lượngkhách đến tham quan, trong đó khách nước ngoài như Hàn Quốc, Pháp, Anh chiếm

số lượng nhiều Riêng Khu du lịch Vân Long, từ ngày 29 đến mùng 5 Tết Nguyên đán

đã đón trên 1.100 lượt khách, tăng 20% so với Tết Nguyên đán năm 2008, trong đókhách quốc tế chiếm trên 1.000 người

5.2 Đầu tư vào khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình với Dục Thuý Sơn, Ngọc Mỹ Nhân và hồ Kỳ Lân:

Đây là khu du lịch trung tâm đóng vai trò điều phối hoạt động chung của dulịch Ninh Bình trên cơ sở sử dụng hạ tầng và cơ sở vật chất du lịch vốn tương đối pháttriển của đô thị Tại khu du lịch này, du khách còn có thể tham quan các điểm danhthắng nổi tiếng như: núi Dục Thúy, sông Vân Sàng, núi Ngọc Mỹ Nhân, núi Kì Lân.Với định hướng phát triển thành phố thành đô thị loại ba, việc xây dựng các khu dulịch này, kết hợp với các sản phẩm du lịch khác ở khu vực phụ cận theo qui hoạch,trong đó xác định vị trí trọng tâm của du lịch thì trong tương lai này có thể trở thành

đô thị du lịch khi hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết được qui định theo Luật Du lịch

Để đạt được những mục tiêu trên, thành phố cần có qui hoạch chung phát triển

đô thị bền vững, với du lịch là trọng tâm phát triển làm cơ sở cho việc phát triển hệthống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, các điểm tham quan, vui chơi giải trí phù hợp, đặcbiệt là hệ thống khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 3 – 4 sao trở lên

Bảng 2.5 Tổng hợp dự án đầu tư vào khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình

Đơn vị : triệu đồng

1 XD công trình NB Complex building CT ĐTPTTM Hoàng

4 XD Khách sạn tiêu chuẩn 3 sao DNTN Hoàng Sơn 27.987 2007-2009

5 XD khu dịch vụ du lịch sinh thái và nuôi

6 XD nhà hàng khách sạn và dịch vụ du lịch DNTN Chính Tâm 13.947 2007-2008

7 XD khu liên hợp khách sạn nhà hàng CTCP Long Thúy Đằng 12.500 2007-2009

8 XD Trung tâm vui chơi giải trí và ẩm thực CTTNHH Minh Phố 79.999 2008-2010

Trang 38

Minh Phố

9 XD Khách sạn 5 sao Quang Dũng DNTN Quang Dũng 553.092

10.XD Khu nuôi trồng thủy sản kết hợp nhà

1 Khu du lịch công viên văn hoá Tràng An UBND Tỉnh 1080.000 2009-2012

2 Tượng đài Đinh Tiên Hoàng và Quảng

Nguồn: Phòng Thẩm định, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ninh Bình

Khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình có nhiều lợi thế hơn so với các khu

du lịch khác trong tỉnh Tuyến du lịch nội thành đã được qui hoạch đầu tư xây dựngđường xá, phố phường từ rất lâu, chính vì thế khu đã có một cơ sở hạ tầng ổn định, sẽtiết kiệm được lượng vốn đầu tư rất lớn từ phía ngân sách tỉnh và Nhà nước Lượngvốn đầu tư xây dựng ở đây trong giai đoạn này chủ yếu thuộc thành phần tư nhân vàsản phẩm của những dự án này là khách sạn cao cấp, nhà hàng và nhà nghỉ và các khu Thời gian qua Tỉnh Ninh Bình đang tăng cường công tác quản lý nhà nước về

du lịch, kiểm tra, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch thực hiện đúngcác quy định của Nhà nước; giáo dục nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, nhândân về vị trí và vai trò, triển vọng phát triển và hiệu quả kinh tế xã hội của du lịch, tạo

sự thống nhất về tư tưởng, hành động để tập trung đầu tư cho phát triển du lịch; tậptrung huy động, thu hút các nguồn vốn đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vậtchất kinh doanh du lịch, đặc biệt là đầu tư xây dựng các khách sạn cao cấp từ 3 sao trởlên; sửa chữa, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, ưu tiên đầu tưcác khu du lịch trọng điểm như: Tràng An, Tam Cốc - Bích Động, Cố đô Hoa Lư,trung tâm thành phố Ninh Bình để kịp phục vụ cho lễ kỷ niệm 1000 năm Hoa Lư -Thăng Long - Hà Nội vào năm 2010; tiếp tục khuyến khích các thành phần kinh tếtham gia đầu tư kinh doanh du lịch; đa dạng hoá các loại hình du lịch, khuyến khíchcác tổ chức, cá nhân đẩy mạnh sản xuất các hàng thủ công, mỹ nghệ có chất lượngcao, mang đậm dấu ấn quê hương Ninh Bình để phục vụ khách, đồng thời tạo việc làm

và thu nhập ổn định cho nhân dân địa phương Với sự quản lý chặt chẽ của Ban Quản

lý Tỉnh, khu năm 2009 khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình với Dục Thuý Sơn,Ngọc Mỹ Nhân và hồ Kỳ Lân đã thu hút lượng khách lớn với doanh thu vượt ngoàimức dự kiến

Trang 39

Năm 2007, khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình với Dục Thuý Sơn, Ngọc

Mỹ Nhân và hồ Kỳ Lân đã đón trên 276.000 lượt khách, so với cùng kỳ năm 2006 tăng 20%, trong đó khách quốc tế 135.000 lượt khách, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2006; thu phí đạt 7 tỷ đồng, tăng 27% so với năm 2006, nộp ngân sách 3,6 tỷ đồng Theo đánhgiá, lượng khách đến khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình với Dục Thuý Sơn, Ngọc Mỹ Nhân và hồ Kỳ Lân so với toàn tỉnh chiếm 20%, trong đó khách quốc tế chiếm 29% Năm 2008, khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình với Dục Thuý Sơn, Ngọc Mỹ Nhân và hồ Kỳ Lân đã đón 338.786 lượt khách, tăng 25% so với năm 2007, trong đó đón trên 194 nghìn lượt khách quốc tế, thu phí và lệ phí đạt 12,05 tỷ đồng, nộp ngân sách 5,5 tỷ đồng Năm 2009, có 460.572 lượt khách đến tham quan khu du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình với Dục Thuý Sơn, Ngọc Mỹ Nhân và hồ Kỳ Lân Trong đó khách quốc tế là 253.626 lượt, khách nội địa là 206.946 tăng 36% so với cùng kỳ năm 2008

Doanh thu 14,53 tỷ đồng (đạt 83,5% kế hoạch năm 2009), nộp ngân sách 6,6 tỷ đồng

5.3 Đầu tư vào khu du lịch Tam Cốc - Bích Ðộng, Tràng An, núi chùa Bái Đính

và Cố đô Hoa Lư:

Trong tổng thể 7 khu du lịch trọng điểm trên, động lực chính để du lịch NinhBình phát triển chính là khu du lịch Tam Cốc – Bích Động – Tràng An – Hoa Lư Vớiđặc điểm tài nguyên nổi trội về văn hóa và cảnh quan, hiện khu du lịch này đang thuhút được một lượng lớn khách du lịch đến Ninh Bình Một trong những yếu tố quantrọng tạo nên sức hấp dẫn khu du lịch chính là “ Thương hiệu du lịch” của khu du lịchnày đã được khẳng định Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam được thủ tướng chínhphủ phê duyệt đã xác định Tam Cốc – Bích Động là một trong 17 khu du lịch chuyên

đề quốc gia đầu tiên ở Việt Nam Việc phát hiện ra các giá trị di tích lịch sử văn hóa và

hệ thống các hang động (đến nay bao gồm 21 hang) tại Tràng An đã nâng vị trí và sứchấp dẫn của khu du lịch này và càng khẳng định ảnh hưởng có tính quốc gia của khu

Nhận thấy được ý nghĩa của khu Tam Cốc – Bích Động – Tràng An – cố đôHoa Lư trông quá trình phát triển du lịch Việt Nam, đặc biệt gắn với sự kiện 1000 nămThăng Long – Hà Nội, thời gian gần đây Chính phủ đã có sự quan tâm hỗ trợ đầu tưnâng cấp và phát triển hạ tầng du lịch ở khu vực này, đặc biệt là khu Tràng An Dự ánxây dựng CSHT khu du lịch Tam Cốc – Bích Động: Các hạng mục đã được đưa vàophục vụ khách du lịch như: đường, cầu, cống từ cầu Ba Vuông vào bến thuyền ĐìnhCác Xây dựng xong bến xe Đồng Gừng, sân Đình Các, bến thuyền cây Đa và nạo vétxong tuyến giao thông đường thủy từ Đình Các đi Tam Cốc – Suối Tiên Đang tiếp tụcthi công đường vào Bích Động, điện Thái Vi

Trang 40

Dự án đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái Tràng An và chùa Bái Đính: Hiệnđang hoàn thiện tuyến đường trục chính từ Thành phố Ninh Bình đi chùa Bái Đính,các hạng mục còn lại cơ bản hoàn thành như: san lấp mặt bằng khu trung tâm, nạo vétcác thung hang chính, hệ thống đường bộ, đường thủy của 9 tuyến du lịch trong hangđộng, khu vực núi chùa Bái Đính đã hoàn thành giai đoạn 1 và phục vụ thành côngChương trình Đại Lễ Phật Đản – Liên Hiệp quốc, năm 2008 Đây là tuyến đường cócảnh quan hấp dẫn, góp phần nâng cao rõ rệt vụ trí và thay đổi hình ảnh của du lịchNinh Bình

Bảng 2.6 Tổng hợp vốn các dự án đầu tư vào khu tính đến hết năm 2009

Đơn vị: triệu đồng

Vốn đầu

tư Thời gian

1.XD Khu du lịch Hồ trung tâm Tam Cốc-

3.XD điểm du lịch dịch vụ sinh thái Hoàng

4.XD Khu bảo tồn và trưng bày cổ vật Cố

5.XD điểm du lịch Thung Nắng- Yên Sơn CTTNHH Bích Động 40.157 2007-2009

6.XD tổ hợp khách sạn 5 sao Tam Cốc-

1.XDCSHT Khu du lịch sinh thái Tràng An UBND Tỉnh 2.572.243 2004-2008

2.XDCSHT Khu du lịch tâm linh núi chùa

6.CSHT Tuyến du lịch sinh thái Thung

7.XD Cổng phía Bắc, Đông, Nam vào Cố UBND Tỉnh 24.581 2006-2008

Ngày đăng: 31/01/2013, 10:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ 2002-2009 - Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.1. Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ 2002-2009 (Trang 25)
Bảng 2.3. Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư kinh doanh du lịch tính đến 31/12/2009 - Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.3. Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư kinh doanh du lịch tính đến 31/12/2009 (Trang 27)
Bảng 2.6. Tổng hợp vốn các dự án đầu tư vào khu tính đến hết năm 2009 - Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.6. Tổng hợp vốn các dự án đầu tư vào khu tính đến hết năm 2009 (Trang 40)
Bảng 2.7: Giá trị tài sản cố định huy động  của ngành du lịch Ninh Bình  giai đoạn 2001-2008. - Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.7 Giá trị tài sản cố định huy động của ngành du lịch Ninh Bình giai đoạn 2001-2008 (Trang 43)
Bảng 2.10. Tổng hợp lao động được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức du lịch 2005 - 2009 - Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.10. Tổng hợp lao động được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức du lịch 2005 - 2009 (Trang 45)
Bảng 2.15. Doanh thu của các cơ sở lưu trú trên địa bàn Tỉnh - Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.15. Doanh thu của các cơ sở lưu trú trên địa bàn Tỉnh (Trang 49)
Bảng 2.14. Lao động làm việc trong ngành du lịch - Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.14. Lao động làm việc trong ngành du lịch (Trang 49)
Bảng 2.2. Cơ cấu cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2005-2009 - Đầu tư phát triển ngành du lịch tỉnh Ninh Bình
Bảng 2.2. Cơ cấu cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2005-2009 (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w