MỤC LỤC PHẦN I. MỞ ĐẦU 3 1. Mục đích 3 2. Nhiệm vụ 3 3. Lịch trình chuyến đi 3 4. Khái quát về Ninh Bình 4 PHẦN II. NỘI DUNG 7 1. Cố đô Hoa Lư (đền Vua Đinh và đền Vua Lê) 7 2. Khu sinh thái Thung Nham 10 3. Tam Cốc 13 4. Tuyệt tịnh cốc 14 PHẦN III. KẾT LUẬN 15 - Thực tế 2 ngày 1 đêm tại các điểm Ninh Bình là một học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo môn Địa lý du lịch Việt Nam, gồm 2 tín chỉ. - Sau chuyến đi thực tế sinh viên hiểu và phân tích được tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch Việt Nam. - Phân tích được tác động của ngành du lịch đến sự phát triển kinh tế, quá trình lịch sử hình thành và phát triển của ngành du lịch trong những năm gần đây. - Phân tích được vị trí địa lý và các tài nguyên du lịch. - Nêu được khái quát, tài nguyên du lịch, thực trạng phát triển du lịch, sản phẩm du lịch đặc trưng và các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của các vùng du lịch. - Nắm vững được các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế cũng như các tuyến du lịch quan trọng của bảy vùng du lịch. - Biết giới thiệu tài nguyên du lịch của địa phương.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA DU LỊCH
BÀI TẬP và BÀI THU HOẠCH
Môn: ĐỊA LÝ DU LỊCH VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Minh Hạnh
Sinh viên:
Ngày sinh:
Lớp:
Hà Nội, ngày tháng năm 2025
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 3
1 Mục đích 3
2 Nhiệm vụ 3
3 Lịch trình chuyến đi 3
4 Khái quát về Ninh Bình 4
PHẦN II NỘI DUNG 7
1 Cố đô Hoa Lư (đền Vua Đinh và đền Vua Lê) 7
2 Khu sinh thái Thung Nham 10
3 Tam Cốc 13
4 Tuyệt tịnh cốc 14
PHẦN III KẾT LUẬN 15
Trang 3PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Mục đích
- Thực tế 2 ngày 1 đêm tại các điểm Ninh Bình là một học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo môn Địa lý du lịch Việt Nam, gồm 2 tín chỉ
- Sau chuyến đi thực tế sinh viên hiểu và phân tích được tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch Việt Nam
- Phân tích được tác động của ngành du lịch đến sự phát triển kinh tế, quá trình lịch sử hình thành và phát triển của ngành du lịch trong những năm gần đây
- Phân tích được vị trí địa lý và các tài nguyên du lịch
- Nêu được khái quát, tài nguyên du lịch, thực trạng phát triển du lịch, sản phẩm du lịch đặc trưng và các địa bàn trọng điểm phát triển du lịch của các vùng du lịch
- Nắm vững được các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế cũng như các tuyến
du lịch quan trọng của bảy vùng du lịch
- Biết giới thiệu tài nguyên du lịch của địa phương
2 Nhiệm vụ
- Vận dụng kiến thức đã học, viết báo cáo thu hoạch về các điểm du lịch, các vùng du lịch
- Phân tích những tiềm năng để phát triển du lịch
- Sử dụng bản đồ du lịch để thiết kế tuyến du lịch, phân tích số liệu thống kê có liên quan đến du lịch
- Phân tích biểu đồ, số liệu, tranh ảnh, hình ảnh có liên quan đến nội dung bài học
3 Lịch trình chuyến đi
Trang 4Lịch trình chuyến đi 2 ngày/1 đêm
Hà Nội – Cố Đô Hoa Lư – Thung Nham – Tam Cốc – Tuyệt Tịnh Cốc – Hà Nội STT Ngày Thời gian cụ thể Nội dung thực hiện
1 1 6h45-7h00 Tập trung tại cơ sở 2 khoa du lịch, 301
Nguyễn Trãi, xe khởi hành lúc 7h00
2 9h30-11h00 Tham quan Đền Vua Đinh – Vua Lê
3 11h10 -11h30 Di chuyển về khách sạn checkin và ăn trưa
tại khách sạn
4 13h30 – 17h15 Tham quan KDL sinh thái Thung Nham
5 17h15 Sinh viên di chuyển về khách sạn
8 2 6h45-7h45 Sinh viên tự túc ăn sáng
9 8h00-11h15 Tham quan KDL Tam Cốc
11 12h30-13h00 Checkout khách sạn di chuyển đến điểm
tham quan Tuyệt Tình Cốc
12 13h30-15h00 Tham quan Tuyệt Tình Cốc
13 15h00-17h00 Sinh viên có mặt tại xe để di chuyển về cơ
sở 2 khoa du lịch, 301 Nguyễn Trãi Kết thúc chuyến đi
4 Khái quát về Ninh Bình
- Vị trí địa lý
Theo Wikipedia: “Ninh Bình nằm ở trọng tâm của nửa phía Bắc Việt Nam, khu vực các tỉnh thành từ Huế trở ra, có vị trí địa lý: Phía Nam giáp Biển Đông (Vịnh Bắc Bộ)
Trang 5với đường bờ biển dài 92 km với nhiều cửa sông lớn: sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Đáy” Tỉnh Ninh Bình nằm ở cực Nam vùng đồng bằng Bắc Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Nam Định, tỉnh Hà Nam, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Thanh Hóa, phía Tây và phía Đông Bắc giáp tỉnh Hòa Bình
- Diện tích
Ninh Bình có 02 thành phố và 06 huyện, diện tích tự nhiên của tỉnh là 1.377,57 km2,
- Dân số
Theo thống kê của cục thống kê, dân số Ninh Bình hiện nay là 926.995 người trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh và dân tộc Mường
- Đánh giá chung
+ Địa hình:
Địa hình Ninh Bình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét, vùng đồi núi ở phía Tây
và Tây Bắc; vùng đồng bằng và vùng ven biển phía Đông và phía Nam
Nhờ vào đặc điểm địa hình độc đáo vốn có, không chỉ có thế mạnh về du lịch cảnh quan, Ninh Bình là tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng, là nơi tiếp nối giao lưu kinh tế
và văn hóa giữa các tỉnh trong lưu vực sông Hồng và sông Mã, vùng Đồng bằng Bắc
bộ với vùng Tây Bắc Địa hình Ninh Bình phân chia thành ba vùng tương đối rõ nét, vùng đồi núi ở phía Tây và Tây Bắc; vùng đồng bằng và vùng ven biển phía Đông và phía Nam Mỗi vùng có tiềm năng và thế mạnh riêng, song ba vùng có thể bổ sung, hỗ trợ nhau để phát triển nền kinh tế hàng hoá toàn diện cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ, hải sản, công nghiệp vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
+ Khí hậu
Khí hậu Ninh Bình mang những nét đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng Bắc bộ và
có ảnh hưởng sắc thái khí hậu vùng Bắc Trung bộ Khí hậu của Ninh Bình thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng Nhiệt độ trung bình năm là 23,1 độ C Tổng lượng mưa trung bình trong năm đạt 151,9mm, phân bố tương đối đồng đều trên toàn tỉnh Trung bình một năm có 125 - 157 ngày mưa Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm
Chế độ thuỷ triều ven biển Ninh Bình là chế độ nhật triều, ngoài ra còn có tr ường hợp bán nhật triều và triều tạp Thời gian triều lên trong khoảng 8 giờ, triều xuống 16 giờ Khi triều cường thì thời gian lên xuống ± 1 giờ Nhìn chung, thuỷ triều Ninh Bình
Trang 6tương đối yếu, biên độ thuỷ triều trung bình trong ngày khoảng 150-180cm, lớn nhất là 270cm, nhỏ nhất 2-5cm
+ Về tài nguyên thiên nhiên
* Tài nguyên đất
Các nhà nông học và thổ nhưỡng học phân chia đất đai Ninh Bình thành 19 loại, gộp thành 5 nhóm cơ bản, trong đó nhóm đất phù sa có diện tích 74.529,8ha, chiếm 53% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Tài nguyên đất của Ninh Bình có độ phì trung bình với 3 loại địa hình là đồi núi, đồng bằng và ven biển, vì thế tỉnh có thế mạnh để phát triển nông, lâm nghiệp kết hợp, theo hướng đa dạng hoá Vùng đồi núi có nhiều tiềm năng
để chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển công nghiệp, nhất là công nghiệp vật liệu xây dựng
* Tài nguyên rừng
Những đặc điểm về địa hình, khí hậu đã tạo điều kiện cho Ninh Bình có diện tích rừng lớn nhất so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng: 27.101ha
Diện tích rừng tự nhiên là 23.526ha, tập trung chủ yếu ở Nho Quan Trong đó, rừng Cúc Phương thuộc loại rừng nhiệt đới điển hình, có nhiều loại động, thực vật quý hiếm như: kiêng, lát hoa, chò chỉ, báo gấm, báo lửa, gấu ngựa, sóc bụng đỏ, voọc mông trắng,
Diện tích rừng trồng đạt 3.575ha, tập trung ở huyện Nho Quan, Hoa Lư, Kim Sơn, thị
xã Tam Điệp, với cây trồng chủ yếu là thông nhựa, keo, bạch đàn, cây ngập mặn,
* Tài nguyên biển
Ninh Bình có chiều dài bờ biển xấp xỉ 18km, với hàng ngàn ha bãi bồi, hàng chục ngàn ha lãnh hải Cửa Đáy là cửa lớn nhất, có độ sâu tương đối, đảm bảo tàu thuyền lớn, trọng tải hàng ngàn tấn ra vào thuận tiện
Vùng biển Ninh Bình có tiềm năng nuôi trồng, khai thác, đánh bắt nguồn lợi hải sản với sản lượng từ 2.000 - 2.500 tấn/năm
* Tài nguyên khoáng sản
Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản lớn nhất của Ninh Bình Những dãy núi trải dài
từ Hoà Bình, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, thị
xã Tam Điệp, Yên Mô tới tận biển Đông, dài hơn 40km, diện tích trên 1.200ha, là nguồn nguyên liệu lớn để sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng
+ Về tiềm năng phát triển du lịch:
Trang 7Ninh Bình nổi tiếng với thắng cảnh thiên nhiên kỳ vĩ và đồng đáo với sự giao thoa giữa vùng trời và vùng sông nước cùng với những dãy núi đá vôi và rừng quốc gia xanh mướt Do quá trình tạo sơn hơn 200 triệu năm về trước đã tạo nên nhiều hang động đẹp như: Tam Cốc, Bích Động, Xuyên Thuỷ Động, Địch Lộng, hang động Tràng An, Tiếp đó là vùng đồng chiêm trũng ở các huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô Do phù sa bồi đắp hàng năm, đồng bằng tiến ra biển từ 80 - 100m, tạo nên vùng đất mới phì nhiêu, màu mỡ
Bên cạnh đó, Ninh Bình còn có nguồn nước khoáng thiên nhiên với trữ lượng lớn, chất lượng tốt, tập trung chủ yếu ở Cúc Phương (Nho Quan) và Kênh Gà (Gia Viễn) có thể khai thác phục vụ sinh hoạt, chế phẩm nước giải khát, chữa bệnh, phục vụ khách du lịch
Ngoài những thế mạnh về thiên nhiên hùng vĩ, Ninh Bình được biết tới là vùng đất cố
đô, mang đậm nét lịch sử, là vùng đất thiêng liêng với du lịch tâm linh nổi tiếng với di tích Chùa Bái Đính – ột ngôi chùa cổ kính, linh thiêng, đã tồn tại qua 1.000 năm tuổi Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo và sở hữu nhiều kỷ lục nhất ở Việt Nam: chùa
có kích thước lớn nhất tại Việt Nam; chùa có tượng Phật được làm từ chất liệu đồng
mạ vàng lớn nhất, chùa có hành lang dài nhất và trưng bày nhiều bức tượng La Hán nhất với các quần thể kiến trúc gồm hang Sáng, hang Tối, đền thờ Thánh Nguyễn, tháp Chuông Đồng, giếng Ngọc, Bảo Tháp, vườn Bồ Đề, hồ Phóng Sinh, chùa Bái Đính cổ,
…
PHẦN II NỘI DUNG
1 Cố đô Hoa Lư (đền Vua Đinh và đền Vua Lê)
1.1 Phương tiện tham quan
Sau khoảng 2 tiếng rưỡi di chuyển bằng xe ô tô từ Hà Nội, đoàn đến địa điểm tham quan đầu tiên là Cố đô Hoa Lư Đền vua Đinh và Đền vua Lê Ninh Bình được toạ lạc tại khu vực gọi chung là Cố đô Hoa Lư thuộc huyện Hoa Lư (nay là thành phố Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình
Để tham quan hết di tích, du khách di chuyển bằng đường bộ theo chỉ dẫn của hướng dẫn viên
1.2 Chi phí tham quan
Chi phí vào tham quan đền Vua Đinh và đền Vua Lê là miễn phí
1.3 Nội dung tham quan
Trải qua hơn 1000 năm lịch sử, cố đô Hoa Lư là nơi lưu giữa các di tích lịch sử ba triều đại Đinh – Tiền Lê – Lý Hai ngôi đền nổi tiếng với tính lịch sử và sự linh thiêng
Trang 8đó là đền thờ Vua Đinh và đền thờ Vua Lê, đền thờ được nhân dây xây dựng để là nơi tưởng nhớ công lao dựng nước và giữ nước của hai vị vua
Tương truyền là đền vua Đinh cũng như đền vua Lê được xây dựng trên nền cung điện xưa, theo truyền thuyết khi nhà Lý rời đô từ Hoa Lư ra mảnh đất Thăng Long (Hà Nội ngày nay) thì nhân dân đã xây dựng hai ngôi đền để tưởng nhớ hai vị anh hùng dân tộc là Định Bộ Lĩnh và Lê Hoàn Lúc đầu đền quay hướng Bắc trông ra núi Hồ, núi Chẽ Trải qua năm tháng, hai ngôi đền cũ không còn nữa Đầu thế kỷ XVII, sau khi
bỏ nhà Mạc theo nhà Lê (1600) phong quận công Bùi Thời Trung đã xây dựng hai ngôi đền như cũ, nhưng quay lại hướng Đông, đến năm 1606 khắc bia lưu lại Năm
1898 cụ Bá Kếnh tức Dương Đức Vĩnh đã cùng với nhân dân Trường Yên Thượng sửa đền vua Đinh, làm ngưỡng cửa đá và nâng cao đền lên bằng tảng đá cô bồng như hiện nay
Đền vua Đinh Tiên Hoàng là nơi thờ tự của vua Đinh Tiên Hoàng và những người con trai của ông Được đặt ngay tại vị trí chính điện của Kinh đô Hoa Lư được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc, nghĩa là bên trong kiểu chữ công, phía ngoài cấu trúc kiểu chữ quốc, đường đi trong đền theo hình chữ vương Các công tình kiến trúc đối xứng nhau theo đường chính đạo
Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cố đô Hoa Lư được xếp hạng là di tích cấp quốc gia đặc biệt năm 2012
a) Đền Vua Đinh Tiên Hoàng
Đền vua Đinh là một công trình kiến trúc điêu khắc quý ở thế ký 17 Tuy đã trải qua nhiều lần trùng tu tôn tạo nhưng ngôi đền vẫn giữ được những mảng điêu khắc của thời kỳ hậu Lê Đề tài được thể hiện nhiều nhất là rồng, chi chít nhau: rồng mẹ, rồng con, rồng đàn, rồng ổ… trong các mảng chạm lộng, chạm nổi có con thì tư thế bình thản, có con cong đuôi, đầu ngoái lại gãi vai như đang nô đùa
Tương truyền, vua Đinh Tiên Hoàng sau khi bình định đất nước, dẹp loạn 12 sứ quân đã lựa chọn nơi này làm nơi đóng đô – quê hương của ông đã gắn liền với tuổi thơ “cờ lau tập trận” đồng thời với địa hình núi non ông nước bao bọc rất phù hợp với chống thù trong giặc ngoài theo đúng điều kiện lúc bấy giờ là giặc phương Bắc đang lăm le xâm chiếm bờ cõi nước ta Tuy nhiên vào năm 979 vua Đinh Tiên Hoàng và con trai Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích giết hại Theo nghi lễ triều đình đã tấn phong thuỵ hiệu, mỹ tự, lập đền thờ cúng ngay tại quê nhà Do đó đền đã được khởi lập từ xa xưa Hiện nay phần còn lại của đền mang phong cách kiến trúc của thời kỳ nhà Nguyễn Nhiều tư liệu về vua Đinh Tiên Hoàng đã ghi lại ca ngợi trí tuệ, sức mạnh và công lao to lớn của ông đối với sự nghiệp thống nhất đất nước, khai mở nền chính thống của nước ta sau hàng nghìn năm nô lệ Trên đất quê hương ông hiện nay vẫn còn rất nhiều
Trang 9truyền thuyết địa danh liên quan tới giai đoạn tuổi thơ ấu của Đinh Tiên Hoàng hay những vị tướng Nguyễn Bặc, Đinh Điền,
Cổng ngoài dẫn vào đền - Ngọ môn là ba gian lợp ngói Trên vòm cửa cong có hai chú lân vờn mây, phía trên có chữ “Tiền triều phượng khuyết” (cửa phượng triều trước) bên ngoài có chữ Bắc môn toả thuộc (có nghĩa là: khoá chặt cửa Bắc) Với kinh nghiệm hơn một ngàn năm chống phong kiến Phương Bắc đã làm cho ông cha ta cảnh giác nhắc nhủ con cháu điều đó Vào phía trong ở giữa sân là một sập long sàng bằng
đá, hai bên có hai nghê chầu bằng đá xanh nguyên khối mang tính nghệ thuật rất cao Hình dáng chạm khắc đơn giản với những khối hình mộc mạc, chắc khoả, gợi về lòng sùng kính với vua Đinh
Tiếp đến là Nghi môn nội (cửa trong) có thể nói cửa này là dạng kiến trúc ba hàng chân cột sớm nhất tại nước ta Lui vào trong bên phải của ngôi đền là nhà khải thánh thờ cha mẹ vua Đinh, bên trái là nhà Vọng nơi bàn đến việc tế lễ Khu vực giữa là vườn hoa ngoại quốc ( có hình chữ Quốc) Hai bên có hòn non bộ được thiết kế dáng
“cứu long” và “hình nhân bái tướng”
Hai con nghê được tạo hình rất khoẻ khoắn, đầu ngẩng cao, mồm há, mũi hếch, tóc xoăn, bụng thắt lại, từng thớ thịt ở hông nổi rõ thể hiện sức mạnh
Đền chính có ba toà: Bái đường, thiên hương và Thượng điện
Toà bái đường thờ ban công đồng với đặc điểm kiến trúc của đền vua Đinh là được bao kín xung quanh, ánh sáng mờ ảo đã tạo nên một thâm cung linh thiêng, tạo cho nó các đồ thờ và nghê tượng phu như có một sức mạnh huyền bí Khác với các kiến trúc khác, thường gắn cửa với hàng cột quân bên ngoài, ở đền vua Đinh cửa đền được lui vào tận hàng cột cái tạo thành những mảng chồng giường với những trang trí lớn Ở khu vực Bái Đường có đôi “xà cổ ngỗng” khá đẹp vừa đỡ mái vừa che các đầu hoành Đây thực chất là một kẻ góc, một kỹ thuật rất khó trong kiến trúc cổ truyền đã đi vào
ca dao
Ở giữa khu vực Bái Đường có một tấm biển lớn đề ba chữ “Chính thống thuỷ” (Khai mở nền chính thống Hai bên cột có hai câu đối “Cồ Việt quốc đương tống khai bảo, Hoa Lư đô thị hán Tràng An” ( được dịch là: Nước Đại Cồ Việt được sánh ngang với niên hiệu Khai Bảo của nhà Tống, kinh đô Hoa Lư như kinh đô Tràng An của nhà Hán)
b) Đền Vua Lê
Nằm cách đền vua Đinh Tiên Hoàng không xa, ước chừng 300m là ngôi đền vua Lê- nơi thờ vị vua Lê Đại Hành Thuộc địa phận của thôn Trường Yên Hạ, xã Trường
Trang 10yên nên còn được gọi là Đền Hạ Đền được xây dựng trên nền cung điện Hoa Lư xưa quay hướng Đông, lấy núi Đèn làm án, sau lưng là núi Đìa
Đền vua Lê tuy không khang trang bằng đền vua Đinh vì ít được tu sửa hơn, nhưng cũng vì thế mà đền vua Lê còn giữ được nhiều mảng điêu khắc thời hậu Lê hơn đền vua Đinh Các mảng chồng giường ở gian bái đường là nơi hội tụ sự thao diễn nghệ thuật chạm khắc gỗ
Giữa khu vực bái đường có một tấm biển sơn son thiếp vàng lộng lẫy đề bốn chữ
“Trường Xuân linh tích” (Dấu tích điện Trường Xuân) Tấm biển ở gian bên trái có ba chữ “xuất thánh minh” (xuất hiện bậc thánh minh), bên phải là tấm biển “Dương thần vũ” (biểu dương thần vũ) cùng đôi câu đối như sau “Thần vũ thiếp tứ lân, thịnh Tống cường Chiêm thủ nhật Tinh linh tồn thiên cổ, long giang mã truc chi gian” có nghĩa là: Thần vũ động bốn bên trong lúc chiêm cường tống thịnh, thiêng liêng còn muôn thuở trong vùng núi mã sông Long
Đền vua Đinh và đền vua Lê là biểu tượng cho nghệ thuật chạm khắc gỗ thế kỳ 17
đã đạt đến trình độ điêu luyện và tinh xảo Hai ngôi đền mãi mãi là biểu tượng cho sự tôn kính, biết ơn của nhân dân cả nước nói chung và nhân dân Ninh Bình nói riêng với hai ông vua đã có công rất lớn trong việc khai mở nền độc lập dân tộc vào thế kỷ thứ X
Lễ hội đền vua Đinh vua Lê (lễ hội Trường Yên) được tổ chức hàng năm tại Cố đô Hoa Lư thuộc xã Trường Yên , huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) nơi toạ lạc của hai ngôi đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành cùng các nhân vật lịch sử có liên quan đến hai triều đại Đinh và Tiền Lê Lễ hội diễn ra từ ngày 8/3-10/03 âm lịch hàng năm thu hút rất đông đảo du khách địa phương tới tham quan du xuân Lễ hội Trường Yên đã tái hiện lại toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của vua Đinh Tiên Hoàng, từ thuở thơ ấu đến khi khai quang đế nghiệp Lễ hội thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” và lòng kính trọng đối với các bậc tiền nhân đã có công dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất giang sơn về một mối, xây dựng nên nhà nước quân chủ trung ương tập quyền đầu tiên ở Việt Nam Bên cạnh đó, lễ hội chứa đựng nhiều thông tin sử liệu quan trọng, góp phần làm rõ một giai đoạn trong lịch sử Việt Nam khẳng định bản lĩnh dân tộc qua từng thời kỳ lịch sử
2 Khu sinh thái Thung Nham
2.1 Phương tiện tham quan
Để vào Thung Nham Ninh Bình có thể lựa chọn cách mua vé đò đi thẳng vào Thung Nham, lái đò sẽ đưa bạn qua các khe núi để vào hang Bụt Hoặc cũng có thể đi
xe vào Thung Nham bằng đường bộ nếu như không muốn đi đò Một số địa điểm tham quan du khách sẽ phải leo thang bộ theo hướng dẫn của hướng dẫn viên