1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ bảo hiểm y tế đối với hộ gia đình từ thực tiễn tỉnh ninh bình

77 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chế độ bảo hiểm y tế đối với hộ gia đình từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình
Tác giả Trương Thị Thu Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hiền Phương
Trường học Trường Đại học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 921,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số công trình nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm y tế: Bài viết trên các tạp chí: “Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo luật BHYT Việt Nam

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI -

LUẬN VĂN THẠC SỸ

CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH

TỪ THỰC TIỄN TỈNH NINH BÌNH

TRƯƠNG THỊ THU THỦY

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH 7

1.1 Khái niệm chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình 7

1.1.1 Định nghĩa chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình 7

1.1.2 Đặc điểm của chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình 9

1.2 Quy định pháp luật hiện hành về chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình 11

1.2.1 Đối tượng tham gia, mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm y tế hộ gia đình 11

1.2.2 Chế độ hưởng bảo hiểm y tế hộ gia đình 17

1.2.3 Trình tự, thủ tục cấp thẻ bảo hiểm y tế và khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế 22

1.2.4 Kinh phí thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình 25

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH NINH BÌNH 31

2.1 Khái quát chung về kinh tế, xã hội và đặc điểm dân cư của tỉnh Ninh Bình 31

2.2 Cơ quan thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình ở tỉnh Ninh Bình 35

2.3 Một số kết quả đạt được trong thực hiện chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình ở Ninh Bình 39

2.4 Một số tồn tại trong thực hiện chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình ở tỉnh Ninh Bình và nguyên nhân 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56

Trang 3

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN TẠI TỈNH NINH BÌNH 57 3.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình

57 3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ bảo hiểm y tế hộ gia

đình tại tỉnh Ninh Bình 60 KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 14-11-2008, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo hiểm y tế, đánh dấu bước phát triển và hoàn thiện chính sách pháp luật về bảo hiểm y tế, hướng tới mục tiêu bao phủ toàn dân và phát triển hệ thống y tế theo định hướng công bằng, hiệu quả Luật bảo hiểm y tế ra đời đã tạo bước chuyển biến mới trong tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, các quy định trong Luật tác động đến nhiều đối tượng, trên nhiều phương diện khác nhau, từ cơ sở khám chữa bệnh đến các doanh nghiệp, cũng như đời sống kinh tế, xã hội của mọi tầng lớp nhân dân Đề án thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân của Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2012 đưa ra những mục tiêu tiếp tục mở rộng diện bao phủ tới 70% năm 2015 và 80% năm

2020 Đề án cũng đặt mục tiêu giảm tỉ lệ chi trả trực tiếp của người dân trong tổng chi y tế

Thực tế quá trình thực hiện Luật Bảo hiểm y tế ở nước ta cho thấy số người tham gia bảo hiểm y tế năm sau luôn cao hơn so với năm trước, song so với tiềm năng khai thác và phát triển mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, nhất là số đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình làm nông nghiệp, lao động tự do, người lao động làm việc tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa tham gia bảo hiểm y tế còn nhiều Đến năm 2019, vẫn còn hơn 11% dân số vẫn chưa tham gia bảo hiểm y tế,

số đối tượng này chủ yếu là người lao động tự do, hộ gia đình, nhất là hộ gia đình lao động nông nghiệp Tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình lần đầu tiên được quy định tại Luật sửa đổi bổ sung Luật bảo hiểm y tế năm 2014, được xem là một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân của Đảng

và Nhà nước ta Quá trình tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân càng cho thấy vai trò quan trọng của nhóm đối tượng này để đạt được mục tiêu đề ra và thực tiễn đã có những trở ngại đối với phát triển đối tượng hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế Do

đó, pháp luật bảo hiểm y tế tiếp tục có những sửa đổi liên quan đến nhóm đối tượng

Trang 5

hộ gia đình mà gần nhất là các quy định tại Nghị định số 146/2018/NĐ- CP, có hiệu lực từ ngày 01/12/2018

Ninh Bình là một tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng, có tỷ lệ dân cư trong độ tuổi lao động xấp xỉ 60% nhưng lại tập trung nhiều ở khu vực phi chính thức Nhìn chung đời sống người dân đạt mức trung bình so với cả nước song không đồng đều, tại một số huyện, xã đời sống người dân còn nhiều khó khăn Nhận thức được vai trò, ý nghĩa của thực hiện bảo hiểm y tế nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội, phát triển kinh tế xã hội địa phương, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước về y tế, Bảo hiểm xã hội tại tỉnh đã tích cực triển khai thực hiện các quy định của pháp luật bảo hiểm y tế Các cấp ủy đảng, chính quyền của tỉnh đã quán triệt các quan điểm, cụ thể hóa mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phù hợp với tình hình thực tiễn địa phương và được tổ chức thực hiện nghiêm túc nhằm đạt chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm

y tế được Thủ tướng Chính phủ giao Trong quá trình thực hiện, nhóm đối tượng hộ gia đình cũng được quan tâm và có những chính sách hỗ trợ để tăng số lượng người tham gia bảo hiểm y tế song kết quả đạt được còn những hạn chế, tỷ lệ hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh còn thấp so với tiềm năng Tỷ lệ hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế trên địa bàn tỉnh Ninh Bình lại đang có xu hướng giảm dần là nguy cơ ảnh hưởng đến mục tiêu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân tại địa phương nói riêng trong thời gian tới

Như vậy, việc nghiên cứu về thực trạng pháp luật về chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Ninh Bình là cần thiết nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình, nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Ninh Bình Qua đó thực hiện mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân, ngày càng nâng cao ý nghĩa, hiệu quả của bảo hiểm y tế trong việc thực hiện an sinh xã hội, chăm sóc y tế, bảo vệ sức khỏe người dân nói chung và tỉnh Ninh Bình nói riêng Xuất phát từ lý do này, tác giả đã chọn đề tài “Chế độ bảo hiểm y tế đối với hộ gia đình từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình” cho luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài:

Pháp luật về bảo hiểm y tế là một thành phần quan trọng của hệ thống pháp luật

Trang 6

an sinh xã hội nước ta Qua tìm hiểu của tác giả cho thấy có nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm y tế nói chung và một số công trình nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm y tế đối với từng nhóm đối tượng dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên các vấn đề về bảo hiểm y tế hộ gia đình chỉ được đề cập đến khi được đặt trong một số nghiên cứu về thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân Chưa có

đề tài nghiên cứu nào ở cấp độ là luận văn về pháp luật bảo hiểm y tế hộ gia đình Một số công trình nghiên cứu về pháp luật bảo hiểm y tế:

Bài viết trên các tạp chí: “Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo luật BHYT Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Dung trên Tạp chí Luật học số 4/2013; loạt bài “Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế có nhiều điểm mới”, “Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế khi khám, chữa bệnh để được hưởng đầy đủ quyền lợi theo Luật bảo hiểm y tế sửa đổi”, của tác giả Nguyễn Huy Nghị trên Tạp chí Luật học năm 2015; loạt bài: “Chính sách bảo hiểm y tế - thắp sáng những niềm tin” của Thái Dương, “Bảo hiểm y tế tạo ra nguồn lực phát triển y tế cơ sở” của Lê Công Minh Đức, “Thực hiện Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y

tế qua lăng kính giám sát” của Nguyễn Đức Thụ, “Bảo hiểm y tế Việt Nam – Mô hình

có nhiều kinh nghiệm tốt trong tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế” của tác giả Hải Hồng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội năm 2015; bài viết:

“Chuyển biến tích cực trên lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân” của tác giả Lê Thị Thu Hạnh, “Bảo hiểm y tế toàn dân – Giải pháp giúp người dân tránh “bẫy nghèo” của tác giả Thái Dương trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội năm 2016 và nhiều công trình khác nữa

Luận án: “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam” năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, luận án “Nghiên cứu phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo nhóm chẩn đoán với nhóm bệnh tăng huyết áp” năm 2012 của tác giả Lưu Viết Tĩnh

Ngoài ra, còn nhiều luận văn nghiên cứu về bảo hiểm y tế, có thể kể đến những luận văn gần đây: “Pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam hiện nay” năm 2014 của tác giả Phạm Thị Vy Linh; luận văn “Thực trạng thi hành bảo hiểm y tế tự nguyện ở Việt

Trang 7

Nam” năm 2014 của tác giả Doanh Thị Ngọc Tú; luận văn “Thực trạng thi hành pháp luật bảo hiểm y tế bắt buộc ở Việt Nam” năm 2015 của tác giả Bùi Thị Phương Dung; luận văn “Pháp luật bảo hiểm y tế bắt buộc từ thực tiễn thi hành tại tỉnh Phú Thọ” năm 2015 của tác giả Phan Diệu Linh; luận văn “Pháp luật về bảo hiểm y tế ở Việt Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh” năm 2016 của tác giả Đỗ Văn Hưởng; luận văn “Pháp luật về bảo hiểm y tế Việt Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Sơn La” năm 2016 của tác giả Lương Thị Như Hoa, luận văn “Pháp luật về bảo hiểm

y tế từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” năm 2017 của tác giả Vũ Kiều Hưng và nhiều công trình nghiên cứu khác nữa

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tìm hiểu những vấn đề pháp lý về chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình, nghiên cứu pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm y tế hộ gia đình và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Ninh Bình Từ đó, luận văn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế hộ gia đình và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Ninh Bình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Những nhiệm vụ nghiên cứu chính của luận văn:

- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình, pháp luật bảo hiểm y tế hộ gia đình

- Nghiên cứu, đánh giá các quy định pháp luật bảo hiểm y tế hiện hành của Việt Nam về bảo hiểm y tế hộ gia đình

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Ninh Bình

- Đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế hộ gia đình của nước ta và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Ninh Bình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo

Trang 8

hiểm y tế hộ gia đình, chủ yếu là quy định tại Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, được sửa đổi bổ sung năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành có quy định về nhóm đối tượng hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế

Luận văn cũng nghiên cứu về việc tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật

về bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Ninh Bình Ngoài ra, quá trình nghiên cứu có sự

so sánh, đặt trong tương quan kết quả thực hiện của cả nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo hiểm y tế và bảo hiểm y tế toàn dân Trong quá trình thực hiện luận văn, có sự kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu của phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; các phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê Với các phương pháp nghiên cứu nêu trên, các vấn đề được nghiên cứu trong quá trình thay đổi chính sách, quy định pháp luật về bảo hiểm y tế nhằm làm rõ những điểm mới, điểm tiến bộ và cả những hạn chế cần khắc phục Các luận điểm, nhận định nghiên cứu được trình bảy trên cơ sở nghiên cứu lý luận gắn với kết quả thực tiễn

Phương pháp phân tích, so sánh đối chiếu các quy định của pháp luật bảo hiểm

y tế nói chung và pháp luật bảo hiểm y tế đối với hộ gia đình qua từng thời ký, nhận diện những điểm mới và có luận giải nguyên nhân, cơ sở của những thay đổi, đánh giá sự tiến bộ, phù hợp với thực tế Phân tích việc thực hiện và kết quả thực hiện pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đinh fgắn với những đặc điểm, những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình của địa bàn nghiên cứu tỉnh Ninh Bình

để có những nhận định, đánh giá phù hợp

Phương pháp lịch sử, lôgic để luận giải cho những thay đổi về việc mở rộng đối tượng hộ gia đình tham gia bảo hiểm y tế, những thay đổi trong quy định pháp luật

và việc tổ chức triển khai thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Ninh Bình

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn là công trình nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đình; nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo

Trang 9

hiểm y tế hộ gia đình và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Ninh Bình Những đề xuất, kiến nghị được trình bày trong luận văn được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn Do đó, nó có giá trị tham khảo cho các cơ quan hữu quan trong quá trình xây dựng chính sách, hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đình Các đề xuất, kiến nghị được đưa ra có thể giúp nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Ninh Bình khắc phục những tồn tại, hạn chế hiện nay trong việc thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn tỉnh Các

đề xuất, kiến nghị của luận văn có thể được các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương nghiên cứu, xem xét áp dụng nhằm dần nâng cao tỷ lệ hộ gia đình tham gia bảo hiểm

y tế, đưa chế độ an sinh xã hội này phát huy hiệu quả đến đông đảo các đối tượng dân

cư hơn nữa

7 Kết cấu của luận văn

Về kết cấu, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Khái quát về bảo hiểm y tế hộ gia đình và quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm y tế hộ gia đình

Chương 2: Thực tiễn thực hiện chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình tại tỉnh Ninh Bình

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm y tế hộ gia đình

và nâng cao hiệu quả thực hiện tại tỉnh Ninh Bình

Trang 10

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH

1.1 Khái niệm chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình

1.1.1 Định nghĩa chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình

cho đối tượng được bảo hiểm gặp rủi ro, sự cố bảo hiểm” [25; tr.11]

Định nghĩa được cho là chung nhất về bảo hiểm là “Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm trong từng trường hợp xảy ra rủi ro thuộc phạm vi bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp

một khoản phí cho chính anh ta hoặc cho người thứ ba” [24; tr12] Như vậy, người

tham gia bảo hiểm chuyển rủi ro cho người bảo hiểm bằng cách nộp một khoản phí

để hình thành quỹ bảo hiểm Khi người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro, người bảo hiểm

sẽ trích một phần kinh phí từ quỹ bảo hiểm để bù đắp cho những thiệt hại mà người tham gia bảo hiểm gặp phải song phạm vi bảo hiểm chỉ là những rủi ro mà người tham gia bảo hiểm đã đăng ký

Trong đời sống, kinh tế, xã hội, rủi ro có thể đến từ bất cứ đâu, trong mọi lĩnh vực như việc làm, sức khỏe, nhà cửa, công trình xây dựng khác vì thế các lĩnh vực của bảo hiểm cũng rất phong phú Đối với con người, ai cũng mong muốn được sống

Trang 11

trong no ấm, hạnh phúc song các rủi ro về sức khỏe luôn có thể xảy ra, mang lại những khó khăn về cả tinh thần và tài chính bởi họ thường bị gián đoạn quá trình lao động, phải chi trả các chi phí khám, chữa bệnh mà có thể không xác định được trước Những rủi ro về sức khỏe ảnh hưởng lớn đến cá nhân người bị ốm đau, tai nạn và gia đình họ và ở tầm vĩ mô, chính sách, nó ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của đời sống kinh tế, xã hội mỗi quốc gia Do đó bảo hiểm y tế ra đời, có bộ phận BHYT mang tính chất của bảo hiểm xã hội, an sinh xã hội quốc gia và có bộ phận BHYT mang tính chất kinh doanh BHYT mang tính chất của bảo hiểm xã hội có tính chất nhân đạo, an sinh xã hội.Tổ chức Y tế thế giới đưa ra quan niệm “Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm không kinh doanh, không vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyền con người” [34] BHYT theo nghĩa này được hầu hết các quốc gia trên thế giới thống nhất, lựa chọn là giải pháp thực hiện sứ mệnh bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cộng đồng

Chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình:

Rủi ro về sức khỏe có thể xảy ra với mọi thành viên trong xã hội, tại bất kỳ thời điểm nào Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân với BHYT toàn dân là giải pháp cơ bản, là định hướng, đích phấn đấu của nhiều quốc gia Theo đó, mọi người dân được bảo đảm sử dụng dịch vụ y tế có chất lượng khi cần và không phải chịu chi phí quá lớn khi sử dụng Bảo hiểm y tế là một chính sách an sinh xã hội, có đối tượng tham gia rộng rãi, hướng đến bao gồm hầu hết các thành phần dân cư Mỗi thành phần dân

cư có những đặc điểm khác nhau về thu nhập, điều kiện sống do đó pháp luật quy định đối tượng tham gia BHYT gồm những nhóm khác nhau với các đặc trưng riêng

về phương thức đóng BHYT, mức đóng BHYT và chế độ hưởng BHYT… phù hợp với đặc điểm của từng nhóm

Dưới góc độ pháp lý, hộ gia đình là một chủ thể của các quan hệ dân sự Các thành viên củahộ gia đình có mối quan hệ về huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan

hệ về nuôi dưỡng Chế độ BHYT hộ gia đình là một khái niệm không mới, có thể nói

nó là một khái niệm đương nhiên trong thực thi chính sách BHYT từ nhiều năm nay

ở nhiều quốc gia BHYT có thể coi hộ gia đình là một nhóm đối tượng và có những

Trang 12

quy định riêng phù hợp với đặc điểm của hộ gia đình Như vậy có thể nói, chế độ BHYT hộ gia đình là chế độ BHYT áp dụng cho hộ gia đình, bao gồm những quy định về việc đóng BHYT, chế độ hưởng BHYT… đối với hộ gia đình.

1.1.2 Đặc điểm của chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình

Chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình có những đặc điểm chung của BHYT nói chung và có những đặc điểm riêng do đặc thù của đối tượng hộ gia đình Chế độ BHYT hộ gia đình có những đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, chế độ BHYT hộ gia đình có đối tượng là hộ gia đình, khái niệm hộ gia đình được quy định chặt chẽ theo điều kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước Tuy có thể khác biệt về một vài nội dung nhưng khái niệm này ở các nước đều có một điểm chung, một nội hàm khá thống nhất là người có tên trong sổ hộ khẩu.Hộ gia đình có thể là hộ mà quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là quan hệ hôn nhân chính thức và các con của họ kể các con nuôi được pháp luật công nhận nhưng cũng có thể

là người sống chung với chủ hộ được cơ quan quản lý nhân khẩu địa phương xác nhận Chương trình Obama Care của Mỹ còn quy định về người ăn theo được hưởng BHYT hộ gia đình, đó là người độc thân có tên trong hộ khẩu, chưa có quan hệ lao động và dưới 26 tuổi (có thể là tuổi tối đa của con cái đang theo học các trường Đại học, Cao đẳng…) Người trên 26 tuổi phải thực hiện trách nhiệm tham gia BHYT như một lao động chính của một hộ gia đình [26, tr.27] Hộ gia đình có thể là nhiều người nhưng có thể chỉ có một người duy nhất

Thứ hai, mức đóng BHYT của từng thành viên trong hộ gia đình có thể là như nhau hoặc khác nhau, tùy thuộc quy định pháp luật của mỗi quốc gia Một số quốc gia Tây Âu thực hiện thu tiền BHYT theo đầu hộ gia đình mà không phụ thuộc số lượng người của hộ gia đình, ví dụ như 9,5%/theo đầu hộ đăng ký với cơ quan hành chính địa phương Nhiều quốc gia khác cũng tính mức phí chung cho hộ gia đình ví

dụ như Đức là 9,6%, Pháp 13,6% , Đài Loan 6%…Đây là chính sách buộc người độc thân, là những người thường có thu nhập trung bình cao hơn, có trách nhiệm nhiều hơn đối với xã hội Nhiều nước áp dụng mức đóng góp của người ăn theo như nhau nhưng có trần cho một gia đình như Israel hoặc như Mỹ Các nước này quy định các

Trang 13

doanh nghiệp có từ 50 lao động trở lên đều phải thực hiện BHYT cho người lao động theo hộ gia đình [25, tr.27] Song cũng có những quốc gia lại quy định mức đóng BHYT phụ thuộc vào số lượng người của hộ gia đình Mức đóng BHYT có thể được giảm dần tương ứng với số lượng nhân khẩu của hộ, hộ càng đông nhân khẩu thì mức đóng càng được giảm nhằm khuyến khích họ tham gia BHYT

Thứ ba, phần lớn các nước khi thực hiện chế độ BHYT theo hộ gia đình đều có

sự hỗ trợ lớn từ Chính phủ hoặc từ chủ sử dụng lao động cho các thành viên khác của

hộ gia đình tham gia BHYT Chính sách BHYT là một nội dung của an sinh xã hội

và là một trong các trụ cột của an sinh xã hội, các nước đều hướng tới thực hiện BHYT toàn dân, để mọi người dân đều được chăm sóc về y tế Mở rộng bao phủ BHYT trong khu vực phi chính thức luôn là một thách thức đối với các quốc gia, đặc biệt với những nước mà khối lao động phi chính thức còn chiếm tỷ lệ lớn trong dân

số Trong đó, việc thực hiện được BHYT toàn dân hay không ở một số quốc gia lại phụ thuộc nhiều vào nhóm hộ gia đình Đây là nhóm đối tượng khá đa dạng về mức sống, thu nhập và trình độ nhận thức do tùy thuộc vào thành phần xã hội và địa bàn sinh sống Trong hộ gia đình thường có người lao động và những người ăn theo mà đôi khi việc lo cơm gạo, những chi tiêu thiết yếu hàng ngày cho những người ăn theo

đã là gánh nặng đối với những người lao động trụ cột trong gia đình Vì thế các quốc gia đều quy định hỗ trợ cho hộ gia đình để họ có thể tham gia BHYT

Chính phủ dùng ngân sách để hỗ trợ cho hộ gia đình trong việc đóng phí BHYT hoặc chủ sử dụng lao động hỗ trợ cho người ăn theo của người động để họ tham gia BHYT như vợ của người lao động không có việc làm, con cái, cha mẹ phụ thuộc nuôi dưỡng…Mức độ hỗ trợ tùy thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia Tại Cộng hòa Séc, Chính phủ dùng ngân sách để hỗ trợ cho toàn bộ người ăn theo trong hộ gia đình là trẻ em dưới 06 tuổi, vợ ở nhà không đi làm, người khuyết tật, người già chưa có BHYT Chương trình Obama Care của nước Mỹ quy định, người ăn theo là người độc thân có tên trong hộ khẩu, chưa có quan hệ lao động và dưới 26 tuổi (có thể là tuổi tối đa của con cái đang theo học các trường Đại học, Cao đẳng…) còn người trên

26 tuổi phải thực hiện trách nhiệm tham gia BHYT như một lao động chính của một

Trang 14

hộ gia đình [30]

1.2 Quy định pháp luật hiện hành về chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình

1.2.1 Đối tượng tham gia, mức đóng và phương thức đóng bảo hiểm y tế hộ gia đình

*Đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện nay, có thể hiểu tham gia BHYT theo

hộ gia đình là việc người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú cùng tham gia BHYT, trừ những thành viên gia đình đã thuộc đối tượng đã tham gia BHYT thuộc nhóm do người lao động, chủ sử dụng lao động đóng; nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng; các nhóm được ngân sách nhà nước đóng hoặc hỗ trợ mức đóng Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP, nhóm tham gia BHYT hộ gia đình gồm có:

Một là, người có tên trong sổ hộ khẩu, trừ những người thuộc đối tượng quy

định tại các Điều 1, 2, 3, 4 và 6 của Nghị định 146/2018/NĐ-CP Như vậy, đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình là một trong 06 nhóm đối tượng tham gia BHYT, các nhóm đối tượng còn lại là nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, nhóm do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng, nhóm do ngân sách nhà nước đóng, nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng và nhóm do người sử dụng lao động đóng

Sổ hộ khẩu được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký thường trú và

có giá trị xác định nơi thường trú của công dân [4] Theo quy định tại tại khoản 1 Điều 12 Luật Cư trú, “nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú” Sổ hộ khẩu được cấp cho từng hộ gia đình Mỗi hộ gia đình cử một người có năng lực hành

vi dân sự đầy đủ làm chủ hộ để thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú Trường hợp không có người từ đủ mười tám tuổi trở lên hoặc có người từ đủ mười tám tuổi tuổi trở lên nhưng bị mất hoặc

hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được cử một người trong hộ làm chủ hộ Những

người ở chung một chỗ ở hợp pháp và có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột thì có thể được cấp chung một sổ hộ khẩu

Trang 15

Nhiều hộ gia đình ở chung một chỗ ở hợp pháp thì mỗi hộ gia đình được cấp một sổ

hộ khẩu Người ở chung một chỗ ở nhưng không có quan hệ gia đình là ông, bà, cha,

mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 19 và Điều 20 của Luật Cư trú và được chủ hộ đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu cấp cho hộ gia đình thì được nhập chung vào sổ hộ khẩu đó

Theo quy định tại Điều 26 Luật Cư trú, sổ hộ khẩu được cấp cho cá nhân thuộc một trong những trường hợp: 1) Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có chỗ

ở độc lập với gia đình của người đó, người sống độc thân, người được tách sổ hộ khẩu theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật Cư trú; 2) Người làm nghề lưu động trên tàu, thuyền, phương tiện hành nghề lưu động khác, nếu họ không sống theo hộ gia đình; 3) Thương binh, bệnh binh, người thuộc diện chính sách ưu đãi của Nhà nước, người già yếu, cô đơn, người tàn tật và các trường hợp khác được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung; 4) Chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mà sống tại cơ sở tôn giáo Người không có quan hệ là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con

và anh, chị, em ruột, cháu ruột với cá nhân nhưng thuộc trường hợp quy định tại Điều

19, Điều 20 Luật Cư trú, nếu được chủ hộ là cá nhân đồng ý thì cũng được nhập chung vào sổ hộ khẩu đó Trong số các đối tượng trên, những người là cựu chiến binh thuộc nhóm ngân sách nhà nước đóng BHYT thì không thuộc đối tượng hộ gia đình tham gia BHYT, chức sắc tôn giác, nhà tu hành đã thuộc đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình theo quy định tại Điều 5 Nghị định 146/2018/ND-CP

Hai là, người có tên trong sổ tạm trú, trừ đối tượng thuộc các nhóm đối tượng

khác tham gia BHYT theo quy định tại các ĐIều 1, 2, 3 và 6 của Nghị định 146/2018/NĐ-CP và đối tượng đã tham gia BHYT nêu trên

Theo quy định tại Điều 30 Luật Cư trú, người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể

từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn Trường hợp người đã đăng ký tạm trú nhưng

Trang 16

không sinh sống, làm việc, lao động, học tập từ sáu tháng trở lên tại địa phương đã đăng ký tạm trú thì cơ quan đã cấp sổ tạm trú phải xoá tên người đó trong sổ đăng ký tạm trú

Như vậy, người có tên trong sổ tạm trú là đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình phải là người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại địa phương từ 06 tháng trở lên tại địa phương và không thuộc trường hợp đăng ký thường trú

Ba là, các đối tượng được tham gia BHYT theo hình thức hộ gia đình theo quy

định của pháp luật gồm có: Chức sắc, chức việc, nhà tu hành; người sinh sống trong

cơ sở bảo trợ xã hội trừ những đối tượng đã thuộc các nhóm đối tượng tham gia BHYT khác mà không được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHYT Căn cứ quy định tại Điều 25, Điều 26 Nghị định 136/2013/NĐ-CP ngày 31/10/2013 quy định chính sách xã hội về bảo trợ xã hội cho thấy người sinh sống trong cơ sở bảo trợ xã hội mà không được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng BHYT thuộc đối tượng được thamn gia BHYT theo hình thức hộ gia đình là những người tự nguyện sống tại cơ sở bảo trợ xã hội, đó là người cao tuổi thực hiện theo hợp đồng ủy nhiệm chăm sóc, người không thuộc đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc cần bảo vệ khẩn cấp không có điều kiện sống tại gia đình, có nhu cầu sống tại cơ sở bảo trợ xã hội

Theo quy định tại khoản 7, khoản 8, khoản 9 Điều 3 Luật tôn giáo, nhà tu hành là

tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy

định của tổ chức tôn giáo, chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức, chức việc là người được tổ chức tôn giáo, tổ

chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo

bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức

Theo Luật BHYT sửa đổi năm 2014, nhóm hộ gia đình chuyển thành đối tượng tham gia BHYT bắt buộc nhưng theo hình thức hộ gia đình Đến tháng 5 năm 2019, toàn quốc đã có hơn 17 triệu người tham gia theo hình thức này [47] Pháp luật BHYT hiện nay quy định đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình được xác định căn cứ vào những người có tên trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú Trong khi đó, theo quy định của Luật cư trú hiện nay, những người không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng nhưng

Trang 17

có cùng nơi ở hợp pháp do được cho mượn, cho thuê, ở nhờ mà được chủ hộ đồng ý thì cũng có thể nhập chung sổ hộ khẩu, sổ tạm trú Quy định này mang nặng về căn

cứ hành chính song đã tạo điều kiện mở rộng, phát triển đối tượng tham gia BHYT

hộ gia đình Khác với pháp luật một số nước trên thế giới, đối tượng hộ gia đình tham gia BHYT cũng được xác định căn cứ yếu tố giấy tờ về hộ tịch nhưng thành viên phải

là những người có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng bởi hầu hết các nước có chế độ

ưu đãi, hỗ trợ cho người tham gia BHYT hộ gia đình Quy định người tham gia BHYT

hộ gia đình phải là những người có cùng nơi ở và có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng nhằm tránh lạm dụng để hưởng hỗ trợ tham gia BHYT

Đối tượng là chức sắc, chức việc, nhà tu hành và người sinh sống trong các cơ

sở bảo trợ sở xã hội mà không tham gia BHYT tại các nhóm khác mà tham gia chế

độ BHYT hộ gia đình là đối tượng được bổ sung so với trước đây, khi Nghị định 146/2018/NĐ-CP chưa được ban hành Qua đó, mở rộng đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, bao phủ hầu hết các thành phần dân cư trong xã hội Có thể nói, nếu người dân không thuộc đối tượng nhóm tham gia BHYT có sự hỗ trợ trực tiếp một phần hoặc toàn bộ phí tham gia BHYT từ người sử dụng lao động, tổ chức bảo hiểm xã hội, bằng cách tự đóng góp phí BHYT, BHYT theo hộ gia đình được ví như tấm lưới

đỡ sau cùng cho những người chưa thuộc bất kỳ nhóm đối tượng tham gia BHYT nào

kể trên

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 1 Thông tư liên tịch 41/2014/TTLT-BYT-BTC quy định đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình là toàn bộ những người có tên trong sổ hộ khẩu, trừ đối tượng thuộc nhóm khác và người đã khai báo tạm vắng; toàn

bộ những người có tên trong sổ tạm trú, trừ đối tượng thuộc các nhóm khác theo quy định Như vậy, theo quy định này, tất cả các thành viên trong gia đình đều phải tham gia BHYT, trừ những người đã có thẻ bảo hiểm y tế và những người đã khai báo tạm vắng Do vậy, không thể mua bảo hiểm y tế cho một người mà phải mua cho tất cả các thành viên trong gia đình Theo quy định tại Nghị định 146/2018/NĐ-CP hiện nay, chỉ cần là người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú mà không thuộc các nhóm đối tượng khác tham gia BHYT thì có thể tham gia BHYT hộ gia đình mà

Trang 18

không cần toàn bộ các thành viên có tên trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú cùng tham gia Đây là quy định mới, tạo cơ hội thuận lợi hơn cho người dân tham gia BHYT

* Mức đóng, phương thức đóng BHYT hộ gia đình

Mức đóng BHYT của thành viên hộ gia đình dần lũy thoái lần lượt theo thứ tự người cùng hộ tham gia BHYT Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Nghị định 146/2018/NĐ-CP, mức đóng BHYT hộ gia đình được giảm dần từ thành viên thứ hai trở đi, cụ thể như sau:

- Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở

- Người thứ 2 đóng 70% mức đóng của người thứ nhất

- Người thứ 3 đóng 60% mức đóng của người thứ nhất

- Người thứ 4 đóng 50% mức đóng của người thứ nhất

- Từ người thứ 5 trở đi đóng 40% mức đóng của người thứ nhất

Việc giảm trừ mức đóng BHYT nêu trên được thực hiện khi các thành viên tham gia BHYT theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính Đối với hộ gia đình làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình được ngân sách nhà nước

hỗ trợ 30% mức đóng thì không áp dụng giảm trừ mức đóng nêu trên

Định kỳ 03 tháng, 06 tháng hoặc 12 tháng, người đại diện hộ gia đình hoặc thành viên hộ gia đình tham gia BHYT nộp tiền đóng BHYT cho cơ quan bảo hiểm xã hội

Hộ gia đình tham gia BHYT có thể đóng tiền BHYT trực tiếp tại cơ quan BHXH cấp huyện, tỉnh hoặc thông qua các đại lý thu BHYT, bao gồm:

+ UBND các xã, phường, thị trấn

+ Tổ chức kinh tế: Bưu điện, doanh nghiệp

+ Hội đoàn thể: Hội Nông dân, Hội Phụ nữ

Khi Nhà nước điều chỉnh mức đóng BHYT, điều chỉnh mức lương cơ sở, người tham gia không phải đóng bổ sung hoặc không được hoàn trả phần chênh lệch do điều chỉnh mức đóng BHYT, mức lương cơ sở đối với thời gian còn lại mà người tham gia đã đóng BHYT Từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 1.390.000 đồng/tháng lên 1.490.000 đồng/tháng Do đó, mức đóng BHYT của các thành viên trong hộ gia đình được xác định như sau: Người thứ nhất đóng 67.050 đồng/tháng,

Trang 19

đóng một năm là 804.600 đồng Với người thứ hai, đóng 46.935 đồng/tháng, mức đóng một năm là 563.220 đồng Với người thứ ba, đóng 40.230 đồng/tháng, mức đóng một năm là 482.760 đồng Với người thứ tư, đóng 33.525 đồng/tháng, mức đóng một năm là 405.300 đồng Từ người thứ 5 trở đi, đóng 26.820 đồng/tháng, mức đóng một năm là 321.840 đồng Như vậy, mức đóng cao nhất được áp dụng đối với người thứ nhất và giảm dần theo thứ tự đến người thứ 5 Từ người thứ 5 trở đi thì mức đóng như nhau

Theo quy định về mức đóng BHYT hộ gia đình nêu trên, có thể thấy pháp luật BHYT đã có ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích các gia đình có đông người tham gia BHYT Các cá nhân tham gia BHYT hộ gia đình phải đóng mức tiền BHYT cao là nhằm san

sẻ rủi ro cho những người khác trong xã hội bởi họ không có người ăn theo, thường

là có điều kiện thu nhập, kinh tế tốt hơn.Quy định về mức đóng tham gia BHYT theo

hộ gia đình như vậy là giảm khá nhiều so với việc mỗi thành viên tự tham gia nhưng vẫn là thách thức với những hộ thu nhập thấp, nhất là những gia đình thuần nông tại các vùng miền điều kiện kinh tế còn khó khăn

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 146/2018/NĐ-CP hiện nay, nhiều đối tượng tham gia BHYT được ngân sách nhà nước hỗ trợ tiền đóng BHYT, trong đó có các

hộ gia đình cận nghèo theo tiêu chí chuẩn cận nghèo theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; người thuộc hộ gia đình nghèo đa chiều không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 9 Điều 3 Nghị định 146/2018/NĐ-CP, người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình theo quy định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Các đối tượng quy định tại Điều 5 của Nghị định 146/2018/NĐ-CP là nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình thì Nghị định không quy định được hỗ trợ đóng BHYT

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 35 Luật BHYT năm 2014, trường hợp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có số thu BHYT dành cho khám bệnh, chữa bệnh lớn hơn số chi khám bệnh, chữa bệnh trong năm, sau khi được Bảo hiểm xã hội Việt Nam thẩm định quyết toán thì phần kinh phí chưa sử dụng hết được phân bổ theo lộ trình: “Từ ngày Luật này có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2020 thì 80%

Trang 20

chuyển về quỹ dự phòng, 20% chuyển về địa phương để sử dụng theo thứ tự ưu tiên

là hỗ trợ quỹ khám bệnh, chữa bệnh cho người nghèo; hỗ trợ mức đóng BHYT cho một số nhóm đối tượng phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; mua trang thiết bị y tế phù hợp với năng lực, trình độ của cán bộ y tế; mua phương tiện vận chuyển người bệnh ở tuyến huyện” Như vậy, đối tượng tham gia BHYT theo hộ gia đình vẫn có thể được hỗ trợ tiền tham gia BHYT tùy thuộc vào tình hình sử dụng quỹ BHYT của địa phương Nhưng điều này là rất khó khả thi trên thực tế bởi những năm gần đây, rất nhiều tỉnh thành trong cả nước rơi vào trình trạng bội chi quỹ BHYT

1.2.2 Chế độ hưởng bảo hiểm y tế hộ gia đình

Theo quy định của pháp luật BHYT Việt Nam hiện hành, người tham gia BHYT khi bị rủi ro về sức khỏe, phải sử dụng các dịch vụ y tế, thực hiện các thủ tục, hồ sơ theo luật định thì sẽ được hưởng các chế độ BHYT Phạm vi hưởng BHYT và mức hưởng BHYT đối với đối tượng hộ gia đình tham gia BHYT thực hiện theo quy định chung của BHYT như sau:

Phạm vi hưởng bảo hiểm y tế

Theo quy định hiện hành, đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình được quỹ BHYT chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, khám thai định kỳ, sinh con; thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế trong danh mục của Bộ Y tế

Danh mục và tỷ lệ, điều kiện thanh toán đối với thuốc, hóa chất, vật tư y tế, dịch

vụ kỹ thuật y tế thuộc phạm vi cho trả của quỹ BHYT hiện nay thực hiện theo quy định tại Thông tư số 04/2017/TT-BYT ngày 14/4/2017 của Bộ Y tế Bao gồm các loại vật tư y tế tiêu hao, vật tư y tế thay thế nhân tạo, vật liệu thay thế, vật liệu cấy ghép, dụng cụ chuyên môn, quy định mức thanh toán tổng chi phí vật tư y tế cho một lần sử dụng dịch vụ kỹ thuật không vượt quá 45 tháng lương cơ sở Quy định này cơ

sở để BHYT thanh toán chi phí vật tư y tế sử dụng cho người tham gia BHYT theo quy định của pháp luật

Điều 23 Luật BHYT quy định các trường hợp người tham gia BHYT không được hưởng BHYT gồm trường hợp chi phí thuộc phạm vi được hưởng của người

Trang 21

tham gia BHYT nhưng đã được ngân sách nhà nước chi trả; điều dưỡng, an dưỡng tại

cơ sở điều dưỡng, an dưỡng; khám sức khỏe; xét nghiệm, chẩn đoán thai không nhằm mục đích điều trị; sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, nạo hút thai, phá thai, trừ trường hợp phải đình chỉ thai nghén do nguyên nhân bệnh

lý của thai nhi hay của sản phụ, sử dụng dịch vụ thẩm mỹ; điều trị lác, cận thị và tật khúc xạ của mắt, trừ trường hợp trẻ em dưới 6 tuổi; sử dụng vật tư y tế thay thế bao gồm chân tay giả, mắt giả, răng giả, kính mắt, máy trợ thính, phương tiện trợ giúp vận động trong khám chữa bệnh và phục hồi chức năng trong trường hợp thảm họa; khám, chữa bệnh nghiện ma túy, nghiện rượu hoặc chất gây nghiện khác; giám định

y khoa, giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần; tham gia thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu khoa học Quỹ BHYT cũng không thanh toán đối với các trường hợp vật

tư y tế đã được ngân sách nhà nước hoặc nguồn tài chính khác chi trả; vật tư y tế sử dụng trong các dịch vụ kỹ thuật chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc không thuộc phạm vi quyền lợi theo quy định của pháp luật [17]

Mức hưởng bảo hiểm y tế

Mức hưởng bảo hiểm y tế có sự khác biệt trong các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Người tham gia BHYT đi khám, chữa bệnh đúng đúng nơi đăng ký

khám chữa ban đầu, cấp cứu, hoặc được chuyển tuyến thì được thanh toán như sau:

- 100% chi phí khám, chữa bệnh tại tuyến xã

- 100% chi phí khám, chữa bệnh đối với trường hợp chi phí cho một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương cơ sở;

- 100% chi phí khám, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm

y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến

- 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các trường hợp khác

Trường hợp 2: Người tham gia BHYT tự đi khám, chữa bệnh không đúng tuyến

thì cũng được quỹ BHYT thanh toán theo mức hưởng quy định đối với nhóm trường hợp người tham gia BHYT khám chữa bệnh tại nơi đăng ký khám chữa bệnh BHYT

Trang 22

hoặc theo quy định về chuyển tuyến điều trị, đảm bảo thủ tục khám chữa bệnh BHYT theo tỷ lệ có sự phân biệt tuyến điều trị và lộ trình như sau:

- Tại bệnh viện tuyến trung ương: 40% chi phí điều trị nội trú

- Tại bệnh viện tuyến tỉnh: 60% chi phí điều trị nội trú từ 01/01/2015 đến ngày 31/12/2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01/ 01/2021 trong phạm vi cả nước

- Tại bệnh viện tuyến huyện: 70% chi phí khám, chữa bệnh từ 01/01/2015 đến ngày 31/12/2015; 100% chi phí khám, chữa bệnh (cả nội trú lẫn ngoại trú) từ ngày 01/01/2016

Từ ngày 01/01/2016, người tham gia BHYT đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến xã/phòng khám đa khoa/bệnh viện tuyến huyện được quyền khám, chữa bệnh BHYT tại trạm y tế tuyến xã/phòng khám đa khoa/bệnh viện tuyến huyện trong cùng địa bàn tỉnh có mức hưởng như trên

Từ ngày 01/01/2021, quỹ BHYT chi trả chi phí điều trị nội trú như trường hợp người tham gia BHYT đi khám, chữa bệnh đúng nơi đăng ký khám chữa ban đầu, cấp cứu, hoặc được chuyển tuyến cho người tham gia BHYT khi tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh trong phạm vi

cả nước

Trường hợp 3: Người tham gia BHYT khám, chữa bệnh tại các cơ sở khám,

chữa bệnh giáp ranh của tỉnh

Theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 146/2018/NĐ-CP, người tham gia BHYT đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại trạm y tế tuyến xã giáp ranh của tỉnh giáp ranh được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng và mức hưởng như đối với người đi khám, chữa bệnh đúng nơi đăng ký ban đầu khi đến khám bệnh, chữa bệnh tại trạm y tế tuyến xã giáp ranh của tỉnh giáp ranh

Quy định này xuất phát từ thực tế tại nơi nhiều nơi, nếu người bệnh đi khám bệnh, chữa bệnh đúng tuyến sẽ gặp khó khăn về địa hình, thời gian đi lại khiến người bệnh không được cứu chữa kịp thời Nếu bắt buộc phải đến đúng cơ sở khám chữa

Trang 23

bệnh theo đúng tuyến mới được hưởng BHYT có thể để lại những hậu quả không mong muốn, đi ngược lại giá trị nhân đạo, an sinh xã hội của BHYT

Trường hợp 4: Người có thẻ bảo hiểm y tế khám, chữa bệnh theo yêu cầu

Các trường hợp khám bệnh, chữa bệnh theo yêu cầu được quỹ BHYT thanh toán trong phạm vi và mức hưởng BHYT nhưng có sự phân biệt trong trường hợp: Trường hợp người tham gia BHYT KCB tại nơi đăng ký KCB BHYT, đảm bảo thủ tục KCB BHYT được thanh toán theo mức như trường hợp người tham gia BHYT KCB tại nơi đăng ký KCB BHYT hoặc theo quy định về chuyển tuyến điều trị, đảm bảo thủ tục KCB BHYT; trường hợp người có thẻ BHYT tự đi KCB không đúng tuyến thì ngoài phần chi phí được quỹ BHYT thanh toán, người bệnh tự chi trả phần chi phí ngoài phạm vi quyền lợi và mức hưởng theo quy định

Trường hợp 5: Khám chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến huyện

và tương đương không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh BHYT (trừ trường hợp cấp cứu):

Trường hợp khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú, thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng và mức hưởng BHYT theo quy định nhưng tối đa không quá 0,15 lần mức lương cơ sở tại thời điểm khám bệnh, chữa bệnh;

Trường hợp khám bệnh, chữa bệnh nội trú, thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng và mức hưởng BHYT theo quy định nhưng tối đa không quá 0,5 lần mức lương cơ sở tại thời điểm ra viện

Trường hợp người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến tỉnh và tương đương không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh BHYT (trừ trường hợp cấp cứu), thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng và mức hưởng BHYT theo quy định nhưng tối đa không quá 1,0 lần mức lương

cơ sở tại thời điểm ra viện

Trường hợp người bệnh đến khám bệnh, chữa bệnh nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến trung ương và tương đương không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (trừ trường hợp cấp cứu), thanh toán theo chi phí thực tế trong

Trang 24

phạm vi được hưởng và mức hưởng BHYT theo quy định nhưng tối đa không quá 2,5 lần mức lương cơ sở tại thời điểm ra viện

Trường hợp người bệnh đi khám bệnh, chữa bệnh tại nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu không đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật BHYT được quỹ BHYT thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng và mức hưởng BHYT nhưng tối đa không quá 0,15 lần mức lương cơ sở tại thời điểm khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú và tối đa không quá 0,5 lần mức lương cơ sở tại thời điểm ra viện đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh nội trú

Ngoài ra, pháp luật còn quy định một số trường hợp cụ thể sau:

- Trường hợp chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh đối với người bệnh cần phải

có nhân viên y tế đi kèm và có sử dụng thuốc, vật tư y tế theo yêu cầu chuyên môn trong quá trình vận chuyển, thì chi phí thuốc, vật tư y tế được tổng hợp vào chi phí điều trị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chỉ định chuyển tuyến

- Trường hợp người bệnh sau khi đã điều trị nội trú ổn định nhưng cần phải tiếp tục sử dụng thuốc sau khi ra viện theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế, quỹ BHYT thanh toán chi phí thuốc trong phạm vi được hưởng và mức hưởng theo chế độ quy định Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tổng hợp khoản chi thuốc này vào chi phí khám bệnh, chữa bệnh của người bệnh trước khi

ra viện

- Trường hợp người có thẻ BHYT đang điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng thẻ BHYT hết hạn sử dụng thì được quỹ BHYT thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng và mức hưởng cho đến khi ra viện nhưng tối đa không vượt quá 15 ngày kể từ ngày thẻ BHYT hết hạn sử dụng Có thể nói đây là quy định mang tính nhân đạo, nhân văn của BHYT vì khi đã rơi vào trường hợp ốm đau, phải sử dụng các dịch vụ y tế, người bệnh ít nhiều bị ảnh hưởng đến tài chính mà khi đang phải điều trị, họ bị gián đoạn về lao động, khó có thể khắc phục được ngay

Trang 25

1.2.3 Trình tự, thủ tục cấp thẻ bảo hiểm y tế và khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

* Thẻ bảo hiểm y tế của người tham gia chế độ BHYT hộ gia đình

Thẻ BHYT được cấp cho người tham gia BHYT và làm căn cứ để được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế theo quy định của Luật BHYT Theo quy định tại Nghị định 146/2018/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm lập danh sách đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình, ngoài ra phải có Tờ khai tham gia bảo hiểm y tế của hộ gia đình đối với người tham gia BHYT lần đầu Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật BHYT 2014, trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ

sơ gồm tờ khai và danh sách tham gia BHYT hộ gia đình, tổ chức bảo hiểm y tế phải chuyển thẻ BHYT cho người tham gia BHYT

Pháp luật hiện nay quy định một mẫu thẻ BHYT sử dụng chung cho các đối tượng tham gia BHYT mà không có sự phân biệt Theo đó, thẻ BHYT cho đối tượng tham gia hộ gia đình có những nội dung sau:

- Thông tin cá nhân của người tham gia bảo hiểm y tế, bao gồm: Họ và tên; giới tính; ngày tháng năm sinh; địa chỉ nơi cư trú hoặc nơi làm việc

- Mức hưởng bảo hiểm y tế

- Thời điểm thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng

- Nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu

- Thời gian tham gia bảo hiểm y tế 05 năm liên tục trở lên đối với đối tượng phải cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh

- Ảnh của người tham bảo hiểm y tế đối với trường hợp người tham gia bảo hiểm y tế không có giấy tờ xác nhận nhân thân có ảnh do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp hoặc Giấy xác nhận của Công an cấp xã

Theo quy định tại Điều 16, Điều 12 Luật BHYT và khoản 8 Điều 13 Nghị định 146/2018/NĐ-CP, thẻ bảo hiểm y tế có giá trị sử dụng từ ngày người tham gia nộp tiền đóng BHYT Trường hợp đối tượng tham gia bảo hiểm y tế thuộc nhóm hộ gia đình tham gia lần đầu hoặc tham gia không liên tục từ 03 tháng trở lên trong năm tài chính thì thẻ BHYT có thời hạn sử dụng là 12 tháng kể từ ngày thẻ bảo hiểm y tế có

Trang 26

giá trị sử dụng

Theo quy định tại Điều 30 Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, thời gian thực hiện cấp mới, cấp lại, đổi thẻ BHYT thực hiện như sau:

“1 Cấp mới: Không quá 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định Riêng đối với người hưởng trợ cấp thất nghiệp: không quá 02 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ

sơ theo quy định

2 Cấp lại, đổi thẻ BHYT:

2.1 Trường hợp không thay đổi thông tin: trong ngày khi nhận đủ hồ sơ theo quy định;

2.2 Trường hợp thay đổi thông tin: không quá 03 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ

sơ theo quy định”

Trước đây, đối với đối tượng hộ gia đình, việc lập hồ sơ để tham gia BHYT vẫn còn những hạn chế xuất phát từ cả quy định pháp luật và nhận thức của người dân

Để tham gia BHYT phải cần toàn bộ số người có tên trong sổ hộ khẩu của gia đình tại thời điểm đăng ký tham gia BHYT phải cùng tham gia, bao gồm cả những người nhập khẩu nhờ theo Luật Cư trú nhưng không tính những người sau đây vào tổng số thành viên trong hộ: Người mặc dù có tên trong hộ khẩu nhưng đã có giấy tạm vắng

do UBND xã phường cung cấp; người đã chết (phải đã giảm khẩu); người đã tách khẩu Do quy định tham gia cả hộ gia đình và thủ tục biểu mẫu, kê khai khá phức tạp nên nhóm đối tượng tham gia theo hộ gia đình có thời kỳ có biểu hiện sụt giảm, có tình trạng bức xúc trong dư luận Việc đòi hỏi toàn bộ số người có tên trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú tại thời điểm đăng ký tham gia phải cùng tham gia cần sự đồng thuận của những ngưởi trong gia đình Ngoài ra, người có tên trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú của hộ gia đình những đã thuộc các đối tượng khác, không tham gia BHYT hộ gia đình cũng cần có xác nhận Nghị định 146/2018/NĐ-CP được ban hành, không bắt buộc toàn bộ thành viên hộ gia đình phải tham gia BHYT cùng một thời điểm thực hiện giảm trừ mức đóng khi thành viên thứ 2 tham gia trong năm tài chính đã tạo điều kiện thuận lợi, thúc đấy số lượng người tham gia BHYT hộ gia đình

Trang 27

* Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh BHYT hộ gia đình

Người tham gia BHYT thuộc đối tượng là hộ gia đình thực hiện các thủ tục theo quy định tại Điều 15 Nghị định 146/2018/NĐ-CP, khi đến khám bệnh, chữa bệnh phải xuất trình thẻ BHYT có ảnh; trường hợp thẻ BHYT chưa có ảnh thì phải xuất trình một trong các giấy tờ tùy thân có ảnh do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp; các giấy tờ chứng minh nhân thân hợp pháp khác Trẻ em dưới 6 tuổi trong hộ gia đình đến khám bệnh, chữa bệnh chỉ phải xuất trình thẻ BHYT Trường hợp trẻ chưa được cấp thẻ BHYT thì phải xuất trình bản sao giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh; trường hợp phải điều trị ngay sau khi sinh mà chưa có giấy chứng sinh thì thủ trưởng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ của trẻ

ký xác nhận vào hồ sơ bệnh án để làm căn cứ thanh toán theo quy định và chịu trách nhiệm về việc xác nhận này

Người tham gia BHYT trong thời gian chờ cấp lại thẻ, đổi thẻ BHYT khi đến khám bệnh, chữa bệnh phải xuất trình giấy hẹn cấp lại thẻ, đổi thẻ BHYT do cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức, cá nhân được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền tiếp nhận hồ sơ cấp lại thẻ, đổi thẻ và một loại giấy tờ chứng minh về nhân thân của người đó

Trường hợp chuyển tuyến khám bệnh, chữa bệnh, người tham gia BHYT phải xuất trình hồ sơ chuyển tuyến của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và giấy chuyển tuyến Trường hợp giấy chuyển tuyến có giá trị sử dụng đến hết ngày 31 tháng 12 nhưng đợt điều trị chưa kết thúc thì được sử dụng giấy chuyển tuyến đó đến hết đợt điều trị Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị, người tham gia BHYT phải có giấy hẹn khám lại của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Trường hợp cấp cứu, người tham gia BHYT được đến khám bệnh, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào

và phải xuất trình các giấy tờ như quy định chung đối với người tham gia BHYT đi khám chữa bệnh trước khi ra viện Khi hết giai đoạn cấp cứu, người bệnh được cơ sở khám bệnh, chữa bệnh làm thủ tục chuyển đến khoa, phòng điều trị khác tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó để tiếp tục theo dõi, điều trị hoặc chuyển tuyến đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác thì được xác định là đúng tuyến khám bệnh, chữa bệnh

Trang 28

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế có trách nhiệm cung cấp cho người bệnh khi ra viện các giấy tờ, chứng từ hợp lệ liên quan đến chi phí khám bệnh, chữa bệnh để người bệnh thanh toán trực tiếp với cơ quan bảo hiểm xã hội theo quy định

Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan bảo hiểm xã hội không được quy định thêm thủ tục khám bệnh, chữa bệnh BHYT ngoài các thủ tục quy định của pháp luật Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan bảo hiểm xã hội cần sao chụp thẻ BHYT, các giấy tờ liên quan đến khám bệnh, chữa bệnh của người bệnh để phục vụ cho công tác quản lý thì phải tự sao chụp, không được yêu cầu người bệnh sao chụp

hoặc chi trả cho khoản chi phí này

1.2.4 Kinh phí thực hiện bảo hiểm y tế hộ gia đình

Kinh phí thực hiện BHYT hộ gia đình bao gồm các khoản chi thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT cho người tham gia BHYT thuộc nhóm hộ gia đình, chi phí tổ chức thực hiện BHYT hộ gia đình Pháp luật BHYT quy định về quỹ BHYT chung cho tất cả các chế độ BHYT đối với các nhóm đối tượng khác nhau mà không

có sự phân biệt, chía tách quỹ BHYT thành các quỹ thành phần hay quy định các quỹ độc lập cho các nhóm đối tượng khác nhau Theo quy định của pháp luật hiện hành, quỹ BHYT được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm tiền đóng BHYT theo quy định; tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư của quỹ BHYT; tài trợ, viện trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; các nguồn thu hợp pháp khác [26] Quỹ BHYT được phân bổ và sử dụng theo quy định: 90% số tiền đóng BHYT dành cho khám bệnh, chữa bệnh; 10% số tiền đóng BHYT dành cho quỹ dự phòng, chi phí quản lý quỹ BHYT, trong đó dành tối thiểu 5% số tiền đóng BHYT cho quỹ dự phòng Điều 31 Nghị định 146/2018/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết hơn về phân bổ và sử dụng quỹ BHYT quy định số tiền dành cho KCB được sử dụng cho các mục đích chi trả các khoản chi phí thuộc phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT và trích

đểlại cho các cơ sở giáo dục hoặc cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có đủ điều kiện theo quy định Chi phí quản lý quỹ BHYT gồm có 1) chi hoạt động bộ máy của cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp; 2) chi các nhiệm vụ về tuyên

Trang 29

truyền, phổ biến chính sách, pháp luật; phát triển, quản lý người tham gia; tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; cải cách thủ tục; tổ chức thu; thanh tra, kiểm tra

và chi khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế; 3) chi ứng dụng công nghệ thông tin và đầu tư phát triển Mức chi phí quản lý quỹ BHYT tối đa bằng 5% số tiền đóng BHYT Mức chi phí quản lý quỹ BHYT cụ thể hằng năm và nội dung chi thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

Trước đây, thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 14/01/2014 về hướng dẫn thực hiện BHYT, trong đó căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Nghị định 105/2014/NĐ-CP, quy định về chi hỗ trợ cho Ủy ban nhân dân cấp xã để thực hiện lập danh sách tham gia BHYT trên địa bàn: Kinh phí chi hỗ trợ cho Ủy ban nhân dân cấp xã để thực hiện lập danh sách tham gia BHYT trên địa bàn được bố trí

từ nguồn dự toán chi quản lý bộ máy hằng năm của Bảo hiểm xã hội Việt Nam Số kinh phí chi hỗ trợ được căn cứ vào số người trong danh sách tham gia BHYT do Ủy ban nhân dân cấp xã lập (đối với danh sách tăng, giảm đối tượng được tính theo số người tăng và số người giảm) và mức chi do Bảo hiểm xã hội Việt Nam thông báo hằng năm trên cơ sở mức dự toán được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; riêng mức chi năm 2015 là 1.500 đồng/người.Ủy ban nhân dân cấp xã được cấp kinh phí lập danh sách tham gia BHYT không phải quyết toán với ngân sách xã nhưng phải mở

sổ kế toán riêng để phản ánh việc tiếp nhận kinh phí, sử dụng kinh phí Đây cũng chính là nguồn kinh phí hỗ trợ cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện lập danh sách hộ gia đình tham gia BHYT tại địa phương Đến nay, pháp luật chưa có quy định mới về việc hỗ trợ cho Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện BHYT Theo quy định của Luật BHYT, quỹ BHYT được quản lý theo tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và có phân cấp quản lý trong hệ thống tổ chức BHYT Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm quản lý quỹ BHYT và tư vấn chính sách BHYT Nội dung quản lý quỹ BHYT bao gồm quản lý về nguồn hình thành quỹ, việc sử dụng quỹ và đầu tư, tăng trưởng quỹ Để đảm bảo an toàn cho quỹ BHYT, pháp luật quy định cụ thể nguồn hình thành quỹ, sử dụng quỹ và hoạt động đầu tư, tăng trưởng quỹ

Trang 30

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ bảo hiểm y tế hộ gia đình

Việc thực hiện chế độ BHYT hộ gia đình chịu sự tác động, ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là các quy định pháp luật về mức đóng, điều kiện kinh tế, ý thức pháp luật của các bên tham gia quan hệ BHYT, và những yếu tố thuộc về môi trường xã hội, trong đó điều kiện kinh tế và nhận thức của những người dân về BHYT

có ý nghĩa quan trọng

Trước hết, pháp luật về chế độ BHYT hộ gia đình nói riêng và pháp luật BHYT nói chung càng hoàn thiện thì càng thuận lợi cho việc thực hiện chế độ BHYT hộ gia đình Ngược lại, hệ thống pháp luật BHYT chưa đầy đủ, có nhiều mâu thuẫn hoặc những quy định không phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thì quá trình thực hiện sẽ khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được Pháp luật vể chế độ BHYT

hộ gia đình cần quy định về đối tượng hộ gia đình tham gia BHYT một cách đầy đủ, thống nhất với thực tiễn và quy định pháp luật khác về hộ gia đình, mức phí và phương thức đóng phí, chế độ hưởng,… Để các quy định pháp luật về chế độ BHYT

hộ gia đình được dễ dàng thực hiện và có tác dụng háp dẫn, khuyến khích người dân tham gia, đáp ứng được mục đích, ý nghĩa an sinh xã hội, bảo vệ cho người tham gia BHYT khi họ bị rủi ro về sức khỏe thì nó phải phù hợp với điều kiện thực tiễn kinh

tế, nhu cầu của người dân Điều này thể hiện rõ trong các quy định về đóng phí BHYT

và mức hưởng BHYT đối với hộ gia đình Quy định mức phí quá cao thì sẽ hạn chế đối tượng tham gia, đầu tiên là những người có thu nhập thấp, ở các khu vực khó khăn Trong khi đó đối tượng hộ gia đình thường là những người không thuộc khu vực lao động chính thức, điều kiện kinh tế còn hạn chế Chế độ BHYT cần phải cân đối giữa quyền lợi trực tiếp của người tham gia BHYT và các yếu tố để đảm bảo sự

an toàn, duy trì BHYT

Thứ hai, hiểu biết về chế độ BHYT hộ gia đình và ý thức tuân thủ pháp luật của người dân Nếu người dân nhận thức đươc đúng đắn ý nghĩa, sự cần thiết của BHYT, pháp luật BHYT, họ sẽ có tinh thần tôn trọng pháp luật, có thái độ tự giác và tích cực thực hiện các quy định, yêu cầu của pháp luật BHYT Ngược lại, nếu không nhận thức đúng về pháp luật BHYT, về sự cần thiết và trách nhiệm của mình trong việc

Trang 31

tham gia BHYT thì họ sẽ không thực hiện đầy đủ quy định pháp luật về BHYT Thông thường, nhóm lao động chính quy có nhận thức, ý thức pháp luật BHYT tích cực hơn

so với lao động phi chính thức Sự đồng đều về nhận thức, thống nhất quan điểm của những người trong cùng hộ gia đình cũng có ý nghĩa quan trọng bởi nếu được sự đồng thuận cao thì tất cả các thành viên trong hộ gia đình cùng tham gia, có thể có được những lợi ích do chính sách khuyến khích nhiều người tham gia BHYT Ngược lại, nếu trong hộ gia đình có người không đồng tình, ủng hộ tham gia chế độ BHYT hộ gia đình thì có thể gây ảnh hưởng đến tâm lý của những người khác, thậm chí còn có thể ảnh hưởng đến việc quyết định đóng tiền tham gia BHYT do sự phụ thuộc kinh

tế của những người trong hộ gia đình

Thứ ba, điều kiện thu nhập, kinh tế của người dân Pháp luật BHYT các nước thường hướng tới BHYT toàn dân, quy định hầu hết các đối tượng trong xã hội tham gia BHYT tuy nhiên khả năng tham gia của mỗi nhóm đối tượng vẫn có thể khác nhau Một trong những yếu tố dẫn đến sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng là điều kiện kinh tế Người dân có điều kiện tài chính tốt sẽ dễ dàng hơn trong việc quyết định tham gia BHYT hộ gia đình Đối với những người mà kinh tế còn khó khăn,

họ buộc phải sử dụng tài chính cho các công việc trước mắt cần ưu tiên hơn, đó là cơm ăn, nước uống hàng ngày Việc tham gia BHYT thậm chí có thể vượt mức chi trả của người dân ở những khu vực khó khăn, hẻo lánh Khi thực hiện vận động tham gia theo hộ gia đình, trong nghiên cứu của Jean Marie Abraham và đồng sự về tham gia BHYT theo hộ gia đình ở Mỹ đã chỉ ra rằng các gia đình có thu nhập ổn định, có quan hệ hôn nhân chính thức, có nhiều con có xu hướng dễ dàng chấp thuận tham gia theo hộ gia đình hơn là các kiểu khuôn mẫu gia đình khác (độc thân, cùng chung sống) [31]

Thứ tư, chất lượng, dịch vụ khám chữa bệnh BHYT Các cơ quan quản lý nhà nước về BHYT, tổ chức thực hiện BHYT có quy chế làm việc chuyên nghiệp, đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ cao, hiểu biết pháp luật và kỹ năng giải quyết công việc tốt, có phẩm chất đạo đức thì thực hiện pháp luật về BHYT sẽ được đảm bảo hiệu quả, đúng đắn Ngược lại, hệ thống cơ chế làm việc thiếu chuyên nghiệp, lỏng

Trang 32

lẻo và đội ngũ nhân viên hạn chế về trình độ, kỹ năng, đạo đức tốt thì các quy định pháp luật về BHYT khó mà được triển khai hiệu quả trên thực tiễn Có nhiều mô hình

tổ chức thực hiện BHYT ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, tuy nhiên kinh nghiệm quốc tế trong khu vực (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) cũng như toàn cầu (Đức, Pháp) cho thấy các quốc gia triển khai thành công chính sách BHYT đều dựa trên một tổ chức quản lý BHYT chuyên nghiệp và áp dụng các mô hình quản lý phân cấp phù hợp với diện tích và dân số quốc gia [49, tr 56] Các tổ chức BHYT là chủ thể thực hiện pháp luật về BHYT, có những quyền và nghĩa vụ về BHYT theo quy định của pháp luật nhưng cũng là tổ chức có vai trò quan trọng trong việc tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện BHYT

Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở y tế phục vụ khám chữa bệnh BHYT hộ gia đình cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc tham gia BHYT hộ gia đình của người dân Trường hợp việc tiếp cận các cơ sở y tế khám chữa bệnh BHYT không thuận lợi, chất lượng khám chữa bệnh BHYT không bảo đảm sẽ khiến người dân không mặn mà tham gia BHYT hộ gia đình Đối tượng hộ gia đình có mặt tại khắp nơi, chiếm tỷ lệ cao tại các khu vực nông thôn, vùng xa, nhiều nơi còn chữa bệnh theo các phương pháp truyền thống, truyền miệng do đó cơ sở y tế khám chữa bệnh BHYT không thuận tiện thì khó có thể thu hút người dân tham gia

Ngoài ra, còn rất nhiều yếu tố khác ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ BHYT

hộ gia đình như trình độ văn hóa, gia đình…Khi thực hiện vận động tham gia theo

hộ gia đình, trong nghiên cứu của Jean Marie Abraham và đồng sự về tham gia BHYT theo hộ gia đình ở Mỹ đã chỉ ra rằng các gia đình có thu nhập ổn định, có quan hệ hôn nhân chính thức, có nhiều con có xu hướng dễ dàng chấp thuận tham gia theo hộ gia đình hơn là các kiểu khuôn mẫu gia đình khác (độc thân, cùng chung sống) [30] Ngoải ra, công tác tuyên truyền, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật BHYT nói chung, BHYT hộ gia đình nói riêng nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật BHYT cũng là một trong những yếu tố có tác động tích cực đến việc thực hiện pháp luật chế độ BHYT hộ gia đình

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam xác định BHYT là một cơ chế tài chính y tế bền vững quan trọng phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân nhằm đạt được bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân Từ khi bắt đầu thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Việt Nam luôn quan tâm đến các đối tượng người nghèo và dễ bị tổn thương, có những quy định riêng nhằm khuyến khích, tạo điều kiện để các nhóm đối tượng này tham gia BHYT Một trong những cản trở, thách thức đối với nước ta trong việc thực hiện BHYT toàn dân là phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình, đây được coi là nhóm đối tượng cuối cùng để đảm bảo BHYT đến được với mọi người dân Điều này đã được thể hiện trong việc xác định phạm vi đối tượng tham gia chế độ BHYT hộ gia đình Bao gồm những người có tên trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú mà không thuộc các nhóm đối tượng khác đã tham gia BHYT Và gần đây, tại Nghị định 146/2018/NĐ-CP đã bổ sung thêm các đối tượng được tham gia BHYT hộ gia đình gồm có chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người sống trong cơ sở bảo trợ xã hội trừ các đối tượng thuộc các nhóm tham gia BHYT khác mà không được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng

Quy định pháp luật về chế độ BHYT hộ gia đình hiện nay không có sự phân biệt so với các nhóm khác về thẻ BHYT, thủ tục khám bệnh, chữa bệnh BHYT và thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT Ưu đãi đối với đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình được thể hiện rõ nhất ở quy định về mức đóng BHYT với mức đóng BHYT giảm dần theo số lượng người trong hộ gia đình tham gia BHYT Việc lập danh sách, đăng ký tham gia BHYT hộ gia đình do Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện và các đại lý BHXH nhằm bám sát đối tượng ở những đơn vị hành chính nhỏ nhất của từng địa phương

Việc thực hiện BHYT hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đó là các quy định pháp luật về BHYT hộ gia đình, điều kiện kinh tế, mức sống và đời sống văn hóa của người dân, chất lượng dịch vụ BHYT ở mỗi địa phương,…Do đó để triển khai thực hiện BHYT hộ gia đình, phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình tại mỗi địa phương, cần sự quan tâm và có chính sách tổng thể, có những hỗ trợ cần thiết cho người tham gia phù hợp với đặc điểm từng địa phương nhưng trước hết, ở phạm vi quốc gia, điều đó phải xuất phát từ các quy định pháp luật vể chế độ BHYT

hộ gia đình

Trang 34

CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM

Y TẾ ĐỐI VỚI HỘ GIA ĐÌNH TẠI TỈNH NINH BÌNH

2.1 Khái quát chung về kinh tế, xã hội và đặc điểm dân cư của tỉnh Ninh Bình

Kinh tế, xã hội tỉnh Ninh Bình:

Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Sông Hồng với diện tích 1.400km2, có cả 3 loại địa hình gồm vùng núi, đồng bằng và vùng ven biển Tỉnh có

06 huyện, 02 thành phố với 145 xã, phường, thị trấn Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có

07 khu công nghiệp và 22 cụm công nghiệp; hệ thống các khu công nghiệp được hình thành và phân bố đồng đều trên địa bàn nhằm thu hút nguồn nhân lực tại chỗ của tỉnh Ngoài ra, Ninh Bình có tiềm năng du lịch rất lớn, Quần thể danh thắng Tràng An được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới Tỉnh có nhiều danh lam, thắng cảnh và di tích lịch sử, văn hoá nổi tiếng như: Cố đô Hoa Lư, Chùa Bái Đính, Khu du lịch Tam Cốc Bích Động, Vườn quốc gia Cúc Phương, Nhà thờ đá Phát Diệm, Khu bảo tồn thiên nhiên ngập nước Vân Long… đã tạo việc làm cho hàng vạn lao động Hệ thống giao thông thuận lợi nối các khu, cụm công nghiệp với các tuyến quốc lộ là yếu tố thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Trong 5 năm từ năm 2013 đến năm 2017, các chỉ tiêu về kinh tế của tỉnh luôn đạt

và vượt kế hoạch đề ra Cụ thể: Năm 2017, kinh tế của tỉnh phát triển khá toàn diện, GRDP tăng 7,95%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; mức thu nhập bình quân năm

2017 là 2.854 nghìn đồng/người/tháng; giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2017 đạt hơn 8,4 nghìn tỷ đồng, tăng gần 3,9 lần so với năm 2013 Sản xuất công nghiệp tăng trưởng mạnh, một số ngành như lắp ráp ô tô, sản xuất phân bón, thiết bị điện tử thu hút nhiều lao động và có mức tăng trưởng khá; giá trị sản xuất công nghiệp năm 2017 đạt 40,3 nghìn tỷ đồng, gấp 2,6 lần so với năm 2013; các ngành dịch vụ phát triển khá, doanh thu du lịch ước đạt 2.489 tỷ đồng, tăng gần 2,8 lần so với năm 2013

Phong trào xây dựng nông thôn mới tiếp tục được đẩy mạnh, năm 2017 tỉnh Ninh Bình đã có thêm 20 xã đạt chuẩn, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới toàn tỉnh lên 80 xã (chiếm 67,2% tổng số xã), thành phố Tam Điệp hoàn thành nhiệm vụ

Trang 35

xây dựng nông thôn mới Dịch vụ, du lịch phát triển khá, số khách du lịch đến tham quan trên 07 triệu lượt, doanh thu đạt 2.489 tỷ đồng Thu ngân sách trên địa bàn đạt 8.745 tỷ đồng, vượt 46,1% dự toán HĐND tỉnh giao Văn hóa - xã hội có tiến bộ, giáo dục Ninh Bình tiếp tục giữ vị trí thứ 3 toàn quốc về điểm thi bình quân tốt nghiệp THPT quốc gia; an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 4,52%

Đặc điểm dân cư, văn hóa và chăm sóc y tế:

Dân cư và lao động

Dân số trung bình năm 2018 của Ninh Bình đạt 973,3 nghìn người, tăng 11,4 nghìn người, tương đương tăng 1,19% so với năm 2017, bao gồm dân số nam 486,0 nghìn người, chiếm 49,93%; dân số nữ 487,3 nghìn người, chiếm 50,07% Dân cư trên dịa bàn tỉnh chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn, mặc dù tỷ lệ dân cư nông thôn trong những năm gần đây có xu hướng giảm dần nhưng mức giảm không đáng

kể Tỷ lệ dân sống ở khu vực nông thôn trong các năm từ 2016 đến 2018 lần lượt là 79,40%; 79,09% và 78,85%, đây cũng là đặc điểm cho thấy tỷ lệ lao động ở khu vực phi chính thức của tỉnh Ninh Bình là rất lớn

Trong 973,3 nghìn người năm 2018 của tỉnh Ninh Bình thì số người trong độ tuổi lao động của tỉnh Ninh Bình là 590.309 người, trong đó tại khu vực nông thôn là 484.322 người, chiếm đến 82% lực lượng lao động Số lao động địa phương tham gia vào trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp còn lớn, đời sống kinh tế của nhân dân còn nhiều khó khăn Lao động đang làm việc trong nền kinh tế trên địa bàn tỉnh là 579,3 nghìn người, trong đó lao động trong ngành nông, lâm, nghiệp và thủy sản là 199,8 nghìn người, chiếm 34,5%; lao động trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo là 124,7 nghìn người, chiếm 21,5%; trong lĩnh vực xây dựng là 86,2 nghìn người, chiếm 14,9%; còn lại ở các lĩnh vực khác

Trên địa bàn tỉnh có 02 dân tộc cùng sinh sống là dân tộc Kinh và dân tộc Mường (dân tộc Mường chiếm khoảng 2% dân số); 2 tôn giáo chính được Nhà nước cộng nhận đó là: Phật giáo và Công giáo; tỷ lệ đồng bào theo đạo chiếm 23,65% dân số (Trong đó: Công giáo 17, 21%; Phật giáo 6,44%) Tại tỉnh Ninh Bình hiện nay có có

Trang 36

344 chức sắc, nhà tu hành trong đó có 10 người là dân tộc thiểu số; có 01 Giám mục,

99 Linh mục; dòng Mến Thánh giá Phát Diệm (có 138 nữ tu, 100 dự tu) và dòng tu

Xi tô Châu Sơn (có 01 Giám mục nghỉ hưu, 10 Linh Mục, 106 Tu sĩ, tập tu)

Hiện nay, Trung tâm bảo trợ xã hội của tỉnh Ninh Bình đang nuôi dưỡng 85 đối tượng, trong đó có 39 người cao tuổi cô đơn; 23 người khuyết tật đặc biệt nặng và 20 cháu mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn [48]

Mức sống của người dân và tình hình văn hóa xã hội

Nhìn chung mức sống của người dân tại tỉnh Ninh Binh chưa cao, đạt mức trung bình so với cả nước Nhờ những nỗ lực của các cấp chính quyền và các doanh nghiệp, nhân dân tỉnh Ninh Bình, trong những năm gần đây, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh đang giảm dần và ngược lại với nó, thu nhập bình quân đầu người đang tăng lên Năm

2016 thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 2.65 nghìn đồng, đến năm 2017 là 2.854 nghìn đồng và năm 2018 đạt 3.361 nghìn đồng Chênh lệch thu nhập tại khu vực thành thị và nông thôn là đáng kể, nếu như thu nhập bình quân đầu người năm 2018 của dân cư thành thị là 4.541 nghìn đồng thì thu nhập bình quân đầu người năm 2018 của dân cư nông thôn là 3.045 nghìn đồng Thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.1 Tỷ lệ hộ nghèo và mức thu nhập bình quân đầu người

nông thôn (Nghìn đồng) 2.410 2.596 3.045

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2018, trang 503

Chênh lệch thu nhập bình quân đầu người giữa nhóm có thu nhập cao nhất và nhóm có thu nhập thấp nhất của tỉnh là 5,6 lần và trong khi mức thu nhập bình quân đầu người của tỉnh xấp xỉ mức trung bình của cả nước thì tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh

Trang 37

Ninh Bình vẫn thấp hơn nhiều so với mức trung bình của cả nước Năm 2018, thu nhập bình quân một người một tháng của nước ta ước tính đạt 3,76 triệu đồng và tỷ

lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm 2018 ước tính là 6,8% [49]

Đối với người dân Ninh Bình, với mức thu nhập bình quân đầu người là 3,3 triệu đồng/tháng thì mức chi tiêu bình quân đầu người năm 2018 của dân cư là 2.856 nghìn đồng/tháng, trong đó chi cho y tế chỉ chiếm 7,56% Do mức thu nhập chưa cao, đời sống của người dân còn khó khăn nên việc chăm sóc sức khỏe còn hạn chế, ít quan tâm đến tính dự phòng, bảo hiểm

Tại tỉnh Ninh Bình, phong trào xây dựng nông thôn mới tiếp tục được đẩy mạnh, năm 2017 đã có thêm 20 xã đạt chuẩn, nâng tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới toàn tỉnh lên 80 xã (chiếm 67,2% tổng số xã), thành phố Tam Điệp hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới Dịch vụ, du lịch phát triển khá, số khách du lịch đến tham quan trên 07 triệu lượt, doanh thu đạt 2.489 tỷ đồng Văn hóa - xã hội có tiến bộ, giáo dục Ninh Bình tiếp tục giữ vị trí thứ 3 toàn quốc về điểm thi bình quân tốt nghiệp THPT quốc gia; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên

Chăm sóc y tế

Theo thống kê năm 2018, toàn tỉnh có 440 cơ sở y tế, trong đó có 10 bệnh viện,

01 bệnh viện phục hồi chức năng, 46 phòng khám đa khoa khu vực và 149 trạm y tế

xã, phường, cơ quan, xí nghiệp Trong đó có đến 118 cơ sở là ở thành phố Ninh Bình, phân bố cụ thể qua bảng sau:

Trang 38

Bảng 2.2 Hệ thống cơ sở y tế tỉnh Ninh Bình năm 2018

Đơn vị hành chính

Bệnh viện

Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng

Phòng khám

đa khoa khu vực

Trạm y tế

xã, phường,

cơ quan, xí nghiệp

3 Huyện Nho Quan 63 1 - 9 27

4 Huyện Gia Viễn 42 - - 7 21

6 Huyện Yên Khánh 52 - - 5 20

7 Huyện Kim Sơn 52 1 - 7 27

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2018, trang 490

Về nhân lực ngành y, năm 2018 toàn tỉnh có 4.035 người làm trong ngành y, trong đó số bác sĩ là 1.275 người, y sĩ là 845 người và điều dưỡng viên là 1.508 người,

kỹ thuật viên ngành y là 158 người Tỷ lệ xã, phường, thị trấn có bác sỹ là 82% trong

đó tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế là 85% Có thể nói đây là điều kiện khá thuận lợi cho chăm sóc y tế, sức khỏe của người dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình so với nhiều tỉnh thành trong cả nước

2.2 Cơ quan thực hiện bảo hiểm y tế ở tỉnh Ninh Bình

Việc thực hiện BHYT, trong đó có chế độ BHYT hộ gia đình đã được các cấp

ủy Đảng, chính quyền tỉnh Ninh Bình đặc biệt quan tâm, có những chỉ đạo, chính sách nhằm phát triển đối tượng, tăng tỷ lệ bao phủ BHYT trên địa bàn tỉnh Trên cơ

Ngày đăng: 29/08/2023, 14:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chỉ thị 38-CT/TW ngày 7/9/2009 về “Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới”II. Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản của BHXH Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới
21. Thông tư 09/2019/TT-BYT hướng dẫn thẩm định điều kiện ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu, chuyển thực hiện dịch vụ cận lâm sáng và một số trường hợp thanh toán trực tiếp chi phí trong khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế (Hiệu lực 01/08/2019) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 09/2019/TT-BYT hướng dẫn thẩm định điều kiện ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu, chuyển thực hiện dịch vụ cận lâm sáng và một số trường hợp thanh toán trực tiếp chi phí trong khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
Năm: 2019
23. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Giáo trình bảo hiểm, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bảo hiểm
Tác giả: Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2000
24. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật an sinh xã hội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật an sinh xã hội
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2013
26. Nguyễn Hiền Phương (2013), Pháp luật bảo hiểm y tế một số quốc gia trên thế giới và những kinh nghiệm cho Việt Nam, Sách chuyên khảo, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bảo hiểm y tế một số quốc gia trên thế giới và những kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hiền Phương
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2013
27. Nguyễn Thị Thanh Hương (2012), Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Hương
Năm: 2012
28. Đỗ Văn Hưởng (2016), Pháp luật về bảo hiểm y tế ở Việt Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Đại học mở Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bảo hiểm y tế ở Việt Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh
Tác giả: Đỗ Văn Hưởng
Năm: 2016
29. Phạm Thị Vy Linh (2014), Pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật bảo hiểm y tế ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Phạm Thị Vy Linh
Năm: 2014
30. Phạm Thị Giang (2016), Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ kinh tế quản lý, Trường Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp đẩy mạnh hoàn thiện bảo hiểm y tế hộ gia đình tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Phạm Thị Giang
Năm: 2016
31. Hà Thị Thủy Tiên (2016), Phát triển bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Thái Nguyên, Thái Nguyên.IV. Các báo cáo, thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bảo hiểm y tế hộ gia đình trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
Tác giả: Hà Thị Thủy Tiên
Năm: 2016
33. Bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Bình, Báo cáo số 222-BC/TƯ kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020
36. Trung tâm thông tin khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp, Thông tin chuyên đề Bảo hiểm y tế toàn dân- thực trạng và kiến nghị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin chuyên đề Bảo hiểm y tế toàn dân- thực trạng và kiến nghị
Tác giả: Trung tâm thông tin khoa học, Viện nghiên cứu lập pháp
Nhà XB: Hà Nội
38. UBND tỉnh Ninh Bình, báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 38-CT/TW ngày 07/9/2009 của Ban Bí thư (khóa X) về “Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị 38-CT/TW ngày 07/9/2009 của Ban Bí thư (khóa X) về “Đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới”
Tác giả: UBND tỉnh Ninh Bình
43. “Quyết định số 133/QĐ-BCD ngày 07/10/2016 về việc ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo “Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 133/QĐ-BCD ngày 07/10/2016 về việc ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo “Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân giai đoạn 2012-2015 và 2020
1. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020 Khác
3. Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung Luật bảo hiểm y tế năm 20144. Luật Cư trú.5. Luât Tôn giáo Khác
6. Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 Ban hành Điều lệ bảo hiểm y tế Khác
7. Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 Ban hành Điều lệ bảo hiểm y tế Khác
8. Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm y tế Khác
9. Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 31/10/2013 Quy định chính sách xã hội về bảo trợ xã hội Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w