1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh ninh bình (luận văn thạc sỹ luật)

108 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình
Tác giả Vũ Quân
Người hướng dẫn PGS.TS Đỗ Đức Minh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Pháp luật về quyền con người
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 26,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý TGPL của ngưởi khuyết tật NKT là một loại hoạt động phúc lợi xã hội do Nhà nước tiến hành, thực hiện vừa nhằm mục đích bảo đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỒC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Đức Minh

NỘI - 2022

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bổ trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, vỉ dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tỉnh chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chỉnh theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét đế tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Quân

Trang 3

QUYỀN ĐUỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT 101.1 Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật 101.1.1 Khái niệm, nội dung, hình thức, đặc diêm, nguyên tãc hoạt động và ýnghĩa của bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật 101.1.2 Cơ chế bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật 221.1.3 Các yếu tố tác động đến bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý củangười khuyết tật 231.2 Luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cùa người khuyết tật 261.2.1 Luật nhân quyền quốc tế về bão đâm quyền được trợ giúp pháp lý củangười khuyết tật 261.2.2 Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của ngườikhuyết tật 34Tiểu kết Chương 1 44CHƯONG 2 CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT VÀ THựC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CÙA NGƯỜI KHUYẾT TẬT ỞTỈNH NINH BÌNH 45

2.1 Khái quát tình hình người khuyêt tật và chính sách, pháp luật vê bảo đâm quyền được trợ giúp pháp lý đối với người khuyết tật của tỉnh Ninh Binh 45

• •

11

Trang 4

2.1.1 Khái quát tình hình người khuyết tật ờ tỉnh Ninh Bình 452.1.2 Chính sách, pháp luật của tỉnh Ninh Bình vê bảo đảm quyên được trợgiúp pháp lý đối với người khuyết tật 472.2 Ket quả về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật ở

tỉnh Ninh Bình 502.2.1 Kết quả đạt được liên quan đến thiết chế 502.2.2 Kết quả đạt được liên quan đến thể chế 582.2.3 Đối với hoạt động công tác quản lý nhà nước thực hiện pháp luật vềbảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật 602.3 Hạn chế về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật ởtỉnh Ninh Bình 622.3.1 Liên quan đến cách thức vận hành “thể chế” trong bảo đảm quyền đượcTGPL của NKT 622.3.2 Liên quan đến cách thức vận hành “thiết chế” trong bảo đảm quyềnđược TGPL của NKT 64Tiểu kết Chương 2 70CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢBẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI KHUYẾTTẬT Ờ TỈNH NINH BÌNH 713.1 Phương hướng 713.1.1 Nâng cao hiệu quả bảo đảm quyên được trợ giúp pháp lý cúa NKT gópphần xây dựng xã hội hài hòa, lành mạnh, bảo đảm công lý và công bằng xã hội 713.1.2 Nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của NKT gópphần hoàn thiện cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam XHCN 73

• • •

111

Trang 5

3.1.3 Nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của NKT góp phần xây dựng Tỉnh Ninh Bình ngày càng giàu đẹp, công bằng, dân chủ, văn

3.2 Các giải pháp 76

3.2.1 Giải pháp về thề chế - hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền được TGPL của NKT 76

3.2.2 Giải pháp về thiết chế 81

3.2.3 Giải pháp về công tác tổ chức 87

3.2.4 Giải pháp về quản lý nhà nước 88

3.2.5 Giải pháp về tăng cường đầu tư cơ sở vật chất 89

Tiểu kết Chương 3 91

KẾT LUẬN 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

iv

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHŨ VIẾT TÁT

QCN Quyền con người

QCD Quyền công dân

QLNN Quản lý nhà nước

TGPL Trợ giúp pháp lý

UDHR Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền

UNODC Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy và Tội phạmVBPL Văn bản pháp luật

V

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý (TGPL) của ngưởi khuyết tật (NKT) là một loại hoạt động phúc lợi xã hội do Nhà nước tiến hành, thực hiện vừa nhằm mục đích bảo đảm công bằng, bình đẳng của mọi chủ thể trong xã hội trong việc tiếp cận các quy định pháp lý để xử lý/giải quyết các sự kiện phát sinh khi có tranh chấp, mẫu thuẫn không thể tự giải quyết được Đây cũng là hoạt động nhằm phổ biến, nâng cao ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật dành cho các đối tượng/chủ thế hưởng thụ quyền được TGPL thông qua việc trợ giúp tư vấn hay thực hiện dịch vụ pháp lý nhằm đảm bảo cho các quyền và lợi ích cùa công dân

Ở Việt Nam, trải qua hơn 25 năm áp dụng kể từ thời điểm đầu tiên xuất hiện quy định liên quan đến TGPL - Thông báo sổ 485-CV/VPTW ngày

31/5/1995 của Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được hướng dẫn giải thích trong Quyết định 734-TTg năm 1997 về việc thành lập tô chức trợ

giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách do Thủ tướng chinh phủ ban hành Sau nhiều lần được bổ sung, thay đổi đã phát triển thành một

bộ luật riêng biệt là Luật trợ giúp pháp lý 2017 (Luật số 11/2017/QH14) có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 và thay thế Luật Trợ giúp pháp lý số 69/2006/QH11 với nhiều nội dung quan trọng, tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triến bền vững công tác trợ giúp pháp lý theo hướng chuyên nghiệp hóa

Đây là một trong những Luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ

cơ bản của công dân nhằm đảo đảm thi hành nghiêm túc Hiến pháp 2013 Là

bộ phận/nhóm người bị thiệt thòi và yếu thế trong cộng đồng xã hội, trong tiến trinh phát triển kinh tế- xã hội cùa đất nước, NKT luôn được Đảng, Nhà nước và xã hội chăm sóc và giúp đỡ Nhằm cụ thể hóa cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, từng bước luật pháp hóa các quan hệ chính trị, kinh

Trang 8

tê, văn hóa - xã hội và các chính sách liên quan đên NKT, tạo môi trường pháp lý, điều kiện và cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với NKT; ngày 17/6/2010 Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, Khoá XII, kỳ họp thứ

7 đã thông qua Luật Người khuyết tật (Luật số 51/2010/QH12, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011)

Trong những năm qua, hoạt động TGPL không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL, nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, tích cực thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa; bảo đảm công bằng xã hội, mà còn tác động đến tồ chức thực hiện pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống Chính sách TGPL cho NKT được ban hành là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của nhà nước của dân, do dân và vì dân Nhằm giúp đỡ NKT nâng cao hiểu biết pháp luật,

có thể tự trang bị vốn kiến thức pháp luật cần thiết để bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân và có cách xử sự đúng quy định cùa pháp luật Tuy nhiên, thực trạng áp dụng pháp luật về bào đảm quyền được TGPL cùa NKT hiện nay đang còn nhiều vướng mắc như được áp dụng một cách thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất trên phạm vi toàn quốc và còn nhiều bất cập, hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau như đến từ cơ chế công tác quản lý nhà nước, nguồn lực,

hệ thống tổ chức TGPL

Xuất phát từ thực trạng trên và với mong muốn đóng góp , em lựa chọn "Bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật: từ thục

luật về quyền con người

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Quyền được TGPL của NKT là một chủ đề lớn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tố chức, đơn vị và cá nhân các nhà khoa học Liên quan đến đề tài luận văn, có thể đề cập một số công trình nghiên cứu đáng chú ý, như:

2

Trang 9

2.1 Các sách giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo

• Đỗ Thị Hồng Thơm, Vũ Công Giao (2010), Luật quốc tế về quyền

của các nhóm người dề bị tổn thương, Nxb Lao động - Xã hội để cập đến những tiêu chuẩn pháp lý và cơ chế bảo đảm quyền của các nhóm xã hội dễ bị tốn thương theo pháp luật quốc tế, không trình bày các quy định pháp luật quốc gia và tình hình thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế, các quy định pháp luật quốc gia về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương ở Việt Nam

- Khoa Luật- ĐHQGHN Hà Nội, Trung tâm Nghiên cứu quyền con người và quyền công dân hợp tác cùng Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và

tư pháp hình sự, (2011), Bảo vệ các nhóm dề bị tôn thương trong to tụng hình sự; Nxb ĐHQGHN được sử dụng tại lớp tập huấn về bào chữa hiệu quà cho một nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự; cung cấp thông tin và kinh nghiệm hồ trợ pháp lý của luật sư cho các đối tượng như phụ nữ, trẻ em, người có nhược điểm về thể chất, tinh thần, người nước ngoài và người phải đối mặt với hình phạt tử hình

- Nguyễn Đăng Dung - Vũ Công Giao - Lã Khánh Tùng (2011); Giáo

trình Lý luận và pháp luận về Quyền con người; Nxb ĐHQGHN, tái bán lần thứ

nhất ( có sửa đối, bổ sung) được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khác ở nước ta trong nghiên cứu, giảng dạy về quyền con người do những hạn chế về quyền cũng dẫn đến thiếu ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện các nghĩa vụ công dân (cả trong pháp luật quốc gia và quốc tế, quyền luôn đi kèm với nghĩa vụ), dẫn đến trong nhiều trường hợp dần đến sự vi phạm các quyền hợp pháp của người khác hoặc của cộng đồng

- Nguyễn Thị Quế Anh, Vũ Công Giao, Ngô Minh Hương, Lã Khánh Tùng (chủ biên) (2019), Quyền của người khuyết tật, Nxb Chính trị quốc gia-

Sự thật, Hà Nội trình bày các vấn đề như: vấn đề khuyến tật, quyền của người khuyết tật và chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững; Chi phí

3

Trang 10

kinh tê của sông chung với khuyêt tật và kỳ thị ở Việt Nam; Một sô phát hiện, kiến nghị chính; Nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; Công ước về quyền của người khuyết tật và việc giám sát thực thi Công ước; Quyền an sinh xã hội của người khuyết tật ở Việt Nam; Trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đảm bào thực thi quyền lao động của người khuyết tật; Bảo đẩm quyền

về giáo dục của người khuyết tật trong hệ thống pháp luật Việt Nam: Kết quả

và thách thức; Quyền tiếp cận công lý của người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam; Quyền tiếp cận công trình công cộng và giao thông công cộng của người khuyết tật ở Việt Nam hiện; Quyền của người khuyết tật tự kỷ ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra; Quyền của người khuyết tật - Pháp luật của một số quốc gia;

2.2 Các luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc

- Cù Thu Anh ( 2011), Hoàn thiện pháp luật trợ giúp pháp lý ở Việt

Nam, Luận văn thạc sỳ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Hồ Chí Minh

- Nguyễn Bích Ngọc (2012), Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - ĐHQGHN làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về tổ chức, hoạt động trợ giúp pháp lý, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất các định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam

- Nguyễn Huỳnh Huyện ( 2012), Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện xây dựng và bảo vệ Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, Luận án

Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã giải pháp bão đảm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

4

Trang 11

- Tạ Thị Minh Lý (2013) Điêu chinh pháp luật vê trợ giúp pháp lý ở Việt Nam trong điều kiện đôi mới, Nxb Chính trị quốc gia, đề tài nghiên cửu một cách toàn diện và hệ thống đầu tiên về lĩnh vực này, là tài liệu tham khảo hữu ích, có ý nghĩa trong việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và trợ giúp pháp lý nói riêng, đáp ứng yêu cầu quản lí xã hội phù hợp với thực tế và sự nghiệp đổi mới của đất nước hiện nay.

- Đặng Thị Loan (2015), Phát triển trợ giúp pháp lý ở cơ sở, Luận văn

thạc sĩ, Khoa Luật - ĐHQGHN đã nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn về các

mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở và đưa ra các giải pháp để phát triển mô hình trợ giúp pháp lý ở cơ sở

- Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2011), Hội thảo Sơ kết 05 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý khẳng định được vai trò của TGPL trong đời sống

xã hội TGPL không chỉ là công cụ đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo, các đối tượng yếu thế trong xã hội mà còn góp phần giữ vững

ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.• • < • • •

- Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2015), Hội nghị tổng kết 08 năm thi hành Luật Trợ giúp pháp lý đã nêu rõ pháp luật về trợ giúp pháp lý cùa Việt Nam đà cụ thể hỏa Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật, bảo đảm cam kết người khuyết tật được tiếp cận hệ thống tư pháp một cách hữu hiệu và bình đắng với những người khác, nhất là khi tham gia tố tụng

- Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2015), Hội thảo định hướng xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý sửa đổi, đã củng cố và nâng cao chất lượng dịch

vụ trợ giúp pháp lý, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp cùa người được trợ giúp pháp lý

2.4 Các bài báo, chuyên đề trên các tạp chí khoa học

- Cục Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp (2015), Hội thảo định hướng xây

5

Trang 12

dựng Luật Trợ giúp pháp lý sửa đôi Các bài báo, chuyên đê trên các tạp chí khoa học

- Nguyễn Quốc Hoàn (2000), "Bàn về cơ chế điều chỉnh pháp luật”,

Tập chí luật học số 6 đã làm rõ cơ chế điều chỉnh pháp luật để thấy được toàn

bộ quá trình điều chỉnh pháp luật đồng thời có thể thấy được thực hiện trên thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể

- Tạ Thị Minh Lý (2010), "Đánh giá chat lượng vụ việc là hình thức giảm

sát hiệu quả nhất về thi hành luật trợ giúp pháp lý”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp đã khắng định quyền được TGPL của người nghèo và các nhóm dân cư thiệt thòi, dễ bị tổn thương được Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm đế họ có quyền bình đẳng tiếp cận dịch vụ pháp lý có chất lượng như các công dân khác

- Nguyễn Thị Minh, Trịnh Thị Thanh (2014) "Vai trò của Trợ giúp

viên pháp lý trong hoạt động tố tụng'”, Tạp chí dân chủ và Pháp luật, số tháng

6 đã thể hiện sự nhất quán chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc giúp

đỡ pháp luật, hỗ trợ về mặt pháp lý để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nhân dân đặc biệt là người nghèo và đối tượng chính sách, đánh dấu bước chuyển về cả lượng và chất, đưa công tác TGPL lên một tầm cao mới phù họp với yêu cầu phát triến đất nước Chức danh người thực hiện TGPL đã được quy định chính thức trong Luật với tên gọi là Trợ giúp viên pháp lý;

- Cục Trợ giúp pháp lý (2015), "Những nội dung cơ bản của Đe án đổi

mới công tác Trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015 -2025”, số chuyên đề Đổi mới

công tác TGPL khẳng định việc đổi mới công tác TGPL trên thực tế trong thời gian qua là cần thiết và đã có những thành công mang tính đột phá Nhiều định hướng đúng đắn cũa Đe án đổi mới đã được đánh giá, kiểm chứng và ghi nhận trong Luật TGPL, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành và cần tiếp tục triển khai trên thực tế Đến nay, cơ sở pháp lý cho sự phát triển bền vững của công tác TGPL đã tương đối đầy đủ Các địa phương đều đã thể

6

Trang 13

hiện sự nhât trí, đông tình cao đôi với chính sách TGPL hiện hành Công tác TGPL đã được ổn định, dần đi vào chiều sâu, thực chất, bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho các đối tượng yếu thế trong các vụ án hình sự, dân sự được người dân tin tưởng.

Nhìn chung, các công trình được công bố đã nghiên cứu và đạt được những hiệu quả nhất định về các khía cạnh khác nhau cũa hoạt động báo đàm quyền được TGPL trên các phương diện lý luận và thực tiễn Tuy nhiên đến nay vấn chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về “Bảo đảm quyền được

- Làm rõ khái niệm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý, pháp luật và

hệ thống cơ quan tố chức về trợ giúp pháp lý đối với NKT; phân tích đặc điểm, các hình thức, vai trò và nội dung các yếu tố bảo đảm quyền được TGPL của NKT;

- Khái quát tình hình NKT, hệ thống cơ quan TGPL, việc thực hiện pháp luật và đánh giá những kết quả và nguyên nhân về bảo đảm quyền được TGPL cua NKT ở tỉnh Ninh Bình

- Đe xuất phương hướng và các giải pháp chũ yếu nhàm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của NKT ở Tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới

7

Trang 14

4 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quyền được TGPL của NKT

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: là quyền được TGPL của NKT ở Tình Ninh Bình

- Phạm vi thời gian: từ 01/01/2018 đến nay (7/2021)

5 Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu

5 ĩ Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), các quan điếm của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam và của Liên Hợp Quốc về pháp luật quyền con người

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: Phương pháp lịch sử, phân tích tổng hợp, thống kê, điều tra xã hội học, so sánh,

6 Ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ỷ nghĩa lý luận

Luận văn tập trung nghiên cứu, làm rõ và hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo đảm quyền được TGPL của NKT; trên cơ sở đó, luận văn góp phàn bố sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ, bảo đảm quyền được TGPL cùa NKT nói riêng và QCN nói chung

6.2 nghĩa thực tiễn

Là chuyên luận khảo sát, phân tích và đánh giá thực tiễn bão đảm quyền được TGPL của NKT trong những năm qua ở địa bàn một tình thuộc đồng bằng Bắc Bộ - Ninh Bình

Luận vãn là tài liệu tham khảo cần thiết, hữu ích đối với pháp luật và

8

Trang 15

thực tiên bảo đảm quyên được TGPL của NKT cho các cơ quan quản lý, cơ quan tư pháp, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước ở trung ương và địa phương; với các giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Pháp luật quyền con người tại các cơ sở đào tạo luật.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Ket luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương, 7 tiết với tên gọi như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về bảo đảm quyền được

trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

Chương 2: Chính sách pháp luật và thực tiễn bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật ở tỉnh Ninh Bình

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật ở tỉnh Ninh Bình

9

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHŨNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VÈ BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC TRỢ GIÚP PHÁP CỦA NGƯỜI

KHUYẾT TẬT1.1 Những vấn đề lý luận về băo đảm quyền được trợ giúp phápcua người khuyết tật

1.1.1 Khái niệm, nội dung, hình thức, đặc điểm, nguyên tắc hoạt động và ý nghĩa của bảo đảm quyền được trợ giúp pháp của người khuyết tật

ỉ ỉ ỉ ỉ Khái niệm về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

Dưới góc độ luật học, TGPL là một quyền cơ bản trong hệ thống quyền con người, cụ thể hơn thì đây là một quyền cụ thể của quyền tiếp cận tư pháp (hay tiếp cận công lý) đã được khẳng định trong Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền (UDHR) 1948 sau khi toàn thể nhân loại đã phải chứng kiến nhiều hoạt động vi phạm, áp bức, bóc lột con người đã xảy ra trên khắp thế giới

Theo Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm (UNODC) TGPL là hoạt động "tư vấn pháp lý, hỗ trợ và/hoặc đại diện pháp

lý với chi phí thấp hoặc miễn phí cho người được chỉ định là đủ điều kiện được hưởng việc đó’’ [1, tr.ix], Diễn giải cho định nghĩa này, “TGPL” được

xem như hoạt động do luật sư hay nhân viên pháp chế (paralegal) tiến hành các hoạt động như tư vấn pháp luật, đại diện tại tòa án hoặc các thủ tục tố tụng tại các tòa án, hồ trợ soạn thảo tài liệu văn bản và đơn xin TGPL, hòa giải, hồ trợ xác định các quy định hay hỗ trợ thực hiện thủ tục tại các cơ quan hành chính nhà nước, cùng với một loạt các dịch vụ khác đế cho phép đối tượng được TGPL bảo vệ các quyền cùa mình Cho nên, bản chất của vấn đề

là việc bảo đảm những yêu sách chinh đáng của cá nhân hoặc nhóm người nhất định về việc được tiếp cận hệ thống dịch vụ tư vấn pháp lý dựa trên quy định của pháp luật [2, trl 1] Theo đó, TGPL là kênh quan trọng để giúp NKT

và các nhóm yếu thế khác tiếp cận công lý, được tư vấn pháp luật và có đại diện pháp lý trong quá trình đòi hỏi thực thi công lý

10

Trang 17

Liên quan đên thuật ngừ “bảo đảm”, theo từ điên tiêng Việt, bảo đảm

có ý nghĩa là chỉ sự chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết để đạt được một kết quả đã được đặt ra; hay theo tiếng Hán,

“bảo đảm" gồm hai thành tố bảo có ý nghĩa là chịu trách nhiệm, tiến hành và bảo vệ, cam kết thực hiện Theo đó, khi sử dụng trong tiếng Anh, nghĩa của từ ngữ này tương đương với các thuật ngữ “ensure", “guarantee", tức là làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn và xác định được hoặc tạo đày đủ những cơ

sở cần thiết để thực hiện một công việc nhất định

Khi xem xét thuật ngữ trên theo góc độ của một ngành khoa học - khoa học pháp lý liên quan đến quyền và lợi ích của con người song hành với hoạt động quản lý, quản trị của cơ quan Nhà nước, được hiểu là sự đánh giá về tính hiệu quả khi thiết lập, vận hành hoạt động một hệ thống/cơ quan chuyên trách

và thực thi hệ thống các quy tắc, quy phạm hay thủ tục có liên quan cần thiết nhằm thúc đẩy, thực thi, bảo vệ quyền con người

Sự bảo đảm quyền này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, được xem như là “điểm nút” tháo gỡ hay là sự thể chế hóa các bào đảm chính trị, kinh tế, xã hội thành các chuẩn mực có tính bẳt buộc mà các cơ quan Nhà nước và xã hội phải thực hiện để bảo đâm các quyền, lợi ích chính đáng của NKT

Các bảo đâm pháp lý rất đa dạng, phong phú và luôn tuân thủ theo một trình tự rõ ràng và nhất quán Trước hết là xác định đối tượng, phạm vi, nguyên tắc điều chinh để ban hành các quy phạm cụ thể, rõ ràng - được gọi

thê chế Sau đó là tiến hành tổ chức thành lập, vận hành một hệ thống/cơ quan chuyên môn - được gọi là thiết chế, đế thực thi các chức năng, nhiệm vụ đã

được phân giao nhằm bảo vệ quyền và lợi ích cho đối tượng điều chình khi xuất hiện tình trạng tranh chấp, sự mâu thuẫn, đối lập về quyền và lợi ích hay

có sự xâm hại từ phía cơ quan công quyền hoặc từ các chủ thế khác trong xã hội nhằm khôi phục, bảo vệ tính nguyên vẹn cho các quyền lợi tác động

11

Trang 18

Vì vậy, có thê quan niệm: Bảo đảm quyên được TGPL của NKT được

xem như một cơ chế điều chỉnh/bảo đảm pháp luật” - tổ hợp các yếu tố do pháp luật quy định như chủ thể của quan hệ pháp luật, các quy tắc xử sự, trình

tự, thủ tục xác lập quan hệ pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại trong thực tiễn nhằm làm phát sinh một kết quả - thừa nhận và bảo vệ được các quyền và lợi ích cho NKT, mong muốn theo ý chí của nhà nước

1.1.1.2 Nội dung của bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

a) Chủ thề thụ hưởng quyền từ việc bảo đảm quyền được TGPL của NKT:

Chủ thể hưởng thụ quyền được sử dụng trong luận văn là NKT Lý giải cho sự lựa chọn này, có một số các lý do như sau:

Theo Tổng cục Thống kê, nước ta có khoảng 6,2 triệu NKT, chiếm 7,06% số dân từ hai tuổi trở lên, trong đó có 58% là nữ; 28,3% là trẻ em; gần 29% là NKT nặng và đặc biệt nặng Tính đến cuối năm 2019, có gần ba triệu NKT được cấp giấy chứng nhận khuyết tật Tỷ lệ khuyết tật có xu hướng tăng lên theo tuổi, tỷ lệ của nữ cao hơn nam Tỷ lệ khuyết tật khu vực nông thôn cao hơn gần 1,5 lần so với khu vực thành thị Ngoài ra, theo một báo cáo khác

có liên quan được thực hiện bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WTO), NKT hiện chiếm khoảng 10% tổng số thành viên nhân loại Đây được xem là con số không hề nhỏ khi tiếp cận vấn đề theo cách bảo đảm quyền con người, quyền

công dân cho đối tượng có “khuyem khuyết, nhược điêm” về sức khỏe, thể

chất Người khuyết tật thuộc “những nhóm cộng đồng người có vị thế về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ có nguy cơ cao bị tổn thương về quyền con người và bởi vậy cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với nhũng nhóm, cộng đồng người khác” [5, tr.1,3] Theo cách định nghĩa trong

trang sách số chín của Bộ luật xã hội Cộng hòa Liên bang Đức - Người khuyết

tật là người có các chức năng về thể lực, trí lực hoặc tâm lý tiến triên không

12

Trang 19

bình thường so với người có cùng độ tuôi trong thời gian trên 06 tháng và sự không bỉnh thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội [6, tr.?], Vì vậy, khi đặt vào vị trí là NK.T - thuộc “đối tượng yếu thế” sẽ rất cần sự trợ giúp từ người khác cho một hoặc một số hoạt động đời sống hàng ngày, cho nên, khi gặp phải những vấn đề vướng mắc về pháp luật hay khi tham gia tố tụng hoặc thực hiện các thủ tục hành chính thường gặp nhiều khó khăn, phải chịu nhiều thiệt thòi, cho nên không tự bảo

vệ được quyền lợi ích hợp pháp cho chính bản thân Chính vì vậy, rất cần nhũng chính sách phù họp trong thực thi các quyền và lợi ích đã được pháp luật thừa nhận

Ngoài ra, NK.T cũng thường là nạn nhân của nhiều hành vi vi phạm pháp luật, bị xâm hại các quyền và lợi ích họp pháp Căn cứ theo nhiều số liệu thống kê, báo cáo từ nhiều nguồn thông tin trên thế giới và căn cứ theo quy định tại Việt Nam hay của các quốc gia/vùng lãnh thổ khác nhau trên thế giới, cho thấy người thụ hưởng quyền được TGPL là nhũng người hay nhóm người được xác định như người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, trẻ em, người nghèo trong xã hội vì nhiều lý do nên không có khả năng tiếp cận các dịch vụ/hoạt động liên quan đến tư vấn, thực hiện thủ tục pháp lý đế bảo vệ, bảo đảm quyền công dân, quyền con người khi có sự kiện pháp lý xảy ra Với những khó khăn và ảnh hưởng, những đối tượng này cần có sự trợ giúp về pháp lý, kinh tế nhằm khắc phục những hạn chế/thiếu xót phần nào trong việc bảo đảm quyền để tạo cơ hội tối đa cho trong sự phát triển chung của toàn xã hội hay cho chính bản thân họ

b) Chủ thê tiến hành hoạt động bảo đảm quyền TGPL của NKT:

- Chủ thể tiến hành hoạt động báo đảm quyền được TGPL của NKT do Nhà nước thực hiện hoàn toàn, tức là được thực hiện bởi những cá nhân hay

tổ chức nhân danh/nhận được sự ủy quyền của cơ quan Nhà nước hay làm

13

Trang 20

việc trong “khu vực công” trực tiêp thực hiện hoạt động, được hưởng lương

từ ngân sách nhà nước và làm việc theo sự phân công, chỉ định khi có sự kiện pháp lý xảy ra

Tuy nhiên, điếm hạn chế của mô hình này có thể gây ra sự quá tải, tạo

áp lực cho người thực hiện TGPL của Nhà nước, trong một số trường họp, cơ quan TGPL của Nhà nước không thể đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL của người dân, thậm chí có thể phải từ chối yêu cầu TGPL hoặc khó bảo đàm tính độc lập, khách quan trong quá trình xử lý vụ việc do mối quan hệ giữa cơ quan TGPL của Nhà nước và các cơ quan tố tụng trong cùng hệ thống bộ máy của Nhà nước hay gây áp lực cho ngân sách nhà nước khi phải đảm bảo nguồn kinh phí lớn đế duy trì hoạt động Hiện nay, Phillipine, Achentina là các nước theo mô hình này

- Chủ the tiến hành hoạt động bảo đảm quyền TGPL của NKT do luật

sư tư (luật sư hành nghề tự do) thực hiện TGPL và được trả thù lao theo vụ việc Đối với hình thức hoạt động này, cơ quan Nhà nước chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về TGPL, xây dựng kế hoạch, chính sách, xem xét điều kiện TGPL, giao vụ việc cho luật sư và các tố chức xã hội thực hiện, nghiệm thu vụ việc và thanh toán thù lao cho người thực hiện TGPL Các luật

sư này là thành viên của Hội luật sư, kí kết hợp đồng với tổ chức TGPL và hưởng kinh phí theo từng vụ việc TGPL Kinh phí theo biểu bảng do Nhà nước quy định đối với từng trường hợp

Điểm hạn chế của mô hình này là: mặc dù Nhà nước không thành lập

hệ thống các cơ quan TGPL của mình để quản lý và thực hiện TGPL nhưng phải đầu tư xây dựng các hệ thống công nghệ thông tin quản lý vụ việc rất hiện đại và khá tốn kém để thống nhất cho công tác điều hành; tiếp theo là chi phí chi trả cho luật sư tư cần đảm bảo “tính dung hòa” giữa nhu cầu cá nhân

và việc phân bồ ngân sách Nhà nước; việc quản lý, đánh giá vụ việc và chi trả

14

Trang 21

thù lao cho luật sư tư và tô chức xã hội khá phức tạp, đòi hỏi cơ quan TGPL

và các luật sư phải có sự hồ trợ mẽ của công nghệ thông tin; do chỉ sử dụng đội ngũ luật sư tư cho nên không có cơ chế ràng buộc luật sư thực hiện TGPL

ổn định, lâu dài vì luật sư hành nghề tự do; với một số luật sư thì TGPL không phải là công việc ưu tiên của họ Hiện nay, có rất nhiều quốc gia phát triển hoạt động theo hình thức này như Indonesia, Hungary, Ý, Tây Ban Nha

- Chủ thê tiến hành hoạt động háo đảm qưyền được TGPL của NKT là

sự kết hợp từ hai mô hỉnh trên (mô hình hỗn hợp): là sự kết hợp của Nhà nước

và các luật sư tư, các tổ chức xã hội vừa có đội ngũ người thực hiện TGPL của Nhà nước nên Nhà nước bảo đảm đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL cùa người dân ở nhũng địa bàn khác nhau (ngay cả vùng sâu, vùng xa, nơi không

có hoặc có rất ít luật sư tư), không bị quá lệ thuộc vào đội ngũ luật sư tư; và vừa đồng thời, Nhà nước có thể chủ động điều phổi các nguồn lực (kể cả nhân lực và kinh phí) ở mọi thời điểm, bảo đảm cho công tác TGPL phát triển ổn định và hiệu quả, thông qua đó Nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc bào đảm công tác TGPL của Nhà nước Các quốc gia lựa chọn mô hình có thế liệt kê như Phần Lan, Nhật Bản, Alien, bang Victoria, Queensland (Úc), Mỹ, Nam Phi, Hàn Quốc

1.1.1.3 Hình thức hoạt động liên quan đến bảo đăm quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

Hình thức hoạt động bảo đảm quyền được TGPL cùa NK.T là cách thức

mà chủ thể tiến hành hoạt động TGPL thực hiện cho đối tượng thụ hưởng để

xử lý các sự việc pháp lý phát sinh một cách hiệu quả nhất Các phương thức hoạt động rất đa dạng và căn cứ theo các quy định hiện hành tại các Điều ước quốc tế, văn bản pháp lý của mỗi quốc gia, có thế liệt kê một số các hoạt động bảo đảm quyền TGPL của NKT như:

15

Trang 22

- Đại diện tô tụng/tranh tụng: Chủ thê thực hiện hoạt động đóng vai trò là người đại diện hoặc người bào chữa trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính

- Tư vấn pháp luật: Là việc giải đáp, hướng dẫn người thụ hưởng quyền về việc tuân thủ pháp luật và áp dụng các quyền pháp lý của mình vào thực tiễn Không dừng lại ở việc truyền tải các thông tin về các văn bản, quy định của pháp luật mà người thực hiện còn phái nghiên cứu vụ việc của người được thụ hưởng quyền, từ đỏ đưa ra các lời khuyên hữu ích cho việc bảo đảm quyền lợi hợp pháp của họ

- Đại diện ngoài tố tụng: Là việc chủ thể tiến hành hoạt động, thông qua nhu cầu cần sự giúp đỡ từ người thụ hưởng quyền, nhân danh họ tham gia các quan hệ pháp luật mà không liên quan đến tố tụng (bao gồm cả tố tụng hình sự và tố tụng dân sự, tố tụng hành chính) vì lợi ích của người thụ hưởng quyền như: tham gia hòa giải, khiếu nại, thực hiện công việc liên quan đến hành chinh để bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người thụ hưởng quyền Tuy nhiên, trong một vụ việc, có thể lựa chọn một hoặc nhiều phương thức khác nhau để bảo vệ thành công quyền lợi chính đáng cho đối tượng được hưởng quyền TGPL như khiếu nại, hòa giải hoặc tranh tụng tại Tòa án

- Cuối cùng là “đánh giá chất lượng vụ việc khi thực hiện hoạt động

bảo đảm quyền được TGPL của NKT” để có giải pháp cải thiện để đạt hiệu quả cao của hoạt động, cỏ thế xem đây như một phương thức hoạt động TGPL, mặc dù phương thức này không xuất phát từ “tính chủ động'1' của cá

nhân, tổ chức thực hiện hoạt động bảo đảm quyền được TGPL của NKT như cách hiểu thông thường tuy nhiên do mục đích, kết quả và chũ thể tiến hành vẫn xoay quanh các đối tượng/chủ thể có liên quan đến TGPL Hay nói cách khác là đề cao quyền kiểm tra, đánh giá của đối tượng được hưởng thụ quyền đối với chủ thể thực hiện hoạt động

16

Trang 23

1.1 ì.4 Đặc điêm của bảo đảm quyên được trợ giúp pháp lý của người khưyêt tật

Có thể thấy hoạt động bảo đảm quyền được TGPL của mọi người nói chung hay của NK.T nói riêng có một số đặc điềm như:

- Bảo đảm quyền được TGPL được hiểu là một phần của chính sách xã hội mà Nhà nước có trách nhiệm thừa nhận và thi hành Người được TGPL không phái trả mức chi phí cao hoặc thậm chí là hoàn toàn miễn phí để nhận được sự giúp đỡ về mặt pháp lý cho các sự kiện pháp lý xảy ra Cho nên, TGPL vừa mang tính nhà nước, vừa mang tính xã hội cao cả và nhân đạo

- Liên quan đến đối tượng thực hiện hoạt động bảo đảm quyền được TGPL theo cách quy định chặt chẽ về điều kiện, tiêu chuẩn hành nghề của các

cá nhân, tố chức tiến hành hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, đồng thời cải thiện chất lượng của hoạt động Bởi lẽ, thông qua việc phổ biến, thực hiện hoạt động này, mọi cá nhân, tồ chức sẽ được biết đến hoạt động TGPL và tích cực tham gia, đóng góp phát triển hệ thống này Chính vì vậy, những quy định có tính chất ưu đãi hoặc chính sách phù họp đối với các tổ chức xã hội, đặc biệt là các luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư được xem như nguồn động lực/chất xúc tác làm gia tăng hiệu quả cho vấn đề này

- Hoạt động bảo đảm quyền được TGPL của NKT có mối quan hệ tương hồ với các thiết chế pháp luật khác Cùng với các phương thức như tư vấn pháp luật, đại diện tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, tham gia đại diện trong các quan hệ hành chính, khiếu nại, tố cáo hoạt động này là một trong những kênh phổ biến, truyền đạt, thúc đẩy pháp luật đi vào đời sống, chẳng hạn như: TGPL là một hoạt động bồ trợ tư pháp, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động xét xử của tòa án hay người thực hiện TGPL được tham gia đại diện tổ tụng trong các vụ án hình sự và dân sự dưới hình thức đại diện hoặc bào chữa trong tất• • • • • •

cả các giai đoạn tố tụng, có vị trí độc lập so với các cơ quan tiến hành tố tụng,

do đó có thể phòng ngừa hay ngăn chặn kịp thời các sai phạm trong hoạt động

17

Trang 24

tối tụng, góp phần bảo đảm giải quyết vụ án khách quan, đúng đắn hay TGPL

hỗ trợ cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

1.1.1.5 Nguyên tắc hoạt động liên quan đến báo đảm quyền trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

Thông qua nhiều quy định trong các văn bản pháp lý có quy định liên quan đến bảo đảm quyền được TGPL nói chung hay của NKT nói riêng, có khuynh hướng mang tính khuyến cáo, hướng dẫn cho việc ban hành, áp dụng pháp luật cho các quốc gia trên thế giới hay trong một vùng lãnh thổ nhất định như “Bộ 10 nguyên tắc cơ bản về TGPL trong vụ việc dân sự hay các nguyên

tắc cơ bản về vai trò của luật sư khi thực hiện TGPL của tô chức Legal aid Reformer Network của Hiệp hội luật gia Mỹ (American Bar Assocition) [7]”,

“các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư được thông qua tại Đại hội lần thứ Vin của Liền Hợp Quốc về phòng chổng tội phạm và cải tạo phạm nhân ỞHanava, Cu Ba năm 1990 [8]" dựa trên những nguyên tắc quan trọng sau:

- Nhà nước luôn luôn là đối tượng có trách nhiệm chính/tham gia một cách trực tiếp hoặc gián tiếp khi thực hiện và quản lý hoạt động TGPL: Mặc

dù trên toàn thế giới cũng đánh giá cao, ưu tiên áp dụng xu hướng kêu gọi, vận động sự tham gia của nhiều thành phần khác nhau trong một xã hội tiến hành TGPL đang diễn ra ở nhiều nơi và được các Nhà nước, tố chức, nhà nghiên cứu Tuy nhiên, trong vấn đề này, Nhà nước vẫn là chủ thể có trách nhiệm chính cho hoạt động TGPL Bởi lẽ, theo tính hành động, nhà nước có trách nhiệm/nghĩa vụ thụ động và chủ động, cụ thế như sau:

£>óí với trách nhiệm/nghĩa vụ chủ động', các cơ quan Nhà nước tích cực

thực hiện các hoạt động như xây dựng hệ thống pháp luật; thiết lập các phương tiện/công cụ để người yếu thế hưởng thụ quyền được TGPL của mình; đưa ra các định hướng hoặc giải pháp để nâng cao kiến thức cho người dân và cộng đồng về quyền được TGPL; trực tiếp thực hiện công việc TGPL đối vói đối tượng hưởng thụ quyền

18

Trang 25

Đôi với trách nhiệm/nghĩa vụ gián tiêp: được hiêu là Nhà nước không

can thiệp, không trực tiếp tác động thực hiện các công việc tuy nhiên Nhà nước phài ban hành/thực thi các chính sách phải đảm bảo sao cho người được TGPL được thụ hưởng quyền theo phương thức phù họp nhất với tình hình xã hội của quốc gia đó

Mọi chủ thể đều được bình đắng trong việc hưỏng thụ quyền được TGPL mà không có bất cú’ sự phân biệt nào Nguyên tắc bình đẳng và không

phân biệt đối xử là nguyên tắc then chốt của luật quốc tế nói chung, luật nhân quyền quốc tế nói riêng, được ghi nhận trong UDHR 1948 Nền tảng của nguyên tắc này chính là sự bình đẳng trong mọi vấn đề mà không có sự phận biệt do xuất thân, hoàn cảnh

Cá nhân/tổ chức được trao quyền thực hiện TGPL cần được hoạt• • • • động độc lập, nỗ lực hết mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật Cũng

giống như lý thuyết về tỉnh độc lập của hệ thống tư pháp, “tỉnh độc lập” trong

việc TGPL là điều thực sự cần thiết bởi sẽ đảm bảo được “tỉnh minh bạch, tự c/iịw trách• • • • • • • • • nhiệm" của người thực hiện hoạt động và được thề hiện ở một sốcác phương diện như: được thực hiện tất cả các chức năng chuyên nghiệp, được tự do đi lại để tư vấn, thực hiện các công việc phục vụ cho việc TGPL• • • < • • • JL * * •hoặc được bảo mật các thông tin về vụ việc TGPL hay không bị đe dọa truy tố hay xử lý bằng các biện pháp trừng phạt cho những hành vi đã được quy định đối với người thực hiện TGPL

Hệ thống TGPL chỉ được giới hạn trong các trường họp đặc biệt theo quy định của pháp luật: TGPL là một hoạt động vừa mang tỉnh xã hội,

vừa mang tỉnh chất nhân đạo, thể hiện trách nhiệm của nhà nước với xã hội

Nếu xét dưới góc độ vĩ mô, việc trì hoãn hoạt động TGPL chỉ được diễn ra khi quốc gia xày ra "tình trạng khăn cấp" hoặc theo thủ tục mà pháp luật quốc gia quy định Xét dưới góc độ vi mô, về mặt hình thức, vụ việc cụ thể được

19

Trang 26

yêu câu TGPL chỉ có thê bị từ chòi nêu khi người yêu câu không thuộc đôi tượng được TGPL hoặc lĩnh vực của vụ việc không nằm trong danh mục TGPL hoặc có dấu hiệu vi phạm các điều kiện để được TGPL về mặt nội dung, việc từ chối TGPL phải được quy định rõ ràng trong luật pháp quốc gia

về TGPL

- Chi phí cho việc thực hiện TGPL: Không thu lệ phí, thù lao từ người thụ hưởng quyền được TGPL Tại Việt Nam, nguyên tắc đầu tiên của hoạt động TGPL đó là: "Không thu phỉ, lệ phí thù lao từ người được TGPL" Đồng

bộ với nguyên tắc trên, tại Điều 8 Luật Luật sư năm 2006 (được sửa đổi bởi Luật luật sư năm 2012) thì Nhà nước khuyến khích sự tham gia hoạt động TGPL miễn phí đến luật sư hay các tổ chức hành nghề luật khác

- Đạo đức thực hiện công việc: Người thực hiện hoạt động này phải

luôn luôn trung thực, tận tâm thực hiện công việc và phải tôn trọng sự thật khách quan Bởi lẽ, chủ thể thực hiện cho hoạt động bảo đảm quyền được TGPL là người hoạt động khoa học pháp lý chuyên nghiệp, ở vị trí người hướng dẫn pháp luật và bảo vệ công bằng, đạo lý cho người khác, luôn luôn lấy việc bảo vệ công lý, bảo vệ lẽ phải và công bàng xã hội làm mục tiêu cao quý Trong khi thực hiện công việc, ngoài việc thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, giữ gìn phấm chất và uy tín nghề nghiệp, chính bản thân họ phải luôn luôn rèn luyện đạo đức, trung thực trong công việc, không ngại khó, ngại khổ, không dồn trách nhiệm cho đồng nghiệp, cho người khác

thế hiện tỉnh độc lập, khách quan', thái độ ứng xử đúng mực, có văn hóa trong hành nghề và lối sống để xúng đáng với sự tin cậy, tôn trọng của xã hội đối với luật sư và người hành nghề dịch vụ pháp lý

- Hoạt động cung cấp dịch vụ TGPL: được người thực hiện TGPL tiến

hành một cách miễn phí theo nhiều hình thức như tư vấn pháp luật', tham gia

tố tụng/tranh tụng tại các phiên tòa', đại diện ngoài tố tụng', thực hiện các hình thức thực hiện TGPL khác.• •

20

Trang 27

Vân đê khác cực kỳ quan trong là phải luôn tôn trọng khà năng phát triển trong việc bảo đảm quyền của trẻ em khuyết tật và phát huy, giữ gìn bản sắc của mình.

1 ỉ 1.6 Ỷ nghĩa của bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

a) Ý nghĩa xã hội, nhân vãn

- Bảo đàm quyền được TGPL của NKT the hiện trách nhiệm cao của Nhà nước trong việc bão đảm các quyền con người, trong đó có các quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tiếp cận công lý theo các điều ước quốc tế

mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt trong ĨCCPR, CRC, CEDAW

- Pháp luật về bảo đảm quyền được TGPL với mục đích hướng đến là bảo vệ, bảo đảm và thúc đẩy sự tôn trọng đối với tư cách, phẩm giá vốn có của NKT cho nên quy định cụ thể, rõ ràng về người được TGPL, người thực hiện hoạt động này hay hình thức và phạm vi của hoạt động bảo đảm quyền được TGPL của NKT sẽ tránh được tinh trạng dàn trải kéo theo tình trạng bất bình đẳng trong xã hội Vì vậy, việc xác định hoạt động TGPL nào là trọng tâm, trọng điểm đế phân biệt với các hoạt động pháp lý khác có liên quan nhằm đem đến sự tối ưu, thiết thực nhất cho xã hội, tránh gây ra tình trạng tiêu tốn, lãng phí nguồn lực của xã hội

- Trong một số trường hợp, thông qua hoạt động này, sẽ là nguồn thông tin thực tiễn để giúp chính quyền giải tỏa những vụ việc vướng mắc pháp luật, giải quyết những bất cập giữa chính quyền với dân trong đời sống hằng ngày tại địa phương, giữ gìn sự đoàn kết trong cộng đồng, giảm bớt các khiếu kiện vượt cấp, góp phần tạo niềm tin của nhân dân với chính quyền

- Ngoài ra, chủ thể hưởng thụ quyền sẽ hiểu biết hơn về quyền và nghĩa vụ của mình trong một lĩnh vực pháp luật cụ thể khi có tranh chấp hoặc thực hiện được quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình, đồng thời góp phần nâng cao kiến thức pháp luật nói chung và giảm thiểu tối đa các xung đột quyền và lợi ích với chủ thể khác trong các mối quan hệ pháp luật

21

Trang 28

b) Y nghĩa kinh tê

Thông qua hoạt động bảo đảm quyền được TGPL của NKT, chủ thể thực hiện hoạt động đem đến những thông tin pháp luật hữu ích, giải đáp những thắc mắc, giúp người thụ hưởng quyền hiểu hon về các trình tự, thủ tục hành chính cần thiết khi giải quyết công việc hay biết cách thức xử lý các vụ việc tranh chấp, tránh việc “bị sách nhiễu” dẫn đến tốn kém thời gian, tiền bạc

và công sức Những vụ việc có sự giúp sức thông qua hoạt động này được diễn ra nhanh chóng, đủng trình tự, đúng thù tục

1.1.2 Cơ chế bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

Cơ chế về bảo đảm quyền được TGPL đối với NKT xuất phát từ việc

Quyền con người được coi là giá trị chung của toàn nhân loại, thuộc về mọi

cá nhân mà không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào dựa trên các cơ sở về chủng tộc, quốc tịch, nơi cư trú, giới tinh, nguồn gốc dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hoặc bất kỳ cơ sở nào khác [9] Hay như Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu trên các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế,

xã hội và văn hóa, bảo vệ các cá nhân/nhóm chống lại các hành động hoặc sự

bỏ mặc làm tổn hại đến các quyền, tự do cơ bản, nhân phẩm [ 10]

Theo đó, từ “tập họp chung” là quyền con người được hiếu là quyền tự

nhiên, là bất khả xâm phạm, cho đến “tap hợp con ” là “quyền được TGPL của NKT” được xem với tư cách là quyền công dân, cho nên phải được ghi

nhận trong hệ thống pháp luật quốc gia và phải được đảm bảo thực thi đối với công dân nước mình Khi một cá nhân được thừa nhận với tư cách là công dân của một nước thì sẽ được nhà nước, quốc gia đó bảo hộ quyền và lợi ích, tuy nhiên đồng thời công dân đó cũng phải thực hiện những nghĩa vụ/trách nhiệm nhất định đối với nhà nước Ngoài ra, đối với cá nhân sinh sống, học tập và làm việc trên lãnh thổ của một quốc gia khác, không có quốc tịch ở đó thì Nhà nước vẫn có trách nhiệm đảm bảo, bảo hộ tính mạng, tài sản, danh dự

22

Trang 29

và nhân phâm theo quy định của pháp luật (với tư cách là bảo vệ quyên con người).

Từ đó, dẫn đến một trong những bước tiến quan trọng và rõ nét nhất trong Hiến pháp - “vổM bản tối cao” của một quốc gia, dân tộc hay trong các văn bản pháp luật khác, là phải chú trọng, nâng cao các quy định về nhân quyền như là sự tổng hoà của “quyền con người” và “quyền công dân”', đồng

thời xác lập trách nhiệm đám bảo thực thi những quyền đó trên thực tế dành cho các tổ chức, cơ quan Nhà nước Các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phong phú và luôn tuân thủ theo một trình tự nhất định, trước hết là việc ghi nhận, khẳng định các quyền, lợi ích của NKT và tiếp đó là tạo lập các bộ máy chuyên trách thực thi nhằm bảo đảm cho các quyền đã được ghi nhận đó

Ngoài ra, nguyên nhân khác lý giải cho lựa chọn này xuất phát từ việc xác định lại mối quan hệ giữa nhà nước với con người Bởi lẽ, nhận thức chung cho rằng, chủ thể cơ bản có nghĩa vụ bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người là các nhà nước mà cụ thể là các chính phủ, các cơ quan nhà nước khác cùng các viên chức hay những người làm việc hoặc được ủy quyền thực hiện các công việc từ phía cơ quan công quyền - được gọi chung là các chù thể nhà nước Thông qua thực tiễn quan sát cũng cho thấy: các chủ thế nhà nước thường là thủ phạm chính của những vì phạm về quyền con người

1.1.3 Các yếu to tác động đến bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của

Việc thực thi, thúc đẩy quyền được TGPL của NKT nói riêng hay cho các “đối tượng yếu thế” khác nói chung là điều rất đáng trân trọng và rất cần sự góp sức của rất nhiều thành phần khác nhau trong xã hội Ngoài

sự tham gia tích cực chủ động cùa các Nhà nước hay các tổ chức chính trị

xã hội nghề nghiệp khác nhau, thì “quyền” này có thế bị tác động bởi nhiều thành tố khác như:

23

Trang 30

Tình hình chính trị, kỉnh tê, văn hóa, xã hội', tại môi quôc gia, lĩnh vực kinh tế, pháp luật và quản lý đều liên quan trực tiếp tới phương hướng, mục tiêu phát triển, đặc biệt là hướng tới phát triển bền vững và hiện đại hóa, đổi mới mô hình tăng trưởng, đổi mới thể chế, cơ chế và chính sách, đổi mới phương thức huy động các nguồn lực và phân bổ nguồn lực cho phát triển.

Ngày nay, nhiều quốc gia/vùng lãnh thổ đang cố gắng phát triển nhanh, bền vừng với khát vọng tạo ra những bước đột phá nhằm tiến đến một cộng đồng, xã hội, quốc gia ưu việt, là hình mẫu lý tưởng cho nhiều nới khác Vì thế, yêu cầu phát triển trong việc bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp giữa thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế xã hội (bao gồm cả thể chế vãn hóa); giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triền con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, báo vệ môi trường, phát triển bền vững là mục tiêu tối quan trọng của các quốc gia trong giai đoạn này Cho nên, yếu tố về

văn hóa truyền thống, định hướng phát triển kinh tế, chính trị, xã hội có vai

trò to lớn, là động lực của sự phát triển của đất nước

Các giá trị này có thể hiểu là những yếu tố thuộc về văn hóa tinh thần,

có giá trị bền vững, tốt đẹp, tiêu biểu cho truyền thống của dân tộc, có tác dụng tích cực, thúc đấy sự phát triển của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử cũng như hiện tại và cuối cùng là đạt được các mục tiêu kinh tế, văn hóa, xã hội trong tương lai

Do vậy, xây dụng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật

về văn hóa nói riêng, trong đó phải bảo đảm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, coi đó là nguồn cổ vũ, là động lực to lớn, là mục tiêu cốt lõi để xây dựng

và phát triển xã hội đáp úng yêu cầu xây dụng và phát triển đất nước

Tình hình và thực tiền hoạt động TGPL cho người khuyết tật tại mỗi vùng/địa phương-, dựa theo Báo cáo số 39/BC-UBDT [11] về Kết quà 08 năm

24

Trang 31

triển khai thực hiện Luật trợ giúp pháp lý cho thấy nhiều khó khăn, vướng mắc khi thực hiện TGPL do sự khác biệt đặc thù của mồi vùng miền như: chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra, ở nhiều nơi, vụ việc tư vấn pháp luật còn rất chung chung, chưa chỉ rõ được người dân vướng mắc ở cái gì, lợi ích gì bị xâm phạm, cũng như chưa đi sâu tìm giải pháp phù hợp để định hướng cho họ cách thức giải quyết; địa bàn đi lại khó khăn, phải mất nhiều thời gian và chi phí cho vụ việc; nhận thức pháp luật ở vùng miền núi nói chung, của đồng bào người dân tộc thiểu số nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa biết tới quyền trợ giúp pháp lý của mình ; cộng tác viên chưa am hiếu nhiều về phong tục, tập quán, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số nên các vụ việc tư vấn, giải đáp các vướng mắc pháp luật cho người dân tộc thiểu số chưa thật sự có chất lượng, thực hiện còn khiêm tốn, số

vụ việc trợ giúp pháp lý tại các buổi sinh hoạt còn quá ít so với thực tiễn xảy

ra tại địa phương

Chính vì vậy, sự trao đổi học tập kinh nghiệm triển khai, thực hiện giữa các địa phương là điều thực sự cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác bảo đảm quyền của TGPL được đồng bộ và hiệu quả trên thực tế

Sự tham gia/hưởng ứng của người dân và dư luận xã hội', theo một

số liệu được thống kê tại Việt Nam, số lượng, tổ chức người tham gia TGPL còn thiếu, chưa đủ để đáp ứng kịp thời nhu cầu TGPL, thiếu nguồn lực về số lượng và cà về chất lượng Ngoài ra, do sự phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều giữa các địa phương dần tới việc số lượng và tỷ lệ đối tượng được hưởng TGPL là không đồng đều giữa các địa phương, cụ thể, người thuộc diện được hưởng TGPL ở vùng xuôi ít hơn ở vùng núi Cho nên về mặt khách quan, do chưa có quy định pháp luật quy định cơ chế phối hợp, luân chuyển nguồn lực giữa các địa phương nhằm đảm bảo việc thực hiện đồng đều dịch

vụ TGPL nên trên thực tế quyền lợi của người dân chưa được đảm bảo đầy đủ, chất lượng TGPL chưa cao

25

Trang 32

Tình trạng kỳ thị và phán biệt đôi xử với người khuyêt tật: tâm lý

kỳ thị, dù cố ý hay vô ý đều gây nên những tổn thương không hề nhò đến danh dự, uy tín và vô hình chung tạo ra rào cản cho việc hòa nhập đời sống thường ngày, đó là phân biệt đổi xử trong gia đình, cộng đồng, nơi làm việc, trong hôn nhân và gia đình hay rộng hơn là trong việc tham gia các hoạt động xã hội Cụ thể như NKT cũng thường bị chế nhạo, bị lăng mạ Người ta thường xa lánh, tránh gặp NKT trước khi làm việc gì đó quan trọng như đi công tác xa, đi du lịch, đi thi Các tuyến xe buýt, dịch vụ vận tải, thiết bị công nghệ, chưa tạo điều kiện tiếp cận cho NKT, không chỉ có NKT mà đôi khi cả gia đình họ cũng bị kỳ thị, xa lánh

1.2 Luật nhân quyền quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền được trự giúp pháp lý của ngưòi khuyết tật

1.2.1 Luật nhân quyền quốc tế về bảo đăm quyền được trợ giúp pháp lý

Thực tiễn khi nghiên cứu, tìm hiểu vấn đề liên quan đến TGPL cho NK.T, cho đến trước năm 2007, không có điều ước quốc tế nào quy định riêng,

cụ thể về vấn đề bảo đảm quyền cho NKT, thậm chí, không có những điều khoản riêng về quyền của NKT trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự

và chính trị năm 1966 (ICCPR) và Công ước quốc tế các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966 (ICESCR) trong khi có các điều khoản về quyền của trẻ

em, phụ nữ và người thiểu số trong hai công ước này Duy nhất trong số các điều ước quốc tế về quyền con người trước năm 2007, có Công ước về quyền trẻ em (1989) để cập việc bảo vệ quyền của trẻ em khuyết tật (Điều 23) [12],

Tuy nhiên, đến thời điểm các năm 2004, 2005, ủy ban quyền con người của Liên Hợp Quốc đã thông qua hai nghị quyết về quyền con người liên quan đến NKT, trong đó thúc giục các quốc gia ngăn ngừa và cấm tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại những NKT, đồng thời thành lập ủy ban lâm thời để soạn thảo một điều ước quốc tế về NKT

26

Trang 33

Theo đó, kê từ 2007, Công ước Quôc tê vê các Quyên của Người Khuyết tật (Convention on the Rights of Persons with Disabilities- CRPD)

được ban hành (chính thức cỏ hiệu lực từ 2008) và thực thi vào đời sống thực tiễn của mọi xã hội, quốc gia trên thế giới, đã đem đến một đảm bảo pháp lý vững chắc, hiệu quả cho hàng triệu NKT trên toàn thế giới, bời lẽ:

- Thông qua Công ước đã xây dựng hệ thông các khái niệm liên quan đến vấn đề khuyết tật trên cơ sở cách tiếp cận xã hội và tiếp cận dựa trên quyền là yếu tố tiên quyết khẳng định tầm quan trọng và sự cần thiết của Công ước liên quan đến vấn đề khuyết tật và NKT được hiểu và áp dụng trong phạm vi toàn cầu như khuyết tật, phân biệt đối xử do bị khuyết tật, giao

tiếp, ngôn ngữ, sự điều chỉnh hợp lý, thiết kế phô cập

- Đây là hiệp ước đầu tiên củng cố vị thế và quyền hợp pháp nhìn nhận tình trạng khuyết tật như là một vấn đề về quyền con người [9, tr.13], căn cứ theo Lời nói đầu về Mục đích của Công ước “ là thúc đấy, bảo vệ và bảo

đảm cho người khuyết tật được hưởng một cách bình đẳng và đầy đủ tất cá các quyền và tự do cơ bản của con người, và thúc đấy sự tôn trọng phẩm giả von có của họ ” [10, tr.3J

- Thay đổi cách nhìn đối với tình trạng khuyết tật là một vấn đề xã hội chứ không phải là vấn đề y tế, được thừa nhận tại điểm e trong Lời nói đầu của Công ước “ Thừa nhận rằng sự khuyết tật là một khái niệm luôn tiến triển và sự khuyết tật xuất phát từ sự tương tác giữa người cỏ khuyết tật với những rào cản về môi trường và thải độ, những rào cản này phương hại đến

sự tham gia đầy đủ và hữu hiệu của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác ” [11, tr 1]

- Thiết lập tám (08) nguyên tắc chủ đạo, mục đích để đặt ra yêu cầu với các quốc gia thành viên phải thực thi những biện pháp thích họp đế ngăn cấm mọi sự phân biệt đối xử dựa trên cơ sở khuyết tật, bảo vệ một cách hiệu quả• ♦ ± • 7 é • • JL

27

Trang 34

những NKT khỏi mọi hình thức phân biệt đôi xử và thúc đây sự tự do phát triển của NKT được quy định tại Điều 3 Công ước.

Xác lập sự dịch chuyển từ phương thức tiếp cận theo hướng nhân đạo sang hướng nhân quyền thông qua Điều 4 về Nghĩa vụ chung của Quốc gia “ ÓZ Thông qua các biện pháp lập pháp, hành pháp hoặc các biện pháp khác để thi hành các quyền được thừa nhận trong Công ước này; b Tiến hành mọi biện pháp thích họp, trong đó có lập pháp, đê sửa đôi hoặc hủy bỏ các luật, quy định, tập quán và thông lệ hiện hành có tỉnh chất phân biệt đổi

xử đối với người khuyết tật; c Cân nhắc việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người của người khuyết tật trong tất cả các chính sách và chương trình; d Không có bất kỳ hành vi hoặc thực tiễn nào trái với Công ước này và bảo đảm rằng mọi thể chế và cơ quan công quyền hành xử phù hợp với Công ước này "112, tr.5,6,7]

Công ước một lần nữa đã khẳng định chắc chắn, rõ ràng các quyền

và lợi ích của NKT đã được thiết lập từ Tuyên ngôn nhân quyền

Bào vệ quyền của các nhóm người khuyết tật đặc thù như phụ nữ và trẻ em khuyết tật

Nghĩa vụ của các quốc gia thành viên Công ước và các chủ thể khác

1.2.1.1 Thê chế về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lỷ của người khuyết tật

Điều cần thiết phải làm đầu tiên là ghi nhận quyền được TGPL của NKT trong hiến pháp của một quốc gia và được đảm bảo thực thi bởi những thiết chế riêng Lý giải cho sự ghi nhận này, trước hết đến từ quyền được TGPL là một dạng quyền thuộc quyền tự nhiên, bất khá xâm phạm của con người được ghi nhận tại Điều 2 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948

(UDHR) “Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn

này không phân biệt đối xử vì bất cứ lỷ do nào, như chủng tộc, màu da, nam

nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chỉnh kiến hay quan niệm, nguồn gốc dán tộc hay xã

28

Trang 35

hội, tài sản, dòng dõi hay hât cứ thân trạng nào khác” [14, tr.2] Theo đó, mọi cá nhân sinh sống trên lãnh thố của một quốc gia sẽ được quốc gia đó đảm bảo cho mọi vấn đề như tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm mà không được viện lý do nào khác đế trốn tránh trách nhiệm trong việc bảo quyền con người.

Ngoài ra, căn cứ theo hệ thống các quy phạm hiện hành đang điều chỉnh cho vấn đề này, có thể phân chia hệ thống quy phạm cho hoạt động này dựa theo tiêu chí hên quan đến “hiệu lực theo đối tượng chịu ràng buộc” như:

Vãn bản có tỉnh ràng buộc trách nhiệm cao - không loại trừ trách nhiệm/nghĩa vụ cho các quốc gia có tham gia hay không

Văn bán mang tính chất khuyến nghị

Theo đó, có nhiều văn kiện chinh thức mang tính ràng buộc/trách nhiệm cao đối với các quốc gia thành viên như: Công ước cháu Âu về nhản

quyền (ECHR)1953; Công ước quốc tế về quyền dân sự và chỉnh trị (1CCPR) 1966; Công ước Châu Mỹ về quyền con người (1969); Hiến chương Châu Phi

về quyền con người và quyền dãn tộc (1981); Công ước Quốc tế về các Quyền của Người Khuyết tật (2007); Tuyên bố về quyền của những người thiêu năng tâm thân, 1971 (Declaration on the Rights of Mentally Retarded Persons); Tuyên bố về quyền của những người tàn tật, 1975 (Declaration on the Rights

of Disabled Persons); Các nguyên tắc về bảo vệ những người bị thiểu năng tâm thần và tăng cường chăm sóc sức khỏe tâm thần, 1991 (Principles for the protection of persons with mental illness and the improvement of mental health care); Các quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa các cơ hội cho người khuyết tát, 1993 (Standard Rules on the Equalization of Opportunities for Persons with Disabilities)

Cụ thể như Công ước Châu Âu về quyền con người 1953 (ECHR) được

áp dụng cho các quốc gia thành viên tại châu Âu, đã ban hành nhiều quy định

29

Trang 36

liên quan vê các vân đê như xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực thi các quyền, xét xử công bằng, nghiêm cấm phân biệt đối xử

và sự lạm quyền của cơ quan công quyền

Hay như Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị 1966 quy định

tại khoản 3 Điều 14 ICCPR đã trực tiếp thừa nhận sự bình đẳng trong việc thụ hưởng quyền của mọi người, trong đó bao gồm NKT hoặc đặt vấn đề trách nhiệm trong việc công nhận, thực thi Công ước đối với cơ quan hữu quan, có thẩm quyền, được quy định tại các Điều 14, 15, 16 ICCPR như: “ Được có mặt trong khi xét xử và được tự bào chữa hoặc thông qua sự TGPL theo sự lựa chọn của mình; được thông báo về quyền này nếu chưa có sự TGPL; và được nhận sự TGPL theo chỉ định trong trường hợp lợi ích của câng lý đòi hỏi và không phải trả tiền cho sự trợ giúp đó nếu không có đủ điều kiện trả ”[15, tr.8,9,10]

Đối với khu vực châu Phi, căn cứ theo Hiến chương Châu Phi về quyền

con người và quyền dãn tộc 1981 thừa nhận sự bình đắng và được TGPL cho

tất cả mọi công dân căn cứ theo Điều 7 quy định: “7 Mọi cá nhân đều có

quyền được xét xử về vụ việc của họ Bao gồm: Quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đổi với những hành vi vi phạm những quyền cơ bản của họ được thừa nhận và bảo đảm bởi câng ước, pháp luật, các quy định và phong tục tập quán có hiệu lực; Quyền bào chữa, bao gồm quyền được bào chữa bởi một luật sư do chỉnh họ lựa chọn; Quyền được xét xử trong thời hạn hợp lý bởi một Tòa án vô tư ”[16 tr.3]

Tuy nhiên, các quy định chỉ thể hiện sự manh mún hay thiếu/không có

sự thống nhất trong việc sử dụng, áp dụng cho mọi quốc gia liên quan đến TGPL cho NKT Chính vì vậy, việc pháp điển hóa các quy định trên thành CRPD đã thống nhất trong nhận thức về cách tiếp cận vấn đề thông qua việc định nghĩa rõ ràng một số khái niệm, thống nhất liên quan đến một số các vấn

đề về bảo đảm quyền được TGPL của NKT

30

Trang 37

Bố trợ, hướng dẫn cho các văn kiện quốc tế chính thức và có tính ràng buộc cao, có thể liệt kê thêm một số các văn bản pháp lý không chính thức tuy nhiên “tính khả thi và bổ trợ” cực kỳ hữu ích như:

Tại Bình luận chung sổ 7 của ủy ban quyền con người liên quan đến

Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa quy định theo hướng

đặt ra các tiêu chí nhằm chống lại sự “bỏ mặc, tắc trách” - đặt ra trách nhiệm

của Nhà nước, căn cứ theo Điều 11 về quyền được có nhà ở phù hợp quy

định:“ Việc bảo vệ theo thủ tục phù họp và quy trình đủng đắn là những

klỉía cạnh thiết yếu của mọi quyền con người nhưng đặc biệt cần thiết đối với vẩn đề thu hồi nhà ở, ủy ban cho rằng các biện pháp bảo vệ về mặt thủ tục cần áp dụng liên quan tới vấn đề ép buộc thu hồi nhà ờ bao gồm: (h) cung

cấp, nếu có thê, TGPL cho người có nhu cầu để yêu cầu Tòa án quyết định việc bồi thường thiệt hại ”

Tiếp nữa là trong Các nguyên tắc của Liên hợp quốc năm 1990 về vai trỏ của luật sư xác định “trách nhiệm xã hội” đối với các chủ thể có khả năng tham gia hoạt động TGPL, không đơn thuần chỉ dựa trên nguồn lực duy nhất

là Nhà nước phải phải thực hiện như “1 Mọi người đều có quyền nhận được

sự giúp đờ của luật sư mà họ lựa chọn đê hảo vệ và chủng minh cảc quyền của họ và bào chữa cho họ trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự 2 Các Chỉnh phủ bảo đảm các quy trình tổ tụng cỏ hiệu lực và cơ chế thuận lợi cho việc tiếp cận luật sư có hiệu quả và bình đắng được dành cho tất cả mọi người trong phạm vi lãnh thô và thuộc thâm quyền xét xử mà không có bất kỳ

sự phản biệt nào 3 Các Chính phủ bảo bảo đảm cung cấp đầy đủ tài chính

và các nguồn lực khác cho dịch vụ pháp lỷ dành cho người nghèo và người yếu thế khác nếu cần thiết Các hiệp hội nghề nghiệp của Luật sư phổi họp trong việc tô chức và cung Cấp dịch vụ, các điều kiện thuận lợi và nguồn lực khác 8 Tất cả người bị bắt, bị tạm giam hoặc phạm nhân sẽ có cơ hội, thời

31

Trang 38

gian và các điêu kiện thuận lợi đê được gặp và trao đôi với luật sư không chậm trễ, không bị ngăn chặn hay kiêm duyệt và trong sự báo mật đầy đủ Việc trao đổi có thế bị giám sát nhưng không bị nghe lén bởi các cán bộ thực thỉ pháp luật.”

Đặc biệt là trong Tuyên bổ Ky-ép năm 2007 về TGPL quy định thừa

nhận và hỗ trợ quyền được TGPL trong hệ thống tư pháp - là một quyền và các chỉnh phủ có nghĩa vụ thực hiện, giám sát chất lượng các chương trình TGPL bền vững mà việc TGPL không có sự phân biệt đối xử với tất cả mọi người Các hình thức của TGPL, trách nhiệm của Nhà nước để hoạt động này được diễn ra một cách thông suốt hiệu quả và xác định vai trò, hiệu quả của hoạt động TGPL đối với cộng đồng, xã hội, Nhà nước

Như vậy, thê chế bảo đảm quyền được TGPL của NKT là tống thể các

quy định liên quan đến việc ghi nhận, bảo vệ, thực thi và giám sát thực thi các quy định có liên quan, mối liên hệ giữa các quy định này và sự tác động của

nó đến các thiết chế được trao thẩm quyền thực hiện các hoạt động trên nhằm đảm bảo quyền con người (QCN), quyền công dân (QCD) được thực thi trên thực tế theo đúng chú trương, chính sách của Nhà nước, đồng thời ngăn ngừa

và xử lý những vi phạm từ phía từ các chủ thể, trong đó có chủ thế nhà nước

1.2.1.2 Thiết chế về bảo đám quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật

Để đảm bảo quyền được TGPL của NKT, ngoài các quy định về mặt nội dung như quyền, lợi ích và trách nhiệm cùa mọi cá nhân, tổ chức có liên quan, thì quy định về mặt hình thức như cách thức tổ chức, vận hành cơ quan được giao trách nhiệm thực thi công vụ hay quy trình để thực hiện các hoạt động bảo đãm quyền được TGPL của NKT là điều không thể thiếu nhàm đảm bảo cho mục tiêu mà Nhà nước, cộng đồng và toàn thể thế giới đề ra

Căn cứ theo văn bản cỏ giá trị pháp lý có tính chất khuyến nghị và được thừa nhận rộng rãi bởi nhiều quốc gia, việc thực hiện Công ước quốc tế về

32

Trang 39

quyền của người khuyết tật đòi hỏi các quốc gia thành viên có trách nhiệm chi định một hoặc một số cơ quan nhà nước có trách nhiệm đặc thù về các vấn đề• • • • JL • •liên quan đến việc thi hành Công ước Công ước không quy định cụ thể cho các quốc gia về việc thành lập, hoạt động của một cơ quan nào mà chỉ quy định tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế, xã hội của mà mồi quốc gia thành viên thiết lập một

cơ quan có thẩm quyền tiến hành/chịu trách nhiệm cho các hoạt động liên quan Tại Điều 4 Công ước quy định các nghĩa vụ đối với chủ thề có liên quan khi tiến hành hoạt động bảo đảm quyền được TGPL của NKT như:

- Rà soát và sửa đối, bổ sung các luật và chính sách hiện hành nhằm đảm bảo tuân thủ Công ước Các chính sách bao gồm chiến lược phát triển quốc gia, chiến lược quốc gia về người khuyết tật, chiến lược hòa nhập xã hội, cũng như các chiến lược/kế hoạch cấp bộ ngành nhằm thực thi quyền của NKT

- Hỗ trợ kinh phí thực hiện chính phủ cần cấp ngân sách để thực thi luật pháp, chính sách về NKT Cung cấp hàng hóa và dịch vụ có thề tiếp cận được

- Nâng cao năng lực - Các quốc gia cần tiến hành mọi biện pháp phù hợp để đáp ứng các nghĩa vụ của họ theo Công ước

- Nâng cao nhận thức - Người khuyết tật gặp nhiều rào cản do cộng đồng chưa nhận thức được quyền và năng lực của người khuyết tật Do vậy nâng cao nhận thức là rất cần thiết

- Đào tạo - Tập huấn về Công ước cho cán bộ chuyên môn như giáo viên, chuyên gia y tế là rất quan trọng trong việc hiện thực hóa quyền của người khuyết tật Ví dụ giáo viên cần được trang bị kiến thức về giáo dục hòa nhập, chuyên gia y tế cần hiểu về cách tiếp cận xã hội/dựa trên quyền đối với NKT

- Các hàng hóa và dịch vụ được cung cấp cần đảm bảo tiếp cận với người khuyết tật, từ đó giúp NKT thụ hưởng các quyền bình đãng như những người khác Các dịch vụ này bao gôm dịch vụ dành riêng cho NKT và dịch vụ dành cho tất cả mọi người mà NKT có thể tiếp cận và sử dụng

33

Trang 40

- Thu thập dữ liệu - Là cân thiêt đê cung câp thông tin và băng chửng cho quá trình xây dựng luật pháp, chính sách thực thi Công ước Các quốc gia cần thu thập dữ liệu về tình trạng của người khuyết tật, những rào cản mà họ gặp phải trong việc thụ hường quyền.

Vai trò và nghĩa vụ của khu vực tư nhân cũng được đề cập cụ thể trong các điều khoản sau: Điều 4, Tiếp cận, Di chuyển cá nhân, Tự do ngôn luận, Y

tế, và Việc làm Ngoài khu vực tư nhân, Công ước cũng xác định vai trò của các bên có liên quan như: Điều 25 đề cập đến các chuyên gia y tế, Điều 12 nhắc đến người hồ trợ NKT thực hiện năng lực pháp lý, Điều 19 đề cập đến người hỗ trợ sống độc lập, Điều 24 đề cập đến giáo viên

Theo đó, quốc gia thành viên có trách nhiệm nộp báo cáo lần đầu, bao gồm nội dung về các biện pháp đã tiến hành và những kết quả đã đạt được theo khuyến cáo của Công ước, sau hai năm kể từ ngày gia nhập Công ước cho ủy ban về quyền của người khuyết tật (Committee on the Rights of

Persons with Disabilities - CRPD) - cơ quan giám sát việc thực hiện công

ước Kế theo đó là định kỳ bốn (04) năm một lần hoặc theo yêu cầu của ủy ban thì quốc gia thành viên phải nộp báo cáo theo định kỳ hoặc đột xuất

1.2.2 Pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của

34

Ngày đăng: 30/09/2022, 10:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Châp hành Trung ương Đảng (2018), Nghị quyêt sô 28-NQ/TW ngày 23/05/2018 về Cải cách chỉnh sách BHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyêt sô 28-NQ/TW ngày 23/05/2018 về Cải cách chỉnh sách BHXH
Tác giả: Ban Châp hành Trung ương Đảng
Năm: 2018
2. Nguyễn Huy Ban (2009), “Trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước về đóng bảo hiểm xã hội”, Tạp chí Luật học, (09), tr. 59-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm của người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước về đóng bảo hiểm xã hội”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Huy Ban
Năm: 2009
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2017), Quyết định số 1318/QĐ-LĐTBXH ngày 22/08/2017 về việc ban hành Ke hoạch tiếp tục triển khai thực hiện đề án "tuyên truyền, phô biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp” đến năm 2021, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: tuyên truyền, phô biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Năm: 2017
4. Chính phủ (2018), Nghị quyết số Ỉ25/NQ-CP ngày 08/10/2018 về ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23 thảng 5 năm 2018 của Hội nghị lần thứ bảy BanChấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số Ỉ25/NQ-CP ngày 08/10/2018 về ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23 thảng 5 năm 2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2018
5. Chính phủ (2020), Nghị định sổ 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 về quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiếm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo họp đồng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định sổ 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 về quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiếm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo họp đồng
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2020
7. Lê Thị Thu Hoài (2015), Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật (ĐHQGHN), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Thị Thu Hoài
Năm: 2015
8. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện báo chí và tuyên truyền - Khoa Nhà nước và pháp luật (2002), Giảo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Phân viện báo chí và tuyên truyền - Khoa Nhà nước và pháp luật
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w