Từ những xí nghiệp chuyên môn hoá trong việc sản xuất một sản phẩm cụ thể và độc lập với nhau, đến đầu thế kỷ, trước tiên là tại Mỹ, đã xuất hiện sự liên kết của các công ty, đặc biệt là
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của công nghiệp, sự hoà nhập của thế giới một phần là do sự xuất hiện và phát triển của các công ty Đa quốc gia Các lực lượng này đóng vai trò quyết định, là động lực cơ bản trong quá trình toàn cầu hoá Nếu nhìn thuần tuý dưới con mắt kinh tế thì các công ty đa quốc gia là bước phát triển mới của các xí nghiệp Từ những xí nghiệp chuyên môn hoá trong việc sản xuất một sản phẩm cụ thể và độc lập với nhau, đến đầu thế kỷ, trước tiên là tại Mỹ, đã xuất hiện sự liên kết của các công ty, đặc biệt là công ty thương nghiệp với công ty công nghiệp, trở thành những công ty công-thương nghiệp Một mặt, các công ty không ngừng tăng khả năng về vốn, về công nghệ
và thị trường, mặt khác nó cũng không ngừng thâu tóm ngày càng nhiều lĩnh vực Không những thế, hoạt động của các công ty dần dần mở rộng cả theo chiều dọc, nghĩa là bao gồm cả những hoạt động trước sản xuất như đào tạo nghiệp vụ, khai thác nguyên vật liệu, cung cấp dịch vụ ngân hàng, và các hoạt động sau sản xuất như ổn định thị trường của mình bằng cách hỗ trợ những công ty là khách hàng của nó Do đó nảy sinh nhu cầu liên kết những công ty khác nhau của nhiều nước khác nhau vào một tổ hợp chung Cũng dưới góc độ kinh tế thì các công ty đa quốc gia là bước phát triển mới về chất của nền kinh
tế thế giới Về thực chất đó là những siêu công ty xét về vốn, công nghệ, chất xám và trình độ quản lý Hoạt động của các công ty đa quốc gia vượt rất xa ngoài các đường biên giới và trở thành những thế lực khổng lồ, thậm chí vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các chính phủ
Để hiểu rõ hơn về vai trò của các công ty Đa quốc gia đối với sự phát triển của nền kinh tế Nhóm 4 chúng em xin trình bày vấn đề: “ phân tích vai trò của công ty Đa quốc gia đối với quá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại
Trang 2Đề tài gồm có 2 phần:
Phần 1: Một số lý luận cơ bản về công ty Đa Quốc Gia
Phần 2: Vai trò của công ty Đa Quốc Gia đối với quá trình CNH- HĐH ở Việt Nam
Trang 3Phần 1: Một số lý luận cơ bản về công ty Đa Quốc Gia( MNCs).
1.1 Nguồn gốc ra đời của các MNCs.
Công ty nào là MNC đầu tiên đang còn được tranh cãi Một số nhà kinh
tế cho rằng Knights Templar, thành lập vào năm 1118, trở thành công ty đa quốc gia khi nó bắt đầu chuyển sang kinh doanh ngành ngân hàng vào năm 1135 Tuy nhiên một số khác cho rằng British East India Company hay Dutch East India Company mới thực sự là các công ty đa quốc gia đầu tiên
1.2 Khái niệm MNCs.
Công ty Đa Quốc Gia thường viết tắt là MNC (Multinational corporation) hoặc MNE (Multinational enterprises), “là khái niệm để chỉ các công ty sản xuất hay cung cấp dịch vụ ở ít nhất hai quốc gia”
Các công ty đa quốc gia lớn có ngân sách vượt cả ngân sách của nhiều quốc gia Công ty đa quốc gia có thể có ảnh hưởng lớn đến các mối quan hệ quốc tế và các nền kinh tế của các quốc gia Các công ty đa quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hóa Một số người cho rằng một dạng mới của MNC đang hình thành tương ứng với toàn cầu hóa – đó là xí nghiệp liên hợp toàn cầu
Công ty đa quốc gia hoạt động và có trụ sở ở nhiều nước khác nhau (khác với Công ty quốc tế: chỉ là tên gọi chung của 1 công ty nước ngoài tại 1 quốc gia nào đó.)
Một số công ty Đa Quốc Gia như: Fiat, HSBC, Honda, Hitachi, Ltd, Google Dell, Isuzu, LG, Microsoft, Nestlé, Procter & Gamble, Unilever, Toshiba, Sony, Samsung, Cocacola, Sell , Siemens,…
1.3 Vị trí và vai trò của MNCs.
Trang 4Ban đầu chỉ có khoảng 3.000 công ty MNC vào năm 1900, con số này đã tăng lên một cách nhanh chóng đến 63.000( năm 2004) Cùng với 821.000 chi nhánh trên khắp thế giới, các công ty này tuy chỉ đang trực tiếp sử dụng 90 triệu lao động (trong đó khoảng 20 triệu ở các nước đang phát triển) song đã tạo ra đến 25% tổng sản phẩm của thế giới - riêng 1.000 công ty hàng đầu chiếm đến 80% sản lượng công nghiệp thế giới
Các MNC, cho dù có bị xem là mục tiêu“ lợi nhuận trên hết”, vẫn mang lại lợi ích cho nước sở tại như đóng thuế, tạo công ăn việc làm, cung cấp những hàng hóa và dịch vụ trước đó không có, và trên hết thảy là mang đến vốn, công nghệ và kiến thức quản trị
1.3.2 Vai trò
- MNCs là lực lượng chủ yếu trong phân bổ nguồn lực của nền kinh tế thế giới
- MNCs đóng góp to lớn trong quá trình chuyển biến cơ cấu ngành kinh tế ở các quốc gia ( theo xu hướng chuyển biến từ nông nghiệp sang công nghiệp và chế biến dịch vụ )
- Những biến đổi to lớn trong kết cấu tư bản của MNCs làm đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
- MNCs là lực lượng chủ yếu trong lưu chuyển hàng hoá và thương mại quốc tế
- MNCs là lực lượng chủ yếu để chuyển tải ra các kỹ thuật công nghệ hại đại và
kỹ năng quản lí tiên tiến góp phần thúc đẩy qúa trình CNH – HĐH ở các nước đang phát triển
Trang 5Phần 2: Vai trò của MNCs đối với quá trình CNH- HĐH ở Việt Nam
Theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài (ĐTNN), tính đến hết ngày 30/4/2006 đã có 106 trong tổng số 500 công ty đa quốc gia hàng đầu thế giới (theo xếp hạng của tạp chí nổi tiếng Fortune) có mặt tại VN với tổng vốn đầu tư trên 11 tỉ USD, chiếm 20% tổng vốn ĐTNN đăng ký vào VN Các công ty này
có mặt trong hầu hết các lĩnh vực như dầu khí, điện, năng lượng, điện tử, viễn thông, công nghiệp thực phẩm, tài chính, ngân hàng, công nghệ thông tin, giao thông vận tải…
Theo một nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) vừa báo cáo kết quả bước đầu đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa MNCs và sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam” Nhóm nghiên cứu thuộc CIEM đã chọn Công ty Unilever Việt Nam làm trường hợp nghiên cứu thí điểm để từ đó đánh giá tác động của MNCs nói chung lên nền kinh tế Việt Nam Unilever là một điển hình cho sự thành công trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tập đoàn nước ngoài tại Việt Nam Thành lập
từ năm 1995, Unilever Việt Nam đã tạo ra những hiệu ứng tích cực lên quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam Các phát hiện chính của nghiên cứu này chỉ ra rằng, hoạt động sản xuất kinh doanh của MNCs tại Việt Nam là một phần quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đóng góp cho tăng trưởng GDP, tạo việc làm cho hàng ngàn người lao động và nhà phân phối cá nhân, thúc đẩy xuất khẩu và góp phần tích cực phát triển các ngành sản xuất, dịch vụ liên quan MNCs cũng tham gia vào những hoạt động vì cộng đồng như quyên góp tiền ủng hộ người nghèo, nạn nhân thiên tai hoặc thực hiện các
dự án chăm sóc sức khoẻ, cải thiện điều kiện vệ sinh cá nhân và môi trường cho người dân
Trang 6Theo ông Đinh Văn Ân, Viện trưởng CIEM, nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các vấn đề: đóng góp của MNCs cho ngân sách nhà nước, chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, tạo việc làm, xuất khẩu và thực hiện trách nhiệm xã hội
Vì vậy có thể thấy các công ty MNC này có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong quá trình CNH- HĐH đất nước
2.1 Vai trò chuyển biến cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta.
Công ty MNC có vai trò to lớn trong quá trình chuyển biến cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam MNCs đầu tư vào Việt Nam, đã góp phần làm chuyển biến
cơ cấu ngành kinh tế từ nông nghiệp( NN) sang công nghiệp chế biến( CN) và dich vụ( DV) Cụ thể:
Năm Nông nghiệp(%) Công nghiệp(%) Dịch vụ(%)
Bảng 2.1 Tỷ trọng trong GDP của các ngành CN- NN- DV qua các năm
Trang 7Nhận xét: Từ bảng số liệu trên có thể thấy tỷ trọng đóng góp vào GDP của
ngành nông nghiệp giảm đáng kể, trong khi đó ngành công nghiệp và dịch vụ tăng lên một cách nhanh chóng Điều đó có nghĩa là ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch từ NN sang CN và DV
Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng đã có sự chuyển dịch ngày càng tích cực hơn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3% năm
2001 lên 19,3% năm 2007 Trên cơ sở đó, đã tác động tích cực đến chuyển dịch
cơ cấu lao động xã hội nông thôn mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ; trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần tuý giảm dần Tỷ lệ hộ nông nghiệp đã giảm 9,87%; tỷ lệ hộ công nghiệp tăng lên 8,78% Năm 2007, số hộ công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn có 3,6 triệu hộ, tăng 62% so với năm 2000 Trong cơ cấu các thành phần kinh tế kinh
tế tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội
nhập vào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng
tăng, nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm
2001, và đến năm 2005 là trên 50% Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001
-2005 đã đạt 111 tỉ USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiến cho năm 2005, bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000 Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao - 40 tỉ USD, tăng 24% so với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng
21,5% so với năm 2006; năm 2008 tăng 29,5% so với năm 2007.
Trang 8Trong những năm trở lại đây nhóm ngành dịch vụ là nhóm ngành phát triển và chiếm một tỉ lệ lớn cho thu nhập quốc dân Có thể thấy được rõ hơn vai trò của MNCs đối với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng NN- CN chế biến và DV, cụ thể trong ngành dịch vụ bán lẻ
Ngành bán lẻ là một ngành đang tăng trường và có sự tham gia của rất nhiều MNCs Một số đại gia lớn đã đang hiện diện tại Việt Nam như Metro Cash & Carry của Đức hiện đang điều hành 8 siêu thị, với lợi nhuận khoảng
500 triệu USD/năm và tăng trưởng đạt 45% Sau 8 năm hiện diện ở Việt Nam, Bourbon của Pháp đã thiết lập được mạng lưới 6 siêu thị với thương hiệu Big C
ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng Một đại gia bán lẻ nổi tiếng khác là Parkson cũng đạt mức tăng trưởng 35% chỉ sau 2 năm hoạt động tại Việt Nam và đang có kế hoạch mở thêm 10 trung tâm thương mại Với thị trường bán lẻ trị giá 37 tỉ USD mỗi năm, Việt Nam hiện đứng vị trí thứ tư thế giới về cơ hội bán lẻ hấp dẫn sau Ấn Độ, Nga và Trung Quốc Với tốc độ tăng trưởng 20%/năm, nhóm chi tiêu tiêu dùng lớn nhất đang ở tuổi 22 - 55, chiếm tới 70,29% dân số ViệtNam Chi tiêu tiêu dùng tại Việt Nam dự kiến đạt 53 tỉ USD vào năm 2010
2.2 Các công ty MNCs là lực lượng chủ yếu trong phân bổ nguồn lực của nền kinh tế Việt Nam.
Các nguồn lực mà các MNC sử dụng đó là vốn, khoa học công nghệ, con người… Là những công ty có quy mô lớn nên nhu cầu về lao động của các MNCs cũng rất lớn Thông qua việc thiết lập các chi nhánh ở nước ngoài, MNCs đã trực tiếp tạo ra một khối lượng đáng kể việc làm cho các nước tiếp nhận đầu tư Một cách gián tiếp MNCs cũng tạo ra một khối lượng lớn việc làm thông qua việc liên doanh với các đơn vị khác để cùng phát triển Thông qua
Trang 9việc liên kết với các nhà cung cấp, các nhà phân phối từ đó mở rộng phạm vi hoạt động của những đơn vị này và chính những đơn vị này lại tạo ra thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động Hơn nữa các nguồn lực về vốn, khoa học công nghệ được các MNC chuyển từ các nước phát triển tới nước ta giúp cho nước ta tiếp cận được những công nghệ hiên đại từ các nưóc phát triển
Chẳng hạn khi công ty Honda đầu tư vào VN thì họ phải phân bổ vốn ,công nghệ từ công ty mẹ chuyển sang cho công ty ở VN và hơn nữa họ phải cử những chuyên gia giỏi sang hướng dẫn tại các công ty ở VN và sử dụng nguồn nhân lực tại để làm việc
Chẳng hạn Intel, công ty chế tạo vi mạch (chip) điện tử lớn nhất thế giới có trụ sở tại bang California, đã mở một cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh với số vốn đầu tư 1 tỷ USD và thuê khoảng 4.000 lao động địa phương chính điều này tạo cho ngành kinh tế nước ta ngàng càng phát triển góp phần vào quá trình CNH – HĐH ở nước ta Nick Jacobs, người phát ngôn khu vực của Intel nói rằng Intel chọn Việt Nam vì Việt Nam có nguồn năng lượng và cung cấp nước tin cậy, gần các khách hàng của Intel và nguồn lao động tài năng Intel tin rằng công ty có thể tiếp tục thu hút nguồn lao động này cho thành công lâu dài của Intel
James Lockett, luật sư của công ty Baker & McKenzie LLP và thành viên của Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam cho rằng nhiều công ty quốc tế lớn đang xem xét thiết lập các cơ sở sản xuất tại các nước ASEAN Tỷ lệ đầu
tư vào Việt Nam trong tổng đầu tư vào các nước ASEAN năm 2008 đã tăng 4,4% so với 2 năm trước đó Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 5,32% năm
Trang 102009 và Việt Nam đã tham gia các hiệp định tự do mậu dịch với các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Australia và New Zealand
Paul Nolasco, người phát ngôn của công ty sản xuất ô tô Toyota của Nhật Bản nói rằng Toyota không chỉ nhận ra sự tăng trưởng tiềm tàng của thị trường Việt Nam mà cả vai trò tiềm tàng của nền kinh tế Việt Nam có thể mở rộng ra
cả khu vực Đông Nam Á Toyota đã sản xuất 28.000 xe ô tô các loại ở Việt Nam trong năm 2009, tăng 18.000 chiếc so với năm 2007
Công ty Suwon, công ty điện tử của tập đoàn Samsung sản xuất điện thoại di động lớn thứ 2 thế giới của Hàn Quốc đã mở nhà máy với vốn đầu tư 1
tỷ USD ở Việt Nam 6 tháng trước đây
Hãng phần mềm lớn nhất thế giới Microsoft của Mỹ cũng đã đặt hàng sản xuất tại Việt Nam các trò chơi hoạt hình số và mô hình cho các trò chơi máy tính
2.3 Những biến đổi to lớn trong kết cấu tư bản của MNCs làm đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, góp phần đẩy mạnh quá trình CNH- HĐH ở Việt Nam.
Sau khi Việt Nam ra nhập WTO thì sự xuất hiện của các công ty đa quốc gia vào Việt Nam ngày một nhiều, các công ty này đều có tiềm lực tài chính mạnh Bởi vậy, để phù hợp với quá trình đi lên của đất nước thì buộc các công
ty trong nước phải sáp nhập lại Thể hiện ngày càng xuất hiện nhiều công ty cổ phần và các chương trình cổ phần, với vốn góp lớn của các thành viên, đối với các doanh nghiệp nhà nước thì có thể mua lại cổ phần Tất cả những chương trình này nhằm giúp các doanh nghiệp có 1 tiềm lực tài chính lớn, có chỗ đứng trên thị trường để có thể cạnh tranh với các công ty đa quốc gia trong và ngoài nước
Việc các công ty đa quốc gia vào Viêt nam đã đưa theo các nghiên cứu
Trang 11nhánh Nó giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăn nghìn lao động Với sức mạnh và tiềm lực kinh tế các công ty này nhanh thâu tóm cổ phần của môt số công ty cổ phần Bỏi những yếu tố đó cũng tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa các công ty trong nước và MNCs, chính vì điều này để tồn tại phát triển thi việc sáp nhập, mua lại cổ phần hay đóng góp từ các cổ đông là cần thiết
Có thể nói cổ phần hóa góp phần tích cực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước: các doanh nghiệp động viên và tập trung
được những khoản vốn lớn để đổi mới công nghệ, đào tạo và đào tạo lại nhân lực Đẩy mạnh CNH, HĐH, tiếp cận những thành tựu của lực lượng sản xuất, làm động lực đẩy mạnh cổ phần hóa, không ngừng hoàn thiện quan hệ sản xuất cho phù hợp Như vậy, giữa cổ phần hóa và CNH, HĐH có mối liên quan chặt chẽ, không thể tách rời
Theo báo cáo của ban chỉ đạo Đổi mới và Phát triển Doanh nghiệp, năm
2009 nước ta có khoảng 19 tập đoàn, có tổng doanh thu khoảng 737.282 tỷ đồng, vượt 34.7% kế hoạch năm
Cũng theo Ban chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp, trong năm
2009, các tập đoàn, tổng công ty đã sắp xếp lại 72 đơn vị thành viên (cả nước là
151 doanh nghệp), trong đó chủ yếu là cổ phần hoá Đã có 9 tổng công ty nhà nước và 2 ngân hàng thương mại nhà nước hoàn thành cổ phần hoá, nhà nước giữ cổ phần chi phối Các tập đoàn, tổng công ty nắm giữ 100% vốn điều lệ ở
484 doanh nghiệp thành viên; nắm trên 50% vốn điều lệ ở 832 doanh nghiệp thành viên; sở hữu dưới 50% vốn điều lệ ở 1.427 doanh nghiệp Báo cáo cũng cho biết, hiện nay có 171 doanh nghiệp tự nguyện tham gia công ty liên kết của các tập đoàn, tổng công ty Cũng trong năm 2009 và đầu năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập thêm 4 tập đoàn kinh tế (gồm các tập đoàn Viễn thông quân đội, Hoá chất, Công nghiệp xây dựng, và Phát triển nhà và đô