Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống tội phạm buôn lậu hàng cấm, em đã mạnh dạn chọn đề tài này làm bài tập lớn học kì môn Luật hình sự Việt Nam 2, với hy vọng có thể đi sâ
Trang 1BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM LUẬT HÌNH SỰ 2
Hà Nội, 2024
Lớp : 4806
Nhóm : 04
Trang 2BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA
LÀM BÀI TẬP NHÓM MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI 1
Ngày: Địa điểm: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhóm số: 04 Lớp: 4806
Khoa: Pháp luật Khóa: 48
Tổng số sinh viên của nhóm: 11
+ Có mặt: ………
+ Vắng mặt:………….… Có lý do:……… … Không có lý do:… ………
Tên bài tập: Bài tập nhóm Môn học: Luật Thương mại 1 Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng thành viên trong quá trình làm bài tập nhóm: STT Mã SV Họ và tên Đánh giá của SV SV ký tên Đánh giá của giảng viên Điểm GV 1 480636 Nguyễn Khánh Linh A 2 480637 Nguyễn Thuỳ Linh A 3 480638 Nguyễn Thành Long A 4 480639 Nguyễn Vân Ly A 5 480640 Lương Huyền Mai A 6 480642 Nguyễn Đức Mạnh A 7 483926 Lê Quang Nam A 8 480675 Matsa Namavong A 9 480643 Định Thị Quỳnh Nga A 10 480644 Nguyễn Bảo Ngân A 11 480645 Nguyễn Khánh Ngân A Kết quả điểm bài tập: - Giảng viên chấm thứ nhất: ………
- Giảng viên chấm thứ hai: ………
Hà Nội, ngày tháng năm 2023.
NHÓM TRƯỞNG
Nguyễn Khánh Ngân
Trang 3ĐỀ BÀI TẬP NHÓM
Đề 2:
Biết A (37 tuổi) chuyên buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu qua biên giới, B (35 tuổi) là lái xe vẫn nhận chở hàng từ Trung Quốc về Việt Nam cho A, lô hàng là 5.000 bao thuốc Khi vào đến địa phận tỉnh Bắc Ninh thì bị phát hiện và bắt giữ Hãy:
1 Định tội danh và khung hình phạt cho hành vi của A và B (02 điểm)
2 Giả sử trong quá trình vận chuyển qua biên giới, xe hàng của A bị K (40 tuổi) là cán bộ biên phòng phát hiện, bắt giữ A đã chủ động đưa cho K chiếc phong bì bên trong có 60 triệu đồng và đề nghị bỏ qua cho số hàng của mình K đã nhận tiền và đồng ý cho A và B đưa hàng đi Hãy định tội danh và khung hình phạt cho hành vi của A, K trong tình huống này (02 điểm)
3 Giả sử, trong lô hàng A còn giấu 15 kg lá cần sa về để bán thì tội danh của
A và B có thay đổi không? Tại sao? (02 điểm)
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU:
Trong các bộ luật từ trước đến nay, tội buôn lậu hàng cấm luôn được nhà làm luật coi trọng và quy định nghiêm ngặt Điều này cho thấy sự cần thiết phải bảo vệ tính minh bạch, công bằng của thị trường cũng như lợi ích hợp pháp của nhà nước và người dân Việc ngăn chặn hành vi buôn lậu hàng cấm là một nhiệm vụ cần được thực hiện một cách chặt chẽ, quyết liệt Các đối tượng buôn lậu thường sử dụng nhiều thủ đoạn, công nghệ hiện đại để trốn tránh sự kiểm soát của cơ quan chức năng Điều này đòi hỏi công tác phòng chống tội phạm buôn lậu hàng cấm cần có
sự đổi mới về phương pháp và chiến lược, đồng thời nâng cao năng lực của các cơ quan chức năng Nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng chống tội phạm buôn lậu hàng cấm, em đã mạnh dạn chọn đề tài này làm bài tập lớn học kì môn Luật hình sự Việt Nam 2, với hy vọng có thể đi sâu tìm hiểu và đóng góp vào việc nhận diện, ngăn chặn tội phạm này Tuy nhiên, do kiến thức lý luận và thực tế còn hạn chế, bài viết chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót
NỘI DUNG:
Câu 1: Định tội danh và khung hình phạt cho hành vi của A và B.
I Tội danh và khung hình phạt cho hành vi của A
Trong vụ án này, hành vi của A (37 tuổi) liên quan đến việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu qua biên giới Hành vi này cấu thành tội danh theo Điều 190 Bộ luật Hình
sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) về tội buôn bán hàng cấm
1 Cấu thành tội phạm
a Mặt khách quan
Hành vi buôn bán hàng cấm: A đã thực hiện hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ nước ngoài vào Việt Nam Hành vi này bao gồm việc tổ chức nhập khẩu trái phép thuốc lá qua biên giới và sau đó sắp xếp tiêu thụ số lượng lớn thuốc lá điếu nhập lậu trong nước Đây là hành vi thuộc nhóm buôn bán hàng cấm theo quy định
Trang 5tại Điều 190 A thực hiện buôn bán với số lượng 5.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, vượt ngưỡng quy định trong pháp luật (từ 1.500 bao trở lên) sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 190
b. Mặt chủ quan
Lỗi của A trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp. A nhận thức rõ rằng hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu là trái với quy định của pháp luật và biết rõ thuốc
lá điếu là mặt hàng bị cấm nhập khẩu và buôn bán khi không có giấy phép Tuy nhiên, A vẫn cố ý thực hiện hành vi này với mục đích thu lợi bất chính A là người
có kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh và hiểu rõ tính chất phi pháp của hành
vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu, nhưng vẫn quyết định thực hiện vì lợi ích kinh
tế Đây là hành vi được thực hiện với động cơ vụ lợi, mục tiêu là thu được lợi nhuận cao từ việc trốn tránh các quy định pháp luật về thuế và chất lượng hàng hóa
c Chủ thể phạm tội
Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm này không có gì đặc biệt so với các tội phạm khác, chỉ cần người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật là có thể trở thành chủ thể của tội phạm này
Xét thấy A là người 37 tuổi có hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu qua biên giới nên sẽ mặc định A không thuộc trường hợp thuộc điều 21 Bộ luật Hình sự 2015: Cho thấy, A đủ điều kiện về tuổi và có năng lực nhận thức, điều khiển hành
vi của mình, A có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
d Khách thể của tội phạm: là trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trật tự quản
lý việc sản xuất, buôn bán hàng cấm trong phạm vi lãnh thổ nước ta Đối
tượng tác động của tội phạm này là hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh
2 Định tội
A là người chủ mưu, thực hiện việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu từ Trung Quốc về Việt Nam với số lượng 5.000 bao thuốc, căn cứ theo điểm b khoản 3 điều
190 BLHS 2015:“3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
Trang 6tù từ 08 năm đến 15 năm: b, Thuốc lá điếu điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên” Như
vậy, với số lượng 5.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 điều 190 BLHS với tội danh buôn bán hàng cấm và phải đối mặt với mức hình phạt nằm trong khung từ 08 năm đến 15 năm
II Tội danh và khung hình phạt cho hành vi của B
Trường hợp 1: B là đồng phạm- B phạm tội buôn bán hàng cấm
Căn cứ vào khoản 1 Điều 17 BLHS 2015: “1 Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.”
B đã biết rõ hành vi vận chuyển hàng hóa là thuốc lá điếu nhập lậu qua biên giới và
mà vẫn tham gia vào hành vi phạm tội, thì B đã đáp ứng được điều kiện đầu tiên để cấu thành tội đồng phạm
Hành vi trực tiếp lái xe vận chuyển thuốc lá lậu qua biên giới của B là một hành vi trực tiếp góp phần vào việc thực hiện hành vi buôn lậu B đã tạo điều kiện thuận lợi để A đưa thuốc lá điếu lậu vào thị trường tiêu thụ
1 Cấu thành tội phạm
b Về mặt khách quan: Hành vi vận chuyển hàng cấm của B: nhận vận chuyển
5000 bao thuốc lá điếu từ Trung Quốc về Việt Nam Hành vi này là tham gia vào nhập khẩu trái phép thuốc lá điếu qua biên giới
c Về mặt chủ quan
Người thực hiện hành vi vận chuyển hàng là do cố ý, nhận thức được hành vi vận chuyển và thấy được hậu quả mà vẫn tiếp tay mặc kệ hậu quả xảy ra
B có lỗi cố ý trực tiếp B nhận thức được hành vi vận chuyển 5000 bao thuốc lá điếu từ Trung quốc về Việt Nam là phạm pháp Nhưng B vẫn nhận vận chuyển vì mục đích lợi ích kinh tế cho cá nhân B có kinh nghiệm vận chuyển hàng cấm và hiểu rõ tính chất phi pháp của hành vi
d Chủ thể phạm tội
Trang 7Căn cứ theo điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”, xét thấy B là 35 tuổi có hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu
qua biên giới nên sẽ mặc định B không thuộc trường hợp thuộc điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 Vậy nên, B hoàn toàn đủ tuổi và đủ năng lực chịu TNHS
e Khách thể phạm tội: Xâm phạm các quan hệ xã hội về quản lý kinh tế, cụ thể hơn là trật tự quản lý thị trường.
2 Định tội
B là người trực tiếp tham và thực hiện vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ Trung Quốc về Việt Nam B biết rõ hành vi của A là buôn bán hàng cấm và vẫn chấp nhận giúp đỡ, tham gia vào việc vận chuyển hàng hóa bất hợp pháp này Cụ thể,
theo điểm b khoản 3 điều 190 BLHS 2015:“3 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08 năm đến 15 năm: b, Thuốc lá điếu điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên” thì B sẽ phạm tội buôn bán hàng cấm Cụ thể, trường hợp này liên quan đến số lượng 5.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, vượt ngưỡng
4.500 bao Vì vậy, cả A và B sẽ phải đối mặt với mức hình phạt nằm trong khung từ 08 năm đến 15 năm.
Trường hợp 2: B không phải là đồng phạm- B phạm tội vận chuyển hàng cấm
Trường hợp Nếu B chỉ đơn thuần nhận chở lô hàng 5.000 bao thuốc lá từ Trung Quốc về Việt Nam mà không biết rõ mục đích của A là buôn bán thuốc lá nhập lậu, thì B sẽ không bị xem là đồng phạm trong tội buôn bán hàng cấm
1 Phân tích cấu thành tội phạm
a Mặt khách quan
B đã thực hiện hành vi vận chuyển lô hàng từ Trung Quốc về Việt Nam cho
A trong đó có chứa 5.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu Đây là hành vi thuộc nhóm vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điều 191 BLHS 2015 B vận chuyển 5.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, B sẽ bị truy cứu TNHS theo khoản 3 điều 191 BLHS
2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Trang 8b Mặt chủ quan
Lỗi: lỗi của B trong trường hợp này là lỗi cố ý trực tiếp. B nhận thức rõ hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là trái với quy định của pháp luật và biết
rõ thuốc lá điếu là mặt hàng bị cấm nhập khẩu và buôn bán khi không có giấy phép B nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả và mong muốn hậu quả đó xảy ra Tuy nhiên, B vẫn cố ý thực hiện hành vi này với mục đích lợi ích kinh tế
c Chủ thể
Căn cứ theo điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này
có quy định khác”, xét thấy B (35 tuổi) tuổi có hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu qua biên giới nên sẽ mặc định B không thuộc trường hợp thuộc điều 21
Bộ luật Hình sự 2015 B đủ điều kiện về tuổi và có năng lực nhận thức, điều khiển hành vi của mình Vì vậy B có đủ năng lực trách nhiệm hình sự
d khách thể
Khách thể của tội phạm này là trật tự xã hội về quản lý kinh tế Đối tượng tác động của tội "vận chuyển hàng cấm" là các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cầm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam
2 Định tội
B là người thực hiện hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ Trung Quốc về Việt Nam với số lượng 5.000 bao thuốc, căn cứ theo điểm b khoản 3 điều
191 BLHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: b, thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên” Như vậy, với số lượng 5.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, B sẽ bị truy
cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 điều 190 BLHS với tội danh vận chuyển
Trang 9hàng cấm và B sẽ phải đối mặt với mức hình phạt nằm trong khung từ 05 năm đến 10 năm tù.
Câu 2: Giả sử trong quá trình vận chuyển qua biên giới, xe hàng của A bị K (40
tuổi) là cán bộ biên phòng phát hiện, bắt giữ A đã chủ động đưa cho K chiếc phong bì bên trong có 60 triệu đồng và đề nghị bỏ qua cho số hàng của mình K đã nhận tiền và đồng ý cho A và B đưa hàng đi
Hãy định tội danh và khung hình phạt cho hành vi của A, K trong tình huống này
I Xác định tội danh của A
Hành vi của A:
Đối với hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu, A vẫn chịu trách nhiệm hình sự
về tội Buôn bán hàng cấm theo như bài làm đã phân tích tại câu 1 Hơn nữa, khi A
bị K phát hiện bắt giữ, A đã chủ động đưa cho K chiếc phong bì bên trong có 60 triệu đồng và đề nghị K bỏ qua số hàng của mình Hành vi của A đưa hối lộ này đã cấu thành tội phạm tại điểm a khoản 1 Điều 364 BLHS 2015 nên A sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự thêm về Tội đưa hối lộ
Hành vi của B: Phát hiện, bắt giữa xe hàng của A Tuy nhiên khi thấy A đưa phong
bì bên trong có 60 triệu đồng tiền mặt đã chấp nhận lời đề nghị bỏ qua cho xe hàng buôn lậu của A Hành vi nhận hối lộ này của B đã thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm về Tội nhận hối lộ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 354 BLHS 2015
a Chủ thể tội phạm: Chủ thể tội đưa hối lộ là A (37 tuổi) có đầy đủ năng lực
TNHS và đạt độ tuổi theo luật định Ở đây A đã thoả mãn đủ 2 điều kiện này
b Khách thể tội phạm: Là xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức
c Mặt khách quan
Đưa hối lộ là hành vi dùng tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác hoặc lợi ích phi vật
chất trực tiếp hoặc qua trung gian để đưa cho người có chức vụ, quyền hạn, để người này làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của mình
Trang 10Cụ thể A sau khi bị K bắt đã trực tiếp đưa cho K phong bì bên trong có 60 triệu
đồng để K bỏ qua cho số hàng buôn lậu của A Hành vi của A chính là hành vi đưa hối lộ
d Mặt chủ quan
Lỗi của A ở đây là lỗi cố ý trực tiếp. A nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội Mục đích của A là để người có chức vụ quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của A Cụ thể ở đây A hối lội K
và đề nghị K bỏ qua số hành của A
Kết luận: Tổng hợp với hình phạt ở câu 1 với tội buôn bán hàng cấm, phải đối mặt
với mức hình phạt nằm trong khung từ 08 năm đến 15 năm đồng thời còn chịu trách nhiệm về tội đưa hối lộ thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
Vì vậy, mức hình phạt cao nhất mà A phải chịu là 18 năm tù
Xác định tội danh và khung hình phạt cho K
a Chủ thể tội phạm
Chủ thể của tội nhận hối lộ được quy định là chủ thể đặc biệt, là người có chức
vụ, quyền hạn Đó là chức vụ, quyền hạn có thể làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người khác Ngoài ra, chủ thể của tội phạm phải thỏa mãn điều kiện là người có đầu đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên
Trong trường hợp trên, chủ thể là K (40 tuổi) đang là cán bộ biên phòng với vai trò là người thi hành công vụ, trách nhiệm của K là bảo vệ biên giới và chống buôn lậu nên K là chủ thể đặc biệt và đáp ủng đủ yêu cầu về độ tuổi theo luật
b Về mặt khách thể
Xâm phạm những quan hệ xã hội liên quan đến hoạt động bình thường của các cơ quan,tổ chức của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước làm cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này bị suy yếu, mất uy tín
Trang 11Việc kiểm tra và bắt giữ A khi có giấu hiệu phạm tội buôn lâu là đúng với nhiệm
vụ, chức năng của K Tuy nhiên, hành vi bỏ qua số hàng của A sau khi đã nhận 60 triệu đồng là trái với quy định của pháp luật
c Về mặt khách quan của tội phạm
Nhận hối lộ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung
gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho chính bản thân người đó hoặc cho tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ
Hành vi khách quan của tội nhận hối lộ được quy định là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc trung gian nhận hoặc sẽ là lợi ích nào cho chính bản thân người đó hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ Theo đó, hành vi khách quan của tội nhận hối lộ gồm hành vi nhận hoặc sẽ nhận lợi ích bất kỳ (trực tiếp hoặc qua trung gian) và hành vi làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc yêu cầu của người đưa hối lộ
K là cán bộ biên phòng đã có hành vi nhận phong bì 60 triệu đồng của A và cho phép cho xe hàng của A qua biên giới K đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận lợi ích cụ thể ở đây là lợi ích vật chất (60 triệu đồng) từ A Hành vi của K là hành
vi nhận hối lộ
d Về mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của K ở đây là lỗi cố ý trực tiếp. K nhận thức được bản thân là người có chức
vụ, quyền hạn tuy nhiên K lại lời dụng chính chức vụ, quyền hạn của mình để nhận tiền từ A và đồng ý bỏ qua cho A Nhận thấy đây là hành vi trái với pháp luật, đi ngược lại với gợi ý của nghề nghiệp
Vì thế khung hình phạt cho K được quy định tại điểm a khoản 1 điều 364: K có thể
bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm
Câu 3: Giả sử, trong lô hàng A còn giấu 15 kg lá cần sa về để bán thì tội danh của
A và B có thay đổi không? Tại sao?