1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội buôn bán người trong luật hình sự việt nam

105 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đã có nhiều điều ước quốc tế về phòng chống buôn bán người được ký kết như: Công ước quốc tế về ngăn chặn việc buôn bán phụ nữ và trẻ em năm 1921 của Hội Quốc Liên; Công ước về chống buô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN DUY THUÂN

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2010

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

cứ công trình nào khác

Tác giả Luận văn

Lê Đức Phương

Trang 5

Trang

Chương 1

NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI BUÔN BÁN NGƯỜI

1.1 Khái niệm về tội buôn bán người 6

1.1.1 Khái niệm tội buôn bán người trong Luật quốc tế 6

1.1.2 Khái niệm về tội phạm buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam 11

1.1.3 So sánh khái niệm tội buôn bán người trong Luật quốc tế với khái niệm tội phạm về buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam 14

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn bán người 17

1.3 Tội buôn bán người trong pháp luật một số quốc gia 21

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA TỘI PHẠM BUÔN BÁN NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ ĐỊNH TỘI DANH 2.2 Đặc điểm pháp lý của tội phạm về buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam 28

2.2.1 Tội mua bán người 28

2.2.2 Tội mua bán trẻ em 37

2.3 Định tội danh đối với hành vi mua bán người, mua bán trẻ em 43

Chương 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI TỘI PHẠM VỀ BUÔN BÁN NGƯỜI 3.1 Thực trạng lập pháp hình sự Việt Nam đối với tội phạm buôn bán người 49

3.2 Thực trạng áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm về buôn bán người 52 3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm góp phần nâng cao hiệu quả

Trang 6

3.3.1 Hoàn thiện Luật hình sự 60 3.3.2 Hoàn thiện Luật tố tụng hình sự 72 Kết luận 78 Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em là một loại tội phạm mà cả nhân loại lên án Cũng như các tội phạm nguy hiểm khác như buôn bán ma túy, buôn bán vũ khí, khủng bố, tội phạm buôn bán người đã và đang diễn ra một cách phổ biến tại nhiều quốc gia Vì thế, đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu được sự quan tâm, hợp tác của nhiều quốc gia

và tổ chức quốc tế

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tình hình tội phạm về buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em cũng xảy ra phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng Tội phạm buôn bán người đã thực sự trở thành vấn đề nóng bỏng, nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của xã hội, phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, pháp luật của Nhà nước, cướp đi hạnh phúc của nhiều gia đình, làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, tiềm ẩn những nhân tố xấu về an ninh quốc gia và trật

tự an toàn xã hội Các phần tử xấu lợi dụng vấn đề này để nói xấu, tuyên truyền sai sự thật, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước1 Vì vậy, phòng chống tội phạm buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ, trẻ em đã được Chính phủ Việt Nam xác định là một trong những ưu tiên hàng đầu trong Chương trình quốc gia về phòng chống tội phạm giai đoạn từ năm 1998 đến nay2 Thủ tướng Chính Phủ cũng đã phê duyệt Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2010 và cụ thể hóa Chương trình này bằng nhiều đề

án, nhiều kế hoạch cụ thể nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức cũng như hành động trong các cấp, các ngành, đoàn thể và toàn xã hội về công tác phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em hướng đến mục tiêu làm giảm cơ bản tình trạng phụ nữ, trẻ

em bị buôn bán vào năm 2010 Trong đó, vấn đề hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến phòng chống buôn bán người cũng đã được xây dựng thành một trong những

đề án lớn của Chương trình phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn

từ năm 2004 đến năm 20103 Trên tinh thần này, tại kỳ họp thứ 5 Quốc Hội khóa 12 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999 vào ngày 19/6/2009, Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2010, trong đó có những sửa đổi, bổ sung đối với các tội mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em Tuy nhiên, quan điểm chỉ đạo

3 Xem Quyết định số 312/2005/QĐ-TTg ngày 30/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt các đề

án thuộc Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2005-2010

Trang 8

của lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 vừa qua là “chỉ sửa đổi những vấn

đề thực sự bức xúc gây khó khăn, trở ngại cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, góp phần đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập quốc tế, còn các vấn đề khác cần được nghiên cứu kỹ về mọi mặt để phục vụ cho việc sửa đổi cơ bản, toàn diện Bộ luật hình sự trong thời gian tới”4 Như vậy, vấn đề tiếp tục hoàn thiện pháp luật, trong

đó có pháp luật hình sự để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người là một yêu cầu cấp bách và cần thiết của hoạt động lập pháp hình sự của Việt Nam trong thời gian tới

Từ những lý do trên đây, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tội buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam”5 để làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Luật hình sự của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tội phạm về buôn bán người được đề cập trong một số luận văn, sách, giáo trình, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành … Chẳng hạn, trong một số luận văn luật học thực hiện tại Trường Đại học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh như: Bùi Thị Tường Vân (2004), “Đấu tranh phòng chống các tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em”, khóa luận cử nhân luật, Hồ Thị Linh (2005), “Đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người theo pháp luật quốc tế”, khóa luận cử nhân luật; Đào Thị Ánh Tuyết (2007),

“Đấu tranh phòng chống tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn tỉnh Tây Ninh”, luận văn thạc sĩ; Nguyễn Minh Diễm Quỳnh (2007), “Đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới tại tỉnh An Giang” luận văn thạc sĩ, …

Các sách, giáo trình đề cập đến tội phạm về buôn bán người như: Vũ Ngọc Bình (2002), “Phòng chống buôn bán và mại dâm trẻ em”, Nhà xuất bản (NXB) Chính trị quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Cảnh (2007), “Hoạt động điều tra các vụ án buôn bán phụ nữ và trẻ em ”, NXB Công an nhân dân; Đinh Văn Quế (2005), “Bình luận khoa học BLHS”, NXB TP.Hồ Chí Minh; Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình tội phạm học, NXB Công an nhân dân …

Các bài viết ở các tạp chí chuyên ngành như: Lương Thanh Hải (2006), “Phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 3; Trần Minh Hưởng (2003), “Đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán

4Ủy ban thường vụ Quốc Hội (2009), Báo cáo số 251/BC-UBTVQH12 về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự

thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS

5

Trong Luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ “Tội buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam” theo nghĩa chung để chỉ các tội phạm về buôn bán người được quy định trong Luật hình sự Việt Nam là tội mua bán người (Điều 119) và tội mua bán trẻ em (Điều 120) theo BLHS năm 1999

Trang 9

phụ nữ và trẻ em ở nước ta trong tình hình mới”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 7; Đặng Thu Hiền (2006), “Một số giải pháp phòng ngừa tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em”, Tạp chí Kiểm sát, số 21; Vương Hoàng Cảnh (2004), “Cuộc chiến với tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em”, Tạp chí Lao động và xã hội, số 253… Và nhiều bài viết trên các báo viết, báo điện tử như Báo Pháp Luật, Báo Công An, Báo Biên Phòng… Nhìn chung, các công trình nêu trên chủ yếu nghiên cứu tội phạm buôn bán người dưới góc độ tội phạm học; ít tác giả nghiên cứu tội phạm buôn bán người dưới góc độ pháp lý hình sự Vì vậy, nghiên cứu tội phạm buôn bán người dưới góc độ pháp

lý hình sự sẽ là một hướng nghiên cứu cần thiết và phù hợp với những yêu cầu về hoàn thiện pháp luật hình sự nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích của Luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự đối với tội mua bán người và tội mua bán trẻ em nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này tại Việt Nam

- Để đạt được mục đích trên, Luận văn đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau: + Làm rõ, hệ thống những vấn đề lý luận về tội buôn bán người và mua bán trẻ

em theo quy định của Luật hình sự Việt Nam;

+ Làm rõ nội dung các quy định của Luật hình sự Việt Nam về các tội mua bán người, tội mua bán trẻ em;

+ Làm rõ thực trạng lập pháp và thực trạng áp dụng pháp luật hình sự về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em, từ đó chỉ ra những vấn đề bất cập cần sửa đổi, bổ sung;

+ Tổng hợp kết quả nghiên cứu, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình

sự đối với tội mua bán người và tội mua bán trẻ em

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là: Tội mua bán người và tội mua bán trẻ

em trong Luật hình sự Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:

+ Về nội dung, Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định và thực trạng áp dụng pháp luật về tội mua bán người (Điều 119) và tội mua bán trẻ em (Điều 120) trong Luật hình sự Việt Nam

Trang 10

+ Về địa bàn, tác giả khảo sát việc áp dụng pháp luật trên địa bàn toàn quốc, tập trung vào những địa bàn trọng điểm về tình hình tội phạm buôn bán người

+ Về thời gian, tác giả khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam

về các tội phạm buôn bán người từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa LêNin và hệ thống các quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tội phạm và đấu tranh phòng chống tội phạm, đặc biệt là đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người

Mác Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật hình sự, luật tố tụng hình sự và phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, thống kê, lịch sử, so sánh, phương pháp chuyên gia

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của Luận văn

Luận văn được thực hiện sẽ góp phần làm sáng tỏ về phương diện lý luận các vấn đề pháp lý hình sự về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em trong Luật hình sự Việt Nam, đồng thời góp phần làm sáng tỏ thực trạng lập pháp, thực trạng áp dụng các quy định của Luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em và những yêu cầu hoàn thiện Các giải pháp, kiến nghị được tác giả trình bày trong Luận văn có thể được tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Luật hình sự Việt Nam về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em trong thời gian tới

Những luận cứ khoa học và thực tiễn được trình bày trong Luận văn có thể được

sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật hình sự, trong học

tập và giảng dạy luật hình sự

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung Luận văn được bố cục thành 3 chương:

Chương 1 Nhận thức chung về tội buôn bán người

Chương 2 Đặc điểm pháp lý của tội phạm về buôn bán người trong Luật hình sự

Việt Nam và vấn đề định tội danh Chương 3 Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam đối

với tội phạm về buôn bán người

Trang 11

Chương 1

NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI BUÔN BÁN NGƯỜI

1.1 Khái niệm về tội buôn bán người

1.1.1 Khái niệm tội buôn bán người trong Luật quốc tế

Theo các nhà sử học, hiện tượng buôn bán người xuất hiện từ khi xã hội có phân chia giai cấp Các hành vi buôn bán người ở thời kỳ này chủ yếu nhằm các mục đích như để làm nô lệ, nô tì, người hầu, lính chiến, hoặc phục vụ trong các nhà thổ… Hiện nay, hiện tượng buôn bán người vẫn tiếp tục tồn tại và xảy ra phổ biến trên quy mô liên quốc gia Theo số liệu thống kê của Liên Hợp Quốc (LHQ), hàng năm có khoảng

từ 700.000 người đến 2 triệu phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trên thế giới6 Như vậy, mỗi ngày có khoảng từ 2.000 đến 6.000 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán Theo ước tính của các chuyên gia, hiện nay nguồn lợi bất chính thu được từ buôn bán người đứng thứ ba, sau tội phạm buôn bán vũ khí và buôn bán ma túy

Trước vấn nạn buôn bán người, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, hoạt động đấu tranh phòng chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em đã được nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Đấu tranh phòng chống buôn bán người không còn là nhiệm vụ riêng của bất kỳ một quốc gia nào mà trở thành vấn đề quốc tế

Đã có nhiều điều ước quốc tế về phòng chống buôn bán người được ký kết như: Công ước quốc tế về ngăn chặn việc buôn bán phụ nữ và trẻ em năm 1921 của Hội Quốc Liên; Công ước về chống buôn bán nô lệ năm 1926 của Hội Quốc Liên; Công ước về trấn áp việc buôn bán người và mại dâm người khác năm 1949 của LHQ; Công ước bổ sung về việc xóa bỏ chế độ nô lệ, việc buôn bán nô lệ và các thể chế, thực tế khác tương tự nô lệ năm 1961 của LHQ; Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1979 của LHQ; Công ước về quyền trẻ em năm 1989 của LHQ; Công ước quốc tế về ngăn chặn việc buôn bán phụ nữ năm 1993 của LHQ; Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước quyền trẻ em liên quan đến buôn bán trẻ

em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000 của LHQ Tuy nhiên, qua nghiên cứu cho thấy, khái niệm “buôn bán người” thường chỉ được định nghĩa trong các Công ước chuyên biệt về việc buôn bán các đối tượng con người cụ thể, như Công ước về chống buôn bán nô lệ năm 1926 của LHQ tại khoản 2, Điều 1 định nghĩa:

6

Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của LHQ (2004), Báo cáo của Cơ quan phòng chống ma túy và tội

phạm của LHQ, nguồn: http://www.unodc.org/unodc/en/human-trafficking/index.html

Trang 12

Buôn bán nô lệ bao gồm những hành động liên quan đến việc chiếm hữu, giành được hay chuyển nhượng với mục đích bắt một người phải phục tùng và làm nô lệ cho người khác; tất cả những hành động liên quan đến việc có được một nô lệ bằng cách mua bán hay trao đổi; tất cả những hành động chuyển nhượng thông qua việc mua bán hay trao đổi một nô lệ và nhìn chung bất cứ hành động mua bán hay vận chuyển nô lệ nào

Nghị định thư bổ sung Công ước về quyền trẻ em liên quan đến buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em năm 2000 của LHQ tại khoản a, Điều 2 định nghĩa: “Buôn bán trẻ em có nghĩa là bất kỳ hành động giao dịch nào mà qua đó trẻ em bị chuyển giao từ bất kỳ một người hay một nhóm người cho một người hay một nhóm người khác để lấy tiền hay vật gì khác”

Khái niệm buôn bán người lần đầu tiên được định nghĩa một cách khá đầy đủ, toàn diện và cụ thể tại Nghị định thư về phòng ngừa, ngăn chặn và trừng trị việc buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em bổ sung cho Công ước của LHQ về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 do Đại hội đồng LHQ thông qua ngày 15/11/2000, có hiệu lực từ ngày 25/12/20037 (từ đây về sau gọi tắt là Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000) Điều 3 của Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 khẳng định:

a) Buôn bán người có nghĩa là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực hay bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương hay bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người có quyền kiểm soát đối với những người khác nhằm mục đích bóc lột Bóc lột sẽ bao gồm, ít nhất, việc bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, cưỡng bức lao động hay phục vụ, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc việc lấy các bộ phận cơ thể;

b) Việc một nạn nhân của việc buôn bán người chấp nhận sự bóc lột chủ ý được nêu trong khoản a của điều này sẽ là không thích hợp nếu bất kỳ một cách thức nào nêu trong khoản a đã được sử dụng

c) Việc mua, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận một đứa trẻ nhằm mục đích bóc lột sẽ bị coi là buôn bán người ngay cả khi việc này

7 The Protocol to prevent, suppress and punish trafficking in persons, especially women and children, supplementing the United Nations Convention against transnational organized crime

Trang 13

được thực hiện không cần dùng đến bất kỳ một cách thức nào được nói đến trong khoản a điều này;

Điều 5 của Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 cũng khẳng định rằng: “Mỗi quốc gia thành viên sẽ áp dụng những biện pháp lập pháp cũng như các biện pháp khác khi cần thiết để quy định những hành vi nêu tại Điều 3 Nghị định thư này là những vi phạm hình sự khi những hành vi này được thực hiện có chủ ý” (khoản 1) Như vậy, buôn bán người bị coi là tội phạm và các dấu hiệu của tội phạm này được xác định theo định nghĩa tại Điều 3 của Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000, gồm 3 yếu tố cơ bản sau đây:

- Về hành vi, buôn bán người bao gồm các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người

- Về thủ đoạn để thực hiện hành vi buôn bán người, gồm có sử dụng hay đe dọa

sử dụng vũ lực bằng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị tổn thương của người khác; bằng việc đưa hay nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự đồng ý của một người có quyền kiểm soát đối với những người khác Đồng thời, khoản b Điều 3 của Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 quy định rằng sự chấp nhận hay đồng ý về phía nạn nhân đối với

ý đồ bóc lột họ sẽ không có ý nghĩa nếu một trong các thủ đoạn được liệt kê tại khoản

a Điều 3 được sử dụng Bởi lẽ, trong trường hợp này sự chấp nhận hay đồng ý từ phía nạn nhân có được bằng các thủ đoạn nói tại khoản b Điều 3 là sự chấp nhận hay đồng

ý mà người bị mua bán không có sự tự do thực sự về mặt ý chí hoặc là sự chấp thuận hay đồng ý trong tình trạng nhận thức sai lầm về vấn đề thực tế, do đó chúng trở nên

vô hiệu Khoản c Điều 3 quy định nếu đối tượng bị buôn bán là trẻ em thì không cần tính đến việc các thủ đoạn được liệt kê tại khoản a Điều 3 có được sử dụng hay không cũng cấu thành hành vi buôn bán người Quy định này nhằm bảo vệ trẻ em trước hành

vi buôn bán người một cách triệt để nhất

- Về mục đích của hành vi buôn bán người là để bóc lột, thể hiện dưới các hình thức: bóc lột mại dâm những người khác hay những hình thức bóc lột tình dục khác, cưỡng bức lao động hay phục vụ, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hoặc việc lấy các bộ phận cơ thể

- Về đối tượng tác động của hành vi buôn bán người là con người nói chung, không phân biệt giới tính, gồm người thành niên và trẻ em Theo khoản d Điều 3 thì trẻ em được hiểu là bất kỳ người nào dưới 18 tuổi

Như vậy, theo Điều 3 Nghị định của LHQ về phòng chống buôn bán người năm

2000 thì để cấu thành nên tội buôn bán người cần phải hội tụ đủ ba yếu tố về hành vi,

Trang 14

thủ đoạn và mục đích phạm tội, trừ trường hợp nạn nhân là trẻ em thì chỉ cần có hành

vi và có mục đích bóc lột thì đã coi như đã phạm tội buôn bán người mà không cần xem xét đến thủ đoạn phạm tội

Qua khái niệm về tội buôn bán người và xem xét mối quan hệ giữa Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 với Công ước của LHQ về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 cho thấy tội phạm buôn bán người là một loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Việc thực hiện tội phạm buôn bán người thường là một quá trình gồm nhiều giai đoạn như tuyển mộ, vận chuyển, bóc lột, có nhiều đồng phạm và thường hoạt động trong các nhóm tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Vì vậy, khoản 2 Điều 5 của Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 quy định:

Mỗi quốc gia thành viên cũng sẽ áp dụng những biện pháp lập pháp và các biện pháp khác khi cần thiết để coi những hành vi sau đây là vi phạm hình sự:

a) Việc cố gắng thực hiện một hành vi phạm tội được quy định theo khoản 1 của điều này ;

b) Việc tham gia như là một đồng phạm trong một hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 của điều này; và

c) Việc tổ chức hay chỉ đạo những người khác tham gia vào một hành

vi phạm tội được quy định theo khoản 1 của điều này

Bên cạnh việc làm rõ khái niệm tội buôn bán người, việc phân biệt tội buôn bán người với tội đưa người di cư trái phép trong trong Luật quốc tế có ý nghĩa quan trọng Bởi lẽ, hành vi đưa người di cư trái phép từ quốc gia này sang quốc gia khác có quan

hệ chặt chẽ với hành vi buôn bán người qua biên giới giữa các quốc gia Điều 3 Nghị định thư về chống đưa người di cư trái phép bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không, bổ sung cho Công ước của LHQ về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 20008

đã định nghĩa:

a) Đưa người di cư trái phép nghĩa là việc giao dịch để đạt được trực tiếp hay gián tiếp lợi ích về tài chính hoặc lợi ích vật chất khác từ việc nhập

8 Protocol against the smuggling of migrants by land, sea and air, supplementing the United Nations Convention

against transnational organized crime

Trang 15

cảnh trái phép một người vào một quốc gia thành viên mà người này không phải là công dân của quốc gia đó hoặc thường trú ở quốc gia đó

b) Nhập cảnh trái phép có nghĩa là vượt qua biên giới mà không tuân thủ các yêu cầu cần thiết đối với việc nhập cảnh hợp pháp vào quốc gia tiếp nhận…

Từ định nghĩa này, có thể rút ra những điểm khác nhau cơ bản giữa tội buôn bán người với tội đưa người di cư trái phép như sau:

- Về hành vi, tội đưa người di cư trái phép là hành vi tổ chức, ép buộc hoặc thực hiện mọi hoạt động nhằm đưa người khác ra khỏi lãnh thổ của một quốc gia để đến lãnh thổ của một quốc gia khác một cách trái phép Trong khi đó, tội buôn bán người bao gồm các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận người, bằng các thủ đoạn nhất định và để nhằm mục đích bóc lột

- Về mục đích, hành vi đưa người di cư trái phép chủ yếu nhằm vụ lợi cá nhân Trong khi đó, mục đích bóc lột là yếu tố bắt buộc của hành vi buôn bán người Có nghĩa là thông qua hành vi buôn bán người, người phạm tội nhằm mục đích tiếp tục bóc lột nạn nhân theo một số cách thức nào đó

- Về tính chất xuyên quốc gia, việc tổ chức di cư trái phép luôn mang tính chất xuyên quốc gia xuất phát từ bản chất của hoạt động này là sự di chuyển trái phép một hay một nhóm người từ quốc gia này đến một quốc gia khác, còn hành vi buôn bán người có thể diễn ra không phụ thuộc vào việc các nạn nhân có bị đưa đi một nước khác hay không hoặc chỉ là đưa từ nơi này sang nơi khác trong lãnh thổ của một quốc gia Hiện nay, tội phạm buôn bán người thường mang tính chất xuyên quốc gia, vì vậy việc phân biệt hai khái niệm này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Từ đó giúp cho việc nhận diện hành vi phạm tội diễn ra trên thực tế được chính xác để xây dựng

và thực hiện các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn thích hợp đối với từng hành vi

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của Luật quốc tế, đặc biệt là Điều 3 Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 có thể định nghĩa khái niệm tội buôn bán người theo Luật quốc tế như sau:

Tội buôn bán người là việc một người hoặc một nhóm người thực hiện một cách

cố ý ít nhất một trong các hành vi như tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận người bằng các thủ đoạn sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, lừa gạt, lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc tình trạng quẫn bách hoặc tình trạng không có khả năng tự vệ của nạn nhân, đưa hay nhận tiền đối với người có quyền kiểm soát đối với

Trang 16

nạn nhân nhằm mục đích bóc lột nạn nhân dưới nhiều hình thức hoặc lấy bộ phận cơ thể

của nạn nhân

1.1.2 Khái niệm tội phạm về buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam

Vấn đề nhận thức khái niệm tội phạm về buôn bán người có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ đó là cơ sở, lý luận đầu tiên cho việc xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng chống tội phạm buôn bán người

Luật quốc tế và Luật hình sự Việt Nam có sự khác biệt về việc sử dụng thuật ngữ

để phản ánh nội hàm của khái niệm về loại tội phạm này Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 gọi là “buôn bán người” (trafficking in persons), còn các Bộ luật hình sự (BLHS) của Việt Nam từ trước cho đến nay sử dụng thuật ngữ “mua bán” người, như mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em Gần đây nhất, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 BLHS được Quốc Hội khóa 12

kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 19/6/2009, cũng quy định tội danh “tội mua bán người” (Điều 119) và giữ nguyên tội danh “tội mua bán trẻ em” (Điều 120) chứ không quy định tội danh “tội buôn bán người” Trong khi đó, thuật ngữ “buôn bán” phụ nữ, trẻ

em lại được đề cập trong nhiều các văn bản pháp luật khác như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, các văn bản thuộc Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn từ 2004 đến năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ…

Trong tiếng Việt, mua được hiểu là “đổi tiền lấy vật” (thường là hàng hóa), bán được hiểu là đổi vật (thường là hàng hóa) lấy tiền9 Còn “hàng hóa” được hiểu là sản phẩm do lao động làm ra được mua bán trên thị trường10 Buôn được hiểu là “mua để bán lấy lãi”11 Buôn bán và mua bán có nghĩa tương tự nhau, có thể dùng thay thế nhau trong một số trường hợp, tuy nhiên khi dùng từ buôn bán thường ám chỉ những hoạt động mang tính chất trao đổi thương mại và mục đích lợi nhuận cụ thể hơn là mua bán-chỉ dừng lại ở hình thức trao đổi đó là mua và bán Trong tiếng Anh, mua bán và buôn bán đều có thể dùng thay cho nhau trong một số trường hợp,12

tuy nhiên khi nói đến việc buôn bán bất hợp pháp hoặc bất lương thì tiếng Anh thường dùng cụm từ là

“traffick, trafficked, trafficking (in some thing)” trong đó “buôn bán người” là

“trafficking in persons”, “buôn bán phụ nữ” là “trafficking in woman”, “buôn bán trẻ em” là “trafficking in children”13 thay vì dùng “mua bán” theo nghĩa thông thường

Trang 17

(purchase and sale) Vì vậy, có ý kiến cho rằng cách gọi của Luật quốc tế mang tính chất trao đổi thương mại và mục đích lợi nhuận cụ thể hơn, trong khi cách gọi của Luật hình sự Việt Nam chỉ dừng lại ở hình thức trao đổi “tiền-hàng” đó là mua và bán Tuy nhiên, về bản chất thì buôn bán hay mua bán trong tiếng Việt và tiếng Anh giống nhau ở chỗ nó đều là những từ có thể được dùng để mô tả hành vi trao đổi, trong đó một bên dùng tiền hoặc các vật có giá trị khác để đổi lấy hàng hóa và ngược lại Khái niệm buôn bán hay mua bán người không giống buôn bán hay mua bán thuộc phạm trù kinh tế thông thường mà cần được xem xét dưới góc độ pháp lý hình

sự Làm rõ khái niệm buôn bán người hay mua bán người chính là xác định hành vi khách quan, bản chất pháp lý của tội phạm buôn bán người Thế nhưng, cho đến nay, Luật hình sự Việt Nam chưa có một định nghĩa chính thức, cụ thể về tội phạm buôn bán hay mua bán người nói chung cũng như buôn bán hay mua bán phụ nữ, trẻ em nói riêng Trong một số văn bản pháp luật khác có liên quan như Luật hôn nhân gia đình năm 2000; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004; các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về Chương trình hành động về phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn 2004-2010 cũng không đưa ra định nghĩa khái niệm buôn bán phụ nữ, trẻ em Điều 4 Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về kèm theo Quyết định 17/2007/QĐ-TTg ngày 17/01/2007 của Thủ tướng Chính Phủ đã coi phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về là “nạn nhân” và đưa ra định nghĩa nạn nhân là “phụ nữ, trẻ em bị một người hay một nhóm người sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực hay những hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt Lạm dụng quyền lực hay địa vị, tình trạng dễ bị tổn thương để mua bán đưa ra nước ngoài nhằm mục đích bóc lột (cưỡng bức bán dâm hoặc các hình thức bóc lột khác, lao động hoặc dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như tình trạng nô lệ hoặc lấy đi các bộ phận cơ thể)”14 Tuy nhiên, đây chỉ là định nghĩa về khái niệm nạn nhân bị buôn bán từ nước ngoài trở về chứ không phải là định nghĩa về khái niệm tội phạm buôn bán người Khái niệm buôn bán người chỉ được định nghĩa trong một số Hiệp định song phương giữa Việt Nam với nước về hợp tác phòng chống buôn bán người Theo khoản 1 Điều 2 Hiệp định giữa Việt Nam với Thái Lan ký ngày 24/3/2008 thì:

Buôn bán phụ nữ và trẻ em nghĩa là việc tuyển chọn, vận chuyển, chuyển nhượng, che giấu hoặc tiếp nhận phụ nữ và trẻ em bằng biện pháp đe dọa, sử dụng vũ lực hoặc sử dụng các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hoặc nhược điểm của người bị hại hoặc đưa và nhận

14 Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg ngày 17/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế tiếp nhận và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ, trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về

Trang 18

tiền hoặc lợi ích khác để đạt được sự đồng ý của người đang quản lý một người vì mục đích bóc lột Hành động bóc lột bao gồm: bóc lột phụ nữ và trẻ em thông qua hoạt động mại dâm hoặc các hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hoặc phục vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc làm việc như nô lệ hoặc lấy các bộ phận trên cơ thể của một người nào đó15

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Hiệp định giữa Việt Nam và Campuchia ký ngày 10/10/200516 thì:

Buôn bán phụ nữ và trẻ em được hiểu là việc tuyển chọn, vận chuyển, chuyển nhượng, che giấu hoặc tiếp nhận người bằng biện pháp đe dọa, sử dụng vũ lực hoặc sử dụng các hình thức ép buộc khác, bắt cóc, lừa gạt, lạm dụng quyền lực hoặc sự yếu thế của người bị hại, đưa và nhận tiền hoặc lợi ích khác để đạt được sự đồng ý của một người nào đó đang quản lý một người khác vì mục đích bóc lột

Dưới góc độ pháp luật hình sự, các BLHS của Việt Nam từ trước đến nay không quy định tội danh “tội buôn bán người” mà chỉ quy định các tội danh về mua bán người Cụ thể, theo BLHS năm 1985 thì các tội mua bán con người gồm có tội mua bán phụ nữ (Điều 115) và tội bắt trộm, mua bán hoặc đánh tráo trẻ em (Điều 149) Theo BLHS năm 1999 thì các tội mua bán con người gồm có tội mua bán phụ nữ-nay

là tội mua bán người (Điều 119) và tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) Nhưng trong tất cả các BLHS này, khái niệm tội mua bán người, hay mua bán phụ nữ, mua bán trẻ em cũng không được định nghĩa cụ thể mà cũng chỉ dừng lại

ở mức độ nêu hành vi của tội phạm một cách khái quát

Từ các quy định của BLHS hiện hành và các đặc trưng của tội phạm, có thể định nghĩa khái niệm tội phạm về buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam như sau:

Tội phạm về buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách

cố ý, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của con người, thể hiện ở hành vi dùng tiền, phương tiện thanh toán hoặc lợi ích khác để trao đổi con người như một thứ hàng hóa Khái niệm trên đã xác định tội phạm buôn bán người là hành vi nguy hiểm cho

xã hội đã được quy định trong BLHS, do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm hình sự

15 Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về hợp tác

song phương nhằm loại trừ nạn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em và giúp đỡ nạn nhân bị buôn

bán, ký ngày 24/3/2008

16 Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và Vương quốc Campuchia về hợp tác song phương nhằm loại trừ tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán, ký ngày 10/10/2005

Trang 19

thực hiện và xác định hình thức lỗi của người phạm tội là cố ý, xâm phạm vào khách thể trực tiếp là danh dự, nhân phẩm của con người Mặt khác, khái niệm cũng xác định hành vi phạm tội buôn bán người theo Luật hình sự Việt Nam thể hiện ở hành vi khách quan là dùng tiền, phương tiện thanh toán hoặc lợi ích khác để trao đổi con người như một thứ hàng hóa để phù hợp với quy định của BLHS hiện hành khi chỉ quy định hành

vi phạm tội là hành vi mua bán con người với hai tội danh là tội mua bán người (Điều 119) và tội mua bán trẻ em (Điều 120)

1.1.3 So sánh tội buôn bán người trong Luật quốc tế với tội phạm về buôn bán

người trong Luật hình sự Việt Nam

Mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, cụ thể về khái niệm tội buôn bán người nhưng thông qua một số quy định cụ thể của Luật hình sự Việt Nam về các tội phạm buôn bán người như tội mua bán người, mua bán trẻ em cho thấy Luật hình sự Việt Nam cũng có những điểm tương đồng nhất định với khái niệm tội buôn bán người trong Luật quốc tế mà điển hình là Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000, thể hiện ở những vấn đề sau:

- Về quan điểm phòng chống tội phạm, Luật hình sự Việt Nam và Nghị định thư đều khẳng định rằng những hành vi coi con người như một thứ hàng hóa để đem ra trao đổi lấy tiền hoặc các lợi ích vật chất khác đều là những hành vi có tính chất nguy hiểm cao, trực tiếp xâm phạm vào các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là quyền được tôn trọng và bảo vệ về danh dự, nhân phẩm của con người Vì vậy người thực hiện các hành vi nguy hiểm này bị coi là tội phạm và phải bị trừng trị bằng các chế tài hình sự nghiêm khắc

- Về đối tượng tác động của tội phạm, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 có hiệu lực ngày 01/01/2010 cũng đã chính thức sửa đổi, bổ sung tội mua bán phụ nữ thành tội mua bán người (Điều 119) và điều đó có nghĩa là đối tượng tác động của tội phạm mua bán người là con người nói chung Quy định này cũng tương tự quy định về đối tượng tác động của tội phạm được quy định tại Điều 3 Nghị

định thư về phòng chống buôn bán người của LHQ

- Về ý chí của nạn nhân, theo quy định của BLHS năm 1999 về tội mua bán người, tội mua bán trẻ em và Điều 3 của Nghị định thư đều quy định rõ yếu tố tự nguyện của nạn nhân về việc đồng ý để bị (được) người khác buôn bán (mua bán) cũng không phải là tình tiết làm giảm hay loại trừ trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi phạm tội

Trang 20

Tuy nhiên, khái niệm về tội phạm buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam

có một số điểm khác với khái niệm tội phạm buôn bán người theo Điều 3 của Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 ở một số vấn đề sau:

- Về mặt hành vi khách quan của tội phạm, BLHS năm 1999 của Việt Nam không quy định tội danh “buôn bán người” như Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 mà chỉ quy định “tội mua bán người” (Điều 119) và

“tội mua bán trẻ em” (Điều 120) Theo đó, hành vi khách quan của tội mua bán người

và tội mua bán trẻ em bao gồm hành vi là mua và bán Tội phạm được coi là hoàn thành khi diễn ra hành vi “trao” và “nhận” người, mà không quy định các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, nhận người như quy định của Nghị định thư Theo Luật hình sự Việt Nam, trong trường hợp chứng minh được người thực hiện các hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người nhằm mục đích hoặc phục vụ cho việc mua bán thì sẽ xử lý về tội mua bán người hoặc tội mua bán trẻ em với vai trò đồng phạm

- Về thủ đoạn thực hiện tội phạm, Điều 3 của Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 đã quy định rất rõ cùng với các hành vi khách quan của tội phạm thì thủ đoạn thực hiện tội phạm như: sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, cưỡng ép, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị thương tổn của nạn nhân, đưa hoặc nhận tiền để đạt được sự đồng ý của người có quyền kiểm soát đối với người khác là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm buôn bán người Theo Luật hình sự Việt Nam thì thủ đoạn để thực hiện tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội mua bán người và tội mua bán trẻ em Tuy nhiên, trong Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 cũng quy định rằng, đối với hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận trẻ

em nhằm mục đích bóc lột thì sẽ bị coi là buôn bán người ngay cả việc này được thực hiện mà không cần sử sụng đến một thủ đoạn nào đã được nêu trong Điều 3 của Nghị định thư này

- Về mục đích thực hiện tội phạm, theo quy định của Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 thì mục đích để bóc lột là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội buôn bán người Sự bóc lột được quy định ít nhất

là phải thể hiện dưới các hình thức như tổ chức mại dâm để bóc lột, bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động hoặc cưỡng bức phục dịch, làm nô lệ hoặc các hình thức tương tự

nô lệ, khổ sai, lấy đi các bộ phận cơ thể của nạn nhân Theo quy định của Luật hình sự Việt Nam thì mục đích của tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành

cơ bản của tội mua bán người và tội mua bán trẻ em, mà mục đích thực hiện tội phạm được quy định với tính chất là các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt như mua

Trang 21

bán người, mua bán trẻ em để đưa ra nước ngoài, để sử dụng vào mục đích mại dâm;

để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; mua bán trẻ em để sử dụng vào mục đích vô nhân

đạo

- Về đối tượng tác động của tội phạm, theo Điều 3 của Nghị định thư của LHQ

về phòng chống buôn bán người năm 2000 và Điều 119, Điều 120 BLHS năm 1999 hiện hành thì đối tượng tác động của tội phạm là con người nói chung, không phân biệt giới tính, bao gồm cả người thành niên và trẻ em Tuy nhiên, khái niệm trẻ em có sự khác biệt về độ tuổi Cụ thể, trẻ em theo Luật hình sự Việt Nam được hiểu là người dưới 16 tuổi, căn cứ theo Điều 1, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Trong khi đó, theo điểm d Điều 3 Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 thì trẻ em là người dưới 18 tuổi Sự khác biệt về độ tuổi trẻ em giữa Luật hình sự Việt Nam với Luật quốc tế có ảnh hưởng nhất định đến vấn đề hợp tác giữa các quốc gia trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm này, cũng như việc xác định tội danh và thống kê hình sự

Từ những phân tích cho thấy khái niệm tội buôn bán người trong Luật quốc tế mà điển hình là Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người của LHQ hình sự hóa nhiều hành vi buôn bán người hơn quy định của Luật hình sự Việt Nam Theo quy định của BLHS Việt Nam về tội mua bán người và tội mua bán trẻ em thì chỉ cần có hành vi mua hoặc bán người, trẻ em là đã cấu thành tội phạm, còn thủ đoạn và mục đích thực hiện tội phạm không có ý nghĩa đối với việc định tội Trong khi đó, theo Nghị định thư thì ngoài hành vi còn phải có yếu tố “bằng thủ đoạn và mục đích bóc lột” mới cấu thành tội phạm buôn bán người Như vậy, việc áp dụng tội mua bán người và tội mua bán trẻ em theo Luật hình sự Việt Nam chỉ cần chứng minh có hành

vi mua bán mà không cần phải chứng minh thủ đoạn và mục đích phạm tội như Nghị định thư Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện luật hình sự Việt Nam chúng ta cũng cần thiết phải xem xét, tiếp thu những yếu tố hợp lý trong khái niệm tội buôn bán người của Nghị định thư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế để đấu tranh phòng chống có hiệu quả đối với loại tội phạm này, nhất là khi Việt Nam chuẩn

bị phê chuẩn Nghị định thư về phòng, chống tội phạm buôn bán người

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội buôn bán người

Cũng như ở các quốc gia khác trên thế giới, hiện tượng buôn bán người tại Việt Nam cũng đã xuất hiện từ lâu và gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong những thời kỳ khác nhau Trước khi Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời năm 1945, địa vị pháp lý của người dân không được bảo đảm, quyền con người không được tôn trọng, các quy định của pháp luật để ngăn chặn và trừng trị

Trang 22

hành vi buôn bán con người đặc biệt là mua bán phụ nữ, trẻ em chưa được quan tâm đúng mức Tuy nhiên, trước trào lưu chung của nhân loại tiến bộ về bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ, trẻ em, một số các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã dần dần mở rộng các quyền cơ bản của con người, ban hành những quy định pháp luật nhằm chống lại hiện tượng buôn bán người

Trong Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật), một văn bản pháp luật hình sự

cổ của Việt Nam được ban hành năm 1483 vào thời nhà Lê, có nhiều quy định ngăn cấm và trừng trị hành vi buôn bán người Theo quy định của Bộ luật Hồng Đức thì mua bán người mà trước hết là bán người thân là một trong mười đại tội (thập ác) được coi là nguy hiểm nhất lúc bấy giờ Bán người thân được quy định trong tội ác thứ

8 gọi là tội bất mục “Bất mục là giết hay đem bán người thân từ hàng ti ma trở lên Đánh và tố cáo chồng và những người trong họ từ tôn trưởng đại công trở lên, tôn thuộc tiểu công” (Điều 2, Chương Danh lệ) “Hàng ty ma” nghĩa là hàng phải “để tang

ba tháng, áo may bằng vải thường”17 Hình phạt áp dụng cho những người phạm vào các tội thập ác là rất nghiêm khắc18

như xuy hình (đánh bằng roi), trượng hình (đánh bằng trượng), đồ hình (bắt làm việc nặng nhọc), lưu hình (bắt đày đi nơi xa) và tử hình Thủ phạm không được chuộc tội, không được hưởng chế độ xem xét giảm hình phạt, tự thú cũng không được tha tội (Điều 4, 5, 15, 18) Bên cạnh đó, Bộ luật Hồng Đức còn quy định: “những kẻ đem người cầm bán nhiều tầng (nghĩa là bán cho người này rồi lại đem bán cho người khác) thì phải biếm một tư, đòi lại nguyên tiền mua và tiền công thuê trả lại cho chủ trước” và “những kẻ bắt người đem bán làm nô tì thì xử tội lưu đi châu xa… dụ dỗ người đem bán thì tội nhẹ đi một bậc…” (Điều 29 chương

Hộ hôn) Trước tình hình mua bán nô tỳ diễn ra phổ biến, năm 1499, vua Lê Hiến Tông cũng đã xuống chiếu: “Từ nay trở đi, xứ Quảng Nam không được cướp bắt người Man và mua bán nô tỳ tư Ai vi phạm thì cho phép Hữu ty trị tội”19

Đến thời nhà Nguyễn, năm 1813, Bộ luật Hoàng Việt luật lệ còn được gọi là Bộ luật Gia Long được ban hành20 Bộ luật Gia Long cũng quy định hành vi mua bán người trong tội “bất lục”- là một trong số mười tội ác nguy hiểm nhất của xã hội phong kiến (thập ác), với cùng hành vi khách quan và những quy định về hình phạt như quy định của Bộ luật Hồng Đức “Bất lục: là mưu giết, bán ti ma trở lên, đánh, tố cáo chồng và đại công trở lên, tôn trưởng, tiểu công Những điều ấy đều là phạm đến thân thuộc và bất hòa trong cửu tộc, không cùng hòa hợp được nên gọi là bất lục Ti ấu

17 Viện sử học Việt Nam (2003), Quốc triều hình luật, NXB TP.Hồ Chí Minh, tr.24 và tr.34

18

Viện sử học Việt Nam, tlđd 17, tr.13

19 Đại việt sử ký toàn thư (1993), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.3 và tr.20.

20 Hoàng Việt luật lệ (1994), NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, Tập 1 tr.11

Trang 23

phạm thượng thì nặng, tôn trưởng phạm hạ thì nhẹ”21 Đây là một trong các loại tội không được tha dù gặp dịp ân xá vì “thập ác và cùng loại tội ấy đều là kết quả của cố ý

mà phạm, vì cố tâm nên bị trừng phạt, tính chất tội phạm thật khả ố nên dù gặp dịp ân

xá vẫn không được tha”22 Đối với hình phạt tử hình chỉ có gồm treo cổ hoặc chém mà không có hình thức lăng trì như Bộ luật Hồng Đức

Như vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã ban hành các quy định pháp luật để trừng trị loại tội phạm này Đây được xem như là một sự tiến bộ trong lĩnh vực lập pháp hình sự lúc bấy giờ Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định cụ thể của những văn bản pháp luật phong kiến Việt Nam điển hình cho thấy rằng những chế tài trừng trị tội phạm mua bán người còn đơn giản, chưa mang tính chất công bằng, các nạn nhân bị mua bán mà không phải là trường hợp mua bán người thân từ hàng phải để tang 3 tháng trở lên thì không được nhà nước bảo đảm tự do về thân thể Như quy định

“những kẻ đem người cầm bán nhiều tầng (nghĩa là bán cho người này rồi lại đem bán cho người khác) thì phải biếm một tư, đòi lại nguyên tiền mua và tiền công thuê trả lại cho chủ trước” (Điều 29, Chương hộ hôn, Bộ luật Hồng Đức) Theo đó, người phạm tội chỉ bị phạt tiền, nạn nhân thì bị trả về cho chủ cũ Hình phạt đối với tội mua bán người mà không phải là bán người thân (thuộc tội “bất mục”) chỉ là “suy hình, trượng hình, đòi lại tiền, hủy bỏ văn khế”, việc trừng phạt dựa trên thân thế, địa vị: “…Ti ấu phạm thượng thì nặng, tôn trưởng phạm hạ thì nhẹ” (Bộ luật Gia Long) Trong Bộ luật Hồng Đức cũng quy định hình phạt rất nặng đối với tội mua bán người ra nước ngoài, Điều 25 quy định: “…những người bán nô tì và voi ngựa cho nước ngoài thì bị tội chém”

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

ra đời, những tàn dư hủ tục lạc hậu của xã hội phong kiến dần dần bị xóa bỏ, các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo đảm Điều 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định rằng “Quyền bính trong nước là của toàn dân, không phân biệt nòi giống, trai, gái, giàu, nghèo” Kế thừa và phát triển những quy định trong Hiến pháp năm 1946 về bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, các bản Hiến pháp sau đó như Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 đều quy định công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để trừng trị nghiêm khắc mọi hành vi xâm hại đến tính mạng, danh dự, nhân phẩm của công dân trong đó có hành vi buôn bán người

21 Hoàng Việt luật lệ, tlđd 20, Tập 2 tr.107

22 Hoàng Việt luật lệ, tlđd 21, tr.128-129

Trang 24

Từ những năm 1960, loại tội phạm bắt trộm (lúc bấy giờ gọi là bắt cắp) trẻ em và mua bán trẻ em diễn ra khá phổ biến trong xã hội Theo đánh giá của Tòa án NDTC trong Báo cáo tổng kết công tác năm và chuyên đề xét xử năm 1964 về “tội bắt cắp trẻ em”, thì “tội phạm này là một loại tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm vào những tình cảm sâu sắc nhất của con người, vào thân phận của con trẻ và là nỗi lo âu cho các người làm cha, làm mẹ nhất là trong lúc bận đi làm ăn, họp hành bỏ con ở nhà không người trông nom” Nhưng trong thực tế xét xử, Tòa án các cấp lại xử khá nhẹ, mức án tuyên thường là dưới 5 năm tù, không tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành

vi Trước tình hình đó, để bảo vệ trẻ em và bảo vệ trật tự trị an xã hội, Bản báo cáo của Tòa án NDTC đã chỉ rõ đây là một loại tội phạm nghiêm trọng và đã đưa ra mức hình phạt khá nghiêm khắc đối với tội này là từ 3 năm đến 15 năm tù đồng thời hướng dẫn

“…Đối với loại tội này phải xử nghiêm khắc và tránh nhìn vào số tiền bán đứa trẻ không lớn thì coi như là một vụ án trộm cắp, lừa đảo tài sản, vật chất nhỏ thì xử phạt nhẹ”23 Văn bản này còn quy định hình phạt nghiêm khắc đối với cả người mua trẻ em trong trường hợp biết rõ là mua trẻ em bị bắt cắp và mức hình phạt có thể lên đến 5 năm tù Tuy nhiên, ngoài Báo cáo tổng kết công tác và chuyên đề xét xử của Tòa án NDTC năm 1964 có hướng dẫn về tội bắt trộm trẻ em và mua trẻ em Trong giai đoạn này chưa có một văn bản nào hướng dẫn về tội mua bán phụ nữ, cũng như không quy định rõ loại hành vi mua bán trẻ em nào sẽ bị coi là tội phạm

Năm 1985, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, tội mua bán phụ nữ và trẻ em được đưa vào luật và được coi là những tội phạm nguy hiểm cần phải tăng cường phòng chống Trong BLHS năm 1985, hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em được quy định thành hai tội độc lập, nằm ở hai chương khác nhau Tội mua bán phụ nữ được quy định tại Điều 115 thuộc chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm con người Còn tội mua bán trẻ em được quy định tại Điều 149 thuộc Chương các tội xâm phạm chế độ hôn nhân, gia đình và các tội xâm phạm đối với người chưa thành niên Mức hình phạt cao nhất trong hai tội này là phạt tù đến 20 năm Tuy nhiên, mức thấp nhất của khung hình phạt đối với hai tội này là khác nhau, đối với tội mua bán phụ nữ thì mức thấp nhất là 2 năm tù, còn đối với tội mua bán trẻ

em thì mức thấp nhất là 1 năm tù Về hình phạt bổ sung, người phạm tội mua bán phụ

nữ có thể bị quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 đến 5 năm; đối với người phạm tội mua bán trẻ em thì không bị phạt cấm cư trú mà chỉ có thể chịu hình phạt bổ sung là quản chế

từ 1 năm đến 5 năm nếu tái phạm nguy hiểm Có thể khẳng định việc đặt hai tội danh trên vào hai chương khác nhau trong BLHS năm 1985 là không hợp lý vì mặc dù hai tội này có đối tượng tác động khác nhau về độ tuổi nhưng cả hai tội này đều có cùng

23 Tòa án NDTC (1964), Báo cáo tổng kết công tác và chuyên đề xét xử.

Trang 25

hành vi khách quan và khách thể bị xâm hại đều là quyền được tôn trọng và bảo vệ về danh dự, nhân phẩm của con người

Đến BLHS năm 1999, hai tội trên được quy định trong cùng một chương về các tội xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người (chương XII) Việc điều chỉnh đó là hợp lý vì cả hai tội đều có hành vi khách quan giống nhau

và khách thể bị xâm hại đều là quyền được tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người Về hình phạt và các tình tiết định khung hình phạt, BLHS năm 1999 đã giữ nguyên khung hình phạt của tội mua bán phụ nữ như quy định tại BLHS năm

1985 Khung 1 là khung cơ bản, quy định mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm Khung

2 là khung hình phạt tăng nặng, quy định mức phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm Đồng thời, bổ sung thêm 3 tình tiết tăng nặng là mua bán phụ nữ với mục đích mại dâm, có tính chất chuyên nghiệp và mua bán nhiều lần Tuy nhiên, Điều 119 lại bỏ đi tính tiết tái phạm nguy hiểm

Đối với tội mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) vẫn bao gồm hai khung hình phạt, nhưng tăng nặng mức hình phạt ở cả hai khung, trong đó khung 1 là phạt tù từ 3 năm đến 10 năm và khung 2 là phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân Đồng thời, bổ sung thêm các tình tiết tăng nặng khác là mua bán trẻ em vì động cơ đê hèn, để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo, để sử dụng vào mục đích mại dâm, có tính chất chuyên nghiệp, gây hậu quả nghiêm trọng

Về hình phạt bổ sung, BLHS năm 1999 quy định thêm hình phạt tiền từ 5 triệu đồng 50 triệu đồng Đối với tội mua bán trẻ em còn quy định hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm hoặc phạt quản chế từ 1 năm đến 5 năm

Bộ luật hình sự năm 1999 đã góp phần quan trọng vào quá trình phòng chống tội phạm trong đó có tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em Tuy nhiên, để tăng cường hiệu quả công tác phòng chống tội phạm buôn bán người ở nước ta trong giai đoạn mới và tạo thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 được Quốc Hội khóa 12, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 19/6/2009 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2010, theo đó tội mua bán phụ nữ đã được thay thế bằng tội mua bán người (Điều 119) Luật này cũng bổ sung một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội mua bán người và tội mua bán trẻ em là tình tiết “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” (điểm d, khoản 2 Điều 119 và điểm đ, khoản 2 Điều 120) Hình phạt chính và các hình phạt bổ sung của hai tội này được giữ nguyên

1.3 Tội buôn bán người trong pháp luật một số quốc gia

Trang 26

Buôn bán người là một loại tội phạm diễn ra tại nhiều quốc gia Đấu tranh phòng chống tội phạm này đã và đang là một trong những mục tiêu ưu tiên của hệ thống tư pháp tại nhiều quốc gia Trong phạm vi luận văn này, tác giả trình bày các quy định cơ bản về tội buôn bán người trong pháp luật của một số quốc gia trong khu vực, qua đó nhằm giúp chúng ta có thể tham khảo kinh nghiệm để hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về phòng chống tội phạm buôn bán người

- Trong pháp luật của Campuchia, đạo luật liên quan trực tiếp nhất đến các tội phạm về buôn bán người là “Luật trấn áp tội phạm bắt cóc, buôn bán và bóc lột con người”24 Luật này được Quốc Hội Vương quốc Campuchia ban hành ngày 16/1/1996, bao gồm 10 điều Điều 3 của luật này quy định:

Bất cứ ai, lôi kéo nam hay nữ, trẻ vị thành niên hoặc người thành niên hoặc công dân của bất cứ quốc gia nào bằng dụ dỗ, hứa hẹn cho tiền hoặc đồ trang sức, hoặc bằng bất kỳ phương tiện khác, có hoặc không có

sự đồng ý của người tham gia, đe dọa hoặc cưỡng chế hoặc sử dụng thuốc gây ngủ, gây mất ý thức hoặc trí nhớ để bắt cóc người khác nhằm buôn bán hay tham gia vào mại dâm phải bị trừng phạt bằng cách phạt tù từ 10 đến

15 năm Nếu nạn nhân dưới 15 tuổi, hình phạt sẽ là từ 15 đến 20 năm tù Các đồng phạm, người bán, người mua hoặc người nhận có các hình phạt tương tự như thủ phạm Bất kỳ người nào cung cấp tiền, phương tiện cho việc thực hiện tội phạm cũng bị coi là đồng phạm Các phương tiện vận tải, vật liệu và tài sản được sử dụng trong quá trình phạm tội thì bị tịch thu cho Chính phủ

Có thể nói, quan niệm về tội buôn bán người tại luật này có nhiều điểm tương đồng với định nghĩa về tội buôn bán người trong Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 như liệt kê các thủ đoạn phạm tội, mục đích của việc phạm tội, khẳng định ý chí của nạn nhân không ảnh hưởng đến việc định tội Tuy nhiên sự liệt kê về thủ đoạn và mục đích phạm tội buôn bán người trong Luật trấn áp tội phạm bắt cóc, buôn bán và bóc lột người khác của Campuchia không đầy đủ như Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 Hình phạt đối với tội buôn bán người trong luật này khá nghiêm khắc và có sự phân hóa nhất định, nhất

là phạm tội buôn bán trẻ em hoặc sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm Đến tháng 1 năm 2008, Quốc Hội Vương quốc Campuchia đã sửa đổi luật này thành Luật về chống buôn bán người và bóc lột tình dục người khác Luật mới này có 52 điều, quy định nhiều nội dung cụ thể hơn Luật năm 1996, theo hướng phù hợp hơn so với quy định

24 Theo http://www.humantrafficking.org/countries/cambodia

Trang 27

của Luật quốc tế Theo Luật năm 2008, tội phạm buôn bán người có thể bị kết án 20 năm tù và bị phạt đến tương đương 2.500 đô la Mỹ

- Trong pháp luật của Thái Lan, BLHS của Thái Lan sửa đổi năm 1997 quy định các hành vi được xem là phạm tội mua bán phụ nữ gồm: mua bán phụ nữ để làm các việc không đúng đắn (kể cả trường hợp có sự đồng ý của người đó); mua bán phụ nữ bằng cách đe dọa, dùng vũ lực, xúi giục bằng những thủ đoạn đồi bại hoặc bất cứ cách nào khác chống lại ý muốn của người phụ nữ đó Hình phạt đối với các hành vi này cao nhất là chung thân và 40.000 bạt đối với hình phạt tiền.25

- Trong pháp luật của Trung Quốc, BLHS nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa năm 1997 là văn bản pháp lý quan trọng nhất về tội phạm buôn bán người Các tội phạm về buôn bán người được quy định tại Chương V- Các tội xâm phạm quyền con người và quyền dân chủ của công dân Trong đó, Điều 240 quy định về tội buôn bán phụ nữ, trẻ em như sau:

Người nào buôn bán phụ nữ, trẻ em thì bị phạt tù từ 5 năm đến 10 năm

và bị phạt tiền Phạm tội thuộc một trong những tình tiết dưới đây thì bị phạt tù từ 10 năm trở lên hoặc tù chung thân và bị phạt tiền hoặc tịch thu tài sản; nếu có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng thì bị xử tử hình và tịch thu tài sản:

1 Người cầm đầu tổ chức buôn bán phụ nữ, trẻ em;

2 Buôn bán phụ nữ, trẻ em từ 3 người trở lên;

3 Hiếp dâm người phụ nữ bị đem bán;

4 Lừa gạt, cưỡng bức phụ nữ bị đem bán phải bán dâm hoặc bán những người phụ nữ đó cho người khác để cưỡng bức họ phải bán dâm;

5 Dùng bạo lực, ép buộc hoặc dùng thuốc mê để bắt cóc phụ nữ, trẻ em đem đi bán;

6 Bắt trộm trẻ sơ sinh để đem bán;

7 Gây ra cho phụ nữ, trẻ em bị đem bán hoặc những người thân trong gia đình họ bị chết hoặc những hậu quả nghiêm trọng khác;

8 Đưa phụ nữ, trẻ em đem bán ra nước ngoài

Điều 241 quy định về tội mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán như sau:

25 Nguyễn Trung Tín (1998), “Pháp luật quốc tế về chống mại dâm và buôn bán phụ nữ”, Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, (07), tr.42

Trang 28

Người nào mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán thì bị xử phạt tù đến 3 năm, cải tạo lao động hoặc bị quản chế

Người nào mua phụ nữ bị đem bán và cưỡng bức họ giao cấu với mình, thì bị xử phạt theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này

Người nào mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán rồi tước đoạt, hạn chế phi pháp tự do thân thể hoặc gây thương tích cho họ hoặc hành hung họ, thì bị

xử phạt theo quy định tại những điều có liên quan của Bộ luật này

Người nào mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán rồi lại phạm các tội nói tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt thì bị xử phạt theo Điều 240 của

Bộ luật này

Đối với những người mua phụ nữ, trẻ em bị lừa bán nhưng không ngăn cản họ trở về nơi cư trú cũ theo nguyện vọng của họ, không có hành vi lạm dụng trẻ em bị bán, không ngăn cản các nỗ lực giải thoát cho họ thì có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Như vậy, trong Luật hình sự của Trung Quốc tội buôn bán phụ nữ và trẻ em được quy định tại hai tội danh riêng đó là tội buôn bán phụ nữ, trẻ em (Điều 240) và tội mua phụ nữ, trẻ em bị đem bán (Điều 241) Trong đó, Điều 240 quy định hành vi phạm tội là hành vi buôn bán phụ nữ, trẻ em bằng nhiều thủ đoạn khác nhau như lừa gạt, bắt cóc, mua, bán, trung chuyển phụ nữ, trẻ em Điều 241, quy định hành vi phạm tội là hành vi mua phụ nữ, trẻ em chủ thể của tội này là người có hành vi mua phụ nữ, trẻ em Đối tượng bị mua bán chỉ có thể là phụ nữ và trẻ em mà không bao gồm nam giới thành niên Hai tội này đều được quy định các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt tương đối cụ thể

Về hình phạt, đối với tội buôn bán phụ nữ, trẻ em và tội mua bán phụ nữ, trẻ em

bị đem bán là khá nghiêm khắc Bên cạnh hình phạt tù còn quy định các hình phạt khác như phạt tiền, tịch thu tài sản, quản chế, cải tạo lao động, trong đó mức hình phạt cao nhất là tử hình

Để bảo đảm thi hành và nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, Điều 242 Bộ luật hình sự Trung Quốc quy định:

Người nào dùng bạo lực hoặc uy hiếp ngăn cản nhân viên thi hành công vụ nhà nước giải thoát cho phụ nữ, trẻ em bị đem bán, thì bị xử phạt theo Điều 277 của Bộ luật này

Người cầm đầu đám đông trong việc ngăn cản nhân viên thi hành công

vụ nhà nước giải thoát cho trẻ em, phụ nữ bị bán, thì bị phạt tù đến 5 năm

Trang 29

hoặc cải tạo lao động; nếu những người tham gia khác sử dụng bạo lực hoặc

uy hiếp, thì bị xử phạt theo quy định trên26

- Trong pháp luật Đài Loan, các đạo luật liên quan đến tội phạm buôn bán người

có thể kể đến là BLHS sửa đổi năm 2003 và Luật ngăn ngừa việc buôn bán, mại dâm trẻ em và người chưa thành niên 199527

Luật ngăn ngừa việc buôn bán, mại dâm trẻ em và người chưa thành niên năm

1995 trao cho cơ quan có thẩm quyền truy tố bất cứ người nào ép buộc một người dưới

18 tuổi tham gia mại dâm, bán hay trao đổi trẻ em bằng bất cứ phương thức nào Bên cạnh đó, BLHS quy định hành vi bắt người khác làm nô lệ hay tước đoạt tự

do của người khác giống như nô lệ sẽ bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm (Điều 296) Hành

vi buôn bán người, dùng người để gán nợ sẽ bị phạt tù tối thiểu là 5 năm Nếu hành vi

đó được thực hiện kèm theo việc bắt buộc người khác biểu diễn hành vi khiêu dâm thì

bị phạt tù tối thiểu là 7 năm; bằng cách hiếp dâm, đe dọa, kiểm soát, cho dùng ma túy, thôi miên hay bất kỳ cách nào khác trái với ý muốn của con người thì hình phạt sẽ tăng thêm một nữa

- Trong pháp luật Philippin, năm 2003, Quốc Hội nước Cộng hòa Philippin nhiệm kỳ 12, tại kỳ họp thường kỳ thứ 2 đã thông qua Đạo luật thiết lập chính sách để loại bỏ tội phạm buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và trẻ em, hình thành cơ chế cần thiết cho sự hỗ trợ và bảo vệ những người bị buôn bán, quy định hình phạt cho người phạm tội và vì những mục đích khác.28

Luật này còn được biết đến với tên gọi khác là “Luật chống tội phạm buôn bán người năm 2003” Đây là một đạo luật quy định đầy đủ và toàn diện các vấn đề quan trọng của hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người Trong đạo luật này, khái niệm tội buôn bán người được mô

tả một cách cụ thể và rõ ràng Theo Điều 3, buôn bán người được định nghĩa như sau:

a) Buôn bán người được xem là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận người, có hay không có sự đồng ý của nạn nhân, ở trong nước hay qua biên giới quốc gia, bằng cách đe dọa hay dùng vũ lực hay các hình thức cưỡng ép khác, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lợi dụng quyền hạn hay địa vị, lợi dụng vị thế dễ bị tổn thương của người khác, hoặc đưa hay nhận các khoản tiền hay lợi ích vật chất khác để đạt được sự đồng ý của

Trang 30

một người có kiểm soát đối với một người khác nhằm mục đích bóc lột, bao gồm ở mức tối thiểu, bóc lột hay mại dâm người khác hoặc những hình thức bóc lột tình dục khác, lao động hay phục vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc lấy đi hay bán các bộ phận cơ thể

b) Việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận một đứa trẻ với mục đích bóc lột cũng được coi là là buôn bán người ngay cả khi

nó không liên quan đến bất kỳ phương tiện được quy định trong đoạn trước c) Trẻ em được đề cập đến là người dưới mười tám tuổi hoặc người hơn mười tám tuổi nhưng không thể chăm sóc đầy đủ hoặc bảo vệ bản thân khỏi sự lạm dụng, bỏ bê, đối xử tàn ác, bóc lột, hoặc phân biệt đối xử vì một khuyết tật về thể chất hoặc tâm thần hoặc điều kiện

Định nghĩa này hoàn toàn giống với định nghĩa buôn bán người theo Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000

Bên cạnh đó, Điều 3 Luật này còn giải thích đầy đủ các thuật ngữ khác có liên quan như: mại dâm, nô lệ và lao động cưỡng bức, bóc lột tình dục, du lịch tình dục, nô

lệ do nợ nần, văn hóa phẩm khiêu dâm Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng vì nó giúp hoạt động áp dụng pháp luật được thống nhất trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán người

Hình phạt được quy định riêng tại Điều 10, bao gồm nhiều mức hình phạt khác nhau dành cho các hành vi khác nhau được mô tả ở các Điều 4,5,6, các mức hình phạt này là nghiêm khắc Cụ thể, người nào thực hiện một trong các hành vi buôn bán người được mô tả ở Điều 4 sẽ bị phạt tù 20 năm, phạt tiền từ 1 đến 2 triệu pêsô Nếu thực hiện các hành vi nói tại Điều 4 mà rơi vào các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 6 thì bị phạt tù chung thân, phạt tiền từ 2 đến 5 triệu pêsô Ngoài ra người nào thực hiện hành vi thúc đẩy cho việc buôn bán người được quy định tại Điều

5 sẽ bị phạt tù 15 năm và bị phạt tiền từ 500 ngàn đến 1 triệu pêso Bên cạnh đó, Điều

10 còn quy định nếu hành vi phạm phạm tội được thực hiện thông qua một tập đoàn, công ty hợp danh, hiệp hội, câu lạc bộ, pháp nhân, hình phạt sẽ được áp dụng đối với các chủ sở hữu, chủ tịch, đối tác, nhà quản lý hoặc viên chức nào có trách nhiệm quản

lý nhưng cố ý cho phép hoặc không ngăn chặn việc thực hiện tội phạm của nó Trong trường hợp này tổ chức đó sẽ bị thu hồi giấy phép hoạt động, chủ sở hữu, chủ tịch, đối tác hoặc người quản lý của chúng sẽ không được phép hoạt động trong một tổ chức tương tự mặc dù có tên khác nhau Nếu người phạm tội buôn bán người là người nước ngoài thì họ phải bị trục xuất ngay lập tức sau khi chấp hành hình phạt của mình và sẽ

bị cấm vĩnh viễn nhập cảnh vào Philippin Nếu người phạm tội là các quan chức chính

Trang 31

phủ hoặc nhân viên liên quan đến chức năng nhiệm vụ, khi kết án, sẽ bị cấm vĩnh viễn việc giữ chức vụ công, khi nghỉ hưu một số lợi ích sẽ không được hưởng Đạo luật này còn quy định nhiều nội dung khác như việc bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán, thẩm quyền của các cơ quan tố tụng trong quá trình xử lý vụ án buôn bán người

Trang 32

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA TỘI PHẠM VỀ BUÔN BÁN NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ ĐỊNH TỘI DANH

2.1 Đặc điểm pháp lý của tội phạm về buôn bán người trong Luật hình sự Việt Nam

Trong BLHS hiện hành của Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam không quy định tội danh “tội buôn bán người” như Nghị định thư của LHQ về phòng chống buôn bán người năm 2000 hay như Luật hình sự của một số quốc gia khác mà chỉ quy định hai tội danh về tội phạm buôn bán người là tội mua bán người (Điều 119) và tội mua bán trẻ em (Điều 120) Vì vậy để làm rõ nội dung các quy định của Luật hình sự Việt Nam

về tội phạm buôn bán người, sau đây chúng tôi phân tích những đặc điểm pháp lý của tội mua bán người và tội mua bán trẻ em

2.2.1 Tội mua bán người

- Mặt khách thể của tội mua bán người

Khách thể của tội phạm được hiểu là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và

bị tội phạm xâm hại29 Khách thể trực tiếp của tội mua bán người là quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của con người Nhân phẩm và danh dự là những khái niệm mang tính chất trừu tượng Nhân phẩm được hiểu là “phẩm chất và giá trị con người”30 Danh dự được hiểu là “sự coi trọng của dư luận xã hội, dựa trên giá trị tinh thần, đạo đức tốt đẹp”31 Điều 71 Hiến pháp năm 1992 quy định “Công dân

có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân” Điều 8 BLHS năm 1999 quy định tội phạm

là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm vào nhiều khách thể trong nhiều lĩnh vực khác nhau của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa trong

đó có danh dự, nhân phẩm của con người Mua bán người là hành vi coi con người như một thứ hàng hóa để trao đổi lấy tiền, phương tiện thanh toán hoặc các lợi ích khác Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của con người, nói cách khác, vì hành vi mua bán người mà phẩm chất, giá trị và sự coi trọng của dư luận xã hội, dựa trên giá trị tinh thần, đạo đức tốt đẹp của cá nhân

Trang 33

người bị mua bán bị biến đổi về tính chất, vì thế người thực hiện hành vi mua bán người khác phải chịu trách nhiệm hình sự

Khách thể của tội phạm với đối tượng tác động của tội phạm có mối quan hệ mật thiết với nhau Vì đối tượng tác động của tội phạm là một bộ phận của khách thể của tội phạm, bị hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của Luật hình sự32 Tội mua bán người được quy định tại Điều 119 BLHS năm 1999 không giải thích cụ thể về khái niệm

“người” với nghĩa là đối tượng tác động của tội phạm này Tuy nhiên, đặt tội này trong mối liên hệ với tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120) và căn cứ vào Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 200433 thì có thể xác định đối tượng tác động của tội mua bán người là con người, đang sống, không phân biệt giới tính và có độ tuổi từ đủ 16 tuổi trở lên Đối với hành vi mua con người dưới 16 tuổi thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trẻ em theo Điều 120 BLHS năm 1999 Việc xác định đúng độ tuổi của đối tượng tác động trong trường hợp này có ý nghĩa làm căn cứ xác đúng định tội danh và hình phạt đối với

người phạm tội

- Mặt khách quan của tội mua bán người

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, là những biểu hiện của tội phạm diễn ra và tồn tại bên ngoài thế giới khách quan Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm bao gồm: Hành vi khách quan của tội phạm; hậu quả nguy hiểm cho xã hội; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện tội phạm như: thời gian, địa điểm, phương tiện, công cụ phạm tội, v.v… Trong các dấu hiệu của mặt khách quan thì hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm Các dấu hiệu còn lại không bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm là những xử sự của con người được thể hiện ra bên ngoài dưới những hình thức nhất định, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ.34

Hành vi khách quan của tội phạm mua bán người là hành vi mua hoặc bán người Điều 119 không định nghĩa thế nào là hành vi mua, bán người Tuy nhiên, qua nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật, có thể hiểu mua bán người là hành vi dùng tiền, các phương tiện thanh toán hoặc lợi ích khác để trao đổi con người như một thứ hàng hóa từ một người này hay một

Trang 34

nhóm người này sang một người hay một nhóm người khác Trên thực tế, việc mua bán người được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, thông thường được thực hiện một cách lén lút, với các hình thức thanh toán đa dạng Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện hành vi mua, bán trên thực tế tức là đã có hành

vi dùng tiền, các phương tiện thanh toán hoặc lợi ích khác để trao đổi lấy con người như một thứ hàng hóa Nếu người phạm tội đã thực hiện hành vi nhằm mua, nhằm bán nhưng việc mua bán chưa xảy ra thì được coi là phạm tội chưa đạt

Việc làm rõ hành vi mua bán đã diễn ra trên thực tế hay chưa là một vấn đề hết sức khó khăn vì việc giao, nhận người thường không được thực hiện công khai mà bằng các thủ đoạn tinh vi, thậm chí bản thân người bị hại có khi không nhận biết được mình bị mua bán Tuy nhiên, việc người bị hại biết hoặc không biết việc mua bán hay thậm chí tự nguyện để người khác mua bán mình, không có ý nghĩa trong định tội Trên thực tế, để thực hiện hành vi mua bán người, người phạm tội có thể dùng nhiều thủ đoạn khác nhau như dụ dỗ, hứa hẹn, lừa gạt, bắt cóc, chiếm đoạt, nhưng đây chỉ là những thủ đoạn nhằm thực hiện hành vi khách quan của tội phạm là hành vi mua hoặc bán

Hậu quả của tội phạm mua bán người là tự do, danh dự, nhân phẩm của con người bị xâm phạm Tội phạm mua bán người còn ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình, tương lai của nạn nhân, gây hoang mang trong dư luận, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, chính sách đối nội, đối ngoại của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.…Nhưng hậu quả của tội phạm không có ý nghĩa trong việc định tội, không được coi là dấu hiệu bắt buộc cấu thành nên tội mua bán người

- Chủ thể của tội mua bán người

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt

độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại các Điều 12, Điều 13 BLHS năm

1999 Riêng người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vi mua bán người chỉ có thể bị truy cứu về tội mua bán người theo khoản 2 Điều 119 vì đây là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng

- Mặt chủ quan của tội mua bán người

Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, bao gồm lỗi, động cơ

và mục đích phạm tội Trong các dấu hiệu của mặt chủ quan, lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm, các dấu hiệu còn lại như mục đích và động cơ phạm tội không bắt buộc phải có trong mọi cấu thành tội phạm

Trang 35

Tội phạm mua bán người được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp vì người phạm tội

ý thức được việc mua, bán người là xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác nhưng vẫn thực hiện nhằm thu lợi bất chính Trong trường hợp này, người phạm tội có ý thức coi người khác như một thứ hàng hóa để thực hiện hành vi mua bán nhằm

thu lợi bất chính cho mình Tuy nhiên, ngay cả việc người bị hại có thỏa thuận hay

đồng ý để trở thành đối tượng bị mua bán thì người thực hiện hành vi mua bán cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người Nếu một người không nhận thức được hành vi của mình là hành vi mua bán người thì đó không là hành vi phạm tội Điển hình như trường hợp sau đây: Chị K đã ly hôn với chồng muốn sang Trung Quốc

để lấy chồng vì chị nghe nói phụ nữ Việt Nam sang bên đó lấy chồng sẽ sống sung sướng Chị K nhờ chị L là người thường xuyên đi buôn bán ở Quảng Ninh xem có cách nào giúp chị, chị L đồng ý và dẫn chị K ra Quảng Ninh Tại đây, chị L giới thiệu với Trần Văn Q về hoàn cảnh của chị K, Trần Văn Q đã đưa chị K đến nhà Hoàng Công T (T vốn là đối tượng thường xuyên đưa phụ nữ sang Trung Quốc bán), T đã trả cho Q 500.000 đồng, Q đem về cho chị L 100.000 đồng và dặn lần sau có ai muốn sang Trung Quốc lấy chồng thì cứ đưa ra đây Mặc dù chị L được Q cho tiền nhưng chị L không biết việc làm của mình là hành vi giúp sức cho kẻ khác mua bán phụ nữ, nên hành vi của chị L không phải là hành vi phạm tội35

Động cơ và mục đích chủ yếu của tội mua bán người là vì vụ lợi, song đó không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này Việc người phạm tội có thu lợi hay không, thực hiện tội phạm vì mục đích, động cơ gì, điều đó không có ý nghĩa về

mặt định tội mà chỉ có ý nghĩa về việc áp dụng hình phạt (lượng hình) Một số dấu

hiệu về động cơ và mục đích phạm tội được luật quy định là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt đối với tội mua bán người, ví dụ mua bán người vì mục đích mại dâm,

để đưa ra nước ngoài, để lấy các bộ phận cơ thể của nạn nhân

- Hình phạt đối với tội mua bán người

Hình phạt đối với tội mua bán người được chia thành hai khung, áp dụng đối với hành vi phạm tội trong các trường hợp cụ thể

+ Khung 1 (khoản 1 Điều 119) quy định: “Người nào mua bán người thì bị phạt

tù từ hai năm đến bảy năm” Đây là hình phạt đối với trường hợp mua bán một phụ nữ

mà không thuộc trường hợp phạm tội có các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2

Điều 119 BLHS năm 1999 Phạm tội theo khoản 1 Điều 119 BLHS năm 1999 được coi là tội phạm rất nghiêm trọng

35 Đinh Văn Quế (2005), Bình luận khoa học BLHS phần các tội phạm, các tội xâm phạm tính mạng, sức

khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, NXB TP.Hồ Chí Minh, Tập I tr.259

Trang 36

+ Khung 2 (khoản 2 Điều 119) quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường

hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm”:

a) Vì mục đích mại dâm

Mua bán người vì mục đích dâm là trường hợp sử dụng người (thường là phụ nữ)

bị mua, bị bán vào hoạt động mại dâm Người phạm tội trong trường hợp này còn bị truy cứu thêm tội môi giới mại dâm hoặc tội chứa mại dâm, nhưng cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người vì mục đích mại dâm nếu người phạm tội chỉ biết người mà mình mua, mình bán sẽ được sử dụng vào mục đích mại dâm Đây là tình tiết thuộc ý thức chủ quan của người phạm tội, do đó các cơ quan tiến hành

tố tụng cần phải có căn cứ xác định người phạm tội biết người mà họ mua bán là để sử dụng vào mục đích mại dâm, nếu không có căn cứ xác định người phạm tội biết việc mua bán người vì mục đích mại dâm thì không thuộc trường hợp phạm tội này Mại dâm là một tệ nạn xã hội mà phần lớn các quốc gia đều lên án và tìm cách bài trừ, việc mua bán người vào mục đích này làm tăng tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, vì trong trường hợp này, người bị hại bên cạnh bị xâm hại

về danh dự, nhân phẩm thì việc họ bị sử dụng vào hoạt động mại dâm còn xâm hại một cách nghiêm trọng đến sức khỏe, làm tăng nguy cơ bị mắc HIV/AIDS và các bệnh xã hội nguy hiểm khác đối với họ Vì thế, BLHS quy định mua bán người vì mục đích mại dâm là một trong các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với người phạm

Mua bán người có tổ chức là trường hợp phạm tội nguy hiểm hơn trường hợp không có tổ chức, vì phạm tội có tổ chức do có sự phân công, câu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm nên việc thực hiện tội phạm sẽ nhanh chóng, hành vi phạm tội sẽ được che giấu tinh vi nhằm đối phó với các cơ quan chức năng và sự phản kháng của các nạn nhân Do tính nguy hiểm cao hơn trường hợp phạm tội bình thường,

Trang 37

nên trách nhiệm hình sự của hành vi phạm tội mua bán người có tổ chức như việc tham gia mua bán người trong các băng nhóm, đường dây buôn bán người cần được trừng trị nghiêm khắc

Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và phạm tội nhiều lần đều giống nhau ở điểm, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần (từ hai lần trở đi), nhưng khác nhau ở chỗ: phạm tội nhiều lần, người phạm tội không lấy việc phạm tội làm phương tiện kiếm sống và họ chỉ phạm một tội, nhưng tội phạm đó được thực hiện nhiều lần Còn phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, người phạm tội có thể chỉ phạm một tội với nhiều lần khác nhau, nhưng lại lấy việc phạm tội đó là phương tiện kiếm sống Thực tiễn xét xử cho thấy, việc áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” không thống nhất, có Tòa án chỉ căn cứ vào số lần phạm tội được lặp đi lặp lại nhiều lần đã coi là “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp”, mà không chú ý đến dấu hiệu “người phạm tội phải lấy việc phạm tội làm phương tiện kiếm sống” Để thống nhất việc áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” và phân biệt với tình tiết “phạm tội nhiều lần”, Hội đồng thẩm phán Tòa án NDTC đã hướng dẫn chỉ coi là

“phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” trong trường hợp bị cáo cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích, đồng thời đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính Trường hợp bị cáo cố ý phạm nhiều tội, nếu cộng tất cả những lần phạm

36 Đinh Văn Quế (2005), tlđd 35, tr.264

Trang 38

tội của mỗi tội thì hơn năm lần nhưng mỗi tội chưa đến năm lần thì bị cáo chưa bị coi

là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp37

Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là tình tiết thuộc đặc điểm cá nhân của từng người phạm tội, có thể có ở người phạm tội này mà không có ở người phạm tội khác Trong vụ án có đồng phạm hoặc phạm tội có tổ chức, có thể chỉ có một hoặc một số người thuộc trường hợp có tính chất chuyên nghiệp, chứ không phải tất cả những người đồng phạm đều phải chịu chung tình tiết có tính chất chuyên nghiệp với người phạm tội có tình tiết này Đây là một trong những yêu cầu xuất phát từ nguyên tắc cá

thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt

d) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân

Mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân (điểm d khoản 2 Điều 119)

là một tình tiết định khung tăng nặng hình phạt mới được bổ sung theo Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của BLHS năm 1999, do đó không áp dụng điểm d khoản 2 Điều

119 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi mua bán người để

lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân đã thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01/01/2010 mà sau 0 giờ 00 ngày 01/01/2010 mới bị phát hiện xử lý38 Ở tình tiết này, khái niệm “bộ phận

cơ thể của nạn nhân” chưa được các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS giải thích Tuy nhiên, có thể tham khảo khoản 2 Điều 3 của Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được Quốc Hội thông qua ngày 29/11/2006, có hiệu lực từ 1/7/2007: “Bộ phận cơ thể người là một phần của cơ thể được hình thành từ nhiều loại

mô khác nhau để thực hiện các chức năng sinh lý nhất định” Mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân được hiểu là hành vi mua hoặc bán người nhằm mục đích lấy các bộ phận cơ thể của nạn nhân để thay thế các bộ phận cơ thể này cho chính mình, cho người khác hoặc bán nhằm thu lợi bất chính … Đây cũng là hành vi vi phạm Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác nói trên Điều 11 Chương I luật này quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm, gồm: Mua, bán mô, bộ phận cơ thể người; mua, bán xác Lấy, ghép, sử dụng, lưu giữ mô, bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại Quảng cáo, môi giới việc hiến, nhận bộ phận cơ thể người vì mục đích thương mại Tuy nhiên, trên thực tế, người ta có thể bỏ ra vài ba chục triệu đồng

để mua một người khỏe mạnh qua đường dây buôn bán người trái phép Khi mua xong, các cá nhân, tổ chức đó sẽ tiến hành bán lại hoặc trực tiếp chiếm đoạt bộ phận

cơ thể của con người này để đem bán trên thị trường…Không quá khó để tìm kiếm

Trang 39

trên mạng những địa chỉ sẵn sàng cung ứng loại “hàng hóa” đặc biệt này, như gan, mật, mắt, thận, chân, tay, xương với số lượng không nhỏ thậm chí cả tim người cũng được rao bán nhưng với giá khá cao, ít nhất cũng từ vài chục nghìn đến hàng trăm nghìn USD39 Rõ ràng, mua bán người để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là tình tiết làm tăng thêm tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, bởi lẽ hành vi này gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân Vì vậy, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 bổ sung tình tiết này thành

một trong các tình tiết định khung tăng nặng hình phạt đối với người phạm tội

đ) Để đưa ra nước ngoài

Thực tiễn phòng chống tội phạm mua bán người trong nhiều năm qua cho thấy hầu hết các vụ mua bán người là để đưa ra nước ngoài Đặc biệt là mua bán người qua biên giới Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Campuchia Phạm tội mua bán người để đưa ra nước ngoài là một tình tiết thuộc về ý thức chủ quan của người phạm tội, vì vậy chỉ cần chứng minh được người phạm tội có ý định đưa người bị mua bán ra nước ngoài là thuộc trường hợp phạm tội này rồi, chứ không bắt buộc phải có hành vi đưa người bị mua bán ra nước ngoài trót lọt

Đây là một tình tiết phạm tội làm tăng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành

vi mua bán người vì mua bán người để đưa ra nước ngoài không những xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người bị mua bán mà còn làm cho nạn nhân khó có cơ hội để quay về nơi thường trú của mình, khó nhận được sự bảo vệ đầy đủ của pháp luật quốc gia mà mình là công dân, làm phát sinh các quan hệ quốc tế phức tạp trong vấn đề tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm, quốc tịch và gây khó khăn, cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành bản án hình sự cũng như xác định, truy tìm nạn nhân Hiện nay, tình trạng mua bán người để đưa ra nước ngoài gia tăng một cách nhanh chóng và thường được tổ chức thành các đường dây, dư luận xã hội đòi hỏi phải nghiêm trị thích

đáng những hành vi phạm tội này

e) Đối với nhiều người

Mua bán nhiều người được hiểu là có từ 2 người trở lên bị mua bán trao đổi trong cùng một lần Trong những người bị mua bán có thể có người bị bán ra nước ngoài, có người không bị bán ra nước ngoài hoặc tất cả bị bán ra nước ngoài Nếu có

39 Xem “Bệnh viện tội ác: Tiềm ẩn một nguy cơ!”, nguồn:

http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=280&ChannelID=92

Trang 40

người bị bán ra nước ngoài thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự cả hai

tình tiết định khung tăng nặng là vừa mua bán nhiều người (điểm e khoản 2 Điều 119)

vừa để đưa ra nước ngoài (điểm đ, khoản 2 Điều 119)

Việc người phạm tội mua bán nhiều người trong cùng một lần thể hiện tính liều lĩnh, coi thường pháp luật, coi thường danh dự, nhân phẩm con người một cách cao độ

Vì thế, đây được quy định là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội

Tuy nhiên, cần phân biệt rằng, mua bán nhiều người là trường hợp trong cùng một lần người phạm tội mua bán nhiều người, còn nếu người phạm tội mua bán nhiều người nhưng mỗi lần chỉ mua bán một người thì không thuộc trường hợp phạm tội này

mà thuộc trường hợp “phạm tội nhiều lần” (điểm g khoản 2 Điều 119)

g) Phạm tội nhiều lần

Phạm tội nhiều lần là trường hợp người phạm tội nhiều lần thực hiện hành vi mua bán người (từ hai lần trở lên) và mỗi lần mua bán đã cấu thành tội mua bán người, nhưng tất cả các lần phạm tội đó đều được tổng hợp lại và bị truy cứu trách nhiệm hình

sự cùng một lúc

Đối với trường hợp phạm tội nhiều lần, có thể mỗi lần chỉ mua bán một người, nhưng cũng có thể trong các lần mua bán đó có lần mua bán nhiều người Nếu có lần mua bán nhiều người thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm e

và điểm g khoản 2 Điều 119 BLHS năm 1999 với hai tình tiết định khung là “mua bán nhiều người” và “phạm tội nhiều lần” Trường hợp người phạm tội đã mua bán nhiều lần đối với một người thì cũng bị coi là phạm tội nhiều lần

Về hình phạt bổ sung, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm theo quy định tại khoản 3 Điều 119 BLHS năm 1999

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các quy định của BLHS năm 1999, đặc biệt là các điều khoản tại Chương VII về “Quyết định hình phạt” Ở đây cần lưu ý phân biệt giữa tình tiết là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình

sự Khoản 2 Điều 48 BLHS năm 1999 quy định “Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng” Như vậy, các tình tiết được quy định tại khoản 2 Điều 119 sẽ không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà đây là các tình tiết định khung hình phạt

Ngày đăng: 21/02/2022, 21:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w