1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định tội danh tội tham ô tài sản theo luật hình sự việt nam (2)

98 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Định Tội Danh Tội Tham Ô Tài Sản Theo Luật Hình Sự Việt Nam
Tác giả Tôn Trung Tuấn
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Quang Vinh
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát cũng cho thấy hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về đối tượng tác động của tội phạm đối với trường hợp tài sản trong doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước; còn có sự nhầm lẫn gi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TÔN TRUNG TUẤN

ĐỊNH TỘI DANH TỘI THAM Ô TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

TÔN TRUNG TUẤN

ĐỊNH TỘI DANH TỘI THAM Ô TÀI SẢN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự

Mã số CN: 60380104

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ QUANG VINH

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TÔN TRUNG TUẤN

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN 5

1.1 L uậ u về ị t 5

1 1 1 h i ni m v đ nh t i danh và ngh a của vi c đ nh t i danh 5

1 1 2 Chủ thể đ nh t i danh 13

1 1 3 Cấu thành t i phạm là cơ sở ph p l của đ nh t i danh 16

1.2 Quy ị ủ B uật Hì sự ăm 1999 về t t m ô tà sả – ơ sở p áp ị t 18

1 2 1 h i ni m và c c dấu hi u ph p l của t i tham ô tài sản 18

1 2 2 Hình phạt đối với t i tham ô tài sản 26

1.3 P t t t m ô tà sả v m t số t khác 28

1 3 1 Phân bi t t i tham ô tài sản với t i sử dụng tr i phép tài sản 28

1 3 2 Phân bi t t i tham ô tài sản với t i lạm dụng t n nhi m chiếm đoạt tài sản 29

1 3 3 Phân bi t t i tham ô tài sản với t i lạm dụng chức vụ, quy n hạn chiếm đoạt tài sản 30

1 3 4 Phân bi t t i tham ô tài sản với t i cố làm tr i quy đ nh của Nhà nước v quản l kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng 31

CHƯƠNG 2 THỰC TI N ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT 33

2.1 T ự t ị t ố v t t m ô tà sả 33

2 1 1 X c đ nh kh ch thể trực tiếp và đối tượng t c đ ng của t i tham ô tài sản trong thực tiễn đ nh t i danh 33

2 1 2 X c đ nh mặt kh ch quan của t i tham ô tài sản trong thực tiễn đ nh t i danh 39

2 1 3 X c đ nh chủ thể t i tham ô tài sản trong thực tiễn đ nh t i danh 49

2 1 4 X c đ nh mặt chủ quan t i tham ô tài sản trong thực tiễn đ nh t i danh 53

Trang 5

ết luận Tiểu mục 2 1 58

2.2 Vấ ề oà t p áp uật và ả p áp o u quả oạt

ị t ố v à v t m ô tà sả 59

2 2 1 Hoàn thi n ph p luật hình sự v t i tham ô tài sản 59

2 2 2 Giải ph p kh c nâng cao hi u quả hoạt đ ng đ nh t i danh đối với hành

vi tham ô tài sản 61

KẾT LUẬN 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 L o ọ ề tà

Tội phạm tham nhũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng về chính trị, kinh

tế và xã hội; gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển mọi mặt của nền kinh tế - xã hội Tham nhũng tạo ra những rào cản, cản trở việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm ảnh hưởng đến uy tín của quốc gia trên trường quốc tế Bên cạnh đó, tham nhũng gây ra những thiệt hại to lớn về mặt kinh tế cho Nhà nước

và xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến môi trường kinh doanh, làm giảm đáng kể năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Tham nhũng còn làm ảnh hưởng đến các giá trị, chuẩn mực đạo đức và pháp luật, làm xuống cấp đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên Trong nhóm tội phạm tham nhũng, tội tham ô tài sản là một trong những tội phạm xảy ra nhiều với mức độ nguy hiểm cho xã hội rất cao do hậu quả gây ra nghiêm trọng với số tiền chiếm đoạt thường rất lớn Trong một số cơ quan, tổ chức

đã hình thành các đường dây tham ô hàng tỷ, thậm chí hàng ngàn tỷ đồng của Nhà nước, với tính chất tập thể, câu kết chặt chẽ có xu hướng tăng Có thể điểm qua một

số vụ án gây nhiều bức xúc trong dư luận như vụ án Vũ Quốc Hảo và đồng phạm tham ô 130 tỉ đồng xảy ra tại Công ty cho thuê tài chính II thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, vụ án Dương Chí Dũng gây thiệt hại cho Vinalines gần 367 tỷ đồng, trong đó cùng với đồng phạm tham ô 28 tỷ đồng, vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng phạm gây thiệt hại 1.695 tỷ đồng tại ngân hàng ACB, vụ án Huỳnh Thị Huyền Như cùng đồng phạm chiếm đoạt của chín công ty, ba ngân hàng

và ba cá nhân khoảng 4.000 tỷ đồng …

Trước tình hình tội phạm tham ô tài sản diễn ra phức tạp, xảy ra ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước, công tác phòng ngừa và nghiêm trị tội tham ô tài sản là một trong những nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, thể hiện quyết tâm rất cao của Đảng và Nhà nước qua nhiều chủ trương, đường lối và chính sách pháp luật Tuy nhiên trong thực tiễn

áp dụng pháp luật đang tồn tại một số vướng mắc khó khăn trong việc định tội đối với tội tham ô tài sản do bất cập của pháp luật cũng như do đang còn có những nhận thức khác nhau về một số dấu hiệu trong cấu thành cơ bản, đặc biệt là ở dấu hiệu chủ thể và khách thể của tội tham ô tài sản Có thể thấy điều này qua vụ án gây thiệt hại đặc biệt lớn, được dư luận quan tâm hiện nay là vụ án Huỳnh Thị Huyền Như

Trang 7

Qua hai cấp xét xử đã xảy ra quan điểm khác nhau về việc định tội danh là lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay tham ô tài sản đối với số tiền chiếm đoạt 1.085 tỷ đồng của năm công ty (Bảo hiểm Toàn Cầu, Hưng Yên, SBBS, Chứng khoán Phương Đông, Phúc Vinh) Đối với những người trực tiếp tiến hành tố tụng thì việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản cũng không phải dễ dàng Tại đợt khảo sát điều tra xã hội học lấy ý kiến chuyên gia là các Thẩm phán xét xử hình sự của 12 tỉnh phía Nam được thực hiện tại Đợt tập huấn hình sự từ ngày 15/4/2013 đến ngày 18/4/2013 tại Vũng Tàu, các Thẩm phán đánh giá việc định tội danh đối với tội tham ô tài sản một cách chính xác rất khó là 05/50 Thẩm phán được hỏi, chiếm tỉ lệ 10%; là khó là 22/50, chiếm tỉ lệ 44%; trong khi đó số Thẩm phán đánh giá là bình thường là 21/50, chiếm tỉ lệ 42%, không khó chỉ 2/50, chiếm tỉ lệ 4%1 Khảo sát cũng cho thấy hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất về đối tượng tác động của tội phạm đối với trường hợp tài sản trong doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước; còn có sự nhầm lẫn giữa khách thể trực tiếp và đối tượng tác động; nhiều dấu hiệu pháp lý của tội phạm tham ô tài sản chưa rõ ràng dẫn đến lúng túng cho cơ quan tiến hành tố tụng khi tiến hành định tội, việc phân định đâu là tội tham ô tài sản, đâu là các tội phạm khác trong một số trường hợp cũng có nhiều quan điểm khác nhau Điều này có thể dẫn đến sự tuỳ tiện, không có căn cứ pháp lý và không bảo đảm nguyên tắc pháp chế trong áp dụng pháp luật, trong khi cơ quan chịu trách nhiệm hướng dấn áp dụng thống nhất pháp luật là Tòa án nhân dân tối cao vẫn chưa có hướng dẫn một cách có

hệ thống Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về mức độ khó khi định tội tham ô tài sản nhưng có đến 43/50 Thẩm phán được hỏi, chiếm tỉ lệ 86%2, cho rằng cần có hướng dẫn chi tiết để việc định tội danh tham ô tài sản được thực hiện thống nhất, tránh nhầm lẫn giữa tội tham ô tài sản với tội danh khác

Do đó, vấn đề hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả trong thực tiễn định tội danh đối với tội tham ô tài sản là vấn đề cấp bách hiện nay

Từ những phân tích nêu trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Định tội danh tội tham ô tài sản theo Luật Hình sự Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

Trang 8

2 Tì ì ê ứu ề tà

Qua nghiên cứu tìm hiểu, thì hiện nay đã có một số sách, giáo trình viết về lý

luận chung định tội danh như: Võ Khánh Vinh (2003), Gi o trình l luận chung v

đ nh t i danh, Nxb Công an nhân dân; Võ Khánh Vinh (2013), L luận chung v

đ nh t i danh, Nxb Khoa học xã hội; Nguyễn Ngọc Hòa (2005), T i phạm và cấu thành t i phạm, Nxb Công an nhân dân; Đoàn Tấn Minh (chủ biên 2010), Phương

ph p đ nh t i danh và hướng dẫn đ nh t i danh đối với 342 t i danh trong B luật Hình sự, Nxb Tư Pháp; Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2011), Đ nh t i danh: L luận, hướng dẫn mẫu và 500 bài tập, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội… Các công

trình nghiên cứu này đã trình bày những vấn đề lý luận chung về định tội danh, phương pháp định tội danh, đây là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu vấn đề định tội danh đối với tội tham ô tài sản

Các công trình nghiên cứu trực tiếp về vấn đề định tội danh đối với tội tham

ô tài sản đến nay có Luận văn Thạc sĩ Luật học của Trần Quang Sơn (2007), T i tham ô tài sản trong B luật Hình sự Vi t Nam - Những vấn đ l luận và thực tiễn, Đại học Luật Hà nội; Luận văn Thạc sĩ Luật học của Tạ Thu Thủy (2009), T i tham

ô tài sản trong luật hình sự Vi t Nam - M t số vấn đ l luận và thực tiễn, Khoa

Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Nội dung bài viết khái quát sự hình thành và phát triển của luật hình sự về tội tham ô tài sản, thực tiễn vận dụng pháp luật trong điều tra, truy tố xét xử, một số kiến nghị, bổ sung quy phạm pháp luật về tội tham ô và kiến nghị nâng cao hiệu quả về quản lý tài sản

Một số các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học như: Ngô Minh Hưng (2007) “Đồng phạm trong tội tham ô tài sản, cũng phải là người có chức vụ, quyền

hạn”, Tạp ch Tòa n nhân dân (Số 9 tháng 5/2007), Ban Biên tập Tạp chí Tòa án

nhân dân (2008), “Đồng phạm trong tội tham ô tài sản không nhất thiết phải là

người có chức vụ, quyền hạn” Tạp ch Toà n nhân dân (Số 7/2008), Trương Thị

Hằng (2006) “Bàn về chủ thể của tội tham ô tài sản trong Bộ luật Hình sự năm

1999”, Tạp ch iểm s t (Số /2006), Trương Bá Hùng (2006) “Bàn về việc định tội tham ô tài sản trong giai đoạn hiện nay ”, Tạp ch iểm s t (Số 22/2006), Trần

Quang Sơn (2009) “Cần có nhận thức đúng đắn, đầy đủ về khách thể của tội tham ô

tài sản” Tạp ch kiểm s t (Số 5/2009), Đinh Văn Quế (2009), “Một số vấn đề về tội tham ô tài sản và những vướng mắc trong giai đoạn hiện nay”, Tạp ch Tòa n nhân dân kỳ I, II, tháng 6-2009 (Số 11,12) Đinh Khắc Tiến (2006) “Việc xác định tội tham ô tài sản trong cơ chế thị trường” Tạp ch iểm s t (Số 6/2006) Trần Duy

Trang 9

Thanh (2008) “Xác định cấu thành tội phạm tham ô tài sản trong doanh nghiệp ở

Việt Nam hiện nay”, Tạp ch Công an Nhân dân (Số tháng 7/2008), … Các bài báo

này đã phân tích và bình luận về một số dấu hiệu pháp lý của tội phạm, nêu một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh đối với một số trường hợp cụ thể

Một số công trình tuy đã nghiên cứu về tội tham ô tài sản nhưng đã xa về thời gian, một số các bài viết, nghiên cứu khoa học nêu trên chỉ bàn về một số khía cạnh trong vấn đề định tội danh đối với tội phạm này Do vậy cần có những công trình khoa học tiếp tục nghiên cứu đầy đủ và cập nhật tình hình hiện nay về vấn đề định tội danh đối với tội tham ô tài sản

3 Mụ í , ố tƣợ ê ứu, ạ p ạm v ê ứu

Mục đ ch nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận định tội danh và ứng

dụng lý luận đó vào việc phân tích thực tiễn định tội đối với tội tham ô tài sản theo dấu hiệu chủ thể và khách thể tội phạm, mục đích nghiên cứu đề tài là đưa ra đề xuất về vấn đề hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động định tội đối với tội phạm tham ô tài sản

Đối tượng nghiên cứu: Là quy định của Bộ luật Hình sự về tội tham ô tài sản

và thực tiễn định tội danh đối với hành vi tham ô tài sản

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về định tội danh đối với tội tham

ô tài sản dưới góc độ pháp lý hình sự Thực tiễn định tội danh được nghiên cứu trong phạm vi thời gian từ năm 2008 đến 2014

4 Cá p ƣơ p áp ê ứu

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đề tài Tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến như thống kê, phân tích, tổng hợp,

so sánh, phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia Việc sử dụng các phương pháp nêu trên để nghiên cứu các vấn đề của đề tài để bảo đảm tính khách quan của kết quả nghiên cứu

5 Ý ĩ k o ọ và á trị ứ ụ ủ ề tà

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về định tội danh đối với một tội phạm cụ thể - tội tham ô tài sản và nâng cao hiệu quả công tác định tội danh trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần định hướng hoàn thiện pháp luật quy định về tội tham ô tài sản

Trang 10

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA ĐỊNH TỘI DANH

ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN

1.1 L uậ u về ị t

1.1.1 h i ni m v đ nh t i danh và ngh a của vi c đ nh t i danh

Trong khoa học luật hình sự và thực tiễn, việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự được xem là một quá trình đa dạng và phức tạp, được tiến hành qua nhiều giai đoạn khác nhau như: giải thích pháp luật hình sự, xác định hiệu lực pháp luật về không gian và thời gian, định tội danh, quyết định hình phạt, xem xét trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt, quyết định cho hưởng án treo, xoá án tích, … Trong đó, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự, là tiền đề,

cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật khác của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Ví dụ: định tội danh là cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp luật

về xác định thẩm quyền và thời hạn điều tra, truy tố, xét xử, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, là cơ sở cho việc quyết định áp dụng loại hình phạt nào, có được miễn hình phạt hay được hưởng án treo không, …

Bộ luật Hình sự thể hiện ý chí của Nhà nước đánh giá về mặt pháp lý đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội, quy định những hành vi đó là tội phạm Nhà làm luật đã tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xã hội, quy định những dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất, phổ biến nhất, thường lặp đi lặp lại nhiều nhất của những hành vi nguy hiểm cho xã hội đó và quy định chúng trong Bộ luật Hình sự với tính chất là dấu hiệu bắt buộc của các cấu thành tội phạm cụ thể Định tội danh

là việc “so s nh, đối chiếu, kiểm tra để x c đ nh xem c c dấu hi u của hành vi nguy hiểm cho xã h i đã được thực hi n trong thực tế có phù hợp với c c dấu hi u tương ứng của m t cấu thành t i phạm cụ thể nào đó được quy đ nh trong phần c c t i phạm của B luật Hình sự không” 3

Như vậy, có thể định nghĩa về định tội danh như sau: “Đ nh t i danh là vi c

x c đ nh và ghi nhận v mặt ph p l sự phù hợp ch nh x c giữa c c dấu hi u của hành vi t i phạm cụ thể đã được thực hi n với c c dấu hi u của cấu thành t i phạm

đã được quy đ nh trong quy phạm ph p luật hình sự” 4

3 Lê Cảm (1999), “Định tội danh một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Toà án nhân dân (Số 4/1999), tr.17

4 Võ Khánh Vinh (2013), Lí luận chung v đ nh t i danh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 9,10

Trang 11

Trong lý luận cũng như trong thực tiễn, khái niệm định tội danh được hiểu ở hai khía cạnh: định tội danh là một hoạt động tư duy lôgic, là quá trình nhận thức và định tội danh là một hoạt động áp dụng pháp luật

Đ nh t i danh là m t hoạt đ ng tư duy lôgic, là quá trình nhận thức từ những

điều đã biết để xác định những vấn đề chưa biết dựa trên cơ sở sử dụng các phương pháp nhận thức và các quy luật lôgic Trong quá trình định tội danh, cán bộ điều tra, truy tố, xét xử cần phải làm rõ sự thật khách quan, làm rõ các dấu hiệu đặc trưng, cơ bản của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, sau đó phân tích, đối chiếu, so sánh các dấu hiệu của hành vi xảy ra trong thực tế có trùng khớp với quy phạm pháp luật nào được quy định trong Bộ luật Hình sự không Như vậy, xác định một hành vi là tội phạm là quá trình đi từ cái chung đến cái riêng Trong quá trình

đó cần phải lưu ý đến những nguyên tắc của luật hình sự về những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội Sự hiện diện của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình định tội danh, tức là bề ngoài hành

vi có dấu hiệu trùng khớp với dấu hiệu của một tội phạm nào đó, nhưng hành vi đó không trái pháp luật hình sự thì tất nhiên không bị coi là tội phạm, ví dụ: một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thoả mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm

cụ thể nhưng chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm đó không có năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi đó không phải là tội phạm Định tội danh chính xác tức

là xác định đúng sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự Định tội danh là một hoạt động nhận thức phức tạp nên khi định tội danh, những người tiến hành tố tụng cần phải tiến hành dựa trên những phương pháp nhận thức khoa học (phương pháp quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh) và dựa trên các quy luật lôgic nhất định (luật đồng nhất, luật mâu thuẫn, luật bài trung, luật lý do đầy đủ …) để làm cơ sở cho hoạt động nhận thức của mình

Đ nh t i danh là hoạt đ ng p dụng ph p luật, bởi vì thực chất định tội danh

là xác định sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội cụ thể đang được xem xét với cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự, tức là việc lựa chọn quy phạm pháp luật hình sự để áp dụng đối với hành vi phạm tội đang được xem xét và kết luận hành vi phạm tội đang được xem xét đó được quy định ở điều khoản nào trong Bộ luật Hình sự Do đó trong quá trình định tội danh điều quan trọng là phải tìm được những dấu hiệu cơ bản, điển hình nhất, phải chỉ ra những dấu

Trang 12

hiệu cần và đủ để xác định bản chất của hành vi được thực hiện trong thực tế Đồng thời, khi so sánh đối chiếu các dấu hiệu đó với các dấu hiệu được quy định trong một cấu thành tội phạm luật hình sự phải khẳng định là trùng khớp hoàn toàn, kết luận rằng nhà làm luật khi ban hành quy phạm pháp luật đó là để áp dụng cho trường hợp phạm tội đang được xem xét

Việc áp dụng quy phạm pháp luật hình sự là một quá trình phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành một cách tuần tự qua các bước khác nhau, từ cái chung đến cái riêng Tội phạm là một hành vi vi phạm pháp luật nói chung Do đó, khi định tội danh, những người có thẩm quyền phải xác định hành vi xảy ra trong thực tế có vi phạm pháp luật không, vi phạm pháp luật dân sự, pháp luật hành chính hay hình sự, xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội có đáng kể không, nếu vi phạm pháp luật về hình sự thì hành vi đó phạm tội gì, được quy định ở điều khoản nào trong Bộ luật Hình sự Trong quá trình định tội danh, cán bộ điều tra, truy tố, xét xử cần phải lưu

ý đến khả năng loại trừ tính chất phạm tội của hành vi, như trường hợp phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, sự kiện bất ngờ hay người thực hiện hành vi không có năng lực trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự là cơ sở pháp lý duy nhất và trực tiếp cho việc định tội danh Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự bao gồm hệ thống các nhóm quy phạm pháp luật được sắp xếp thành hai phần, phần chung và phần các tội phạm, hai phần này có mối liên quan chặt chẽ, thống nhất và lôgic với nhau Nếu các quy phạm pháp luật hình sự tại phần các tội phạm (quy định trách nhiệm hình sự đối với tội phạm tương ứng) giúp cho chúng ta xác định được sự giống nhau của các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể được thực hiện, thì các quy phạm pháp luật hình sự tại phần chung (quy định về lỗi, tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các giai đoạn của tội phạm, phạm tội có tổ chức, tái phạm nguy hiểm…) giúp cho chúng ta nhận biết được một cách nhanh chóng và chính xác các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể (thuộc cấu thành tội phạm cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ) của tội phạm tương ứng đó Do đó, khi định tội danh thì người định tội danh phải đồng thời dựa vào cả hai nhóm quy phạm pháp luật hình sự này

Định tội danh được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, các hoạt động định tội danh phải tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự

từ việc xác định sự thật khách quan cho đến giới hạn của việc điều tra, truy tố hoặc xét xử

Trang 13

Như vậy, “đ nh t i danh là m t qu trình năng đ ng và phức tạp, được tiến hành qua tất cả c c giai đoạn tố tụng hình sự; ở mỗi giai đoạn, đ nh t i danh mang

t nh chất và những đặc điểm kh c nhau” 5

Để đảm bảo việc định tội danh đúng, chúng ta cần tiến hành qua các bước theo trình tự nhất định, quá trình đó bao gồm các bước như sau:

- Xác định khách quan các tình tiết thực tế của vụ án

- Nhận thức đúng các cấu thành tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự

có thể được áp dụng

- Xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu thực tế và các dấu hiệu được quy định trong luật

Bước 1: X c đ nh kh ch quan c c tình tiết thực tế của vụ n

Trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án sẽ tiến hành thu thập và làm rõ tất cả các tình tiết liên quan đến vụ án một cách khách quan Các chứng cứ chỉ có giá trị về mặt pháp lý nếu nó được thu thập bởi các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền bằng việc áp dụng các biện pháp được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự Ngược lại, những chứng cứ thu thập bằng các biện pháp khác không được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự

sẽ không có giá trị chứng minh

Xác định sự thật khách quan là tiến hành điều tra, truy tố, xét xử một cách vô

tư, không định kiến, không suy diễn mà phải dựa vào các chứng cứ đã được thu thập và đánh giá chúng theo quy định pháp luật Để định tội danh đúng thì cần phải tìm kiếm, xác định được chân lý sự thật khách quan, tức là phải xác định một cách đầy đủ và chính xác các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội Các tình tiết này thông thường có giá trị chứng minh về khách thể và mặt khách quan của tội phạm

Quá trình chứng minh về vụ án hình sự là hoạt động tư duy của cán bộ điều tra, truy tố và xét xử đối với các chứng cứ đã phát hiện, thu thập, đồng thời tiến hành kiểm tra đánh giá chúng Việc nghiên cứu thường được tiến hành bằng cả phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch, tức là từ những sự kiện riêng lẻ đến những kết luận chung nhất, từ những luận điểm khái quát đến những kết luận cụ thể đối với các tình tiết cụ thể, các dấu hiệu của hành vi phạm tội Từ đó đi đến kết luận về điều cần phải chứng minh

3 Võ Khánh Vinh (2003), Giáo trình lí luận chung v đ nh t i danh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr 12

Trang 14

Để xác định sự thật của vụ án một cách toàn diện, đầy đủ thì phải xem xét hành vi phạm tội trên các mặt của các yếu tố cấu thành tội phạm trong một tổng thể, không tách rời nhau Cần phải thu thập, kiểm tra và đánh giá tất cả các chứng cứ thu thập được bao gồm chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, chứng cứ trực tiếp, chứng

cứ gián tiếp… trên tinh thần trách nhiệm, trung thực, khách quan và khoa học

Bước 2: Nhận thức đúng c c cấu thành t i phạm quy đ nh trong B luật Hình sự có thể được p dụng

Bộ luật Hình sự của nước ta thể hiện ý chí của nhân dân ta đối với vấn đề đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, là công cụ sắc bén của Nhà nước để bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Khi xây dựng Bộ luật Hình sự, nhà làm luật đã đánh giá một cách toàn diện tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời cân nhắc hiệu quả có thể đạt được trong việc đấu tranh đối với các hành

vi đó và quy định các loại chế tài tương ứng có thể áp dụng cho các hành vi này Vì vậy việc nhận thức đúng nội dung của Bộ luật Hình sự quy định về từng loại tội, về từng tội phạm cụ thể có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc định tội danh

Bộ luật Hình sự quy định và liệt kê tất cả những hành vi nguy hiểm cho xã hội thường xảy ra trong thực tế mà bị coi là tội phạm Tuy nhiên, đây chỉ là sự quy định những dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất, phổ biến nhất, thường lặp đi lặp lại nhiều nhất của những hành vi ấy để điển hình và quy định chúng trong Bộ luật Hình

sự với tính chất là các dấu hiệu bắt buộc của các cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng Trong khi hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra trong thực tế muôn hình muôn

vẻ, không hoàn toàn giống nhau, có nhiều dấu hiệu không được phản ánh hết trong các cấu thành tội phạm tương ứng của Bộ luật Hình sự hoặc có những dấu hiệu cùng được phản ánh trong nhiều cấu thành tội phạm khác nhau Do đó, để định tội danh đúng thì người tiến hành tố tụng phải lựa chọn đúng quy phạm pháp luật, đối chiếu, so sánh chính xác, đầy đủ các dấu hiệu của các cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự với các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội thực

tế xảy ra

Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, sau khi xác định đầy đủ các tình tiết của

vụ án, người tiến hành tố tụng phải xác định có tội phạm hay không, nếu là tội phạm thì là tội gì, được quy định ở điều khoản nào của Bộ luật Hình sự Người định tội danh sau khi làm rõ các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội thực tế được thực hiện thì dự kiến những cấu thành tội phạm có thể là căn cứ pháp lý áp dụng đối

Trang 15

với hành vi cụ thể đó và qua kiểm tra, đối chiếu, so sánh thì người định tội danh sẽ chọn ra một cấu thành tội phạm trùng khớp nhất với các dấu hiệu của hành vi thực

tế xảy ra để làm căn cứ pháp lý áp dụng

Trong quá trình định tội danh, người định tội danh cần phải nắm vững các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm cụ thể để áp dụng chính xác, đồng thời phải hiểu rõ và áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về phần chung, đặc biệt lưu ý các trường hợp dễ dẫn đến nhầm lẫn, thiếu sót trong khi định tội danh, như là trường hợp như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm hoặc các cặp cấu thành có quan hệ đặc biệt như cặp cấu thành tội phạm có quan hệ thu hút (ví dụ: tội buôn lậu tại Điều 153 Bộ luật Hình sự và tội mua bán trái phép chất ma tuý qua biên giới tại điểm đ khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự), cặp cấu thành tội phạm

có quan hệ chung riêng (ví dụ: Tội giết người tại Điều 93 Bộ luật Hình sự và tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tại Điều 95 Bộ luật Hình sự), cặp cấu thành tội phạm có quan hệ chính phụ (ví dụ: tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định tại khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình

sự và tại khoản 4 Điều 202 Bộ luật Hình sự)… Do đó, khi áp dụng pháp luật ngoài việc trích dẫn điểm, khoản, Điều luật quy định tại phần tội phạm của Bộ luật Hình

sự thì đồng thời phải trích dẫn đầy đủ các quy định liên quan của phần chung Bộ luật Hình sự mới có thể đánh giá đúng mức độ nguy hiểm, bản chất của hành vi phạm tội

Bước 3: X c đ nh sự phù hợp giữa c c dấu hi u thực tế và c c dấu hi u được quy đ nh trong luật

Xuất phát từ bản chất của việc định tội danh là việc tìm kiếm sự đồng nhất,

sự phù hợp của các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu tương ứng của tội phạm đó được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự, thì chúng ta thấy rằng cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của việc định tội danh Quy phạm pháp luật hình sự quy định về tội phạm và các tình tiết thực tế của vụ án là hai nhóm hiện tượng được hợp nhất, thống nhất lại trong quá trình định tội danh Nhận thức đúng đắn, đầy đủ và chính xác mối liên hệ giữa hành

vi được thực hiện và cấu thành tội phạm thì chúng ta có thể kết luận rằng trong khi định tội danh đã xác định được chân lý khách quan, còn nếu như không thì định tội danh là sai lầm

Sau khi thu thập, đánh giá các chứng cứ, làm rõ các tình tiết thực tế của vụ

án, làm rõ các dấu hiệu đặc trưng của hành vi nguy hiểm cho xã hội thực tế đã xảy

Trang 16

ra, cán bộ điều tra, truy tố, xét xử tiến hành kiểm tra, xác định các dấu hiệu của hành vi đó thuộc loại tội phạm nào và được quy định ở chương nào của Bộ luật Hình sự Giai đoạn tiếp theo của việc định tội danh là làm sáng tỏ, so sánh, đối chiếu, tìm kiếm sự đồng nhất giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội thực tế với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, chỉ rõ cấu thành tội phạm cụ thể nào sẽ được áp dụng: cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng hoặc cấu thành tội phạm giảm nhẹ trong một điều luật nào đó đã được lựa chọn Ví dụ, khi xác định được hành vi phạm tội xâm phạm sở hữu thuộc chương XIV Bộ luật Hình sự, thì cần phải xác định hành vi đó là cướp, cướp giật, cưỡng đoạt tài sản hay trộm cắp tài sản … giả sử là tội cướp tài sản thì phải xác định thuộc trường hợp ở khoản 1, 2, 3 hay 4 của Điều 133 Bộ luật Hình sự

Quá trình định tội danh phải trải qua ba giai đoạn như trên Cả ba giai đoạn

đó có thể được thực hiện độc lập, cũng có thể được thực hiện một cách đồng thời với nhau, không phân chia được trong hoạt động nhận thức của người định tội danh Hai giai đoạn đầu tiên là tiền đề cần thiết cho giai đoạn thứ ba, giai đoạn quyết định việc định tội danh đúng hay sai Thực hiện tốt ba giai đoạn nêu trên đảm bảo cho việc định tội danh đúng

Khi định tội danh chúng ta phải xem xét, đánh giá tất cả các tình tiết liên quan đến khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của hành vi thực hiện trong thực tế và so sánh các dấu hiệu đó với các dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm tương ứng trong Bộ luật Hình sự Trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, quá trình định tội danh được tiến hành theo các yếu tố của cấu thành tội phạm và theo một trình tự nhất định từ khách thể đến mặt khách quan, sau đó đến mặt chủ quan và cuối cùng là chủ thể

Thực hiện định tội danh theo các dấu hiệu của cấu thành tội phạm là phương pháp khoa học của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự Sử dụng phương pháp này cho phép tiến hành việc so sánh, đối chiếu hành vi nguy hiểm cho xã hội

đã thực hiện với quy phạm pháp luật hình sự tương ứng đó không phải theo các dấu hiệu ngẫu nhiên mà theo các dấu hiệu đặc trưng cơ bản nhất đã được điển hình hoá trong pháp luật hình sự trên những cơ sở khoa học nhất định

Như vậy, định tội danh là một quá trình nhận thức lôgic, một dạng hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm xác định sự thật khách quan trên cơ sở xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực

Trang 17

hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng được quy định trong pháp luật hình sự bằng những phương pháp khoa học và tiến hành thông qua những giai đoạn nhất định

- Ý ngh a của vi c đ nh t i danh

Nhà nước ta đang trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, việc chấp hành nghiêm chỉnh, đúng đắn pháp luật là một trong những yếu tố góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền thành công Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nên việc định tội danh đúng có ý nghĩa rất lớn

về pháp lý và về chính trị, xã hội

Pháp luật hình sự của nước ta thể hiện ý chí về mặt nhà nước của nhân dân

ta đối với vấn đề đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, là công cụ sắc bén của Nhà nước để bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Khi xây dựng Bộ luật Hình sự, Nhà nước cũng đã đánh giá một cách toàn diện tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đồng thời cân nhắc hiệu quả có thể đạt được trong việc đấu tranh đối với các hành vi đó và quy định các loại chế tài tương ứng có thể áp dụng

Vì vậy, việc tuân thủ nghiêm chỉnh quy định của Bộ luật Hình sự trong việc định tội danh để xác định đúng tội, đúng điều khoản áp dụng và hình phạt đối với tội phạm là điều kiện cần thiết và quan trọng của việc thực hiện chính sách của Nhà nước về đấu tranh và phòng chống tội phạm, bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân Định tội danh đúng là một biểu hiện của việc thực hiện đúng biện pháp chính trị, thực thi đúng đường lối chính trị và đúng ý chí của nhân dân đã được thể hiện trong luật, bảo vệ có hiệu quả các lợi ích của xã hội, của Nhà nước và công dân

Định tội danh đúng bảo đảm pháp chế, bảo đảm công bằng xã hội Định tội danh sai không chỉ làm cho việc quyết định hình phạt không đúng, không công bằng

mà còn là sự áp dụng pháp luật không có căn cứ, làm oan người vô tội, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việc định tội danh đúng

sẽ loại trừ việc kết án vô căn cứ những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng không vi phạm pháp luật hình sự, dẫn đến tình trạng oan sai Đồng thời, định tội danh đúng sẽ làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt đúng, áp dụng hình phạt một cách công bằng đối với những người phạm tội Đối với người bị kết án trên cơ

sở nhận thức tính công bằng của việc định tội danh, các biện pháp chế tài đối với mình, họ sẽ hình thành ý thức chấp hành các biện pháp chế tài đó

Trang 18

Định tội danh đúng có nghĩa là tuân thủ các quan điểm chỉ đạo trong pháp luật hình sự về chính trị, xã hội và pháp lý về tội phạm, tuân thủ chính xác các quy định của pháp luật hình sự, áp dụng Điều, khoản và điểm của Bộ luật Hình sự một cách chính xác đối với hành vi phạm tội, phản ánh được sự đánh giá về pháp lý của Nhà nước đối với tội phạm đã thực hiện

Tuy nhiên, để áp dụng đúng pháp luật hình sự đòi hỏi phải có những điều kiện, tiền đề nhất định Để định tội danh đúng, công bằng cần phải có những Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân có trình độ ý thức pháp luật cao và hiểu biết một cách đúng đắn các quy định của pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, tôn trọng các quyền và lợi ích của nhân dân Ngoài ra, cũng cần có những điều kiện chính trị, xã hội cần thiết để đảm bảo tính độc lập của Toà án, của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát khỏi những tác động, ảnh hưởng từ bên ngoài, bảo đảm chỉ tuân theo pháp luật khi tiến hành tố tụng

1.1.2 Chủ thể đ nh t i danh

Trong thực tiễn, việc định tội danh thường do cán bộ pháp lý được sự ủy quyền của Nhà nước tiến hành Bên cạnh đó, các cán bộ khoa học, tác giả bài báo, sinh viên … cũng tiến hành định tội danh Mặc dù việc định tội danh do ai tiến hành cũng đều là thực hiện việc lựa chọn và so sánh các dấu hiệu của quy phạm pháp luật với hiện tượng trong thực tế cụ thể làm cơ sở cho sự trùng hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội với cấu thành một loại tội phạm cụ thể Nhưng hậu quả của việc định tội danh do mỗi loại chủ thể tiến hành lại khác nhau

Khoa học luật hình sự chia định tội danh thành hai nhóm:

- Định tội danh chính thức: Định tội danh chính thức là sự đánh giá về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội cụ thể do các chủ thể được Nhà nước ủy quyền thực hiện Chủ thể của định tội danh chính thức là người tiến hành tố tụng bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm Những đánh giá, kết luận của chủ thể định tội danh chính thức là cơ sở pháp lý để khởi tố vụ án, áp dụng các biện pháp ngăn chặn, là cơ sở để ra bản kết luật điều tra, bản cáo trạng và ra bản án

- Định tội danh không chính thức: Định tội danh không chính thức là sự đánh giá không phải về mặt nhà nước tính chất pháp lý hình sự của một hành vi phạm tội

cụ thể Chủ thể định tội danh không chính thức là những người làm công tác nghiên

Trang 19

cứu thể hiện trong các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, sách giáo khoa, bài báo, hoặc là luật gia, luật sư hay bất kỳ người nào quan tâm đến việc nghiên cứu một vụ án hình sự cụ thể đưa ra những bình luận về vụ án đó trên phương diện định tội danh Định tội danh không chính thức không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên có liên quan trong vụ án mà chỉ là sự thể hiện ý kiến, quan điểm riêng của các chủ thể này Đây là loại định tội có ý nghĩa quan trọng trong quá trình nghiên cứu pháp luật, như một phương pháp nhận thức luật pháp, góp phần tạo thành dư luận xã hội về pháp luật

Định tội danh ở góc độ tố tụng hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ khi khởi tố vụ án cho đến khi xét xử nên chủ thể của hoạt động định tội danh bao gồm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm

Bắt đầu từ khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong phạm vi quyền hạn của mình phải ra quyết định khởi tố vụ án hình

sự (Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự) Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố, điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng Trong quá trình điều tra vụ án, nếu cơ quan điều tra thấy có đủ căn cứ để xác định một người

đã thực hiện hành vi phạm tội thì ra quyết định khởi tố bị can Quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ bị can bị khởi tố về tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật Hình sự Nếu bị can bị khởi tố về nhiều tội khác nhau thì trong quyết định khởi tố bị can phải ghi rõ từng tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng (Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự) Sau khi kết thúc điều tra nếu có đầy đủ chứng cứ để xác định

bị can phạm tội thì cơ quan điều tra làm bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố Bản kết luận điều tra trình bày diễn biến, hành vi phạm tội, nêu rõ các chứng cứ chứng minh tội phạm, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án, có nêu rõ lý do và căn cứ đề nghị truy tố (Điều 163 Bộ luật Tố tụng hình sự) Chủ thể tiến hành định tội danh ở giai đoạn này là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, ngoài

ra có cả Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thông qua việc thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tố tụng Đây là giai đoạn đầu của tố tụng hình sự nên việc định tội danh có đặc thù là phạm vi rất rộng, việc định tội danh này mang tính chất sơ bộ, dự kiến, độ chính xác chưa cao dựa vào những thông tin ban đầu làm căn cứ cho việc khởi tố (Điều 100 Bộ luật Tố tụng hình sự), chứng cứ chưa

Trang 20

đầy đủ … đến khi kết thúc điều tra, với chứng cứ đầy đủ, việc định tội danh sẽ chính xác hơn

Sau khi kết thúc điều tra, nếu cơ quan điều tra đề nghị truy tố thì hồ sơ được chuyển sang Viện kiểm sát Viện kiểm sát xét thấy đủ chứng cứ chứng minh bị can

có tội và quá trình tố tụng đã tiến hành đúng quy định pháp luật thì ra quyết định truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can, những tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị can và mọi tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án Phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và điều khoản của Bộ luật Hình sự được

áp dụng (Điều 167 Bộ luật Tố tụng hình sự) Chủ thể tiến hành định tội danh ở giai đoạn này là Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Việc định tội danh có phạm vi hẹp hơn do việc điều tra đã hoàn thành, các tài liệu, chứng cứ cho việc truy tố, xét xử đã đầy đủ, việc định tội danh giới hạn lại căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được điều tra

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra việc truy tố có căn cứ hay không và tuỳ từng trường hợp phải ra một trong các quyết định: đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ Cơ sở quan trọng nhất để ra một trong bốn quyết định nêu trên là định tội danh và kiểm tra việc định tội danh của Viện kiểm sát có đúng không Trường hợp Toà án mở phiên toà xét xử thì phải ra bản án Trong bản án phải trình bày việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật Hình

sự (khoản 3 Điều 224 Bộ luật Tố tụng hình sự) Nếu sau khi xét xử sơ thẩm, bản án

sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì trong các giai đoạn này bản án sơ thẩm sẽ được kiểm tra và có thể bị huỷ, sửa nếu bản án không xét xử đúng người, đúng tội Chủ thể tiến hành định tội danh

ở giai đoạn này là Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát thực hiện việc kháng nghị Việc định tội danh có phạm vi hoạt động hẹp vì Toà án cấp sơ thẩm chỉ được định tội danh đối với chủ thể về những hành vi theo tội danh bị Viện kiểm sát truy tố tuân thủ giới hạn xét xử tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự; cũng

Trang 21

như phạm vi xét xử phúc thẩm, giới hạn quyền hủy, sửa bản án tại Điều 241, Điều

249, Điều 250 Bộ luật Tố tụng hình sự, hoặc thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm tại Điều 285, Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, theo đó hội đồng xét xử không thể định lại tội danh nếu có sai sót mà chỉ có thể hủy án để điều tra lại hoặc xét xử lại

1.1.3 Cấu thành t i phạm là cơ sở ph p l của đ nh t i danh

“Cấu thành t i phạm là tổng hợp những dấu hi u chung có t nh đặc trưng cho loại t i phạm cụ thể được quy đ nh trong Luật Hình sự” 6

Định tội danh là quá trình đối chiếu những tình tiết thực tế của tội phạm đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành một loại tội phạm nhất định Tội phạm là một thể thống nhất gồm bốn yếu tố: khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, thế nhưng mỗi yếu tố lại

có ý nghĩa riêng và có thể tách ra nghiên cứu một cách độc lập tương đối trong mối quan hệ với các yếu tố khác

Cấu thành t i phạm là cơ sở ph p l duy nhất của vi c đ nh t i danh, là mô hình pháp l có c c dấu hi u cần và đủ để truy cứu tr ch nhi m hình sự 7

Theo luật hình sự Việt Nam, bất cứ một hành vi phạm tội nào cũng đều là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, giữa những biểu hiện bên ngoài

và những quan hệ tâm lý bên trong, đều là hoạt động của con người cụ thể xâm hại hoặc nhằm xâm hại đến những quan hệ xã hội nhất định Sự thống nhất của bốn yếu

tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đầy đủ nội dung chính trị - xã hội của tội phạm Bốn yếu tố cấu thành tội phạm có liên quan chặt chẽ với nhau và tổng hợp lại cùng quyết định tính nguy hiểm của tội phạm

Với khái niệm trên, các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm có những đặc điểm sau:

- Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm phản ánh tính đặc trưng điển hình của tội phạm

Bởi vì, cấu thành tội phạm không đề cập tới tất cả các dấu hiệu, đặc điểm của tội phạm ấy, mà nó chỉ đề cập tới các dấu hiệu điển hình nhất, thường lặp đi lặp lại

Trang 22

nhiều nhất trong các hành vi phạm tội cùng loại đó Đó là những dấu hiệu tối cần thiết cho những hành vi mà nhà làm luật đã dự trù mô hình tội phạm trong điều luật

Do đó, có thể nói “cấu thành t i phạm là mô hình kh i qu t, trừu tượng mang t nh khoa học gồm những dấu hi u chung, cơ bản nhất của t i phạm cùng thu c m t loại Đó là những dấu hi u điển hình và có t nh lặp đi, lặp lại ở tất cả những hành

vi phạm t i thu c loại đó”8

- Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm đều do luật định

Tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải được quy định trong luật hình sự Nhà nước quy định tội phạm trong luật hình sự bằng cách mô tả những dấu hiệu của cấu thành tội phạm và quy định những dấu hiệu đó trong luật Nói cách khác, cấu thành tội phạm là định nghĩa về tội phạm cụ thể được nêu trong quy phạm pháp luật phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự, tồn tại như một mô hình về tội phạm làm cơ

sở pháp lý cho việc định tội danh

- Các dấu hiệu trong cấu thành tội phạm có tính bắt buộc

Để kết luận hành vi nguy hiểm cho xã hội của một người có phạm vào một tội cụ thể nào hay không thì cần phải xác định hành vi đó đã thoả mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm hay không Nếu hành vi đó thoả mãn tất cả các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm thì hành vi đó là tội phạm, còn ngược lại nếu không thoả mãn bất kỳ một dấu hiệu nào trong cấu thành tội phạm thì không có tội phạm xảy ra

Tại Điều 2 của Bộ luật Hình sự Việt Nam đã khẳng định: “Chỉ người nào phạm m t t i đã được B luật Hình sự quy đ nh mới phải ch u tr ch nhi m hình sự” Do đó, xét về mặt pháp lý một người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu họ

đã thực hiện một hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự Muốn biết một hành

vi có được quy định trong Bộ luật Hình sự hay không và có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, phải xác định hành vi đó có thoả mãn những dấu hiệu của một cấu thành tội phạm hay không Nếu hành vi có đủ những dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự thì có nghĩa là hành vi đó là hành vi phạm tội và người thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm hình sự

Cấu thành tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình định tội danh,

là cơ sở pháp lý của định tội danh Bởi vì, bản chất của quá trình định tội danh là

8

Võ Khánh Vinh (2003), Giáo trình lí luận chung v đ nh t i danh, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 12

Trang 23

tìm sự phù hợp giữa các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra thực

tế với các dấu hiệu pháp lý quy định trong một cấu thành tội phạm cụ thể nào đó và kết luận hành vi đó có phạm tội hay không, hành vi phạm tội được quy định ở quy phạm pháp luật nào trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự Muốn định tội cho một hành vi cụ thể, người định tội danh phải căn cứ vào các cấu thành tội phạm

đã được quy định trong Bộ luật Hình sự Việc xác định một người đã phạm tội gì chính là quá trình xác định hành vi của họ thoả mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nào trong Bộ luật Hình sự Nếu các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho

xã hội đã thực hiện phù hợp với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự thì hành vi sẽ được định tội danh theo cấu thành tội phạm đó

Tóm lại, cấu thành tội phạm là cơ sở pháp lý của quá trình định tội danh Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm nếu hành vi đó thoả mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm đã được quy định trong phần các tội phạm và các quy định phần chung của Bộ luật Hình sự

1.2 Quy ị ủ B uật Hì sự ăm 1999 về t t m ô tà sả – ơ sở

p áp ị t

1.2.1 h i ni m và c c dấu hi u ph p l của t i tham ô tài sản

Về mặt ngữ nghĩa, theo Từ điển tiếng Việt, tham ô là “Lợi dụng quy n hạn hoặc chức tr ch để ăn cắp của công”9 Tham ô gắn liền với quyền lực công, vấn đề

“tham quan ô lại” triều đại nào cũng đều được đặt ra và xử lý hết sức nghiêm ngặt

Ngay sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh số 223 - SL ngày 27 tháng 11 năm 1946 quy định về Tội biển thủ công quỹ với hình phạt rất nghiêm khắc, đây được xem là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về tội tham ô tài sản Quan điểm của Hồ Chí Minh coi tham

ô, lãng phí là tội lỗi nhất trong xã hội Hồ Chí Minh chỉ rõ bản chất của tham ô là lấy của công làm của tư, là gian lận tham lam, tham ô là trộm cướp, đây chính là hành vi tham ô hiểu theo nghĩa rộng Theo nghĩa này, chủ thể của hành vi tham ô không chỉ là cán bộ, công chức - những người nắm chức vụ, quyền hạn nhất định trong bộ máy nhà nước mà người dân bình thường, nếu "ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế" cũng có thể là chủ thể của hành vi tham ô

9

Hoàng Phê (chủ biên) (2010), Từ điển tiếng Vi t, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr 1165

Trang 24

Những văn bản quy phạm sau đó như Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21 tháng 10 năm 1970, Sắc lệnh 03-76 SLT qui định tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa để xử lý tội phạm tham ô bằng các chế tài nghiêm khắc Bộ luật Hình sự đầu tiên năm 1985 dành một chương tội phạm (Chương IV- Phần các tội phạm), qui định các tội xâm phạm sở hữu Xã hội chủ nghĩa trong đó có Tội tham ô và các hành vi phạm tội chiếm đoạt tài sản của người

có chức vụ, quyền hạn

Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009) quy định về Tội tham ô tài sản tại Điều 278 như sau:

“Người nào lợi dụng chức vụ, quy n hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có

tr ch nhi m quản l có gi tr từ hai tri u đồng đến dưới năm mươi tri u đồng hoặc dưới hai tri u đồng nhưng thu c m t trong c c trường hợp sau đây, thì b phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

h ch thể t i tham ô tài sản

Có nhiều quan điểm khác nhau về khách thể tội tham ô tài sản Có quan điểm cho rằng khách thể trực tiếp của tội tham ô tài sản là quan hệ sở hữu, còn khách thể loại là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức 10; có quan điểm cho rằng tội tham

ô tài sản có khách thể loại là hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức nhà nước 11, còn khách thể trực tiếp là hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài sản và quan hệ sở hữu 12; hoặc khách thể của tội tham ô tài sản

là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức và quan hệ sở hữu tài sản.13

10 Đinh Văn Quế (2009), “Một số vấn đề về tội tham ô tài sản và những vướng mắc trong giai đoạn hiện

nay”, Tạp chí Tòa án nhân dân kỳ 1, tháng 6-2009 (Số 11), tr 36.

11 Trần Thị Quang Vinh (Chủ biên) (2013), Giáo trình luật hình sự Vi t Nam (Phần các t i phạm – Quyển 2),

Trang 25

Theo tác giả, tội tham ô tài sản trực tiếp xâm hại hai quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, đó là xâm phạm sự hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức

và xâm phạm quan hệ sở hữu

Tội tham ô tài sản là tội trực tiếp xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, đây chính là khách thể trực tiếp cơ bản của tội phạm Cơ quan, tổ chức ở đây bao gồm cơ quan nhà nước (ví dụ: Văn phòng Ủy ban nhân dân), tổ chức chính trị (ví dụ: Đảng Cộng sản Việt Nam), tổ chức chính trị - xã hội (ví dụ: Đoàn Thanh niên Cộng sản), đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp (ví dụ: Bệnh viện công lập), doanh nghiệp của Nhà nước và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác

có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước (ví dụ: doanh nghiệp có vốn nhà nước)14 Việc xác định khách thể trực tiếp cơ bản này thể hiện rõ nhất bản chất nguy hiểm của tội phạm, đó là tội phạm xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, làm giảm

uy tín của cơ quan, tổ chức, làm cho hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Tội phạm còn xâm hại đến quan hệ sở hữu, đó là sở hữu nhà nước, đây là khách thể trực tiếp, nhưng là khách thể phụ bởi vì trong hai khách thể mà tội phạm xâm phạm thì khách thể đầu tiên quan trọng hơn

Tính chất nguy hiểm của tội phạm tham ô tài sản chỉ được thể hiện đầy đủ thông qua sự xâm phạm cả hai khách thể nêu trên Việc xác định hai khách thể trực tiếp của tội tham ô tài sản cũng như vai trò của từng khách thể có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở lý luận cho việc xác định đối tượng tác động cũng như các dấu hiệu cấu thành khác của tội phạm tham ô

Cũng như mọi tội phạm khác, tội tham ô tài sản cũng có đối tượng tác động

Có nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng tác động của tội tham ô tài sản, có quan điểm cho rằng nó bao gồm cả tài sản của công dân 15 Tuy nhiên, hầu hết các quan điểm nghiên cứu cũng như thực tiễn đều cho rằng chỉ có tài sản nhà nước, tài sản của cơ quan, tổ chức mới là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản Theo

Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, “Tài sản b chiếm đoạt trong t i tham ô tài sản có c c đặc điểm sau: … - Tài sản b chiếm đoạt là tài sản của Nhà nước, của c c cơ quan, tổ chức”16, hoặc thực tiễn xét

14

Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012), khoản 6 Điều 2

15 Trần Công Phàn (2006), “Các tội phạm về tham nhũng trong luật hình sự Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát (Số

6 tháng 3-2006), tr 25

16 Trần Thị Quang Vinh (Chủ biên) (2013), Giáo trình luật hình sự Vi t Nam (Phần các t i phạm – Quyển 2),

Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr 224

Trang 26

xử của Tòa án cũng cho thấy quan điểm về đối tượng tác động của tội tham ô tài sản phải là tài sản của Nhà nước 17

Đối tượng tác động của tội tham ô tài sản phải là tài sản thuộc sở hữu nhà nước, hoặc của cơ quan, tổ chức có sử dụng ngân sách, gọi chung là tài sản của Nhà nước Chỉ ở đối tượng tác động này, việc xâm hại mới gây thiệt hại lớn và nguy hiểm vì ngoài khách thể là quyền sở hữu, tội phạm còn xâm phạm đến khách thể quan trọng hơn là hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức bị xâm hại về tài sản

Tài sản, theo Điều 163 Bộ luật Dân sự Việt Nam bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền về tài sản Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước, theo Điều 200 Bộ luật Dân sự gồm: đất đai, rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn

và tài sản do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định

Tuy nhiên, không phải tất cả tài sản thuộc sở hữu nhà nước đều là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản, khi xác định đối tượng của tội tham ô tài sản cần chú ý:

- Một số vật có thực nhưng do tính chất và công dụng đặc biệt không coi là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản mà là của tội phạm khác Ví dụ: các loại

vũ khí quân dụng, tài nguyên rừng …

- Vật khi không còn là tài sản vì đã bị chủ tài sản hủy bỏ cũng sẽ không còn lại đối tượng tác động của các tội tham ô tài sản Ví dụ: thuốc chữa bệnh đã bị hủy

bỏ do hết hạn sử dụng …

- Quyền về tài sản nói chung không thể là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản, nhưng những giấy tờ thể hiện quyền về tài sản như hóa đơn lĩnh hàng v.v

có thể là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản

Đối với tài sản, vốn do Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, trước đây hầu hết theo hình thức doanh nghiệp nhà nước, trong đó vốn của Nhà nước chiếm tỉ lệ 100% hoặc chiếm tỉ lệ khống chế, vì vậy tài sản của các doanh nghiệp này được xác

17

Quyết định Giám đốc thẩm số 13/2007/HS-GĐT ngày 04/6/2007 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nhận định “Trương Văn Kiệt đã bị kết án về tội “Tham ô tài sản” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại áp dụng thêm tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm i (xâm phạm tài sản của Nhà nước) khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là không đúng pháp luật” Nhận định này gián tiếp xác định tội tham ô tài sản là xâm phạm tài sản của Nhà nước.

Trang 27

định rõ ràng là tài sản xã hội chủ nghĩa - đối tượng tác động của tội tham ô tài sản

xã hội chủ nghĩa theo Bộ luật Hình sự năm 1985 Từ năm 1986 cùng với công cuộc đổi mới với chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn nhà nước trong các doanh nghiệp, đã xuất hiện nhiều hình thức sở hữu trong doanh nghiệp có vốn nhà nước mà phần vốn nhà nước chiếm tỉ lệ thấp hơn 50% hoặc thậm chí rất nhỏ, tính “nhà nước” trong các doanh nghiệp này mờ nhạt nên việc xâm phạm tài sản của các doanh nghiệp này đã dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau về việc xác định tài sản của các doanh nghiệp có vốn nhà nước ở mức độ nào mới được xác định là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản Vấn đề này tác giả sẽ phân tích sâu hơn ở phần các vướng mắc

Cơ quan, tổ chức có tài sản là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản là những cơ quan, tổ chức mà chủ thể tội phạm - là người có trách nhiệm quản lý tài sản trong các cơ quan, tổ chức đó - chiếm đoạt tài sản trong khi thực hiện công vụ

Vì vậy, các cơ quan, tổ chức này cũng phải là các cơ quan, tổ chức được Nhà nước thành lập hay công nhận, để thực hiện nhiệm vụ chung, phục vụ công việc chung của xã hội Các cơ quan, tổ chức này bao gồm cơ quan nhà nước (Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng Ủy ban nhân dân, các cơ quan hành chính, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thông tấn, báo chí, học viện, viện nghiên cứu … do Nhà nước thành lập), tổ chức chính trị (các cơ quan Đảng), tổ chức chính trị - xã hội (Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội liên hiệp Phụ nữ, Liên đoàn lao động, Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên), đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp (trường học, bệnh viện ), doanh nghiệp của Nhà nước và cơ quan, tổ chức, đơn vị khác có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước

Đối tượng tác động của tội tham ô tài sản là tài sản của Nhà nước và phải thoả mãn hai điều kiện, đó là: tài sản bị chiếm đoạt phải là tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp, giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên

Được coi là tài sản mà người phạm tội có trách nhiệm quản lý tức là người phạm tội có quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản

Giá trị tài sản chiếm đoạt phải được xác định bằng số liệu cụ thể, nếu tài sản chưa xác định được thì phải tiến hành định giá tài sản

- Nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng phải thoả mãn một trong ba điều kiện: Gây hậu quả nghiêm trọng; Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi

Trang 28

phạm; Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương XXI, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm”

Gây hậu quả nghiêm trọng là trường hợp hành vi tham ô tài sản có giá trị dưới 2.000.000 đồng, nhưng đã gây thiệt hại nghiêm trọng khác ngoài giá trị tài sản chiếm đoạt Tuy nhiên đến nay tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng giành cho tội tham ô tài sản vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể

Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm là trường hợp người phạm tội trước khi có hành vi tham ô tài sản đã bị xử lý một trong các hình thức xử

lý kỷ luật theo đúng quy định của người có thẩm quyền, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị kỷ luật, nay lại có hành vi tham ô tài sản dưới 2.000.000 đồng

Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương XXI, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm là trường hợp người phạm tội tham ô trước khi thực hiện tội phạm này họ đã phạm một trong các tội trong Mục A Chương XXI gồm: Tội tham ô tài sản tại Điều 278 Bộ luật Hình sự; Tội nhân hối lộ tại Điều 279

Bộ luật Hình sự; Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản tại Điều 280

Bộ luật Hình sự; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ tại Điều 281 Bộ luật Hình sự; Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ tại Điều 282

Bộ luật Hình sự; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi tại Điều 283 Bộ luật Hình sự; Tội giả mạo trong công tác tại Điều

284 Bộ luật Hình sự Người phạm tội đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục vi phạm

Mặt kh ch quan của t i tham ô tài sản

Tội tham ô tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất nên các dấu hiệu thuộc

về mặt khách quan của tội phạm gồm hành vi, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi của người lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý Hành vi này có thể thực hiện một cách công khai, có thể bí mật

Hành vi phạm tội tham ô tài sản trước hết phải là hành vi chiếm đoạt tài sản

Theo ngôn ngữ tiếng Việt, chiếm đoạt là “chiếm của người làm của mình, bằng

c ch dựa vào vũ lực, quy n thế” 18

., theo định nghĩa này, tội tham ô tài sản thực hiện

việc chiếm đoạt bằng quyền thế Về mặt pháp lý, “Chiếm đoạt là hành vi cố

18

Hoàng Phê (Chủ biên) (2010), Từ điển tiếng Vi t, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr.212.

Trang 29

chuyển biến tr i ph p luật tài sản đang thu c sự quản l của người kh c thành tài sản của mình” 19 Tuy mỗi cách định nghĩa có khác nhau nhưng tất cả đều có chung

nội dung chiếm đoạt là lấy tài sản của người khác làm của mình Hành vi chiếm đoạt xét về mặt khách quan là hành vi làm cho chủ tài sản mất hẳn khả năng thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình và tạo cho người chiếm đoạt có thể thực hiện được việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản đó Chiếm đoạt xét về mặt thực tế là quá trình vừa làm cho chủ tài sản mất tài sản, vừa tạo cho người chiếm đoạt có tài sản đó Quá trình này xét về mặt pháp lý không làm cho chủ sở hữu mất quyền sở hữu của mình mà chỉ làm mất khả năng thực tế thực hiện các quyền cụ thể của quyền sở hữu Đây cũng là cơ sở để phân biệt tội tham ô tài sản với các tội khác không mang yếu tố chiếm đoạt như tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc các tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, hoặc tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Đối tượng của hành vi chiếm đoạt trong tội tham ô tài sản là những tài sản mà người phạm tội được giao quản lý

Lợi dụng chức vụ quyền hạn là sử dụng chức vụ quyền hạn được giao như là một phương tiện phạm tội để biến tài sản của Nhà nước mà mình quản lý thành tài sản của mình Hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được thực hiện rất đa dạng:

+ Sử dụng quyền hạn do chức trách nhiệm vụ công tác được giao để thực hiện không đúng chức trách của mình hoặc làm trái các quy định về chế độ quản lý tài sản thuộc lĩnh vực công tác của mình phụ trách như: chế độ quản lý vật tư, tiền mặt, sổ sách kế toán, chế độ thu chi … và bằng cách đó để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý

+ Sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép nhưng có liên quan đến cương vị công tác để chiếm đoạt tài sản như: Kế toán tự động thu tiền quỹ rồi chiếm đoạt luôn số tiền đó, mà lẽ ra việc thu quỹ thuộc chức trách của thủ quỹ …; dùng quyền quyết định của mình để tác động đến người khác ép họ đưa tài sản

Để che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội có thể sử dụng thủ đoạn khác nhau như sửa chữa sổ sách, chứng từ, cố tính ghi chép sai, lập chứng từ giả, tạo hiện trường giả, tiêu hủy hóa đơn, chứng cứ, đốt kho … Các thủ đoạn này được thực hiện trước, trong hoặc sau khi chiếm đoạt tài sản

19 Trần Thị Quang Vinh (Chủ biên) (2013), Giáo trình luật hình sự Vi t Nam (Phần các t i phạm – Quyển 1),

Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr 166

Trang 30

Thủ đoạn phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm

mà chỉ có ý nghĩa khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội

Tội phạm tham ô tài sản được coi là hoàn thành kể từ thời điểm kẻ phạm tội chiếm đoạt được tài sản Thời điểm tài sản bị chiếm đoạt được xác định căn cứ vào đối tượng bị chiếm đoạt và chức năng, nhiệm vụ của người quản lý tài sản tùy từng trường hợp cụ thể: từ lúc tài sản bị đưa ra khỏi nơi cất giữ, từ lúc cất giấu tài sản ở nơi kín đáo để sau đó đưa ra ngoài, hoặc không xuất trình được chứng từ hóa đơn hợp lệ khi vận chuyển hoặc từ khi nhận được tài sản từ người khác chuyển giao trái phép …

Chủ thể của t i tham ô tài sản

Cũng như chủ thể của các tội phạm khác, chủ thể của tội tham ô tài sản cũng phải đảm bảo các yếu tố (điều kiện) cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại các Điều 12, 13 Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, đối với tội nhận hối lộ, chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt, tức là người phạm tội còn có những dấu hiệu khác

Tội tham ô tài sản là tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Điều 278 Bộ luật Hình sự quy định về tội này có bốn khung hình phạt: Khoản 1 điều luật quy định mức hình phạt cao nhất đến 07 năm tù Như vậy, tội phạm quy định tại khoản 1 là tội phạm nghiêm trọng, còn tội phạm quy định từ khoản 2 trở lên của tội phạm này

là tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng

Do đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 278 Bộ luật Hình sự

Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này không phân biệt thuộc trường hợp quy định ở khoản nào của Điều 278 Bộ luật Hình sự

- Các điều kiện của chủ thể đặc biệt tội tham ô tài sản:

Chủ thể của tội phạm phải thoả mãn đầy đủ hai điều kiện, đó là: người phạm tội phải là người có chức vụ quyền hạn, và là người có trách nhiệm quản lý tài sản

Người phạm t i phải là người có chức vụ quy n hạn

Dấu hiệu chung của người có chức vụ, quyền hạn được quy định tại Điều

277 Bộ luật Hình sự: “Người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhi m, do bầu

cử, do hợp đồng hoặc do m t hình thức kh c, có hưởng lương hoặc không hưởng

Trang 31

lương, được giao thực hi n m t công vụ nhất đ nh và có quy n hạn nhất đ nh trong khi thực hi n công vụ”

Mặt chủ quan của t i tham ô tài sản

Trong mặt chủ quan của tội phạm tham ô tài sản, lỗi được xác định là lỗi cố

ý trực tiếp

Về lý trí: người thực hiện hành vi tham ô tài sản nhận thức rõ tính chất nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó

Về ý chí: Tuy nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành vi của mình nhưng người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra

Động cơ phạm tội là vụ lợi

Tóm lại, người phạm tội tham ô tài sản thực hiện hành vi của mình với lỗi cố

ý trực tiếp, tức là họ biết rõ tài sản mình chiếm đoạt là tài sản của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, nhận thức được hành vi của mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội nhưng họ vẫn thực hiện với mục đích chiếm đoạt tài sản

1.2.2 Hình phạt đối với t i tham ô tài sản

Điều 278 Bộ luật Hình sự về tội tham ô tài sản quy định cấu thành tội phạm

cơ bản của tội tham ô tài sản tại khoản 1 và quy định ba cấu thành tội phạm định khung tăng nặng tại khoản 2, 3 và 4 của Điều luật

Khoản 1 Điều 278 Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tù từ hai năm đến bảy năm đối với trường hợp phạm tội thuộc trường hợp cấu thành cơ bản

Khoản 2 Điều 278 Bộ luật Hình sự quy định phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm trong trường hợp có một trong các tình tiết định khung tăng nặng như phạm tội có tổ chức; dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; phạm tội nhiều lần; chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; gây hậu quả nghiêm trọng khác

Phạm t i có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa

những người cùng thực hiện tội phạm (khoản 3 Điều 20 Bộ luật Hình sự)

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, phạm tội có tổ chức đòi hỏi phải có sự câu kết chặt chẽ giữa các đồng phạm Nghị quyết 02-/HĐTP/NQ ngày 16/11/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao hướng dẫn sự câu kết chặt chẽ này thể hiện thông qua việc phân công nhiệm vụ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, có

Trang 32

sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng chu đáo cho việc thực hiện tội phạm Thông thường phạm tội có tổ chức được thể hiện dưới các dạng sau đây:

- Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như đảng phái, hội, đoàn, băng, ổ trộm cướp… có những tên chỉ huy, cầm đầu hoặc không có tên chỉ huy cầm đầu mà chỉ là sự tập hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội

- Những người đồng phạm đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước

- Những người đồng phạm chỉ thực hiện tội phạm một lần, nhưng đã tổ chức thực hiện tội phạm theo một kế hoạch đã được tính toán kỹ càng, chu đáo, có chuẩn

bị phương tiện hoạt động và có khi còn chuẩn bị cả kế hoạch che giấu tội phạm

Dùng thủ đoạn xảo quy t, nguy hiểm là trường hợp người phạm tội đã sử

dụng phương pháp, những thủ đoạn tinh vi để hợp pháp hóa và che dấu hành vi phạm tội của mình (giả mạo chứng từ, tiêu hủy chứng cứ, tạo hiện trường giả …) hoặc sử dụng các thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây thiệt hại rất nghiêm trọng khác ngoài thiệt hại do hành vi chiếm đoạt đã gây ra như: đốt kho để phi tang

Phạm t i nhi u lần là trường hợp người phạm tội đã có hành vi tham ô từ hai

lần trở lên mà mỗi lần có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Điều 278

Bộ luật Hình sự nhưng chưa lần nào bị xử lý về hình sự cũng như chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự nay mới bị xử lý

Chiếm đoạt tài sản có gi tr từ năm mươi tri u đồng đến dưới hai trăm tri u đồng Đối với trường hợp nhiều lần chiếm đoạt, sẽ được cộng lại để tính tổng của

các lần chiếm đoạt, từ đó xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt

Gây hậu quả nghiêm trọng kh c: Tức bên cạnh hậu quả trực tiếp của hành vi

tham ô tài sản, hành vi phạm tội còn gây nên hậu quả nghiêm trọng khác Tuy nhiên đến nay tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng khác giành cho tội tham ô tài sản vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể

Khoản 3 Điều 278 Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm tù trong trường hợp có một trong các tình tiết định khung tăng nặng như: chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; gây hậu quả rất nghiêm trọng khác

Đối với tình tiết chiếm đoạt tài sản có gi tr từ hai trăm tri u đồng đến dưới năm trăm tri u đồng, trường hợp nhiều lần chiếm đoạt, sẽ được cộng lại để tính

tổng của các lần chiếm đoạt, từ đó xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt

Trang 33

Gây hậu quả rất nghiêm trọng kh c: cũng tương tự như các trường hợp quy

định tại khoản 2, tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn

Khoản 3 Điều 278 Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình trong trường hợp có một trong các tình tiết định khung tăng nặng như: chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác

Đối với tình tiết chiếm đoạt tài sản có gi tr từ năm trăm tri u đồng trở lên

trường hợp nhiều lần chiếm đoạt, sẽ được cộng lại để tính tổng của các lần chiếm đoạt, từ đó xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt

Gây hậu quả đặc bi t nghiêm trọng kh c: cũng tương tự như các trường hợp

quy định tại khoản 2, khoản 3, tình tiết gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội tham ô tài sản còn bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể

bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản Những chức vụ bị cấm đảm nhiệm là những chức vụ có liên quan đến quản lý tài sản, việc cấm này sẽ loại bỏ điều kiện phạm tội lại của người phạm tội trong một thời gian nhất định

Khác với các tội danh khác mà hình phạt bổ sung thường là lựa chọn tùy ý

“có thể”, hình phạt phụ cấm đảm nhiệm chức vụ là hình phạt bắt buộc áp dụng đối với tội tham ô tài sản, tương tự như các tội trong chương tội phạm về chức vụ, hoặc Chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp; riêng về phạt tiền là lựa chọn tùy ý Đây là điểm cần lưu ý khi áp dụng hình phạt cho tội tham ô tài sản

1.3 P t t t m ô tà sả v m t số t khác

1.3.1 Phân bi t t i tham ô tài sản với t i sử dụng tr i phép tài sản

Tội sử dụng trái phép tài sản được quy định tại Điều 142 Bộ luật Hình sự thuộc Chương XX - Các tội xâm phạm sở hữu

“Sử dụng tr i phép tài sản là hành vi của người nào vì vụ lợi mà sử dụng tài sản của người kh c có gi tr từ năm mươi tri u đồng trở lên gây hậu quả nghiêm

Trang 34

trọng hoặc đã b xử phạt hành ch nh v hành vi này hoặc đã b kết n v t i này chưa được xóa n t ch mà còn vi phạm”20

Tội sử dụng trái phép tài sản đối với trường hợp tài sản bị sử dụng trái phép

là tài sản của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ quyền hạn quản

lý tài sản thực hiện sẽ có nhiều điểm giống với hành vi tham ô tài sản, đó là: do người có chức vụ quyền hạn thực hiện và đối tượng phạm tội là tài sản thuộc quyền quản lý của người đó, hành vi khách quan là thực hiện quyền chiếm giữ, sử dụng đối với tài sản

Điểm khác biệt giữa hai tội ở mặt chủ quan: ở tội tham ô tài sản, ý chí chủ quan của người phạm tội là chiếm đoạt tài sản, đối với tội sử dụng trái phép tài sản

là không chiếm đoạt, chỉ sử dụng và sẽ trả lại Ý chí chủ quan thông thường thể hiện qua hành vi khách quan, cụ thể việc thực hiện hành vi chỉ nhằm “mượn” dùng nên

sẽ trả lại Đây chính là điểm để phân biệt hai tội danh Tội sử dụng trái phép tài sản xâm phạm đến quyền sử dụng tài sản nên có khách thể khác với tội tham ô tài sản Đối tượng tác động của tội này là những tài sản mà việc sử dụng không làm cho tài sản bị mất đi và có thể đem lại cho người sử dụng những lợi ích vật chất nhất định

Do đặc điểm của hành vi sử dụng trái phép cũng như do tình trạng “mượn tiền quỹ” trái phép còn tương đối phổ biến và có nhiều trường hợp nghiêm trọng cho nên chỉ coi tiền là đối tượng của tội sử dụng trái phép trong một số ít trường hợp Những trường hợp đó trước hết phải là những trường hợp có chứng cứ rõ ràng thể hiện người phạm tội không có ý định chiếm đoạt, không có hành vi gian dối nhằm che đậy, hợp pháp hóa việc “mượn tiền” Ngoài ra còn đòi hỏi số tiền mượn đó không quá lớn so với khả năng kinh tế của người phạm tội để bảo đảm cho việc hoàn trả và tiền đó không phải để sử dụng vào việc bất hợp pháp Trong những trường hợp khác như trường hợp “mượn tiền quỹ” đi buôn hoặc cho vay lấy lãi … tiền không được coi là đối tượng của hành vi sử dụng trái phép tài sản Hành vi mượn tiền trong những trường hợp này là hành vi tham ô tài sản

1.3.2 Phân bi t t i tham ô tài sản với t i lạm dụng t n nhi m chiếm đoạt tài sản

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự, thuộc chương XX – Các tội xâm phạm sở hữu,

“Lạm dụng t n nhi m chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt toàn b hoặc

m t phần tài sản sau khi đã vay, mượn, thuê tài sản của người kh c hoặc nhận

20 Trần Thị Quang Vinh (Chủ biên) (2013), Giáo trình luật hình sự Vi t Nam (Phần các t i phạm – Quyển 1),

Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr 204.

Trang 35

được tài sản của người kh c bằng c c hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đ ch bất hợp ph p dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản Tài sản b chiếm đoạt phải

có gi tr từ bốn tri u đồng trở lên hoặc dưới bốn tri u đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã b xử phạt hành ch nh v hành vi chiếm đoạt hoặc đã b kết

n v t i chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa n t ch mà còn vi phạm”21

Giữa tội tham ô tài sản và tội lạm dụng tính nhiệm chiếm đoạt tài sản có điểm chung là người phạm tội lợi dụng sự tín nhiệm của người khác khi được giao tài sản để chiếm đoạt Nói cách khác, điểm giống nhau giữa hai tội là người phạm tội chiếm đoạt tài sản do chính mình đang quản lý

Điểm khác biệt về chủ thể, chủ thể tội tham ô tài sản là chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ quyền hạn còn chủ thể tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

là chủ thể bất kỳ, có năng lực tránh nhiệm hình sự, đây chính là điểm để phân biệt hai tội danh Việc xác định thế nào là chủ thể đặc biệt lại không phải dựa vào những đặc điểm của chính chủ thể, mà dựa vào đặc điểm của tài sản mà chủ thể chiếm đoạt Nếu tài sản chiếm đoạt là tài sản của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức được giao cho chủ thể do chức vụ quyền hạn của chủ thể thì chủ thể sẽ trở thành chủ thể đặc biệt của tội tham ô tài sản Nguyên tắc này cũng được sử dụng để phân biệt với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp định khung tăng nặng là lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan tổ chức Đây là trường hợp sử dụng chức vụ, quyền hạn của người phạm tội hoặc núp dưới danh nghĩa cơ quan tổ chức để có thể ký kết được hợp đồng với chủ tài sản và trên cơ sở

đó có được tài sản Việc nhận tài sản của tội lạm dung tín nhiệm do lòng tin của người chủ sở hữu, người quản lý tài sản, còn việc nhận tài sản của tội tham ô tài sản

do chức vụ, quyền hạn của người phạm tội

1.3.3 Phân bi t t i tham ô tài sản với t i lạm dụng chức vụ, quy n hạn chiếm đoạt

Trang 36

“T i lạm dụng chức vụ, quy n hạn chiếm đoạt tài sản là hành vi của người

có chức vụ, quy n hạn đã vượt ra ngoài phạm vi quy n hạn của mình chiếm đoạt tài sản của người kh c có gi tr từ hai tri u đồng trở lên hoặc dưới hai tri u đồng thì phải thỏa mãn c c dấu hi u kh c luật đ nh”22

Hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn, chiếm đoạt tài sản của người khác, nghĩa là người phạm tội đã sử dụng chức vụ quyền hạn như một công cụ, phương tiện bắt buộc để thực hiện hành vi chiếm đoạt Trên thực tiễn hành vi chiếm đoạt thường thể hiện ở những hình thức sau: a) Hình thức cưỡng đoạt tài sản: là sử dụng chức vụ quyền hạn như là cách thức uy hiếp tinh thần buộc người khác giao tài sản; b) Hình thức lừa đảo: sử dụng chức vụ, quyền hạn để lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản, nghĩa là chức vụ như là phương tiện lừa dối làm cho chủ tài sản tin vào đó mà giao tài sản; c) Hình thức lạm dụng tín nhiệm: trên cơ sở có sự tin tưởng của chủ tài sản vì cương vị công tác, nên đã giao tài sản và người phạm tội đã chiếm đoạt tài sản đó

Điểm tương đồng giữa tội tham ô tài sản và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản chính là chiếm đoạt tài sản trên cơ sở lợi dụng chức vụ, quyền hạn

Điểm khác biệt giữa tội tham ô tài sản và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thể hiện ở đối tượng tác động Đối tượng tác động của tội tham ô tài sản là tài sản của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, còn của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản thì không phân biệt tài sản của ai, nhưng thông thường liên quan đến tài sản của công dân Ở mặt khách quan của tội phạm, hình thức lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản trong tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản khá tương đồng với hành vi khách quan của tội tham ô tài sản, nhưng chúng ta có thể phân biệt dựa vào việc người phạm tội nhận tài sản ở tội tham ô tài sản là do chức vụ, quyền hạn mang lại, còn tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là do lòng tin của người bị hại vì cương vị công tác của người phạm tội

1.3.4 Phân bi t t i tham ô tài sản với t i cố làm tr i quy đ nh của Nhà nước v

quản l kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng

Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng qui định tại Điều 165 Bộ luật Hình sự, trong Chương XXII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

22 Trần Thị Quang Vinh (Chủ biên) (2013), Giáo trình luật hình sự Vi t Nam (Phần các t i phạm – Quyển 2),

Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr.234

Trang 37

“T i cố làm tr i quy đ nh của Nhà nước v quản l kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng được hiểu là hành vi lợi dụng chức vụ quy n hạn không thực hi n hoặc thực hi n không đúng c c quy đ nh của Nhà nước v quản l kinh tế” 23

Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và tội tham ô tài sản về dấu hiệu cấu thành tội phạm không có điểm giống nhau, tuy nhiên trong thực tiễn định tội lại hay nhầm lẫn với nhau Trên thực

tế, nhiều vụ án thất thoát tài sản lớn, có dấu hiệu của tội tham ô tài sản nhưng qua điều tra không chứng minh được yếu tố chiếm đoạt nên thay đổi tội danh sang tội cố

ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng Ngược lại, nhiều vụ án cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng qua điều tra, xét xử phát hiện dấu hiệu chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức nên thay đổi tội danh sang tham ô tài sản Nguyên nhân

là dấu hiệu chủ thể của hai tội danh tuy là chủ thể đặc biệt khác nhau, nhưng phạm

vi chủ thể trong một số trường hợp lại trùng với nhau, dễ gây nhầm lẫn, và khi đó, điểm khác biệt cơ bản để phân biệt hai tội danh là tội tham ô tài sản có yếu tố chiếm đoạt đối với tài sản của Nhà nước, của cơ quan tổ chức do người phạm tội đang quản lý còn tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng thì không có yếu tố này

23 Trần Thị Quang Vinh (Chủ biên) (2013), Giáo trình luật hình sự Vi t Nam (Phần các t i phạm – Quyển 1),

Nxb Hồng Đức, Hà Nội, tr 290

Trang 38

CHƯƠNG 2

THỰC TI N ĐỊNH TỘI DANH ĐỐI VỚI TỘI THAM Ô TÀI SẢN

VÀ VẤN ĐỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

2.1 T ự t ị t ố v t t m ô tà sả

2.1.1 X c đ nh kh ch thể trực tiếp và đối tượng t c đ ng của t i tham ô tài sản

trong thực tiễn đ nh t i danh

X c đ nh kh ch thể trực tiếp của t i tham ô tài sản

Tội tham ô tài sản xâm hại đến hai khách thể trực tiếp: khách thể trực tiếp cơ bản là hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức và khách thể trực tiếp phụ là quan hệ sở hữu về tài sản

Nghiên cứu thực tiễn xét xử thông qua nhiều bản án cho thấy chưa có nhận thức đầy đủ và chính xác về khách thể trực tiếp của tội phạm tham ô tài sản là hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức Trái lại, khía cạnh của khách thể phụ là quan hệ sở hữu về tài sản được nhấn mạnh, thậm chí cả những quan hệ không phải

là khách thể của tội phạm tham ô tài sản Trên thực tế, có nhiều dạng nhầm lẫn về khách thể của tội phạm tham ô tài sản

Thứ nhất, khi xác định khách thể tội phạm tham ô tài sản, một số Thẩm phán chưa thể hiện nhận thức đầy đủ về khách thể của tội phạm mà chỉ nêu về khách thể khách thể phụ là quan hệ sở hữu về tài sản, đây là dạng nhầm lẫn phổ biến nhất thường xảy ra trong thực tiễn xét xử Tại Bản án số 169/2008/HSST ngày 14/3/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh H, đối với bị cáo Lê Thanh Hoàng A., bị xét xử về tội

“tham ô tài sản”, Hội đồng xét xử nhận định: “Xét hành vi của b c o Lê Thanh Hoàng A, đã lợi dụng nhi m vụ được giao chiếm đoạt tài sản do b c o quản l là tài sản của ch nh cơ quan của b c o, Trung tâm thương mại CMC là đơn v trực thu c doanh nghi p nhà nước Hành vi của b c o Lê Thanh Hoàng A đã cấu thành

t i Tham ô tài sản” Nhận định không nêu rõ và đầy đủ về khách thể mà tội phạm

xâm hại, với nhận định nêu trên được hiểu hành vi của tội phạm đã xâm phạm sở hữu tài sản, nói cách khác là khách thể tội phạm trong trường hợp này chỉ là quyền

sở hữu tài sản, khách thể trực tiếp cơ bản thể hiện bản chất tham nhũng của tội phạm tham ô tài sản lại không được đề cập đến

Thứ hai, xác định khách thể của tội tham ô tài sản chưa chính xác Bên cạnh khách thể phụ là quyền sở hữu tài sản, còn xác định khách thể khác mà không phải

Trang 39

là khách thể trực tiếp của tội phạm Tại Bản án số 338/2011/HSST ngày 14/12/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh H, đối với bị cáo Nguyễn Tuấn A., bị xét xử về tội “Tham

ô tài sản”, Hội đồng xét xử nhận định: “Hành vi tham ô tài sản do Nguyễn Tuấn A thực hi n và hành vi tiêu thụ tài sản do người kh c phạm t i mà có do Trương Công

Q thực hi n là những hành vi nguy hiểm cho xã h i, đã trực tiếp xâm phạm đến sở hữu nhà nước đồng thời trực tiếp xâm phạm đến trật tự công c ng, trật tự ph p luật

và ảnh hưởng xấu đến công t c đấu tranh phòng chống t i phạm ở đ a phương”

Nhận định về khách thể của hành vi tham ô tài sản ngoài quan hệ sở hữu, còn là trật

tự công cộng

Thứ ba, xác định khách thể tội phạm tham ô tài sản là những quan hệ xã hội khác, không phải là khách thể trực tiếp của tội tham ô tài sản Tại Bản án số 2875/2009/HSST ngày 23/9/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh H, đối với bị cáo Lê Bảo V và đồng phạm, bị xét xử về tội “Tham ô tài sản”, Hội đồng xét xử nhận

định: “Xét t nh chất vụ n là nghiêm trọng, c c b c o đã lợi dụng vào chức vụ quy n hạn khi được giao thi công công trình để rồi bớt xén vật tư gây ảnh hưởng đến chất lượng tuổi thọ công trình, gây mất trật tự tr an xã h i ” Nhận định không

làm rõ tính nguy hiểm của tội tham ô tài sản khi xác định khách thể bị xâm phạm là trật tự trị an xã hội, hai khách thể của tội tham ô tài sản không được đề cập đến

Thực tiễn nêu trên cho thấy có sự nhận thức không đầy đủ, thiếu chính xác

về khách thể tội phạm tham ô tài sản, thậm chí nhận thức sai về khách thể của tội tham ô tài sản Sai lầm trong nhận thức về khách thể tội phạm có thể sẽ ảnh hưởng đến việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội tham ô tài sản – là một trong những tội tham nhũng, nó còn liên quan đến vấn đề ý thức pháp luật của người tiến hành tố tụng về xử lý tội phạm tham ô tài sản gần như xử lý đối với tội phạm xâm phạm sở hữu, xâm phạm trật tự trị an xã hội chứ không phải là tội phạm tham nhũng - một tội phạm có tính nguy hiểm cao hơn Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc quyết định hình phạt, làm cho hình phạt đã tuyên không đạt mục đích dẫn tới không đảm bảo được tính “có căn cứ pháp lý” của bản án, làm giảm uy tín và hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật

Đây cũng là một hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật mà nguyên nhân của sự hạn chế này xuất phát từ đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật và nhận thức chưa đúng về khách thể tội phạm Tình trạng này ảnh hưởng đến việc lựa chọn biện pháp

xử lý tội phạm

Trang 40

X c đ nh đối tượng t c đ ng của t i tham ô tài sản

Đối tượng tác động là một dấu hiệu pháp lý của tội tham ô tài sản, cho phép phân biệt tội tham ô tài sản với một số tội phạm khác Do vậy, việc xác định đúng đối tượng tác động của tội phạm sẽ bảo đảm việc xác định đúng tội danh, làm cơ sở cho việc quyết định đúng mức hình phạt

Đối tượng tác động của tội tham ô tài sản là tài sản của cơ quan, tổ chức Tài sản của cơ quan, tổ chức ở đây được hiểu là tài sản của Nhà nước giao cho cơ quan,

tổ chức để thực hiện chức năng nhiệm vụ, tài sản của Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, hoặc nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển Tuy nhiên dấu hiệu tài sản của cơ quan, tổ chức trong thực tế điều tra, truy tố, xét xử vẫn còn nhiều lúng túng trong xác định, đặc biệt trong trường hợp đối với doanh nghiệp có một phần vốn nhà nước

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 (đã hết hiệu lực pháp luật tuy nhiên vẫn được áp dụng cho công ty nhà nước đang trong lộ trình chuyển đổi), có các loại hình doanh nghiệp có thể có vốn nhà nước gồm: Công ty nhà nước (gồm Công ty nhà nước, Công ty cổ phần nhà nước, Công

ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên, Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có từ hai thành viên trở lên được thành lập theo Luật doanh nghiệp nhà nước năm 2003, có 100% vốn nhà nước, đang trong thời gian chuyển đổi), Công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Đối với doanh nghiệp có 100% vốn của Nhà nước thì tài sản của doanh nghiệp được xem là của Nhà nước, tuy nhiên đối với các loại hình doanh nghiệp còn lại thì tỉ lệ vốn góp của Nhà nước vào doanh nghiệp dẫn đến tài sản của doanh nghiệp đó có được xem là tài sản nhà nước hay không vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau

Quan điểm thứ nhất: Doanh nghiệp có vốn của Nhà nước chiếm trên 50% thì được xem là doanh nghiệp nhà nước và tài sản của doanh nghiệp đó là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản Quan điểm này phù hợp với Luật Doanh nghiệp năm

2005 định nghĩa doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp trong đó nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ

Quan điểm thứ hai: Doanh nghiệp có vốn của Nhà nước không kể tỉ lệ góp vốn là bao nhiêu thì tài sản của doanh nghiệp bị chiếm đoạt là đối tượng tác động của tội tham ô tài sản

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
32. Ban biên tập Tạp chí Tòa án nhân dân (2008), “Đồng phạm trong tội tham ô tài sản không nhất thiết phải là người có chức vụ quyền hạn”, Tạp ch Tòa n nhân dân kỳ I, th ng 4 (Số 7), tr. 39-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng phạm trong tội tham ô tài sản không nhất thiết phải là người có chức vụ quyền hạn”, "Tạp ch Tòa n nhân dân kỳ I, th ng 4
Tác giả: Ban biên tập Tạp chí Tòa án nhân dân
Năm: 2008
33. Lê Cảm (1999), “Định tội danh một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp ch Toà án nhân dân (Số 4/1999), tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, "Tạp ch Toà án nhân dân
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 1999
34. Lê Đăng (2010), “Đinh Thị T. và Nguyễn Thị O. có phạm tội tham ô tài sản?”, Tạp ch Tòa n nhân dân kỳ 1 th ng 12-2010 (Số 23), tr. 7-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Thị T. và Nguyễn Thị O. có phạm tội tham ô tài sản?”, "Tạp ch Tòa n nhân dân kỳ 1 th ng 12-2010
Tác giả: Lê Đăng
Năm: 2010
10. Luật Phòng chống tham nhũng năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2012) Khác
11. Luật Quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước năm 2008 Khác
12. Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014 Khác
13. Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009 Khác
14. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 Khác
15. Pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 21/10/1970 Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa Khác
16. Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà số 223 ngày 27/11/946 Khác
17. Nghị định số 132/2005/NĐ-CP ngày 20/10/2005 về thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước Khác
18. Nghị định số 86/2006/NĐ-CP ngày 21/8/2006 sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 132/NĐ-CP Khác
20. Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 về hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp Khác
21. Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Khác
22. Nghị định số 208/2013/NĐ-CP ngày 17/12/2013 của Chính phủ Quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ Khác
25. Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự Khác
26. Nghị quyết số 02-/HĐTP/NQ ngày 16/11/1988 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Tối cao hướng dẫn bổ sung Nghị quyết số 02-HĐTP ngày 05/1/1986 Khác
27. Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của các Điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289 Bộ luật Hình sự năm 1999 Khác
28. Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự Khác
29. Thông tư của Thủ tướng Chính phủ số 442/TTg, ngày 19/1/1955 về việc trừng trị một số tội phạm Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số CN: 60380104  - Định tội danh tội tham ô tài sản theo luật hình sự việt nam (2)
huy ên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số CN: 60380104 (Trang 2)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w