1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự việt nam (2)

89 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 847,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về lí luận, một số bất cập có thể kể ra như sau: đâu là thời điểm muộn nhất mà người đồng phạm khác thường là người giúp sức có thể cùng tham gia phạm tội, có thể đồng phạm khác tội danh

Trang 1

NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Trang 2

toàn chịu trách nhiệm về nội dung khoa học của Luận văn này Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Ngô Huỳnh Đức

Trang 3

BLHS: Bộ luật Hình sự

CTTP: Cấu thành tội phạm

TAND: Tòa án nhân dân

TNHS: Trách nhiệm hình sự VKSND: Viện kiểm sát nhân dân

Trang 4

SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM 6

1.1 Khái niệm đồng phạm, người giúp sức trong đồng phạm 6

1.1.1 Khái niệm đồng phạm 6

1.1.2 Khái niệm người giúp sức trong đồng phạm 8

1.2 Vấn đề xác định tội danh trong đồng phạm 12

1.3 Ý nghĩa quy định và xác định đúng người giúp sức trong đồng phạm 18

1.4 Phân biệt người giúp sức với người không phải là người đồng phạm 20

1.4.1 Phân biệt người giúp sức với người không phạm tội 20

1.4.1.1 Người không phạm tội do dấu hiệu định tội riêng thuộc cá nhân 20

1.4.1.2 Người không phạm tội do hành vi không bị xem là gián tiếp thực hiện tội phạm 22

1.4.1.3 Người không phạm tội do không tham gia đồng phạm 23

1.4.1.4 Người không phạm tội do hành vi vượt quá của người cùng thực hiện vi phạm pháp luật 25

1.4.1.5 Người không phạm tội do không có và không biết mục đích, động cơ của người khác đối với tội phạm có dấu hiệu bắt buộc là mục đích, động cơ đó 27

1.4.2 Phân biệt người giúp sức với người phạm tội độc lập, phạm tội khác 29

1.4.2.1 Phân biệt người giúp sức với người gián tiếp thực hiện tội phạm độc lập trong mối liên hệ chủ quan một chiều 29

1.4.2.2 Phân biệt người giúp sức với người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có 31

1.4.2.3 Phân biệt người giúp sức với người phạm tội khác cũng đồng thời có tính chất tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm này 39

1.5 Phân biệt người giúp sức với những người đồng phạm khác 43

1.5.1 Phân biệt người giúp sức với người tổ chức, người xúi giục 43

1.5.2 Phân biệt người giúp sức với người thực hành 44

1.5.2.1 Phân biệt dựa vào hành vi được thực hiện là thủ đoạn hay hành vi khách quan của cấu thành tội phạm 44

Trang 5

1.5.2.4 Phân biệt dựa vào mục đích, động cơ của người đồng phạm 49

1.5.2.5 Phân biệt dựa vào người giúp sức thực hiện hành vi khách quan do không phải là chủ thể đặc biệt của tội có yêu cầu dấu hiệu chủ thể đặc biệt 52

1.5.2.6 Phân biệt dựa vào khái niệm của hành vi khách quan phức tạp 53

1.6 Trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức trong đồng phạm 54

CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN LÍ LUẬN, PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM 60

2.1 Thực tiễn xét xử về người giúp sức trong đồng phạm 60

2.1.1 Tổng quát về những thành công trong thực tiễn xét xử 60

2.1.2 Sai sót, hạn chế trong một số bản án 60

2.1.2.1 Nhầm lẫn giữa người giúp sức với người không phạm tội 60

2.1.2.2 Nhầm lẫn giữa người giúp sức với người phạm tội khác 63

2.1.2.3 Nhầm lẫn giữa người giúp sức với người thực hành 65

2.1.2.4 Một số sai sót và hạn chế khác 69

2.2 Nguyên nhân của những nhầm lẫn, sai sót, hạn chế trên 73

2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện lí luận về người giúp sức trong đồng phạm 73

2.4 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự về người giúp sức trong đồng phạm 74

2.5 Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng về người giúp sức trong đồng phạm 76

Phần kết luận 79

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong một vụ án mà có nhiều người tham gia phạm tội hoặc liên quan đến việc phạm tội thì chế định đồng phạm tất nhiên sẽ được các nhà áp dụng quan tâm nghiên cứu một cách kĩ lưỡng Vì việc xác định vụ án đó có đồng phạm hay không, một người trong số đó có phải là người đồng phạm hay không, là loại người đồng phạm nào, quy định về phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt áp dụng đối với người đó như thế nào là rất quan trọng Tuy nhiên, nghiên cứu cả bốn loại người đồng phạm sẽ là một đề tài quá rộng đối với tác giả Tác giả mong muốn dành phần lớn dung lượng của Luận văn để tập trung nghiên cứu chuyên sâu về một loại người đồng phạm, đó là người giúp sức Sở dĩ tác giả chọn người giúp sức để làm đề tài nghiên cứu là bởi vì liên quan đến loại người đồng phạm này, cả về lí luận, quy định

và thực tiễn còn nhiều bất cập Về lí luận, một số bất cập có thể kể ra như sau: đâu là thời điểm muộn nhất mà người đồng phạm khác (thường là người giúp sức) có thể

cùng tham gia phạm tội, có thể đồng phạm khác tội danh hay không, tạo điều kiện

tinh thần hoặc vật chất đã “đủ khít” cho nội hàm của khái niệm người giúp sức hay

chưa, nhiều trường hợp ranh giới giữa người giúp sức với những người đồng phạm khác (thường là người thực hành) hoặc với người không phải là người đồng phạm chưa được làm rõ về mặt lí luận… Về quy định, một số bất cập có thể kể ra như sau:

Bộ luật Hình sự năm 2015 có quá ít quy định về người giúp sức nói riêng cũng như

về đồng phạm nói chung, khái niệm đồng phạm và người giúp sức chưa chuẩn, phân

hóa trách nhiệm hình sự quá “mềm” (tức phân hóa còn chung chung, chưa cụ thể), lời văn quy định của khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 gây lúng túng trong cách hiểu, chưa thực sự có những quy định nhằm khai thác người giúp sức để nhanh chóng bắt được người đồng phạm khác nguy hiểm hơn, điều tra, phá án nhanh hơn, thuận lợi hơn… Về thực tiễn, một số bất cập có thể kể ra như sau: nhiều bản án xác định nhầm lẫn tư cách giữa người giúp sức với người thực hành, giữa người giúp sức với người phạm tội khác, giữa người giúp sức với người không phạm tội, giữa giúp sức tinh thần với giúp sức vật chất… Vì vậy với hi vọng qua kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đóng góp một phần vào kho tàng tri thức khoa học luật hình sự liên quan đến đề tài đã chọn Bên cạnh, Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) có sửa đổi, bổ sung một số quy định về người giúp sức theo hướng tiến

bộ hơn, nhân đạo hơn, phân hóa cụ thể hơn Song điều đó vẫn chưa đủ hoàn thiện

Trang 7

nhưng cũng là động lực cho tác giả tiếp tục nghiên cứu để có những đề xuất nhằm cải thiện tốt hơn nữa về những quy định liên quan đến loại người đồng phạm này và tháo

gỡ một số vướng mắc còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng

Chính vì những lí do trên, tác giả quyết định chọn đề tài Người giúp sức trong

đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam làm đề tài tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua, liên quan đến đề tài Người giúp sức trong đồng phạm

theo luật hình sự Việt Nam cũng đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, có thể

điểm qua như sau:

Sách chuyên khảo Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam (Nhà xuất bản Tư

pháp năm 2019) của tác giả Trần Quang Tiệp Đây là một đề tài rộng nên tác giả Trần Quang Tiệp cũng không dành quá nhiều dung lượng riêng cho người giúp sức Cụ thể, liên quan đến người giúp sức, ngoài việc đạt được những kết quả nghiên cứu chung về đồng phạm, công trình này cũng thể hiện được một số khía cạnh chuyên sâu như: lịch sử lập pháp về người giúp sức; phân biệt làm rõ giúp sức về tinh thần và giúp sức về vật chất; phân biệt làm rõ người giúp sức với người thực hành, người xúi giục; trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức trong các giai đoạn thực hiện tội phạm; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người giúp sức Bên cạnh, công trình cũng chỉ ra những bất cập mà một số bản án vướng phải Ngoài ra, công trình còn đề xuất lời hứa hẹn trước không tố giác tội phạm cũng là một dạng giúp sức về tinh

thần và đề xuất về định nghĩa người giúp sức thực hiện tội phạm và người giúp sức Luận văn thạc sĩ Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam

(Trường Đại học luật TP Hồ Chí Minh năm 2019) của tác giả Phạm Quang Nhuận Đây là đề tài trùng tên với đề tài của tác giả Tuy nhiên công trình này là luận văn thạc sĩ định hướng ứng dụng nên tác giả Phạm Quang Nhuận cũng không dành quá nhiều dung lượng để nghiên cứu chuyên sâu về mặt lí luận Công trình này cũng thể hiện một số khía cạnh lí luận về người giúp sức, phân biệt người giúp sức với người

đồng phạm khác; đề xuất sửa đổi, bổ sung khái niệm người giúp sức, đề xuất sửa đổi,

bổ sung khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015; về quyết định hình phạt đối với người giúp sức và một số bất cập trong thực tiễn

Luận văn thạc sĩ Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam

(Khoa luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015) của tác giả Lê Thị Loan Đây cũng

là đề tài trùng tên với đề tài của tác giả Ở công trình này, ngoài việc đạt được các kết quả chung về đồng phạm, tác giả Lê Thị Loan còn thể hiện được một số khía cạnh

Trang 8

chuyên sâu như: về khái niệm người giúp sức trong đồng phạm; ý nghĩa của việc xác định đúng vai trò của người giúp sức trong đồng phạm; phân biệt người giúp sức với những người đồng phạm khác; các dấu hiệu pháp lí của người giúp sức; trách nhiệm hình sự đối với người giúp sức trong đồng phạm Ngoài ra, công trình còn có một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

Luận văn thạc sĩ Các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

(Trường Đại học luật TP Hồ Chí Minh năm 2013) của tác giả Nguyễn Khắc Toàn Đây là một đề tài khá rộng, nghiên cứu cả về bốn loại người đồng phạm Do đó, tác giả Nguyễn Khắc Toàn cũng không dành quá nhiều dung lượng để nghiên cứu chuyên sâu về người giúp sức Ở công trình này, ngoài đạt được những kết quả nghiên cứu chung về đồng phạm, một số khía cạnh chuyên sâu về người giúp sức cũng được thể hiện như: ý nghĩa của việc quy định người giúp sức trong đồng phạm; trách nhiệm hình sự của người giúp sức trong các giai đoạn chuẩn bị giúp sức, giúp sức chưa đạt;

tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người giúp sức Ngoài ra, công trình còn chỉ ra những khó khăn, vướng mắc và đề xuất một số giải pháp

Luận văn thạc sĩ Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về những loại người đồng

phạm trong luật hình sự Việt Nam (Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2012)

của tác giả Mai Lan Ngọc Tương tự như trên, đây cũng là đề tài khá rộng, nghiên cứu cả về bốn loại người đồng phạm Do đó, tác giả Mai Lan Ngọc cũng không dành quá nhiều dung lượng để nghiên cứu chuyên sâu về người giúp sức Ngoài đạt được những kết quả nghiên cứu chung về đồng phạm, công trình này cũng thể hiện một số khía cạnh chuyên sâu như: về khái niệm người giúp sức; phân biệt người giúp sức với người thực hành, người xúi giục; về trách nhiệm hình sự và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người giúp sức; lịch sử lập pháp và pháp luật nước ngoài Bên cạnh, công trình cũng chỉ ra một số vướng mắc và giải pháp đề xuất

Khóa luận cử nhân Các loại người đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

(Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh năm 2018) của tác giả Võ Thị Phương Thu Tương tự như trên, đây cũng là đề tài khá rộng, nghiên cứu cả về bốn loại người đồng phạm Do đó, tác giả Võ Thị Phương Thu cũng không dành quá nhiều dung lượng để nghiên cứu chuyên sâu về người giúp sức Ngoài đạt được những kết quả nghiên cứu chung về đồng phạm, công trình này cũng thể hiện một số khía cạnh chuyên sâu như: phân biệt giúp sức về vật chất và giúp sức về tinh thần; tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người giúp sức Ngoài ra, công trình cũng chỉ ra một số vướng mắc và giải pháp đề xuất

Trang 9

Khóa luận cử nhân Phân hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm (Trường

Đại học Luật TP Hồ Chí Minh năm 2018) của tác giả Nguyễn Đình Dương Nhi Công trình này thể hiện được khía cạnh chuyên sâu về sự phân hóa trách nhiệm hình

sự đối với người giúp sức có sự so sánh với pháp luật một số nước và trong trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội của người giúp sức Ngoài ra, công trình cũng chỉ ra sự nhầm lẫn trong thực tiễn áp dụng và kiến nghị một số giải pháp

Bài viết Bàn về điều kiện quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung

hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Tạp chí Tòa án nhân dân số

6 năm 2019) của tác giả Lê Khắc Tuấn Tác phẩm này làm rõ điều kiện áp dụng khoản

2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 dành cho người giúp sức đồng thời đề xuất cách

hiểu cụm từ có vai trò không đáng kể

Bài viết Người đồng phạm và trách nhiệm hình sự do đồng phạm theo pháp luật

hình sự hiện hành (Tạp chí Tòa án nhân dân số 5 năm 2019) của các tác giả Lê Cảm,

Ngô Hương Ly Tác phẩm này khẳng định không thể có đồng phạm và đã chỉ ra vấn

đề trách nhiệm hình sự khi lỗi của những người đồng phạm là cùng vô ý hoặc khi lỗi của người thực hành là cố ý còn lỗi của người giúp sức (hoặc người xúi giục) là vô ý hoặc khi lỗi của người xúi giục (hoặc người giúp sức) là cố ý còn lỗi của người thực hành là vô ý Tuy nhiên phải chăng tác phẩm có sự nhầm lẫn khi mà vừa khẳng định không thể có đồng phạm nhưng lại gọi tên những người liên quan là người đồng phạm, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức

Bài viết Bàn về quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 liên quan đến chế

định người giúp sức (Tạp chí Kiểm sát số 7 năm 2018) của tác giả Hoàng Quảng Lực

Ở tác phẩm này, tác giả Hoàng Quảng Lực đã phân biệt người giúp sức với người thực hành và chỉ ra sự nhầm lẫn trong một số bản án

Bài viết Phân hóa trách nhiệm hình sự của đồng phạm trong Bộ luật Hình sự

năm 2015 (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3 năm 2016) của tác giả Phí Thành

Chung Tác phẩm này đã nghiên cứu khá chi tiết về phân hóa trách nhiệm hình sự trong đồng phạm về nguyên tắc xử lí, về giai đoạn thực hiện tội phạm, về đồng phạm,

về quyết định hình phạt, về tình tiết định tội, định khung hình phạt

Như vậy, Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam không

phải là đề tài mới mà vốn đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, với những đề tài rộng, hẹp khác nhau Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của những tác phẩm đó vẫn chưa lấp đầy “khoảng trắng” và “lỗ hỏng” tri thức khoa học luật hình

sự liên quan đến đề tài này và cũng chưa giải quyết hết các bất cập mà pháp luật thực

Trang 10

định cũng như thực tiễn vướng phải Tác giả, trong Luận văn này, vẫn còn tiếp tục phát hiện nhiều vấn đề lí luận chuyên sâu liên quan đến đề tài đã chọn và một số đề xuất giải pháp mà chưa được bất kì tác phẩm nào đề cập tới hoặc có đề cập nhưng chưa được nghiên cứu triệt để Đây là tính mới của đề tài tác giả nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Luận văn nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lí luận liên quan đến người giúp sức trong đồng phạm, đóng góp một phần tri thức vào khoa học luật hình sự Bên cạnh, Luận văn cũng nghiên cứu, đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật hình

sự và thực tiễn xét xử, từ đó chỉ ra những bất cập đang tồn tại Cuối cùng, Luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm cải thiện tốt hơn pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng

4 Đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn đúng với tên gọi của đề tài là Người giúp

sức trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam

Giới hạn phạm vi nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu đề tài theo những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành Tuy nhiên khi cần làm rõ về khía cạnh lí luận nào đó hoặc khi cần liên hệ, so sánh thì có nghiên cứu pháp luật thời phong kiến, văn bản pháp luật hết hiệu lực và pháp luật nước ngoài

Ngoài ra, những quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại còn quá mới mẻ và vấn đề đồng phạm liên quan đến pháp nhân thương mại, thực tiễn càng tỏ ra lúng túng Vì vậy, Luận văn không nghiên cứu đến loại chủ thể này liên quan đến đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu trong Luận văn Phương pháp nghiên cứu cụ thể: tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lí truyền thống như phân tích, tổng hợp, so sánh, nghiên cứu án điển hình… để hoàn thành Luận văn

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Phần Mở đầu và Phần Kết luận, nội dung của Luận văn gồm 2 chương như sau: Chương 1: Những vấn đề lí luận và quy định về gười giúp sức trong đồng phạm Chương 2: Thực tiễn xét xử và một số kiến nghị hoàn thiện lí luận, pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng về người giúp sức trong đồng phạm

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH VỀ NGƯỜI GIÚP SỨC TRONG ĐỒNG PHẠM

1.1 Khái niệm đồng phạm, người giúp sức trong đồng phạm

1.1.1 Khái niệm đồng phạm

Một tội phạm có thể do một người thực hiện, hình thức phạm tội trong trường hợp này gọi là phạm tội đơn lẻ Một tội phạm cũng có thể do nhiều người cố ý cùng thực hiện, hình thức phạm tội trong trường hợp này gọi là đồng phạm Nghiên cứu lịch sử lập pháp nước ta có thể nhận thấy chế định đồng phạm đã được điều chỉnh từ

rất sớm trong cổ luật: Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm

đầu, người a tòng được giảm một bậc Nếu tất cả người trong một nhà cùng phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng1 Hoàng Việt luật lệ cũng quy định tương tự: Phàm

cùng phạm tội thì lấy người tạo ý đầu tiên làm thủ, những người tùy tùng giảm một bậc Nếu mọi người trong một nhà cùng phạm tội thì buộc tội một mình tôn trưởng2

Tuy nhiên, thuật ngữ đồng phạm lại không được ghi nhận chính thức mà việc điều

chỉnh chỉ tập trung chủ yếu ở nguyên tắc xử lí những loại người đồng phạm

Theo dòng chảy của lịch sử chế định đồng phạm tiếp tục phát triển theo sự phát

triển của pháp luật nước nhà Ngày nay, thuật ngữ đồng phạm đã được ghi nhận chính thức và được định nghĩa như sau: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố

ý cùng thực hiện một tội phạm3 Từ khái niệm này có thể nhận thấy những dấu hiệu pháp lí nhất định, cũng đồng thời là những yêu cầu bắt buộc của đồng phạm

Thứ nhất, về mặt khách quan:

Về chủ thể và số lượng chủ thể, đồng phạm đòi hỏi phải có hai người trở lên

có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS Đây là yêu cầu bắt buộc của chủ thể của tội phạm Nếu không thỏa mãn yêu cầu này thì một người dù thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng không phải là người phạm tội Vì người này vốn dĩ không có

khả năng thực hiện một tội phạm nên không thể tham gia đồng phạm, không là người

đồng phạm Do đó, nếu có nhiều người cố ý cùng thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội (hành vi bị BLHS coi là tội phạm) nhưng chỉ có duy nhất một người có

1 Quốc triều hình luật, Nxb Chính trị quốc gia, 1995, tr.46

2 Hoàng Việt luật lệ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Tp Hồ Chí Minh, 1994, tập 2, tr.181

3 Khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015

Trang 12

năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thì đây không phải đồng phạm mà chỉ là phạm tội đơn lẻ Tuy nhiên, nếu một hay một số người trong số họ không có năng lực TNHS hoặc chưa đủ tuổi chịu TNHS nhưng số người còn lại từ hai người trở lên thì vẫn có đồng phạm (đồng phạm đối với những người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS)

Về hành vi, đồng phạm đòi hỏi những người đó cùng thực hiện một tội phạm

Cùng ở đây không phải chỉ là cùng thời gian một cách ngẫu nhiên mà cùng thực hiện

một tội phạm tức là họ thực hiện tội phạm cùng với nhau, thực hiện chung với nhau,

trong sự thống nhất ý chí Ai cũng đều là người thực hiện tội phạm đó Trong đó, người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức là người gián tiếp thực hiện tội phạm4 thông qua người thực hành Do

đó, quy định cùng thực hiện một tội phạm của khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 là phù hợp với lí luận Quan điểm cho rằng cần sửa quy định này thành cùng tham gia

của hai người trở lên vào việc thực hiện tội phạm5 là chưa thuyết phục Ở đây, tác giả

Lê Văn Cảm đã nhầm lẫn khi cho rằng cùng thực hiện là chỉ mới đề cập tới hành vi của người thực hành (thực hiện tương đương với thực hành) Thực hiện mà BLHS

quy định là bao gồm trực tiếp thực hiện (hành vi của người thực hành) và gián tiếp thực hiện (hành vi của người tổ chức, xúi giục, giúp sức) Bởi vì theo quy định tại Điều 2 BLHS năm 2015 thì cơ sở của trách nhiệm hình sự là phạm tội Phạm tội được hiểu là thực hiện tội phạm Điều luật này không yêu cầu cách thức phạm tội phải là trực tiếp Với quy định người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm nhưng vẫn có cơ sở làm phát sinh TNHS của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức thì có thể suy ra người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức là những người gián tiếp thực hiện tội phạm Sự gián tiếp thực hiện tội phạm này thông qua sự trực tiếp thực hiện tội phạm của người thực hành Người thực hành vừa trực tiếp thực hiện tội phạm theo ý chí của mình cũng đồng thời thực hiện tội phạm theo ý chí của những người đồng phạm khác (vì ý chí của tất cả người đồng phạm là thống nhất, giống nhau) Bằng hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức chấp nhận rằng hành vi của người thực hành cũng là hành vi của mình (vì hành vi và ý chí của người thực hành hướng tới việc thực hiện tội phạm giống như mình mong muốn) Cách thức phạm tội của người tổ chức, người xúi giục, người giúp

4 Về gián tiếp thực hiện tội phạm sẽ được làm rõ hơn ở mục 1.2

5 Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, tr.457

Trang 13

sức như vậy gọi là gián tiếp thực hiện tội phạm, cũng là cơ sở làm phát sinh TNHS

cho họ Do đó, quy định cùng thực hiện tại khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 không

những phù hợp về lí luận mà còn phù hợp với Điều 2 BLHS năm 2015

Thứ hai, về mặt chủ quan:

Đồng phạm đòi hỏi những người đó cùng cố ý Tức là mỗi người chẳng những thực hiện tội phạm một cách cố ý mà còn biết người khác cũng thực hiện tội phạm một cách cố ý giống như mình, chung với mình Có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp Cụ thể với các dấu hiệu bắt buộc và cơ bản là:

- Những người đó đều biết được hoạt động phạm tội của mỗi người (hoặc của một số người trong số họ)

- Những người đó đều ý thức được rằng, bằng hành vi phạm tội của mình cùng với các hành vi phạm tội của những người khác, mình đã phạm tội hoặc góp phần thực hiện tội phạm

- Những người đó cùng mong muốn (hoặc cùng có ý thức để mặc) cho hậu quả chung nguy hiểm cho xã hội xảy ra6

1.1.2 Khái niệm người giúp sức trong đồng phạm

Loại người đồng phạm giúp sức vốn đã được đề cập từ sớm trong lịch sử lập pháp nước ta Quốc triều hình luật tuy chưa quy định về khái niệm người giúp sức nhưng trong những điều luật cụ thể đã phân biệt trường hợp thiếu trách nhiệm với giúp sức và quy định mức độ xử lí khác nhau Hoàng Việt luật lệ gọi người giúp sức

là tùng phạm, có khái niệm về người tùng phạm nhưng với nội hàm rộng, bao gồm

cả hành vi che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, những văn bản pháp luật hình sự nước ta có đề cập người giúp sức với thuật ngữ tòng phạm song cũng không quy định khái niệm về loại người đồng phạm này7 Khái niệm người giúp sức sau đó đã được quy định chính thức trong BLHS năm

1985, BLHS năm 1999 BLHS năm 2015 tiếp tục ghi nhận như sau: Người giúp sức

là người tạo điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm8 Với khái niệm này, luật hình sự Việt Nam quy định hành vi giúp sức căn cứ vào những dấu

hiệu khách quan, bao gồm: tạo điều kiện tinh thần cho việc thực hiện tội phạm hoặc

tạo điều kiện vật chất cho việc thực hiện tội phạm

6 Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc

gia Hà Nội, tr.458

7 Xem Trần Quang Tiệp (2019), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, tr.86,87

8 Khoản 3 Điều 17 BLHS năm 2015

Trang 14

Như ở mục trước tác giả đã đề cập, cở sở làm phát sinh TNHS là phạm tội, tức

là thực hiện tội phạm (không phân biệt trực tiếp hay gián tiếp) Điều kiện của gián

tiếp thực hiện tội phạm là người gián tiếp thực hiện tội phạm giống ý chí hướng đến

việc thực hiện tội phạm như người trực tiếp thực hiện tội phạm, đồng thời có hành

vi tác động bổ sung vào hành vi của người trực tiếp thực hiện tội phạm Hành vi tác

động bổ sung của người gián tiếp thực hiện tội phạm góp phần vào hành vi thực hiện tội phạm của người trực tiếp thực hiện tội phạm Để cùng với đó, hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm là tổng hợp hành vi của chính người đó với người gián tiếp thực hiện tội phạm Hay nói khác hơn, hành vi thực hiện tội phạm của người trực tiếp thực hiện tội phạm cũng đồng thời là hành vi thực hiện tội phạm của người gián tiếp thực hiện tội phạm Hành vi tác động bổ sung thể hiện như sau Người thực hành chấp nhận sự sai khiến, sắp đặt, nghe theo sự chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kích động, thúc đẩy, dụ dỗ của người tổ chức, người xúi giục nên thực hiện tội phạm theo sự chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kích động, thúc đẩy, dụ dỗ đó (bên cạnh giống với ý chí của mình, mình cũng muốn thực hiện như vậy) Người thực hành chấp nhận sự củng cố

ý chí từ người giúp sức nên ý chí được củng cố hơn, tự tin hơn, yên tâm hơn, nhờ vậy hành vi thực hiện tội phạm trở nên vững chắc hơn, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn; sử dụng điều kiện thuận lợi từ người giúp sức nên hành vi thực hiện tội phạm trở nên dễ dàng hơn, thuận lợi hơn Như vậy, rõ ràng hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm của người thực hành có sự góp phần của người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức Tác giả gọi những hành vi góp phần đó (chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kích động, thúc

đẩy, dụ dỗ, củng cố ý chí, tạo điều kiện thuận lợi) là hành vi tác động bổ sung vào

hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm của người thực hành Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức gọi là người gián tiếp thực hiện tội phạm

Trong khoa học pháp lí, hành vi giúp sức được chia thành hai loại là giúp sức vật chất và giúp sức tinh thần Giúp sức vật chất bao gồm các dạng giúp sức có tính vật chất như: cung cấp công cụ, phương tiện… cho người khác thực hiện tội phạm Giúp sức tinh thần bao gồm các dạng giúp sức có tính phi vật chất như: cung cấp thông tin, chỉ điểm, hướng dẫn, khắc phục khó khăn, trở ngại… hoặc củng cố ý chí (có tính tạo điều kiện tinh thần) cho người khác thực hiện tội phạm như: hứa hẹn tiêu thụ tài sản, hứa gả con, hứa đề bạt Tuy nhiên khi nghiên cứu các từ, cụm từ trong

khái niệm người giúp sức, tác giả có một số suy nghĩ như sau Từ vật chất có 3 nghĩa

phổ biến là: (1) một phạm trù triết học chỉ hiện thực khách quan tồn tại ở bên ngoài

ý thức của con người và độc lập đối với ý thức, (2) những gì thuộc về nhu cầu ăn ở,

Trang 15

mặc, đi lại, nói chung nhu cầu về thể xác của con người9, (3) bất cứ cái gì chiếm khoảng không và có khối lượng (matter)10 Đối với nghĩa (1), vì là một phạm trù triết học nên không phù hợp để sử dụng trong văn bản quy phạm pháp luật, vốn đòi hỏi tính phổ thông, dễ hiểu Nghĩa (2) thì không phù hợp, không có sự liên quan nào Nghĩa (3) có vẻ hợp lí hơn cả Giúp sức bằng cách cung cấp công cụ, phương tiện

phạm tội chính là tạo điều kiện vật chất hiểu theo nghĩa này Từ tinh thần có nghĩa

phù hợp nhất là: những thái độ, ý nghĩ định hướng cho hoạt động, quyết định hành động của con người11 Giúp sức bằng cách hứa hẹn che giấu tội phạm, tiêu thụ tài sản,

hứa gả con, hứa đề bạt… chính là tạo điều kiện tinh thần theo nghĩa này, tức là người

giúp sức củng cố ý chí phạm tội cho người thực hành Qua phân tích trên, tác giả thấy rằng những sự giúp sức như: chỉ dẫn, góp ý, cung cấp thông tin, khắc phục trở ngại… không phải là sự củng cố ý chí cho người thực hành mà là người thực hành trực tiếp

sử dụng chúng để thực hiện tội phạm dễ dàng hơn, thuận lợi hơn Mặc khác, chúng

cũng không phải là vật chất như nghĩa (3) ở trên mà là tạo điều kiện thuận lợi nói chung (một dạng điều kiện phi vật chất nhưng không phù hợp với nghĩa của tinh

thần) Hiện tại thì những dạng giúp sức này vẫn được hiểu trong nội hàm tạo điều kiện tinh thần Tuy nhiên, chúng không phù hợp với nghĩa của từ tinh thần như trên

Ngoài ra, đối với cụm từ việc thực hiện tội phạm, tác giả thấy rằng nên diễn đạt thành người khác thực hiện tội phạm (tương tự như khái niệm người xúi giục) thì sẽ

toát lên sự gián tiếp thực hiện tội phạm của người giúp sức Từ các phân tích trên, tác giả nghĩ rằng khái niệm người giúp sức nên được hiểu như sau:

Người giúp sức là người (gián tiếp thực hiện tội phạm bằng cách) tạo điều kiện thuận lợi hoặc củng cố ý chí cho người khác thực hiện tội phạm

Trong đó, giúp sức tạo điều kiện thuận lợi biểu hiện dưới tất cả các dạng (vật

chất và phi vật chất) mà người khác sử dụng hoặc nhờ đó mà thực hiện tội phạm được

dễ dàng hơn, thuận lợi hơn như: cung cấp công cụ, phương tiện, cung cấp thông tin,

chỉ điểm, hướng dẫn, góp ý, khắc phục khó khăn, trở ngại… Về nội hàm, giúp sức

tạo điều kiện thuận lợi rộng hơn so với giúp sức tạo điều kiện vật chất như cách hiểu

hiện nay

Ví dụ 1: Bị cáo T2 mặc dù biết rõ T gọi điện mang kiếm đến để đánh nhau

9 Hoàng Phê (chủ biên) (2017), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, tr.1404

10 “Từ điển Vật lí, Toán, Hóa, Y sinh, Vật lí y khoa”

https://sites.google.com/a/hcmus.edu.vn/vlyk-khtn-hcm/tai-lieu/thuat-ngu (tra từ matter hoặc vật chất), truy cập lần cuối ngày 10/6/2020

11 Hoàng Phê (chủ biên) (2017), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, tr.1261

Trang 16

nhưng vẫn đồng ý mang thanh kiếm đến cho T để T dùng làm hung khí phạm tội Do vậy, Dương Quang T2 giữ vai trò là người giúp sức để T thực hiện hành vi phạm tội, đồng phạm với bị cáo Hoàng Anh T về tội “Giết người”12

Giúp sức củng cố ý chí biểu hiện dưới dạng như: động viên, khuyến khích, hứa

hẹn, khen ngợi, cổ vũ… để tiếp thêm niềm tin, động lực, sự yên tâm, sự vững chí, sự

quyết tâm… cho người khác thực hiện tội phạm Về nội hàm, giúp sức củng cố ý chí hẹp hơn so với giúp sức tạo điều kiện tinh thần như cách hiểu hiện nay (tức trừ ra các

trường hợp giúp sức phi vật chất13 như: chỉ dẫn, góp ý, cung cấp thông tin, khắc phục trở ngại…)

Ví dụ 2: Đối với bị cáo Trương Chí B khi đi theo bị cáo T và Q có cầm hung

khí để giúp sức về tinh thần nên bị cáo T và B là đồng phạm với bị cáo Q trong hành

vi gây thương tích cho anh Trần Văn T14

Cả hai ví dụ trên đều có sự xuất hiện của hung khí mà người giúp sức đã chuẩn

bị Tuy nhiên, ở ví dụ 2 người giúp sức tự giữ hung khí cho bản thân, người thực hành không sử dụng hung khí này Người thực hành được người giúp sức củng cố ý chí vì tin tưởng vào sự sẵn sàng hỗ trợ của người giúp sức nên yên tâm hơn trong việc thực hiện tội phạm Còn ở ví dụ 1 thì người thực hành đã sử dụng hung khí do người giúp sức đưa nên phạm tội dễ dàng hơn, thuận lợi hơn

Nghiên cứu BLHS của Liên Bang Nga thì thấy quy định như sau: Người giúp

sức là người giúp đỡ, tạo điều kiện cho việc thực hiện tội phạm bằng cách cố vấn chỉ dẫn, cung cấp thông tin, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm hoặc xóa bỏ mọi cản trở; là người đã hứa hẹn trước sẽ che giấu người phạm tội, công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm, dấu vết tội phạm hoặc các đồ vật thu được do phạm tội; cũng là người đã hứa hẹn trước sẽ tiêu thụ những tang vật này15 Đây cũng là kiến nghị của một số tác giả16 đề xuất sửa đổi khái niệm người giúp sức Tuy nhiên, tác giả nhận thấy rằng việc quy định khái niệm bằng cách liệt kê cụ thể những dạng hành vi giúp sức như vậy là chưa thực sự khoa học Việc quy định khái niệm liệt kê như thế này chỉ làm cho định nghĩa trở nên dài dòng và hơn nữa là rất khó để liệt kê hết tất cả những dạng hành vi giúp sức có thể xảy ra Mà theo đó là nên quy định khái quát

12 Bản án số 03/2019/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2019 của TAND tỉnh Thái Nguyên

13 Phi vật chất không đồng nghĩa với tinh thần

14 Bản án số 143/2018/HSST ngày 25 tháng 12 năm 2018 của TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An

15 Khoản 5 Điều 33 BLHS Liên Bang Nga

16 Lê Thị Loan (2015), Người giúp sức trong đồng phạm theo Luật Hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật

học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.68,69

Trang 17

thành 2 loại giúp sức là tạo điều kiện thuận lợi và củng cố ý chí cho người khác thực

hiện tội phạm như đã trình bày trên Việc liệt kê này nên chăng là do Tòa án nhân dân tối cao giải thích và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật

1.2 Vấn đề xác định tội danh trong đồng phạm

Một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu chế định đồng phạm là việc xác định tội danh của những người đồng phạm Ở mục này tác giả sẽ phân tích để làm rõ vấn

đề những người đồng phạm chịu TNHS về cùng một tội danh hay cùng một tội phạm Xuất phát từ nguyên nhân tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm nên kết quả của tội phạm đó là kết quả phạm tội chung của những người đồng phạm Người thực hành, bằng hành vi và ý chí của mình, trực tiếp thực hiện tội phạm, từ đó gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội Đồng thời, trong sự cùng giống ý chí hướng đến việc phạm tội với người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức, bằng hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức, đã gián tiếp thực hiện tội phạm thông qua hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm của người thực hành Hậu quả do người thực hành gây ra cũng là hậu quả do người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức gây ra

Do đó, tất cả những người đồng phạm phải chịu TNHS chung về toàn bộ tội phạm

Mặc khác, khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 còn quy định: Đồng phạm là trường

hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Vì vậy, về lí thuyết được

thừa nhận rộng rãi hiện nay, tất cả những người đồng phạm đều bị truy tố, xét xử về cùng một tội danh theo cùng một điều luật Bên cạnh đó cũng có quan điểm khác cho rằng đồng phạm không nhất thiết phải cùng tội danh17 Tác giả tán thành với quan điểm này và cũng cho rằng đồng phạm có thể khác tội danh, những người đồng phạm

có thể bị xử lí về các tội danh khác nhau, theo những điều luật khác nhau

Trước hết, tác giả xin được phân biệt hai khái niệm tội phạm và tội danh Tội

phạm được định nghĩa tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 Theo đó, “xương sống” của tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội (kèm theo các điều kiện: được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện, có lỗi, xâm phạm đến khách thể

mà luật hình sự bảo vệ) Ví dụ, giết người (là hành vi nguy hiểm cho xã hội và đã được BLHS quy định, xâm phạm quyền sống, nếu do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý) là tội phạm – tội phạm giết người Nói “tội phạm giết người” có nghĩa là hành vi giết người là (một) tội phạm, nói “tội phạm mua bán trái phép chất

17 Hoàng Hữu Sỹ, “Một số vấn đề về đồng phạm trong vụ án hình sự”, doi-nghiep-vu/1093/mot-so-van-de-ve-dong-pham-trong-vu-an-hinh-su.htm#.XcDmEx83vIW, truy cập lần cuối ngày 10/6/2020

Trang 18

http://vienkiemsatlangson.gov.vn/trao-ma túy” có nghĩa là hành vi mua bán trái phép chất http://vienkiemsatlangson.gov.vn/trao-ma túy là (một) tội phạm, nói “tội phạm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác” có nghĩa là hành

vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác là (một) tội phạm… Hay diễn đạt bằng một cách khác, ta có thể phát biểu: các hành vi giết người, mua bán trái phép chất ma túy, xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác… (nếu đủ các điều kiện của khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015) là những tội phạm

Còn tội danh là tên của tội phạm (danh có nghĩa là tên), tức là tên của hành vi nguy hiểm cho xã hội nói trên (và có thể cộng thêm một số dấu hiệu khác), do Nhà làm luật đặt Do hành vi nguy hiểm cho xã hội rất nhiều, rất đa dạng nên Nhà làm luật đặt tên cho các hành vi nguy hiểm đó bằng những tội danh khác nhau để thuận tiện cho việc nghiên cứu và áp dụng Nhà làm luật đặt tên cho tội phạm giết người là

tội giết người (không cộng thêm dấu hiệu khác), đặt tên cho tội phạm mua bán trái

phép chất ma túy là tội mua bán trái phép chất ma túy (không cộng thêm dấu hiệu

khác), đặt tên cho tội phạm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người

khác là tội làm nhục người khác (không cộng thêm dấu hiệu khác)… Thông thường,

nếu tội phạm mà hành vi nguy hiểm có thể diễn đạt bằng ngôn từ đơn giản, dễ hiểu thì Nhà làm luật đặt tên cho tội phạm đó trùng tên với hành vi nguy hiểm Ví dụ: tội

phạm giết người được đặt tên là tội giết người, tội phạm bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được đặt tên là tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, tội phạm mua bán trái phép chất ma túy được đặt tên là tội mua bán trái phép chất ma túy… Nếu

tội phạm mà hành vi nguy hiểm phải diễn đạt bằng ngôn từ phức tạp thì Nhà làm luật không thể đặt cho nó một cái tên quá dài dòng, phức tạp, khi đó sẽ đặt cho nó bằng một tên đơn giản, dễ hiểu hơn nhưng vẫn thể hiện hoặc gợi lên được ý chính của hành

vi nguy hiểm Ví dụ: tội phạm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người

khác được đặt tên là tội làm nhục người khác, tội phạm làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt

để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm được đặt tên là tội môi giới mại dâm,

tội phạm che giấu thông tin về nguồn gốc, bản chất thực sự, vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ

sở để biết là do người khác phạm tội mà có hoặc cản trở việc xác minh các thông tin

đó được đặt tên là tội rửa tiền… Việc đặt tên cho một tội phạm có tội danh như thế

nào là tùy theo nhu cầu của Nhà làm luật Nhà làm luật của Thụy Điển, Trung Quốc thậm chí còn không cần đặt tội danh cho tội phạm BLHS của các nước này chỉ có số điều luật mà không có tên điều luật Khi đó, Tòa án các nước này không thể tuyên bị

Trang 19

cáo nào đó phạm tội gì mà chỉ có thể tuyên hành vi của bị cáo nào đó là tội phạm theo khoản mấy, Điều mấy mà thôi

Từ các phân tích trên, tác giả có thể khẳng định tội phạm và tội danh là hai

khái niệm độc lập nhất định Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội (kèm theo các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015), còn tội danh là tên của

nó, do Nhà làm luật đặt, thậm chí có thể không cần đặt Trong một điều luật (ở Phần Các tội phạm của BLHS) thì tội phạm chính là phần quy định về hành vi khách quan trong nội dung của điều luật, còn tội danh là tên của điều luật

Tuy nhiên, trên thực tế với cùng một tội phạm (tức cùng một hành vi nguy hiểm cho xã hội) nhưng với việc có thêm, bớt ra hay thay đổi một hay một vài dấu hiệu nào

đó (chủ thể, đối tượng tác động, động cơ, mục đích, hoàn cảnh, trạng thái tinh thần…) thì khiến cho tội phạm trở nên nguy hiểm hơn hoặc ít nguy hiểm hơn hoặc làm thay đổi khách thể hoặc xâm phạm thêm khách thể khác đặc trưng hơn nên Nhà làm luật

đã tách ra và đặt tên khác nhau cho các trường hợp này Đây thực sự chỉ là vấn đề của kĩ thuật lập pháp18 Nhà làm luật có thể gom các trường hợp đó về chung một điều luật, đặt một tên chung (tức cùng tội danh) và chúng chỉ nằm ở các khoản khác nhau mà thôi Ngược lại, Nhà làm luật cũng có thể tách chúng ra thành các điều luật khác nhau và đặt các tên khác nhau (khác tội danh) Kết quả là, một tội phạm có thể được đặt bằng nhiều tên, mỗi tên là một tội danh khác nhau, là một trường hợp do có

sự thêm vào, bớt ra hay thay đổi một hay một vài dấu hiệu nào đó Ví dụ: tội phạm giết người được đặt bằng các tên (tội danh) như: tội giết người (Điều 123), tội giết con mới đẻ (Điều 124), tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125), tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (Điều 126); tội phạm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác được đặt bằng các tên như: tội làm nhục người khác (Điều 155), tội làm nhục đồng đội (Điều 397), tội hành hạ người khác (Điều 140), tội bức tử (Điều 130)…

Theo quan điểm khá phổ biến hiện nay, những người đồng phạm đều bị xử lí về cùng một tội danh và cùng một điều luật Tác giả cho rằng, quan điểm này còn tồn tại

18 Ví dụ: khoản 3, khoản 4 Điều 101 (tội giết người) BLHS năm 1985 được tách ra và đặt những tên khác là tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 125 BLHS năm 2015), tội giết con mới đẻ (Điều 124 BLHS năm 2015) hoặc tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS năm 2015), tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2015) đều là các khoản của Điều 112 (tội hiếp dâm) BLHS năm 1985 hoặc tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 132 BLHS năm 1985), tội trộm cắp tài sản của công dân (Điều 155 BLHS năm 1985) được gom về một điều luật và được đặt một tên chung là tội trộm cắp tài sản (Điều 173 BLHS năm 2015)…

Trang 20

bất cập Khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 quy định đồng phạm là về cùng một tội

phạm, những người đồng phạm chịu trách nhiệm chung về tội phạm đó Điều này

hoàn toàn chính xác Tuy nhiên, tác giả cho rằng việc đánh đồng tội phạm là tội danh

là một sự ngộ nhận Như vậy, với những phân tích trên, tác giả xin được khẳng định lại đồng phạm là về cùng một tội phạm, tức là cùng hành vi nguy hiểm cho xã hội (thỏa mãn khoản 1 Điều 8 BLHS), những người đồng phạm chịu TNHS chung theo

tội phạm này, tức là theo hành vi nguy hiểm này (chứ không phải về cùng một tội

danh) Đồng phạm hoàn toàn có thể khác tội danh, những người đồng phạm có thể

bị xử lí theo các tội danh khác nhau, theo những điều luật khác nhau Khi đó, nguyên tắc xử lí là chỉ xem xét áp dụng các quy định của chế định đồng phạm trong phạm vi tội phạm có đồng phạm, không được áp dụng cho toàn bộ khung hình phạt của tội danh có thêm, bớt ra hay thay đổi dấu hiệu khác tội phạm có đồng phạm

Ví dụ: Tại bản án số 139/2008/HSST của TAND quận H, thành phố Đ đã xét

xử vụ án với nội dung như sau: Đi làm về, bắt gặp vợ mình đang quan hệ với Mai Xuân H ngay tại nhà mình, Nguyễn Văn C đã cầm dao đuổi đánh người tình của vợ Thấy vậy, Trần Văn T (bạn của C) vào giúp sức, cầm gậy đuổi đánh Mai Xuân H gây thương tích 38% (xác định C gây thương tích cho H 22%, T gây thương tích cho H 16%) Trong vụ án này cả C và T đều cố ý thực hiện một tội phạm Tòa án xác định đây là đồng phạm giản đơn, tuyên C phạm tội Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105 BLHS năm 1999), T phạm tội Cố ý gây thương tích (Điều 104 BLHS năm 1999)19

Trong vụ án này, TAND quận H đã nhận định cả C và T đều cố ý cùng thực hiện một tội phạm (tội phạm cố ý gây thương tích) và do đó, vụ án có đồng phạm Tuy nhiên, đây là trường hợp đồng phạm khác tội danh Vì khi cùng thực hiện tội phạm cố ý gây thương tích với bị cáo T, bị cáo C còn có thêm dấu hiệu “trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” nên C bị xử lí theo tội danh cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Giả sử rằng vụ án này xảy ra vào thời điểm BLHS năm 1985 có hiệu lực thì C và T bị xử lí cùng một tội danh cố ý gây thương tích (Điều 109 BLHS năm 1985) và chỉ khác khoản mà thôi, T khoản 2 còn

C khoản 4 Và do chỉ là vấn đề kĩ thuật lập pháp nên ngày nay các bị cáo này bị xử lí theo 2 tội danh (2 điều luật) khác nhau Bản án xác định A, C đồng phạm và tuyên bố

19 Xem Trần Văn Thượng, “Các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm”, Kỉ yếu Hội thảo

Những quy định mới thuộc Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – Khoa

Luật hình sự, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh tháng 6/2019, tr.55

Trang 21

về các tội danh khác nhau là hoàn toàn chính xác, phù hợp lí luận, đúng quy định Quan điểm của tác giả Trần Văn Thượng cho rằng TAND quận H vi phạm nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm trong đồng phạm là không thuyết phục, ngộ nhận tội phạm với tội danh

Ví dụ về một số trường hợp đồng phạm khác tội danh điển hình:

Do chủ thể, đối tượng tác động, mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng tác động, hoàn cảnh… khác nhau:

Ví dụ 1: A (quân nhân tại ngũ) và B (dân thường) cùng xúc phạm nghiêm trọng

nhân phẩm, danh dự của C (là đồng đội của A)

Như vậy, A và B đồng phạm về tội phạm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm,

danh dự của người khác (tội phạm này được ghi nhận tại nhiều điều luật của BLHS)

Tội phạm này được đặt nhiều tên, tội làm nhục người khác và tội làm nhục đồng đội

là 2 trong số các tên của nó Về tội danh, A bị xử lí về tội làm nhục đồng đội (Điều

397 BLHS năm 2015), B bị xử lí về tội làm nhục người khác (Điều 155)

Ví dụ 2: A (người cha) và B (người mẹ) cùng giết con mới đẻ Trong đó, người

mẹ bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt (người cha cũng có thể như vậy, nhưng chỉ được xem xét khi lượng hình)

Như vậy, A và B đồng phạm về tội phạm giết người Tội phạm này cũng được

đặt nhiều tên, ghi nhận ở nhiều điều luật của BLHS, tội giết người và tội giết con mới

đẻ là 2 trong số các tên của nó Về tội danh, A bị xử lí về tội giết người (Điều 123),

B bị xử lí về tội giết con mới đẻ (Điều 124)

Do hành vi vượt quá của người đồng phạm (có thêm thủ đoạn):

Ví dụ 3: A và B bàn bạc đi trộm cắp tài sản và bỏ chạy nếu bị phát hiện A vào

lấy tài sản còn B đứng bên ngoài cảnh giới Khi bị phát hiện, A đã dùng vũ lực đối với nạn nhân để chiếm đoạt cho bằng được tài sản, còn B không hay biết gì

Như vậy, A và B đồng phạm về tội phạm chiếm đoạt tài sản (bằng thủ đoạn

lén lút) Tội phạm này cũng được đặt nhiều tên, ghi nhận ở nhiều điều luật Cùng là tội phạm chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút nhưng A có thêm dấu hiệu bằng thủ đoạn dùng vũ lực (biểu hiện dưới dạng hành vi) Tội phạm chiếm đoạt tài sản với các dấu hiệu thủ đoạn khác nhau Nhà làm luật đặt thành các tội danh khác nhau Do đó,

về tội danh, A bị xử lí về tội cướp tài sản (Điều 168), B bị xử lí về tội trộm cắp tài sản (Điều 173)

 Do mục đích, động cơ khác nhau:

Trang 22

Ví dụ 4: A mua 10 kg pháo nổ và thuê B chở về nhà A nói với B là mua pháo

về để đốt dịp Tết cho vui, hoàn toàn giấu B mục đích mua về bán lại và động cơ kiếm lời của mình

Đối với tội phạm có yêu cầu bắt buộc về mục đích, động cơ thì tất cả những người đồng phạm phải có cùng mục đích, động cơ phạm tội Do B không có mục đích mua về bán lại và động cơ kiếm lời giống như A nên A và B không đồng phạm về tội buôn bán hàng cấm Tuy nhiên, tác giả cho rằng đối với tội vận chuyển hàng cấm (cả

A và B đều có hành vi này) thì không có yêu cầu về mục đích, động cơ nên A và B

đồng phạm về tội phạm vận chuyển hàng cấm Về tội danh, vì có thêm mục đích

mua về bán lại và động cơ kiếm lời nên A bị xử lí về tội buôn bán hàng cấm (Điều 190), còn B không có mục đích, động cơ đó và cũng không biết A có mục đích, động

cơ đó (không tiếp nhận mục đích, động cơ đó từ A) nên bị xử lí về tội vận chuyển hàng cấm (Điều 191)

* Ngoài ra, theo lí thuyết được thừa nhận rộng rãi hiện nay thì người thực hành

là người đồng phạm có vị trí trung tâm, tội danh của những người đồng phạm khác được xác định theo tội danh của người thực hành

Ví dụ 1: A (người cha) và B (người mẹ) cùng giết con mới đẻ Trong đó, người

mẹ bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt Người cha mua sữa và thuốc độc, còn người mẹ trực tiếp cho con uống Đứa trẻ uống xong thì chết

Như vậy, theo lí thuyết hiện nay, vì người mẹ là người thực hành còn người cha

là người giúp sức nên cả người cha và người mẹ đều bị xử lí về tội giết con mới đẻ (Điều 124 BLHS)

Tác giả cho rằng lí thuyết này hiện vẫn tồn tại bất cập, việc xử lí những người đồng phạm khác theo tội danh của người thực hành là chưa thuyết phục, thiếu sự công bằng, cụ thể qua các tình huống khác của ví dụ 1 như sau

Ví dụ 2: A (người cha), B (người mẹ) cùng giết con mới đẻ Trong đó, người

mẹ bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt Người mẹ mua sữa và thuốc độc, còn người cha trực tiếp cho con uống Đứa trẻ uống xong thì chết

Như vậy, theo lí thuyết hiện nay, vì người cha là người thực hành còn người mẹ

là người giúp sức nên cả người cha và người mẹ đều bị xử lí về tội giết người (Điều

123 BLHS) Việc này là thiếu sự công bằng trong xử lí đối với người mẹ Thật vô lí khi mà người giúp sức lại bị xử lí tội nặng hơn so với tình huống đóng vai trò là người

Trang 23

thực hành – người trực tiếp giết chết đứa trẻ

Ví dụ 3: A (người cha) xúi giục B (người mẹ) giết con mới đẻ Trong đó, người

mẹ bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt Người cha mua sữa và thuốc độc, còn người mẹ trực tiếp cho con uống Đứa trẻ uống xong thì chết

Như vậy, theo lí thuyết hiện nay, vì người mẹ là người thực hành còn người cha

là người xúi giục (kiêm giúp sức) nên cả người cha và người mẹ đều bị xử lí về tội giết con mới đẻ (Điều 124 BLHS) Việc này đã xử lí người cha chưa thỏa đáng, chưa

đủ sức răn đe, phòng ngừa Ở ví dụ 2, người cha là người thực hành thì xử lí tội giết người, trong khi ở ví dụ 3 này với trò là người xúi giục (thậm chí tổ chức) kiêm luôn giúp sức thì chỉ bị xử lí ở tội nhẹ hơn là tội giết con mới đẻ Điều này là rất khó thuyết phục

Ví dụ 4: A (người cha), B (người mẹ) và C cùng giết một đứa trẻ mới đẻ là con

của A và B Trong đó, người mẹ bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt Người cha thì bịt mũi, còn người mẹ thì bịt miệng đứa con C cung cấp khăn, giẻ để A và B bịt miệng, mũi đứa trẻ Vì vậy đứa trẻ ngạt thở mà chết

Trong tình huống này do cả người cha và người mẹ đều là người thực hành nên

lí thuyết trên càng lộ rõ sự bất cập của mình Do cả A và B đều là người thực hành vậy thì C sẽ bị xử lí như thế nào, theo tội của A hay tội của B? Chúng ta không thể

có câu trả lời khi mà vụ án có nhiều người thực hành và những người thực hành lại

bị xử lí ở các tội khác nhau

Từ các ví dụ minh họa và phân tích nêu trên, tác giả xin được nêu quan điểm

của mình, lí thuyết trên nên được nhận thức lại Theo đó, tội giết người (Điều 123) hay tội giết con mới đẻ (Điều 124) và một số tội khác chỉ là các tội danh khác nhau

(do Nhà làm luật đặt) cho tội phạm giết người A và B đồng phạm về tội phạm giết người Về tội danh, trong mọi trường hợp bất kể ai là người thực hành, người cha (cũng như bất kì người nào khác) bị xử lí về tội giết người (Điều 123) và người mẹ

bị xử lí về tội giết con mới đẻ (Điều 124) Những trường hợp đồng phạm nhưng bị

xử lí về các tội danh khác nhau cũng được giải quyết tương tự

1.3 Ý nghĩa quy định và xác định đúng người giúp sức trong đồng phạm

Ý nghĩa của việc quy định người giúp sức trong đồng phạm:

Việc quy định người giúp sức là người đồng phạm có ý nghĩa lớn trong lập pháp, đánh dấu sự trưởng thành trong nhận thức toàn diện về chế định đồng phạm nói chung,

Trang 24

loại người đồng phạm này nói riêng Với hành vi tạo điều kiện thuận lợi hoặc củng

cố ý chí cho người khác thực hiện tội phạm, người giúp sức đã gián tiếp thực hiện tội phạm Nếu không quy định người giúp sức là người đồng phạm thì vẫn có cơ sở để truy cứu TNHS đối với hành vi của người này Tuy nhiên, trường hợp này sẽ là phạm tội độc lập và như thế sẽ không đánh giá được hết tính chất, mức độ nguy hiểm để có hình phạt tương xứng Trong khi đó, việc phạm tội thường xuyên có sự góp mặt của loại người này Do đó, việc quy định người giúp sức là một loại người đồng phạm là hết sức cần thiết Lúc này, việc đánh giá vụ án có đồng phạm sẽ trở nên toàn diện hơn, vụ án được giải quyết triệt để Người giúp sức là người đồng phạm nên sẽ chịu TNHS về toàn bộ tội phạm cùng với những người đồng phạm khác, chứ không còn

là chịu TNHS độc lập Người giúp sức còn là một “mắc xích” trong vụ án nên nếu

“bẻ” được mắt xích này thì hoạt động điều tra, phá án sẽ được thuận lợi hơn Việc quy định và định nghĩa người đồng phạm giúp sức còn giúp tạo cơ sở pháp lí giới để những nhà áp dụng pháp luật phân biệt với các loại người đồng phạm khác, phân biệt với không tố giác tội phạm, che giấu tội phạm, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có cũng như các trường hợp dễ gây nhầm lẫn khác Ngoài ra, việc quy định người giúp sức là người đồng phạm còn giúp hoàn thiện khung pháp lí về đồng phạm,

từ đó xây dựng những quy định điều chỉnh phù hợp

Ý nghĩa của việc xác định đúng người giúp sức trong đồng phạm:

Việc xác định đúng tư cách, vai trò người giúp sức trong đồng phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong áp dụng pháp luật, cụ thể như sau

- Xác định đúng tư cách người giúp sức sẽ tránh được nhầm lẫn với người không phạm tội nhưng có hành vi tương tự với người giúp sức hoặc có liên quan đến vụ án

Từ đó tránh làm oan người vô tội, tránh bỏ lọt tội phạm

- Xác định đúng tư cách người giúp sức sẽ tránh được nhầm lẫn với người phạm tội độc lập có liên quan đến vụ án Từ đó xét xử đúng tội danh, đánh giá đúng tính chất của vụ án

- Xác định đúng tư cách người giúp sức sẽ tránh nhầm lẫn với những người đồng phạm khác Từ đó đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm, mức độ tham gia đồng phạm, áp dụng các quy định phân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt giữa những người đồng phạm một cách chính xác

- Xác định đúng vai trò của người giúp sức là tạo điều kiện thuận lợi hay vai trò củng cố ý chí, vai trò đắc lực, vai trò thông thường hay vai trò không đáng kể giúp đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm, mức độ tham gia đồng phạm của loại

Trang 25

người đồng phạm này Từ đó áp đúng các quy định tương ứng, quyết định hình phạt thích hợp

1.4 Phân biệt người giúp sức với người không phải là người đồng phạm

Trong mục này tác giả sẽ phân biệt để xác định chính xác ai là người giúp sức trong đồng phạm, ai không phải là người đồng phạm Tác giả không trình bày hết tất

cả dấu hiệu, điều kiện của người giúp sức để phân biệt với người không phải là người đồng phạm trong mọi trường hợp mà chỉ tập trung nghiên cứu, phân biệt những trường hợp mà người không phạm tội hoặc người phạm tội độc lập có liên quan đến

vụ án hoặc hành vi của họ tương tự, dễ gây nhầm lẫn với hành vi của người giúp sức

1.4.1 Phân biệt người giúp sức với người không phạm tội

1.4.1.1 Người không phạm tội do dấu hiệu định tội riêng thuộc cá nhân

Người có hành vi tương tự hành vi của người đồng phạm (chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kích động, dụ dỗ, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi, củng cố ý chí cho người khác thực hiện tội phạm) nhưng vì không thỏa mãn dấu hiệu định tội mang tính chất riêng thuộc về cá nhân thì không thể buộc người đó phải chịu TNHS Bởi vì đơn giản

là người đó, trong trường hợp đó, cho dù có trực tiếp thực hiện hành vi thì cũng không phạm tội huống chi chỉ là gián tiếp thực hiện hành vi Tác giả cho rằng điều này là không có vướng mắc trong lí luận và thực tiễn

Ví dụ: A cung cấp công cụ (không phải hung khí nguy hiểm) cho B cố ý gây

thương tích 7% cho C (C là thầy giáo của B)

Như vậy, chỉ B phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại diểm d khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015 A không phạm tội mặc dù có hành vi tạo điều kiện thuận lợi cho B phạm tội (dù A là người trực tiếp gây thương tích 7% cho C thì A cũng không phạm tội) Ở đây A không phạm tội (tức cũng không là người đồng phạm) vì dấu hiệu định tội yêu cầu trong trường hợp này là mối quan hệ đặc biệt giữa người phạm tội và bị hại phải là quan hệ thầy – trò (hoặc các mối quan hệ đặc biệt khác theo quy định của Điều 134 BLHS) Vì tỉ lệ tổn thương cơ thể ít (dưới 11%) thì với mối quan hệ này mới tăng lên tính nguy hiểm đủ coi hành vi là tội phạm Sự nguy hiểm tăng lên này (so với các mối quan hệ thông thường giữa người phạm tội và bị hại) thể hiện ở chỗ người phạm tội phản trắc, vô ơn, vô lễ cao hơn Điều này chỉ có ở B (vì bị hại là thầy giáo của B) mà không có ở A (vì bị hại không là thầy giáo của A) Như

vậy, dấu hiệu định tội phạm tội đối với thầy giáo của mình quy định tại điểm d khoản

1 điều 134 BLHS là dấu hiệu định tội mang tính chất riêng thuộc cá nhân Và do đó, chỉ người nào thỏa mãn dấu hiệu này mới là người phạm tội, còn người khác không

Trang 26

thỏa mãn dấu hiệu này (cũng như không thỏa mãn dấu hiệu định tội nào khác) thì không là người phạm tội mặc dù người đó có hành vi giúp sức cho người khác thực hiện tội phạm

Cụ thể hơn, đoạn 2 Điều 58 BLHS năm 2015 quy định: Các tình tiết giảm nhẹ,

tăng nặng hoặc loại trừ TNHS thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với

người đó Tuy nhiên, quy định này mắc phải sai sót, đã là tình tiết loại trừ TNHS thì

sao có thể thuộc người đồng phạm Lẽ ra phải tách phần này ra, đưa về Điều 17 và

diễn đạt bao quát hơn như sau: Người tuy có hành vi chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kích

động, dụ dỗ, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi, củng cố ý chí cho người khác thực hiện tội phạm nhưng không thỏa mãn dấu hiệu định tội mang tính chất riêng thuộc về cá nhân thì không phạm tội, không phải là người đồng phạm Dấu hiệu định tội mang

tính chất riêng thuộc về cá nhân là dấu hiệu định tội chỉ áp dụng riêng đối với người nào thỏa mãn dấu hiệu đó, những người không thỏa mãn thì không bị áp dụng dấu hiệu đó Dấu hiệu định tội mang tính chất riêng thuộc cá nhân thể hiện sự nguy hiểm tăng lên của riêng người đó nên chỉ người đó phải chịu TNHS Nhận diện các dấu hiệu riêng này bằng cách xét trong trường hợp phạm tội đơn lẻ, nếu không thỏa mãn dấu hiệu đó thì người thực hiện hành vi (đơn lẻ) không phạm tội Những dấu hiệu định tội riêng thuộc về cá nhân điển hình như: đặc điểm xấu về nhân thân (đã bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lí kỉ luật, chưa được xóa án tích), mối quan hệ đặc biệt với bị hại (ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, người chữa bệnh cho mình…), mối quan hệ đặc biệt với người đồng phạm (người có cùng dòng máu về trực hệ, anh chị em ruột trong tội loạn luân), có tính chất côn đồ… Như ví dụ trên, A cố ý gây thương tích 7% cho C thì A không phạm tội Bên cạnh, thực tiễn cũng xét xử đúng người, đúng tội trong trường hợp này

Ví dụ: Đối với Đinh Văn Th, Chu Văn H1, Lương Xuân H, Tống Công E, Nông

Văn X, Bùi Văn T, Hoàng Văn Ng, Lý Văn D, Tạ Văn H2 và Bùi Văn L có hành vi đánh bạc; Tạ Văn Th1 có hành vi giúp sức đánh bạc nhưng tổng số tiền đánh bạc trong vụ án dưới 5.000.000 đồng, các đối tượng trên chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị kết án về tội Đánh bạc hay tội Tổ chức đánh bạc hoặc

gá bạc Ngày 29/11/2018, Công an huyện Hàm Yên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lí20

Ở ví dụ này, đã bị xử phạt vi phạm hành chính là một dấu diệu định tội mang

20 Bản án số 01/2019/HSST ngày 25 tháng 01 năm 2019 của TAND huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

Trang 27

tính chất riêng thuộc cá nhân (đặc điểm xấu về nhân thân) nên trong số những người đánh bạc với nhau dưới 5.000.000 đồng thì chỉ những ai đã bị xử phạt vi phạm hành chính mới phải chịu TNHS Tạ Văn Th1 tuy có hành vi giúp sức đánh bạc nhưng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên không phạm tội, không phải người đồng phạm Điều này đã được nhận định chính xác trong Bản án

1.4.1.2 Người không phạm tội do hành vi không bị xem là gián tiếp thực hiện

tội phạm

Tác giả xin được khẳng định lại, Điều 2 BLHS năm 2015 quy định cơ sở làm

phát sinh TNHS là phạm tội Phạm tội được hiểu là thực hiện tội phạm (tức là có hành

vi giống hành vi khách quan và thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu bắt buộc khác của một CTTP nào đó) Thực hiện tội phạm có thể trực tiếp hoặc gián tiếp Điều kiện của gián tiếp thực hiện tội phạm tác giả đã trình bày ở mục 1.1.2, cụ thể phải có đủ 3 điều kiện sau đây:

(1) Người gián tiếp thực hiện tội phạm giống ý chí hướng đến việc thực hiện tội phạm như người trực tiếp thực hiện tội phạm;

(2) Người gián tiếp thực hiện tội phạm có hành vi tác động bổ sung vào hành vi của người trực tiếp thực hiện tội phạm;

(3) Người trực tiếp thực hiện tội phạm phải là người phạm tội, hành vi của người này đủ yếu tố cấu thành tội phạm

Như vậy, nếu một người có hành vi tạo điều kiện thuận lợi hoặc củng cố ý chí cho người khác mà hành vi của người khác đó không phải là tội phạm (tức không thỏa mãn điều kiện 3) thì không bị xem là gián tiếp thực hiện tội phạm Người có hành vi tương tự người giúp sức trong trường hợp này không bị coi là gián tiếp thực hiện tội phạm (tất nhiên cũng không là trực tiếp thực hiện tội phạm) nên không phạm tội, không phải người đồng phạm

Ví dụ: A cung cấp công cụ cho B cố ý gây thương tích 7% cho C (C là thầy giáo

của A)

Như vậy, do B không phạm tội, tức B không phải là người trực tiếp thực hiện tội phạm nên từ đó suy ra, A không thể gián tiếp thực hiện tội phạm thông qua B được Tức A không có hành vi thực hiện tội phạm (cả trực tiếp và gián tiếp đều không có) A không phạm tội trong trường hợp này

Tuy nhiên, đây vẫn là một vấn đề lí luận khó Dựa trên nền khoa học Luật hình

sự về trực tiếp và gián tiếp thực hiện tội phạm thì có thể kết luận A không phạm tội Nhưng rộng hơn, dựa trên nền lí luận về pháp luật, thì có thể kết luận A có gián tiếp

Trang 28

vi phạm pháp luật hay không để từ đó có thể suy ra A phạm tội hay không hiện vẫn chưa có lời giải Tác giả hi vọng sẽ có nhiều tác giả khác nghiên cứu sâu hơn về vấn

đề này để có câu trả lời chính xác, đồng thời thống nhất giữa khoa học luật hình sự với khoa học lí luận về pháp luật Cụ thể là thống nhất về mặt khoa học về trực tiếp

và gián tiếp thực hiện tội phạm với trực tiếp và gián tiếp vi phạm pháp luật

1.4.1.3 Người không phạm tội do không tham gia đồng phạm

Thực tế thường xảy ra trường hợp một người nào đó có mặt tại nơi xảy ra tội phạm (hiểu như có mặt ở hiện trường) mà người này không có bất kì hành vi gì Nếu người này đã thống nhất ý chí với (những) người đồng phạm khác cùng cố ý thực hiện tội phạm trước đó thì cho dù trong suốt cả quá trình gây án người này không có bất kì hành vi gì (không chủ mưu, không cầm đầu, không chỉ huy, không kích động, không dụ dỗ, không thúc đẩy, không tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bọn) thì người này vẫn là người đồng phạm với vai trò giúp sức củng cố ý chí cho đồng bọn Hành

vi chấp nhận tham gia đồng phạm cũng đồng thời là hành vi củng cố ý chí cho (những) người đồng phạm khác Vì (những) người đồng phạm khác (trong đó có người thực hành) sẽ cảm thấy yên tâm hơn, tự tin hơn khi có thêm một người đồng minh, có thêm một người cùng hội cùng thuyền, tăng thêm lực lượng

Trường hợp ngược lại, nếu người này chưa từng thống nhất ý chí với (những) người khác cùng cố ý thực hiện tội phạm nào cả thì người này không phải là người đồng phạm Người này không phạm tội hoặc có thể phạm tội không tố giác tội phạm

Ví dụ: Khoảng hơn một giờ sau, Trung quay lại giao xe ô tô cho Nhơn điều

khiển, còn Trung thì đi xe riêng, khi lên xe NLC1 phát hiện có thuốc lá điếu nhập lậu trên xe Khi Nhơn điều khiển xe đến khu vực xã MĐ thì bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang Nhơn về hành vi vận chuyển 3.560 bao thuốc lá điếu nhập lậu NLC1 không tham gia vào việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cùng với Nhơn…

Đối với NLC1 mặc dù có mặt trên phương tiện xe ô tô mang biển kiểm soát 84A – 034.46 cùng với Trương Hữu Nhơn, nhưng xét thấy NLC1 không tham gia vào việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với NLC1 là có căn cứ21

Trong vụ án trên, NLC1 là bạn của Nhơn, quá giang theo xe Nhơn chở đi chơi Còn Nhơn thì vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho Trung Khi lên xe, NLC1 phát hiện có thuốc lá điếu nhập lậu nhưng không thể hiện bất kì ý gì và bất kì hành vi gì

21 Bản án số 11/2019/HSST ngày ngày 18 tháng 6 năm 2019 của TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang

Trang 29

tham gia đồng phạm vận chuyển hàng cấm với Nhơn, mặc dù trong quá trình xe di chuyển hai người có thể vẫn trò chuyện vui vẻ với nhau Ngoài ra, trước khi Nhơn vận chuyển hàng cấm thì NLC1 cũng không có bất kì hành vi gì tham gia đồng phạm với Nhơn Do đó, Bản án nhận định NLC1 không đồng phạm với Nhơn là chính xác Tuy nhiên, do nhận thức không đúng vai trò, ý nghĩa của người giúp sức trong đồng phạm nên một số quan điểm đã sai lầm khi người giúp sức lại được nhận định không phải là người đồng phạm Ví dụ qua vụ án sau đây22

Sau khi biết trong trạm phát sóng của một chi nhánh Viễn thông Viettel có máy phát điện, A nói cho B biết, hai người hẹn nhau 22 giờ ngày hôm sau có mặt tại trạm phát sóng để lấy trộm, B nói sẽ rủ thêm C cùng đi Tối hôm sau, B rủ C và nói: “Tí nữa A sang rồi 3 người cùng đi lấy máy phát điện” Tuy nhiên, sau đó B, C không đợi A đi cùng mà cả hai đi trước lên trạm phát sóng, mang theo 2 cờ lê, 1 kìm và 1 thanh gỗ Đến nơi khoảng 20 giờ, C đứng dưới cảnh giới còn B lên trạm phát sóng dùng kìm, cờ lê phá khóa cửa nhà trạm Không phá được, B bảo C về nhà lấy cái gì

để phá khóa, C về nhà lấy 1 thanh sắt đưa cho B, rồi tiếp tục đứng dưới cảnh giới Sau đó B, C lấy được 1 máy phát điện đem về nhà cất giấu Do uống rượu say, ngủ quên nên khi A tới nhà C thì hai người vừa khiêng máy phát điện về Sau đó A một mình đi trộm 2 bình ắc quy của trạm phát sóng (thuộc danh mục công trình quan trọng về an ninh quốc gia)

Đối với tội phá hủy công trình quan trọng về an ninh quốc gia của A thì không bàn A và C bị bắt giữ còn B bỏ trốn nên cơ quan tố tụng đã tách vụ án để điều tra,

xử lí ở vụ án khác Tại cơ quan điều tra, A khai nhận mình là người rủ rê B Tại phiên tòa A thay đổi lời khai rằng B mới là người rủ rê A C khai chỉ biết có A cùng đi chứ không biết A rủ rê B hay B rủ rê A B bỏ trốn nên không có lời khai Ở đây, câu hỏi được đặt ra là A có đồng phạm với B, C về tội trộm cắp tài sản (máy phát điện) hay không?

Nếu A là người rủ rê B thì không còn gì phải bàn vì A là người đồng phạm xúi giục Tuy nhiên, chỉ lời khai duy nhất là của chính A tại cơ quan điều tra khai nhận mình là người xúi giục Nay tại phiên tòa A thay đổi lời khai rằng B mới là người xúi giục mình Đây là vấn đề chứng minh thuộc luật tố tụng nên tác giả không bàn sâu và cũng đồng tình rằng chỉ có thể coi A là người bị xúi giục (tức chấp nhận lời khai thay đổi tại phiên tòa của A)

22 Nguyễn Minh Hải – Phạm Ngọc Cao (2018), “Cần nhận thức thống nhất về dấu hiệu pháp lí của đồng phạm”,

Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (9), tr.47-56

Trang 30

Quan điểm của Viện kiểm sát vẫn truy tố A, C đồng phạm tội trộm cắp tài sản Không đồng tình với quan điểm này, Tòa án cho rằng không đủ căn cứ để kết luận A đồng phạm với C Đồng tình với quan điểm của Tòa án, các tác giả Nguyễn Minh Hải, Phạm Ngọc Cao cho rằng hành vi của A không thuộc một trong 4 dạng hành vi của đồng phạm (A không là người tổ chức, không là người xúi giục, không là người thực hành và cũng không là người giúp sức) Tác giả cho rằng quan điểm này là chưa chính xác, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có cơ sở Cho dù không chứng minh được A là người xúi giục nhưng vẫn chứng minh được A đồng ý tham gia trộm cắp máy phát điện Như vậy, chỉ cần A chấp nhận tham gia đồng phạm (do B rủ rê và

A đồng ý một cách minh thị) thì ít nhất đó đã là hành vi giúp sức củng cố ý chí cho những người đồng phạm khác là B và C (B và C có cảm giác yên tâm, giảm bớt sự

sợ hãi khi có thêm người đồng minh, cùng hội cùng thuyền, nếu bị bắt thì cùng chịu tội chung…)

Qua 2 ví dụ trên, tác giả kết luận lại mục này như sau: Nếu một người đã thể hiện ý chí đồng ý chấp nhận tham gia đồng phạm (một cách minh thị) thì ít nhất hành

vi đó cũng đã củng cố ý chí phạm tội cho (những) người đồng phạm khác Cho dù trong cả quá trình phạm tội, người này không có thêm bất kì hành vi nào khác (chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kích động, dụ dỗ, thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi) thì người này vẫn là người đồng phạm (vai trò ít nhất là giúp sức củng cố ý chí cho (những) người đồng phạm khác) Nếu một người chưa từng thống nhất ý chí với (những) người khác cùng cố ý thực hiện tội phạm nào cả và người này cũng không có bất kì hành vi chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, kích động, dụ dỗ, thúc đẩy, củng cố ý chí ý hay tạo điều kiện thuận lợi cho người khác thực hiện tội phạm thì người này không phải là người đồng phạm Người này không phạm tội hoặc có thể phạm tội không tố giác tội phạm

1.4.1.4 Người không phạm tội do hành vi vượt quá của người cùng thực hiện

vi phạm pháp luật

Người đồng phạm không phải chịu TNHS về hành vi vượt quá của người thực hành vốn đã được khoa học luật hình sự khẳng định từ lâu Điều này là hoàn toàn chính xác bởi vì hành vi vượt quá của người thực hành đã “phá vỡ” điều kiện của đồng phạm, đó là những người đồng phạm không thống nhất ý chí (không cùng cố ý thực hiện) đối với phần hành vi vượt quá của người thực hành Tuy nhiên, tất cả những người đồng phạm đều phải chịu TNHS trong phạm vi hành vi không vượt quá

của người thực hành Ngày nay, khoản 4 Điều 17 BLHS năm 2015 đã quy định: Người

đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực

Trang 31

hành

Ví dụ 1: A nói với B: “Cho tao mượn xe chở 30 kg pháo nổ mới mua về để đốt

dịp Tết cho vui” B đồng ý cho A mượn xe Giữa đường vận chuyển 30 kg pháo nổ về

A đã tự ý mua thêm 20 kg nữa là tổng cộng vận chuyển 50 kg pháo nổ B không hay biết gì về việc mua thêm 20 kg pháo nổ đó Lái xe được một quãng thì A bị bắt quả tang

Như vậy, A chịu TNHS theo điểm g khoản 2 Điều 191 BLHS năm 2015, còn B

chỉ chịu TNHS theo điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS năm 2015 mà thôi

Tuy nhiên, quy định trên có một nhược điểm là người đồng phạm không phải

chịu TNHS…, có nghĩa là người không phải chịu TNHS đó vẫn là người đồng phạm,

tức họ vẫn là người phạm tội Quy định này chỉ áp dụng trong chế định đồng phạm Tác giả cho rằng, quy định đó không chỉ áp dụng trong chế định đồng phạm mà còn phải được hiểu rộng hơn và áp dụng trong trường hợp nhiều người cùng thực hiện vi phạm pháp luật nói chung Trong đó, vi phạm pháp luật là hành vi nguy hại cho xã hội, trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng ực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến các quan hệ xã hội được nhà nước xác lập và bảo vệ23

Ví dụ 2: A nói với B: “Cho tao mượn xe chở 5 kg pháo nổ mới mua về để đốt

dịp Tết cho vui” B đồng ý cho A mượn xe Giữa đường vận chuyển 5 kg pháo nổ về

A đã tự ý mua thêm 2 kg nữa là tổng cộng vận chuyển 7 kg pháo nổ B không hay biết

gì về việc mua thêm 2 kg pháo nổ đó Lái xe được một quãng thì A bị bắt quả tang

Như vậy, A chịu TNHS theo điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS năm 2015, còn B không phạm tội (có thể bị xử phạt vi phạm hành chính), vì B không phải chịu trách nhiệm pháp lí đối với phần hành vi vi phạm pháp luật vượt quá sự thống nhất ý chí ban đầu (phần 2 kg pháo nổ) với A – là người cùng thực hiện vi phạm pháp luật với

B Ở đây mặc dù B có hành vi cung cấp phương tiện cho A phạm tội vận chuyển hàng cấm (hành vi tương tự người giúp sức trong đồng phạm) nhưng B không phạm tội Tác giả khẳng định B không phạm tội cũng là dựa trên nền tảng lí luận trên nhưng

mở rộng hơn: Người cùng thực hiện vi phạm pháp luật không phải chịu trách nhiệm (trách nhiệm pháp lí trước Nhà nước nói chung) về hành vi vượt quá của người cùng thực hiện vi phạm pháp luật khác Đây chỉ là quan điểm của tác giả khi mở rộng vấn

đề chứ hiện vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về đề tài nhiều người cùng thực hiện vi phạm pháp luật (tương tự như chế định đồng phạm trong Luật hình sự)

23 Phạm Thị Ngọc Huyên (2014), Lí luận về pháp luật, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.169

Trang 32

1.4.1.5 Người không phạm tội do không có và không biết mục đích, động cơ của người khác đối với tội phạm có dấu hiệu bắt buộc là mục đích, động cơ đó

Khoa học luật hình sự đã thống nhất rằng, về mặt chủ quan của đồng phạm đối với tội phạm có dấu hiệu mục đích, động cơ là bắt buộc thì người đồng phạm phải có mục đích, động cơ đó hoặc phải biết người đồng phạm khác có mục đích, động cơ đó (tiếp nhận mục đích, động cơ của người đồng phạm khác) Nếu một người cùng thực hiện hành vi (là hành vi khách quan của tội phạm có dấu hiệu mục đích, động cơ bắt buộc) với (những) người khác mà không có và cũng không biết người khác có mục đích, động cơ đó thì không là người đồng phạm về tội phạm đó Đồng thời, nếu hành

vi cùng thực hiện nói trên cũng không là tội phạm bất kì khác thì người đó không phạm tội

Ví dụ: Mặc dù L gọi điện thoại đe dọa nhiều lần nhưng anh T không chịu vào

bãi 36 để L thu tiền, đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/02/2017 Phan Duy Tr, Nguyễn Văn N cùng trú tại xóm T và Lê Đức D đi tìm anh T, Tr, N, D đồng ý Mục đích của L để đe dọa, ép buộc vào bãi 36 để đóng tiền cho L, nếu không vào bãi hàng tháng cũng phải đóng tiền cho L Khi gặp anh T, em trai anh T đang bán cá cho vợ chồng anh CH và vợ chồng anh TN (trú tại thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An) tại bãi đất trống cạnh nhà hàng Tú Cụt thuộc xã Quỳnh Giang, huyện Quỳnh Lưu thì L cùng Tr,

N, D xuống xe ô tô, đi đến vị trí anh T, L dùng chân đá một cái mạnh vào đầu anh T làm anh T bị choáng váng ngồi xổm xuống đất thì L đấm đá túi bụi vào đầu, vào người anh T Còn Tr, N, D đứng xung quanh anh T Bị đấm đá túi bụi nên anh T ôm đầu van xin và nói "Em chỉ là người làm thuê cho anh T" thì L dừng lại không đánh nữa và đe dọa nếu không vào bãi 36 bán cá thì không cho làm ăn ở đất Nghệ An, đồng thời nói với T là "Mi nói thằng T điện thoại cho tau", L tiếp tục hăm dọa vợ chồng anh CH "Bây coi đó mà sống" Sau đó nhóm của L ra về Sau khi bị L đánh thì anh T điện thoại báo cho anh T biết sự việc bị L đe dọa uy hiếp nói trên Sau khi về Phan Duy Tr, Nguyễn Văn N, Lê Đức D mới biết việc L ép anh T vào bãi 36 để thu tiền bãi nên không tham gia đi cùng L…

Trong vụ án này có Phan Duy Tr, Nguyễn Văn N, Lê Đức D, trong ngày 06/02/2017 có tham gia đi cùng L để đe dọa anh Th vào bãi 36 để nộp tiền cho L, nhưng Tr, N, D không biết mục đích của L là đe dọa để cưỡng đoạt tài sản của anh

Th nên không đủ cơ sở xử lí hình sự 24

24 Bản án hình sự số 04/2019/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2019 của TAND huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An

Trang 33

Trong vụ án này Tr, N, D có hành vi đe dọa, uy hiếp bị hại nhưng không có và không biết mục đích chiếm đoạt tài sản của L (có thể Tr, N, D nghĩ rằng việc đi đe dọa, uy hiếp bị hại chỉ là việc giải quyết hù hằn, xích mích với L mà thôi – tác giả tạm giả sử như vậy vì Bản án không có nói rõ) nên không đồng phạm với L về tội cưỡng đoạt tài sản Đồng thời, hành vi đe dọa nạn nhân của Tr, N, D và L không đủ yếu tố cấu thành của một tội phạm riêng nào khác nên Tr, N, D không phạm tội Tuy nhiên nếu hành vi cùng thực hiện nói trên là một tội phạm khác (đủ yếu tố

cấu thành của một tội phạm khác) thì người đó phạm tội khác đó

Ví dụ: Hồi 21 giờ 45 ngày 12 tháng 12 năm 2018, tại đoạn đường thuộc địa

phận xóm T, Thị trấn H, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Tổ công tác thuộc Đồn Biên phòng Cửa khẩu Trà Lĩnh phối hợp với Tổ công tác thuộc Công an huyện Trà Lĩnh đã phát hiện và bắt quả tang Đỗ Xuân Q, Nông Trường G và Hoàng Minh T đang có hành vi vận chuyển 103 kg pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ) do Trung Quốc sản xuất Số pháo trên được Đỗ Xuân Q liên lạc nhờ Nông Trường G mua hộ để đem về Thái Nguyên sử dụng và bán lại thu lợi bất chính Mục đích vận chuyển số pháo trên của Hoàng Minh T để nhằm hưởng tiền thù lao Với hành vi và các chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai tại phiên tòa của các bị cáo Hội đồng xét xử khẳng định các bị cáo Đỗ Xuân Q và Nông Trường G đã phạm tội theo Điều 190 “Tội buôn bán hàng cấm”, bị cáo Hoàng Minh T đã phạm tội theo Điều 191 “Tội vận chuyển hàng cấm” Trong vụ án này, bị cáo Đỗ Xuân Q là người khởi xướng, trực tiếp bỏ tiền mua pháo nên giữ vai trò chính, bị cáo Nông Trường G giữ vai trò đồng phạm là người thực hành tích cực Còn Hoàng Minh T không biết được mục đích vận chuyển pháo của G là để giúp sức cho Q bán lại thu lợi bất chính, nên hành vi của bị cáo T đơn thuần chỉ là hành vi vận chuyển hàng cấm25

Trong vụ án trên, Đỗ Xuân Q, Nông Trường G và Hoàng Minh T đều có hành

vi vận chuyển hàng cấm Tuy nhiên, mục đích mua hàng cấm về để bán lại và động

cơ kiếm lời26 thì chỉ có Q và G biết với nhau Do đó, với hành vi vận chuyển hàng cấm mà có mục đích bán lại và động cơ kiếm lời thì Q và G đồng phạm về tội phạm buôn bán hàng cấm Còn Hoàng Minh T chỉ là người vận chuyển hàng cấm đơn thuần,

25 Bản án số 09/2019/HSST ngày 18 tháng 4 năm 2019 của TAND huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng

26 Cũng có văn bản, sách báo gọi chung mục đích mua đi để bán lại và động cơ kiếm lời là mục đích buôn bán Cách gọi này thực ra cũng không sai nhưng chưa cho thấy rõ động cơ Vì mục đích buôn bán bao gồm mục đích mua bán và động cơ kiếm lời Khác với hành vi mua bán (ma túy, vũ khí…), chỉ đơn thuần là trao đổi đối tượng với tiền và vấn đề lời hay lỗ không cần được đặt ra, còn hành vi buôn bán (hàng hóa tiền tệ qua biên giới, hàng cấm…) cũng là trao đổi đối tượng với tiền nhưng phải với động cơ kiếm lời – Xem Hoàng Phê (chủ

biên) (2017), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, tr.113

Trang 34

không có và không biết mục đích mua đi bán lại và động cơ kiếm lời của Q và G nên không phạm tội buôn bán hàng cấm, không đồng phạm với Q và G về tội phạm buôn bán hàng cấm Tuy nhiên, vì hành vi vận chuyển hàng cấm cũng là tội phạm nên T phạm tội này

Trường hợp nếu một người cùng thực hiện hành vi (là hành vi khách quan của tội phạm có dấu hiệu mục đích, động cơ bắt buộc) với (những) người khác mà có mục đích, động cơ hoặc không có mục đích, động cơ nhưng biết người khác có mục đích, động cơ đó có thể là người giúp sức hoặc người thực hành đồng phạm về tội phạm

đó Phân biệt người giúp sức và người thực hành trong trường hợp này sẽ được tác

giả trình bày ở mục 1.5.2.4

1.4.2 Phân biệt người giúp sức với người phạm tội độc lập, phạm tội khác

1.4.2.1 Phân biệt người giúp sức với người gián tiếp thực hiện tội phạm độc lập trong mối liên hệ chủ quan một chiều

Thực tiễn có thể xảy ra trường hợp một người tạo điều kiện thuận lợi cho người khác thực hiện tội phạm một cách bí mật hoặc tuy không bí mật nhưng người trực tiếp thực hiện tội phạm không biết (sau đây gọi chung là bí mật), trường hợp này khoa học luật hình sự gọi là mối liên hệ chủ quan một chiều Câu hỏi được đặt ra là có đồng phạm trong trường hợp này hay không và TNHS của người tạo điều kiện thuận lợi đó như thế nào? Vấn đề này khoa học cũng như quy định của luật hình sự Việt Nam đều thống nhất rằng không thể có đồng phạm trong trường hợp như thế Bởi lẽ,

về mặt chủ quan, đồng phạm phải là sự cố ý cùng thực hiện một tội phạm của những người đồng phạm Tức những người đồng phạm phải thống nhất ý chí trong việc thực hiện tội phạm, có ý chí đề nghị và phải có ý chí chấp nhận đề nghị Đó phải là mối liên hệ chủ quan hai chiều giữa những người đồng phạm27 Vì vậy, bí mật tạo điều kiện thuận lợi không thỏa mãn dấu hiệu mặt chủ quan của đồng phạm TNHS của người này là độc lập về chính tội phạm mà người được tạo điều kiện thuận lợi thực hiện Người bí mật tạo điều kiện thuận lợi cho người khác thực hiện tội phạm là người gián tiếp thực hiện tội phạm

Ví dụ 1: A quan sát và biết được B dự định giết chết đàn gà của C để trả thù

Thấy B đang tìm kiếm các phần sót lại của những chai thuốc trừ sâu ngoài ruộng, A (cũng thù ghét C và cũng muốn giết chết đàn gà của C) đã bí mật để một chai thuốc trừ sâu còn sót khá nhiều cho B nhặt B đã trộn thuốc trừ sâu nói trên vào thức ăn

27 Trần Quang Tiệp, tlđd, (7), tr.35

Trang 35

đàn gà của C Hậu quả, đàn gà của C bị chết, thiệt hại hàng chục triệu đồng

Như vậy, cả A và B đều phạm tội hủy hoại tài sản nhưng là phạm tội độc lập, không có đồng phạm B là người trực tiếp thực hiện tội phạm, còn A là người gián tiếp thực hiện tội phạm

Ví dụ 2: Khoảng 09 giờ sáng ngày 02-9-2003, Đồng Văn Thành, Nguyễn Hùng

Cường, Nguyễn Anh Trọng uống rượu tại nhà Cường, sau đó cả bọn rủ nhau đi hát karaoke Trong lúc uống rượu, giữa Trọng và Thành có lời qua tiếng lại thách đố lẫn nhau Trọng định đánh Thành nhưng vì có Cường, sợ Cường bênh vực nên không dám hành động gì

Đến khoản 14 giờ, Cường, Trọng, Thành cùng vào nhà anh Nguyễn Dũng ở gần

đó uống trà Một lúc sau, Trọng nhờ Lê Hoàng Lý chở đến thác Bông Lau ở thôn Suối Sâu – Ninh Tân để tìm rủ cháu mình là Nguyễn Thanh Tú cùng đi đánh Thành Trọng

kể lại sự việc và rủ Tú quay lại nhà anh Dũng để đánh Đồng Văn Thành Tú rủ Phạm Ngọc Thành và Nguyễn Hà Thiện Trí cùng đi

Khi đến nhà anh Dũng, các bạn Tú đứng ngoài, Trọng và Tú đi vào đến sân thì Trọng bảo Tú dừng lại, còn Trọng đi thẳng vào chỗ anh Dũng, Thành, Cường đang ngồi uống trà, nói Thành ra quán uống bia Anh Thành đứng dậy nói đi thì đi, Trọng choàng vai Thành ra đến sân thì đấm vào mặt anh Thành, anh Thành bỏ chạy ra phía sau nhà lấy một đoạn cây định chống trả thì bị Trọng, Tú đuổi kịp Trọng giằng lấy cây, còn Tú ôm vật anh Thành xuống đất để Trọng đánh đá tới tấp vào người Thành Lúc này anh Cường chạy ra để can không cho Trọng, Tú đánh anh Đồng Văn Thành thì Phạm Ngọc Thành và Nguyễn Hà Thiện Trí ôm và đánh anh Cường không cho anh Cường ngăn cản Bị đánh đau nên anh Thành kêu cứu thì được anh Dũng, chị Hoa, chị Thu vào can Trọng, Tú bỏ về Anh Thành được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Ninh Hòa, ngày 15-9-2003 chuyển vào bệnh viện tỉnh Khánh Hòa, ngày 18-10-2003 thì anh Thành chết

Bản giám định pháp y số 144 ngày 17-11-2003 của Cơ quan giám định tỉnh Khánh Hòa xác định: Đồng Văn Thành đã chết lúc 20 giờ 55 phút ngày 18-10-2003 tại Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa với chẩn đoán như sau: Hậu phổi nối tá – hổng tràng

do vỡ tá tràng ngày thứ 23, mổ lần 3 và kết luận nguyên nhân trực tiếp tử vong là nhiễm trùng, nhiễm độc do viêm phúc mạc gây choáng không hồi phục28

Vụ án này Viện Kiểm sát chỉ truy tố 2 bị cáo Nguyễn Anh Trọng và Nguyễn

28 Xem Phạm Thị Tuệ (2005), “Phạm Ngọc Thành và Nguyễn Hà Thiện Trí là đồng phạm trong vụ án với vai

trò là người giúp sức”, Tạp chí Tòa án nhân dân, tr.17,18 (5)

Trang 36

Thanh Tú về tội cố ý gây thương tích Còn tác giả Phạm Thị Tuệ cho rằng Phạm Ngọc Thành và Nguyễn Hà Thiện Trí phải chịu TNHS đồng phạm (với Trọng và Tú) trong

vụ án cố ý gây thương tích với vai trò là người giúp sức về tinh thần Tác giả chưa thể đưa ra kết luận của mình do một tình tiết rất mấu chốt của vụ án chưa được làm

rõ trong Bài viết Đó là tình tiết Tú rủ Phạm Ngọc Thành, Nguyễn Hà Thiện trí cùng

đi, cùng đi ở đây là đi đâu, làm gì? Nếu Tú rủ Ngọc Thành và Thiện Trí cùng đi đánh

anh Đồng Văn Thành và 2 người này đồng ý tham gia thì vấn đề không còn gì phải bàn, Ngọc Thành và Thiện Trí chắc chắn là người giúp sức, đồng phạm với Trọng và

Tú Cho dù không có hành vi ngăn cản anh Cường ra can Trọng, Tú đánh anh Đồng Văn Thành thì Ngọc Thành và Thiện Trí vẫn là người đồng phạm giúp sức củng cố ý chí Tuy nhiên, nếu Tú chỉ rủ Ngọc Thành, Thiện Trí đi xem đánh nhau, đi hòa giải tranh chấp hay chỉ đơn giản là đi theo chơi thì rõ ràng chưa thấy được sự thống nhất

ý chí phạm tội của Tú, Ngọc Thành và Thiện Trí Dấu hiệu mặt chủ quan chưa thỏa mãn nên giữa 4 người Trọng, Tú, Ngọc Thành và Thiện Trí không phải là đồng phạm Tuy nhiên, khi thấy anh Cường ra can Trọng, Tú đánh anh Đồng Văn Thành thì Ngọc Thành và Thiện Trí đã ôm và đánh anh Cường để không cho anh Cường ra can (Trọng,

Tú không biết việc này) Hành vi này của Ngọc Thành và Thiện Trí đã tạo điều kiện thuận lợi cho Trọng, Tú thực hiện tội phạm, là hành vi tác động bổ sung vào hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm của Trọng, Tú Trong trường hợp này phải kết luận Ngọc Thành và Thiện Trí là người gián tiếp thực hiện tội phạm Ngọc Thành và Thiện Trí phạm tội độc lập với Trọng và Tú

1.4.2.2 Phân biệt người giúp sức với người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

a) Căn cứ vào việc có hay không sự hứa hẹn trước

Lí luận không có vướng mắc hay quan điểm trái chiều khi khẳng định chỉ khi nào không có sự hứa hẹn thì người chứa chấp, tiêu thụ tài sản mới là người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có Nếu có sự hứa hẹn trước thì người chứa chấp, tiêu thụ tài sản là người đồng phạm về tội phạm để có tài sản đó Điều này là hoàn toàn chính xác Bởi vì nếu được người chứa chấp, tiêu thụ tài sản hứa hẹn trước thì (những) người thực hiện tội phạm để có tài sản đó sẽ yên tâm hơn vì tài sản phạm tội có được sẽ bảo đảm hơn về đầu ra Nói khác hơn, người chứa chấp, tiêu thụ tài sản bằng sự hứa hẹn trước đã củng cố ý chí cho (những) người đồng phạm khác

Ví dụ 1: Mặc dù bị cáo Nguyễn Từ Duy L biết giỏ lan này là do B trộm cắp mà

Trang 37

có nhưng do ham rẻ, nên bị cáo vẫn mua Dó đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Từ Duy

L đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Nguyễn Từ Duy L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ tài sản

mà bị cáo tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có nhưng không có hứa hẹn, bàn bạc hoặc thỏa thuận trước với B là người có tài sản do phạm tội mà có Tài sản trộm cắp mang đi bán với giá rẻ bị cáo vẫn mua 29

Ở ví dụ này, do không có sự hứa hẹn trước nên bị cáo L phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” mà không phạm tội “Trộm cắp tài sản” với vai trò đồng phạm

Ví dụ 2: Đối với hành vi của các bị cáo: Với động cơ, mục đích vụ lợi, Lê Quý

H và Nguyễn Hoành C đã lợi dụng việc ông Đặng Văn Ng vắng nhà, đột nhập, phá khóa, trộm cắp tài sản gồm: 01 chiếc tivi nhãn hiệu TOSHIBA; 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu BẢO LONG; 01 chiếc ổn áp nhãn hiệu RULER; 01chiếc máy khoan hiệu IMPACT DRILL, và đem bán cho Lê Hùng Th lấy tiền tiêu xài cá nhân Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, phù hợp với các tài liệu chứng

cứ khác có trong hồ sơ vụ án Lê Hùng Th mặc dù không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng đã hứa hẹn với H từ trước về việc tiêu thụ tài sản trộm cắp được cũng là xuất phát từ động cơ, mục đích vụ lợi Lời hứa hẹn của Th là động lực thúc đẩy H và C trộm cắp tài sản Hành vi của các bị cáo H, C, Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” 30

Ở ví dụ này, do đã có sự hứa hẹn từ trước với bị cáo H nên lời hứa hẹn này đã tiếp thêm động lực cho bị cáo H phạm tội trộm cắp tài sản Do đó, bị cáo Th cũng đồng phạm về tội trộm cắp tài sản với vai trò là người giúp sức củng cố ý chí cho người khác thực hiện tội phạm

b) Căn cứ vào sự hứa hẹn phải là sự hứa hẹn minh thị

Trước hết xin được nghiên cứu ví dụ sau đây

Ví dụ: Xét nội dung kháng nghị: Qua xem xét hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đối

chiếu các tài liệu chứng cứ thu thập được với lời khai nhận tội của bị cáo đủ cơ sở xác định bị cáo Trần Ra D đã có hành vi cùng bị cáo Nguyễn Hoàng S trộm cắp tài sản và đem tiêu thụ, mặc dù không hứa hẹn trước nhưng các bị cáo đều ngầm hiểu mỗi người cùng thực hiện một công đoạn và cùng nhau thực hiện nhiều vụ trộm, cấp

29 Bản án số 09/2020/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2020 của TAND Tp Kon Tum, tỉnh Kon Tum

30 Bản án số 04/2020/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2020 của TAND huyện H, tỉnh Thanh Hóa

Trang 38

sơ thẩm xét xử bị cáo D về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là chưa đúng tội, mà cần xét xử bị cáo về tội

“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự31

Trong vụ án này, Nguyễn Hoàng S đã thực hiện 3 vụ trộm cắp tài sản và sau mỗi lần trộm cắp được đều điện thoại gọi Trần Ra D chở đi tiêu thụ TAND quận Bình Thủy (cấp sơ thẩm) đã tuyên bố D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” Quan điểm này đã bị VKSND quận Bình Thủy kháng nghị và được TAND thành phố Cần Thơ chấp nhận, sửa Bản án sơ thẩm, tuyên bố D đồng phạm với S tội “Trộm cắp tài sản” Tác giả cho rằng quan điểm của TAND thành phố Cần

Thơ là rất không thuyết phục Bản án phúc thẩm nhận định: “dù không hứa hẹn trước

nhưng các bị cáo đều ngầm hiểu mỗi người cùng thực hiện một công đoạn” Sau khi

S trộm cắp được tài sản rồi (tức là tội phạm đã hoàn thành và kết thúc), S mới điện thoại gọi D chở đi tiêu thụ, vậy D thực hiện công đoạn gì của tội trộm cắp tài sản? Không phủ nhận rằng, sau lần trộm cắp thứ nhất, S có thể sẽ cảm thấy yên tâm hơn

vì mỗi khi trộm cắp xong đều có D chở đi tiêu thụ, tài sản trộm cắp được cũng chắc chắn hơn về đầu ra, đồng thời có D là đồng minh Nhưng sự yên tâm đó là do chính

S tự củng cố ý chí, tự trấn an, tự động viên bản thân chứ không phải do D củng cố ý chí cho S Vì thực tế, ngày, giờ nào, địa điểm ở đâu, thực hiện tội gì, đối với ai… là

do S tự mình thực hiện và chỉ sau khi trộm cắp xong mới điện thoại gọi D chở đi tiêu thụ D còn không thể mường tượng S (sau lần phạm tội thứ nhất) sẽ phạm tội gì, khi nào, ở đâu (ở lần phạm tội thứ hai trở đi) thì làm sao cho rằng là ngầm hiểu mỗi người thực hiện một công đoạn được Nếu hiểu ngầm như vậy thì nếu vụ thứ nhất là trộm cắp, vụ thứ hai là lừa đảo và vụ thứ ba là cướp giật thì cũng hiểu ngầm và đồng phạm

cả ba tội hay sao? Vấn đề này đã được hướng dẫn tại mục X Nghị quyết 01-HĐTP/NQ ngày 19 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự như sau:

Trước đây có hướng dẫn như sau: “Kẻ tiêu thụ tài sản bị chiếm đoạt không có hứa hẹn trước vẫn bị coi là người cộng phạm của kẻ chiếm đoạt tài sản trong các trường hợp sau đây:

- Nhiều lần tiêu thụ tài sản biết rõ của kẻ đã nhiều lần chiếm đoạt được

- Tiêu thụ từ 4, 5 lần trở lên của một kẻ chiếm đoạt nghĩa là tiêu thụ một cách

có hệ thống Cá biệt có trường hợp chỉ tiêu thụ vài, ba lần đã bị coi là cộng phạm

31 Bản án số 81/2019/HSPT ngày 19 tháng 7 năm 2019 của TAND Thành phố Cần Thơ

Trang 39

chiếm đoạt (Thí dụ: trường hợp kẻ tiêu thụ vài, ba lần vốn là kẻ chuyên tiêu thụ của gian)

Thực tiễn xét xử cho thấy hướng dẫn trên đây là không hợp lí, vì khi kẻ tiêu thụ

không hứa hẹn trước gì với kẻ chiếm đoạt không biết kẻ chiếm đoạt phạm tội gì và vào lúc nào, nên không thể nói là kẻ tiêu thụ cũng thực hiện một tội phạm với kẻ

chiếm đoạt Do đó, chỉ nên kết án kẻ tiêu thụ nhiều lần không có hứa hẹn trước về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo điều 201 BLHS

Như vậy, có thể khẳng định, chỉ khi nào người có hành vi tiêu thụ tài sản do

người khác phạm tội mà có đã hứa hẹn minh thị trước với (những) người phạm tội

đó thì giữa họ mới có đồng phạm, người hứa hẹn mới là người giúp sức trong đồng phạm Không thể xem việc tiêu thụ tài sản nhiều lần của cùng một người hoặc nhóm người là sự hứa hẹn ngầm để quy kết người phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” đồng phạm với người phạm tội nguồn ban đầu Hướng dẫn trên của Tòa án nhân dân tối cao (sửa đổi hướng dẫn cũ) là hoàn toàn phù hợp với lí luận Bản

án sau đây đã xét xử phù hợp lí luận, đúng với Nghị quyết hướng dẫn trên

Ví dụ: Biết rõ những chiếc xe môtô Trịnh Xuân Q mang đến bán cho mình là

do trộm cắp mà có nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên trong khoảng thời gian từ tháng 06/2017 đến tháng 4/2018 Vũ Văn KH đã 04 lần mua 04 chiếc xe môtô có tổng giá trị theo định giá là 40.000.000 đồng của Trịnh Xuân Q; sau khi mua được xe Vũ Văn KH để sử dụng và mang bán, được hưởng lợi 2.500.000 đồng Hành vi của bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm kết án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự năm 2017 và áp dụng hình phạt tù là có căn cứ, đúng pháp luật32

c) Căn cứ vào thời điểm tội phạm kết thúc33

Quan điểm thống nhất hiện nay khẳng định rằng thời điểm muộn nhất mà có thể xuất hiện thêm người đồng phạm mới (thường là người giúp sức) là trước khi tội phạm kết thúc Tác giả hoàn toàn nhất trí với luận điểm này Bởi vì đồng phạm là

trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm Do đó, khi nào

32 Bản án số 293/2019/HSPT ngày 18 tháng 4 năm 2019 của TAND thành phố Hà Nội

33 Trước hết cần thống nhất rằng thời điểm tội phạm kết thúc được đề cập ở đây là kết thúc trong trường hợp tội phạm đã hoàn thành Tức không tính các trường hợp kết thúc mà tội phạm không hoàn thành như: phạm tội chưa đạt do người phạm tội bị bắt quả tang, bị người khác ngăn chặn, nạn nhân chống trả, chạy thoát thành công, trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội…

Trang 40

tội phạm còn đang được thực hiện thì còn có thể xuất hiện thêm người đồng phạm khác để cùng tiếp tục thực hiện Thậm chí có trường hợp, tội phạm đã hoàn thành rồi nhưng vẫn còn đang được thực hiện thì vẫn có thể xuất hiện thêm người đồng phạm Tùy theo tính chất của mỗi hành vi phạm tội mà thời điểm tội phạm kết thúc có thể trùng thời điểm tội phạm hoàn thành hoặc kéo dài muộn hơn Những hành vi mà thời điểm tội phạm kết thúc kéo dài muộn hơn thời điểm tội phạm hoàn thành thường thấy như: tàng trữ (ma túy, vũ khí quân dụng, hàng cấm…), vận chuyển (ma túy, hàng cấm…), trồng (cây thuốc phiện, cây cần sa…), tổ chức (đánh bạc, tảo hôn…), giả mạo (chức vụ, cấp bậc), giữ, giam (người), bắt cóc (người khác, con tin)… Đối với những tội phạm này hoàn toàn có thể xuất hiện người đồng phạm mới sau khi tội phạm hoàn thành nhưng trước khi tội phạm kết thúc

Ví dụ 1: Từ thành phố X, A chất 50 kg pháo nổ lên xe để chở về thành phố Y

Đi được 3 giờ thì xe bị nổ lốp A đã gọi cho bạn của mình là B đến sửa, đồng thời cho B biết mình đang vận chuyển hàng cấm Sau khi B sửa xe xong thì A tiếp tục hành trình đến thành phố Y sau 2 giờ nữa

Như vậy, thời điểm tội phạm vận chuyển hàng cấm hoàn thành là ngay khi xe vừa lăn bánh, thời điểm tội phạm kết thúc là hơn 5 giờ sau đó (khi kết thúc việc vận chuyển) B là người đồng phạm giúp sức xuất hiện sau khi tội phạm hoàn thành do hành vi vận chuyển hàng cấm vẫn đang được A tiếp tục thực hiện, tội phạm chưa kết thúc

Ví dụ 2: Ngày 12/7, A đã bắt cóc B và tống tiền gia đình B Ngày 13/7, A đã gọi

điện thoại nhờ bạn của mình là C mua cơm cho mình và cho nạn nhân ăn, đồng thời

kể cho C biết việc mình bắt cóc tống tiền

Như vậy, tuy tội phạm bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản đã hoàn thành nhưng C vẫn tham gia đồng phạm với vai trò là người giúp sức do hành vi bắt cóc vẫn đang

được A tiếp tục thực hiện, tội phạm chưa kết thúc

Cũng có những tội phạm mà hành vi (có bản chất) không thể kéo dài, không có tính chất kéo dài (trừ trường hợp phạm tội liên tục) và do đó, thời điểm tội phạm kết thúc trùng với thời điểm tội phạm hoàn thành Đồng nghĩa với việc không thể có thêm người đồng phạm sau khi tội phạm hoàn thành Do đó, đối với những tội phạm này, việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành có ý nghĩa quan trọng Xác định được thời điểm tội phạm hoàn thành sẽ xác định được một người nào đó có liên quan có phải là người đồng phạm hay không Những tội phạm có hành vi thuộc trường hợp này có thể kể ra như:

Ngày đăng: 15/01/2022, 22:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thanh Bình (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tác giả: Phạm Thanh Bình
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2018
2. Lê Văn Cảm (2005), Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
3. Nguyễn Anh Chung (2019), “Có thể áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Chu Văn H không?”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (6), tr. 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Có thể áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Chu Văn H không?”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nguyễn Anh Chung
Năm: 2019
4. Phí Thành Chung (2016), “Phân hóa trách nhiệm hình sự của đồng phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (3), tr. 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân hóa trách nhiệm hình sự của đồng phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Phí Thành Chung
Năm: 2016
5. Nguyễn Ngọc Hà (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hà
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2018
6. Nguyễn Minh Hải – Phạm Ngọc Cao (2018), “Cần nhận thức thống nhất về dấu hiệu pháp lí của đồng phạm”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (9), tr.47-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần nhận thức thống nhất về dấu hiệu pháp lí của đồng phạm”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Minh Hải – Phạm Ngọc Cao
Năm: 2018
7. Nguyễn Thị Thu Hòa (2011), Người thực hành trong đồng phạm theo Luật Hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người thực hành trong đồng phạm theo Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hòa
Năm: 2011
8. Phạm Thị Ngọc Huyên (2014), Lí luận về pháp luật, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận về pháp luật
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Huyên
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam
Năm: 2014
9. Lê Thị Loan (2015), Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Loan
Năm: 2015
10. Hoàng Quảng Lực (2018), “Bàn về quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 liên quan đến chế định người giúp sức”, Tạp chí Kiểm sát, (7), tr. 39, 40 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 liên quan đến chế định người giúp sức”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Hoàng Quảng Lực
Năm: 2018
11. Nguyễn Hữu Minh (2013), “Trương C phạm tội gì?”, Tạp chí Tòa án nhân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương C phạm tội gì?”
Tác giả: Nguyễn Hữu Minh
Năm: 2013
12. Bùi Thị Tố Nga (2014), “Về bài viết “Trương C phạm tội gì?””, Tạp chí Tòa án nhân dân, (2), tr. 28, 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bài viết “Trương C phạm tội gì?””, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Bùi Thị Tố Nga
Năm: 2014
13. Hoàng Phê (chủ biên) (2017), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2017
14. Trần Văn Thượng, “Các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm”, Kỉ yếu Hội thảo Những quy định mới thuộc Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) – Khoa Luật hình sự, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh tháng 6/2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự trong đồng phạm”, "Kỉ yếu Hội thảo Những quy định mới thuộc Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
15. Trần Quang Tiệp (2019), Đồng phạm trong luật hình sự Việt nam, Nhà xuất bản Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng phạm trong luật hình sự Việt nam
Tác giả: Trần Quang Tiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2019
16. Phạm Thị Tuệ (2005), “Phạm Ngọc Thành và Nguyễn Hà Thiện Trí là đồng phạm trong vụ án với vai trò là người giúp sức”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (5), tr. 17, 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Ngọc Thành và Nguyễn Hà Thiện Trí là đồng phạm trong vụ án với vai trò là người giúp sức”, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Phạm Thị Tuệ
Năm: 2005
17. Nhiều tác giả (2013), “Về bài viết “Trương C phạm tội gì?””, Tạp chí Tòa án nhân dân, (19), tr. 28-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bài viết “Trương C phạm tội gì?””, "Tạp chí Tòa án nhân dân
Tác giả: Nhiều tác giả
Năm: 2013
20. Bộ luật hình sự Liên Bang Đức 21. Bộ luật Hình sự Liêng Bang Nga 22. Bộ luật Hình sự Trung Hoa Các bản án:- Bản án số 03/2019/HSST ngày 14 tháng 3 năm 2019 của TAND tỉnh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bản án
3. Nghị quyết 01-HĐTP/NQ ngày 19 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số:              8380104  - Người giúp sức trong đồng phạm theo luật hình sự việt nam (2)
huy ên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 8380104 (Trang 1)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w